Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

 

Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. 

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”.

Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.

Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức.

Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc.

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:

Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        

Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân.

dgcd


 

Nhìn thẳng - Nói thật: Thói phê  “liều mạng”

Lý thuyết phê bình văn nghệ hiện đại luôn đề cao vai trò tiếp nhận của công chúng. Bởi lẽ theo thời gian, các thế hệ công chúng sẽ bồi tụ chiều kích tác phẩm mà tác giả cũng không ngờ đến. Tùy thuộc vào ý thức hệ, gu thẩm mỹ, phông văn hóa, môi trường xã hội... mà công chúng sẽ “đồng sáng tạo” với tác giả ra sao.

Công chúng thường chia ra làm hai: Chuyên gia và công chúng thông thường. Chuyên gia không nên hiểu chỉ là những người được đào tạo bài bản về lý thuyết văn nghệ. Trở thành chuyên gia hoàn toàn có thể tự đào tạo và đặc biệt phải thưởng lãm nhiều tác phẩm mới có cái nhìn so sánh, đưa ra những nhận định xác đáng.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa. Nguồn: Báo Yên Bái 

Sự khác biệt giữa hai đối tượng công chúng lộ rõ khi đối diện với tác phẩm vượt tầm hiểu biết thông thường, hay gọi theo thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận là “tầm đón đợi”. Chẳng hạn với tranh hiện thực và cực thực, không cần hiểu nhiều về lý thuyết hội họa, không cần xem nhiều tranh, ai cũng có thể đưa ra phán đoán thẩm mỹ. Tuy nhiên, nếu là tranh trừu tượng, những vấn đề về chủ đề ẩn giấu, hình khối, độ tương phản, cấu trúc... thì phải là người có kiến thức nhất định và đã thưởng lãm nhiều loại tranh này mới cảm nhận được. Có sự khác biệt này là vì kiến thức nghệ thuật trong chương trình phổ thông từ trước đến nay không đề cập đến nghệ thuật trừu tượng.

Chuyên gia là những người có tiếng nói thẩm quyền nhưng không độc quyền; việc bàn luận về văn nghệ, nhận xét khen chê, bất cứ ai cũng có quyền cất tiếng nói thể hiện quan điểm, thái độ. Mấu chốt là bàn luận dưới góc độ nào và ra sao.

Đáng buồn là hiện nay, trên không gian mạng xảy ra vô số hiện tượng tung hô bốc trời hoặc dìm xuống “bùn đen” tác phẩm văn nghệ nào đó mà không dựa trên bất cứ lý lẽ thuyết phục nào. Nhiều người “phán” về một bộ phim thậm chí còn chưa xem, chỉ nghe người khác bàn luận, cũng hùa theo góp lời. Thậm chí còn có hiện tượng “bỏ bóng đá người”, công kích cá nhân, tập thể sáng tạo mà không cần quan tâm chất lượng tác phẩm ra sao. Đây đích thực là kiểu phê bình “liều mạng”, bất chấp tất cả, nói chỉ để sướng miệng, thể hiện cái tôi tùy tiện.

Kiểu phê bình tai hại này sinh ra từ tâm lý đám đông. Một người không có chuyên môn, a dua, nhận xét cảm tính bằng những lời lẽ hùng hồn, sẽ lây lan sang người khác. Dần dần sẽ tạo ra luồng ý kiến, khối dư luận có vẻ là khách quan nhưng thực ra lại đầy cảm tính, thiếu cơ sở khoa học, làm nhiễu loạn các giá trị.

Lúc này, vai trò của các chuyên gia rất quan trọng. Thông qua các sinh hoạt học thuật, phương tiện báo chí truyền thông, thậm chí là trang cá nhân trên mạng xã hội, những tiếng nói thẩm quyền sẽ phân tích tác phẩm, định hướng thẩm mỹ một cách khoa học, thuyết phục. Từ đó, chân giá trị của tác phẩm sẽ được định vị rõ ràng, vàng thau không thể lẫn lộn.

Nhưng điều đáng buồn là không ít chuyên gia, ở thời điểm “nước sôi lửa bỏng” lại mũ ni che tai. Nguyên do là họ ngại va chạm và không loại trừ “lợi ích nhóm”. Ví như chuyện một ca sĩ nhạc rap đình đám kết hợp với dàn nhạc giao hưởng. "Fan cuồng" của ca sĩ nhạc rap đương nhiên tung hô thần tượng nào là “sáng tạo”, “độc đáo”, “vượt trên tất cả”... Thực ra cách làm này đã xuất hiện ở nước ngoài hơn 30 năm, chuyện mới, cũ không quan trọng mà là chất lượng các tác phẩm chuyển soạn. Đáng tiếc là không một nhà lý luận phê bình âm nhạc nào lên tiếng, bỏ rơi công chúng lúng túng không biết sản phẩm âm nhạc này hay, dở ra sao.

Khen, chê tác phẩm văn nghệ thường không bị “tuýt còi” nên độ “liều mạng” của lối phê bình tán dóc, a dua, cảm tính này được dự báo sẽ xuất hiện nhiều hơn. Đội ngũ chuyên gia ở từng môn nghệ thuật mỏng dày khác nhau nhưng tiếng nói thẩm quyền lúc nào cũng có. Cần nhất chính là dũng khí, thẳng thắn, lao mình vào những “điểm nóng” văn nghệ của các chuyên gia. Những hiện tượng lai căng, bắt chước, nhảm nhí, rẻ tiền, xấu độc phải bị phê phán; những tác phẩm giàu giá trị chân thiện mỹ, vì con người, góp phần dựng xây nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần được cổ vũ, khuyến khích. Nếu làm được những việc kể trên, lĩnh vực phê bình mới góp phần làm lành mạnh đời sống văn nghệ.

đgcd

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII!

     Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc ta, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế thừa và phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vừa là yêu cầu khách quan, vừa là tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội!
Trong gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách mạng, không ngừng lớn mạnh, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành và chiến thắng vẻ vang. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có kỷ luật nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực hiện sáng tạo, hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Tích cực tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, hải đảo. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường “thế trận lòng dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; đồng thời, thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành rõ nét hơn, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, thậm chí dẫn đến đối đầu nhau. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước vừa và nhỏ. Các điểm “nóng” về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không.
Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp chủ quyền biển, đảo, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng gia tăng; xử lý quan hệ quốc tế, nhất là với các nước lớn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài câu kết với nhau tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển và ngày càng khó khăn, phức tạp hơn; tỷ lệ cán bộ được rèn luyện qua chiến đấu ngày càng giảm.
Trong bối cảnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta có sự phát triển và đặt ra những yêu cầu mới rất cao, có sự đan xen giữa thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Quân đội luôn nhận thức sâu sắc vai trò nòng cốt của mình trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”; đồng thời, ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần nỗ lực phấn đấu, tiếp tục phát huy hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:
Một là, tiếp tục thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quân đội, xuất phát và dựa chắc trên quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thời gian tới, Quân đội cần chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; nhất quán thực hiện chủ trương: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.
Cùng với đó, Quân đội cần tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Nâng cao năng lực tác chiến chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin; phối hợp triển khai giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Đặc biệt, chú trọng bổ sung, kiện toàn các cơ chế, quy định, nhất là về sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương trong xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc. Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quốc phòng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn cả nước. Đó là nền quốc phòng với tiềm lực, sức mạnh tổng hợp, được cấu thành trên cơ sở nguồn lực quốc gia và trong nhân dân, từ nhân dân, mang bản chất hòa bình và tự vệ, không nhằm đe dọa bất cứ quốc gia nào. Đồng thời, là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, do toàn dân tiến hành xây dựng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.
Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, Quân đội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ và vùng biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Trong đó, trọng tâm là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước, bảo đảm cho các địa phương xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị quốc phòng, công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, hệ thống phòng thủ dân sự đồng bộ, thống nhất; trong đó, ưu tiên các tuyến biên giới, biển, đảo, các địa bàn chiến lược, trọng điểm...
Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục phát huy vai trò, tính hiệu quả của các đơn vị kinh tế - quốc phòng và doanh nghiệp quân đội để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với củng cố, tăng cường quốc phòng, nhất là ở những địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu kinh tế trọng điểm.
Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.
Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới. Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất cách mạng, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đối tác, đối tượng; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kịp thời khắc phục những nhận thức, tư tưởng lệch lạc, chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động đó với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Qua đó, làm sâu sắc thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, bảo đảm sát chủ trương, đường lối của Đảng, thực tiễn hoạt động của bộ đội và yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, công đoàn và hội đồng quân nhân vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được kết quả quan trọng, bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.
Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”. Tổ chức, biên chế toàn quân phải phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tiếp tục tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình điều chỉnh tổ chức, hiện đại hóa Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách.
Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội.
Toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện kinh tế của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng đã xác định theo lộ trình đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, đối với những lĩnh vực công nghiệp quốc phòng có thế mạnh, đã làm chủ về công nghệ, cần tập trung ưu tiên nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trọng tâm là vũ khí chiến lược, có sức răn đe, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tác chiến không gian mạng.
Sáu là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao uy tín, vị thế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.
Theo đó, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy đa dạng hóa đối tác hợp tác về kỹ thuật quân sự và thương mại quân sự. Tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.
Bảy là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, lãnh đạo toàn quân hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Quán triệt quan điểm chỉ đạo “xây dựng Đảng là then chốt”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI chỉ rõ: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu. Thời gian tới, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 8-7-2016, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và tạo được sự lan tỏa trong toàn quân, toàn xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, có uy tín cao, gương mẫu, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.



Yêu nước ST.

NHỮNG CHIÊU TRÒ NHÀM CHÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CỰC ĐOAN, THIẾU THIỆN CHÍ XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ TRẮNG TRỢN TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 


            Xuyên tạc tình hình, bôi nhọ tự do báo chí Việt Nam là một chiêu trò luôn được những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí, nhất là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên sử dụng. Gần đây các trang mạng phi pháp hùa vào đăng tải, kèm theo “bình luận” của một số nhân vật “có uy tín” của RSF. Trong Bảng xếp hạng này, RSF đã xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, khi cho rằng Việt Nam là “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger”. Thực tế cho thấy, bất cứ tổ chức, cá nhân nào tôn trọng sự thật khách quan đều thấy rõ, ở Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà nước bảo đảm ngày càng tốt hơn. Điều đó được thể hiện trên cả hai phương diện.

Về phương diện pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,…Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin và các luật, bộ luật có liên quan, quy định rõ về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

Trên thực tế, với khung pháp luật khoa học, phù hợp thực tiễn, rõ ràng, được Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện bảo đảm cho nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Đến tháng 01/2021, ở Việt Nam có đầy đủ các loại hình báo chí, với 779 cơ quan báo chí và hơn 21.000 người làm báo đã được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan báo chí thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân. Trong hành nghề, các cơ quan báo chí, nhà báo luôn tuân thủ đúng pháp luật, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

Với tôn chỉ, mục đích của mình, các cơ quan báo chí không chỉ tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu trên mọi lĩnh vực của đất nước và thế giới, mà còn góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin, văn hóa lành mạnh của nhân dân; bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương “người tốt, việc tốt”, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phòng, chống những hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Không những vậy, báo chí còn góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc; tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Hiện nay, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được đưa vào vận hành, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Nhiều đơn vị đã áp dụng chữ ký số cá nhân trong gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi trường điện tử, như: Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc,... tạo sự thay đổi về lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.

Cùng với việc đảm bảo ngày càng tốt hơn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị những tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề này để có những hành vi tung tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ, kéo bè, lập phái chống đối nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam đã điều tra, bắt giữ, truy tố một số đối tượng vi phạm pháp luật, tự xưng là “Nhà đấu tranh cho dân chủ”, “nhà báo tự do”,… dưới dạng là bloger chuyên viết bài, làm video clip,… với nội dung xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,… hay là những lời “kêu gọi” lập đảng, lập hội… chống đối chế độ để tung lên mạng xã hội như (Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…).

Những việc làm đó đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm cho người dân vô cùng phẫn nộ. Vì thế, bắt giữ, điều tra, xét xử, truy tố những đối tượng như trên là việc làm cần thiết, vừa đúng quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mọi tổ chức và cá nhân. Việc một số tổ chức, cá nhân cố tình xuyên tạc bóp méo sự thật và cho rằng Nhà nước Việt Nam điều tra, bắt giữ, truy tố những kẻ trên là “vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và trở thành “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger” là hết sức phi lý, xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, chà đạp, bôi nhọ pháp luật Việt Nam, chuyên bảo kê cho tội phạm, không xứng với tôn chỉ mục đích, danh xưng mỹ miều “Phóng viên không biên giới”./.

VỮNG TIN VƯỢT KHÓ VÀ BỨT PHÁ

 


Hội nghị Trung ương lần thứ ba có vị trí hết sức quan trọng, được xem là hội nghị "đặt nền móng" cho các hoạt động toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) khóa XIII. Sở dĩ như vậy là vì Trung ương phát huy trí tuệ, đề cao trách nhiệm tập trung bàn thảo, ban hành thành công Quy chế làm việc của BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ khóa XIII. Đây là việc làm cần thiết ngay đầu nhiệm kỳ mỗi khóa sau đại hội Đảng, nhằm cụ thể hóa Điều lệ Đảng; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ làm việc và phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo Đảng; bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Với ý nghĩa đó, HNTƯ đã xác định quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm phát huy tốt hơn nữa dân chủ trong sinh hoạt Đảng, sinh hoạt của BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư;... đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; đổi mới, cải tiến chế độ, lề lối làm việc, phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo của Đảng,... Đây là những cơ sở quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng, tăng cường sức mạnh, kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Hội nghị Trung ương lần này cũng dành nhiều thời gian, tâm huyết tập trung thảo luận, quyết nghị các vấn đề liên quan đến yếu tố tạo nên sức mạnh cho Đảng-đó là kỷ luật của Đảng. Trung ương không chỉ quyết định các hình thức kỷ luật xứng đáng, nghiêm khắc đối với những đảng viên cụ thể, mà tập trung góp ý, hoàn thiện Quy định thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khóa XIII. Để làm được điều đó, Trung ương đã nghiên cứu kỹ và có ý kiến, góp ý vào dự thảo các quy định về những nội dung mà qua thực tiễn thi hành kỷ luật còn có vướng mắc, bất cập, nhất là các vấn đề cụ thể phát sinh từ thực tiễn. Công việc này được xem như việc lắp đặt những viên gạch móng cho công trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng sắp tới; là căn cứ bất biến giúp thanh lọc, loại bỏ “sâu mọt” trong chính hàng ngũ của Đảng, giúp Đảng ta ngày càng mạnh hơn, trong sáng thêm. Cùng với đó, HNTƯ lần thứ ba cũng đã hoàn thành một phần việc đặc biệt hệ trọng, là tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV sắp tới. Phần việc này được Trung ương tiến hành sâu kỹ với thái độ nghiêm túc, đề cao trách nhiệm chính trị của từng đống chí ủy viên Trung ương Đảng, trên cơ sở kế thừa kết quả công tác nhân sự được quyết nghị tại HNTƯ lần thứ hai khóa XIII.

Cần thấy rằng, HNTW lần này diễn ra trong điều kiện dịch Covid-19 bùng phát phức tạp ở nhiều địa phương. Vấn đề được Trung ương đặt ra trước mắt là tập trung lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục chung sức đồng lòng, vừa chủ động, tích cực phòng, chống dịch; vừa nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), cán đích các mục tiêu năm 2021, tạo đà cho bước bứt phá đổi mới. Trên tinh thần đó, Trung ương thảo luận sâu sắc, toàn diện các nội dung của Kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 5 năm (2021-2025) và Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm (2021-2030). Đây là những kế hoạch hết sức quan trọng, rộng lớn, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH do Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Với tinh thần trách nhiệm cao, thành công của HNTƯ lần thứ ba đã tạo động lực và quyết tâm mới trong điều kiện đất nước đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức. Theo đó, dù đã gặt hái được một số thành quả trên nhiều lĩnh vực và Việt Nam được bạn bè quốc tế ca ngợi, đánh giá cao bởi thành công trong phòng, chống, kiểm soát dịch Covid-19... thế nhưng, 6 tháng đầu năm 2021, KT-XH đất nước vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra; dịch bệnh có thể còn tiếp tục kéo dài, thậm chí nguy hiểm, lan rộng nhanh hơn. Bởi thế, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị nhất định không được thỏa mãn dừng lại, mà cấp thiết triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp của Trung ương với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, trách nhiệm cao nhất.

Ngay sau hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và đất nước; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tổ chức thực hiện thật tốt các nghị quyết, kết luận của HNTƯ và các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội, Chính phủ; nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra. Trong lĩnh vực kinh tế, các cấp cần tập trung quán triệt, tạo sự thống nhất cao về những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu, một số chỉ tiêu cơ bản; đặc biệt là các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế, có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm thực hiện thành công các kế hoạch KT-XH 5 năm, 10 năm.

Với truyền thống vẻ vang, trách nhiệm chính trị cao cả, cán bộ, đảng viên trong toàn đảng nói chung và Đảng bộ Quân đội nguyện mang hết tài năng, trí tuệ, gương mẫu đi đầu trong triển khai thực hiện hiệu quả nghị quyết, kết luận của HNTƯ lần thứ ba, khóa XIII; ra sức giữ vững môi trường hòa bình, điều kiện an toàn để đất nước phát triển; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó; góp phần tích cực và quan trọng vào cuộc chiến đẩy lùi dịch Covid-19... Đó chính là cách mà Quân đội nhân dân Việt Nam sớm đưa nghị quyết, kết luận của Trung ương vào cuộc sống.

Những chiêu trò mới của Việt Tân

             Âm mưu "đấu tranh bất bạo động", thực hiện “cách mạng đường phố”

Một trong những phương thức, thủ đoạn hoạt động của Việt Tân là kích động biểu tình phá rối an ninh, tập dượt cho “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam.

Theo đó, Việt Tân triệt để lợi dụng tâm lý bất bình của quần chúng nhân dân về một số vụ việc tiêu cực trong nước, các sự kiện nóng liên quan chủ quyền lãnh thổ…, để kích động thanh niên, sinh viên tham gia các cuộc tuần hành, biểu tình. Chúng đưa người thâm nhập vào số đi khiếu kiện, thậm chí tài trợ tiền đề kích động họ tham gia các hoạt động do Việt Tân tổ chức, hòng biến những vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai thành các cuộc biểu tình quy mô lớn; xây dựng và tán phát kịch bản “lật đổ chế độ tại Việt Nam”. Đồng thời, chỉ đạo các đối tượng ở trong nước vẽ sơ đồ, quay phim, chụp ảnh các mục tiêu trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội…, phục vụ cho các mưu đồ chống phá.

Gần đây, các vụ biểu tình, tụ tập đông người phá rối an ninh do Việt Tân kích động không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phức tạp về tính chất và mức độ nguy hiểm. Số cầm đầu Việt Tân đánh giá “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tấn công trực diện Cộng sản; nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì buộc phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ, sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”.

Một vài vụ điển hình đã được Báo Công an nhân dân đưa tin như: Vụ Nguyễn Hữu Thiên An (Khánh Hòa) âm mưu đặt bom đánh phá tại quận 1, TP Hồ Chí Minh; Trần Thị Nga (Hà Nam) tán phát hàng nghìn bài viết, hàng chục video clip trên internet tuyên truyền, xuyên tạc, kích động quần chúng nhân dân biểu tình nhưng đã bị cơ quan Công an kịp thời phát hiện, đấu tranh, bắt giữ và xử lý.

Một vụ việc khác đã bị lực lượng an ninh phát hiện và xử lý xảy ra ngày 17-4-2012, Việt Tân chỉ đạo Nguyễn Quốc Quân, “Ủy viên Trung ương Việt Tân” sử dụng tên Nguyen Richard nhập cảnh vào Việt Nam mang theo máy tính xách tay, sử dụng nhiều tài liệu và tiền với ý đồ kích động biểu tình, tổ chức rải truyền đơn phá hoại dịp lễ 30-4, tổ chức thông tin ra bên ngoài để tuyên truyền, xuyên tạc chống Nhà nước Việt Nam như lần nhập cảnh vào Hà Nội tháng 7-2011.

Cũng vào dịp lễ kỷ niệm ngày thống nhất đất nước năm 2019, Việt Tân âm mưu cử các thành viên nhập cảnh vào Việt Nam, thực hiện rải truyền đơn phản động tại TP Hồ Chí Minh và khu vực chùa Ba Vàng, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, nhưng toàn bộ hoạt động của chúng đều nằm trong tầm kiểm soát của cơ quan an ninh khiến số đối tượng bên ngoài không thể xâm nhập về nước, số cơ sở trong nước hoang mang không dám thực hiện.

Lập hội, nhóm trá hình, hậu thuẫn các phần tử chống đối trong nước

Không chỉ dừng lại ở đó, tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại.

Hằng năm, Việt Tân đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành hoạt động kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của Việt Tân nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối theo chỉ đạo của Việt Tân là một “nghề” kiếm sống.

Theo phản ánh của Báo Công an nhân dân, ăn theo Việt Tân, nhiều hội, nhóm trá hình đã được thành lập như: Hội cựu lao động Đài Loan do Trần Thị Nga thành lập theo chỉ đạo của Nguyễn Văn Hùng, thành viên Việt Tân ở Đài Loan; Hội nhóm dân oan Hà Nam do Trần Thị Nga thành lập tháng 12-2013; Công đoàn doanh nhân, trí thức Thái Hà do Lê Quốc Quân, Nguyễn Hữu Vinh và Trần Thị Hường và một số đối tượng khác cầm đầu; Văn phòng truyền thông Công giáo và Quỹ Trái tim yêu thương, thành lập năm 2014.

Để dễ bề chỉ đạo số đối tượng trong nước, Việt Tân đưa người tham gia, tài trợ tiền cho các hội, nhóm để chi phối hoạt động. Điển hình như “Hội anh em dân chủ” có Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Bắc Truyển thường xuyên nhận tài trợ của Việt Tân. Đồng thời, là đầu mối tuyển chọn người cho Việt Tân đưa ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện. Trong số các thành viên được Việt Tân huấn luyện có thể kể đến như Lê Thu Hà, Hoàng Chí Hiếu.

Đầu năm 2015, được sự giúp đỡ của Việt Tân, Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) cùng một số đối tượng đã khôi phục “Câu lạc bộ nhà báo tự do” thành một tổ chức phi chính chủ để triển khai hoạt động chống phá Việt Nam với cơ cấu gồm Ban giám đốc, ban biên tập, bộ phận xây dựng website, truyền thông (do Phạm Đắc Hồng Thuận phụ trách), giao tiếp cộng đồng, thủ quỹ. Ngoài ra còn có “Phong trào chống tham nhũng” có Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Anh Tuấn (Thái Bình)..., đều là cơ sở của Việt Tân.

Móc nối đưa người ra nước ngoài đào tạo, phát triển lực lượng

Lợi dụng nhu cầu muốn ra nước ngoài học tập của người dân, Việt Tân núp dưới danh nghĩa tài trợ học bổng, từ thiện, mời tham dự hội thảo, du lịch..., để móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, luật sư, phóng viên, người khiếu kiện... ra nước ngoài. Sau đó, dùng thủ đoạn lừa mị, khống chế, bắt điền đơn gia nhập tổ chức, tiến hành huấn luyện kỹ năng hoạt động, bảo mật máy tính, cách chế tạo bom xăng..., rồi tung về nước rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng, gây hoang mang trong nhân dân.

Năm 2019, dưới danh nghĩa từ thiện, một tổ chức ngoại vi của Việt Tân là VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment) - “Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại”, thông qua cái gọi là “Học bổng xã hội dân sự VOICE” mời gọi thanh niên tham gia và cam kết “giúp các học viên trở thành những công dân tích cực, giàu tinh thần cộng đồng, và được trang bị các kiến thức nền tảng để có thể tham gia vào các hoạt động xã hội”. Vậy nhưng đằng sau những lời tuyên bố đầy tốt đẹp lại là những hoạt động chống đối nguy hiểm.

Trong khoá đào tạo của mình, trước hết VOICE truyền bá những cách nhìn nhận sai lệch về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam, hình thành tư tưởng chống đối chính quyền cho học viên. Sau đó, VOICE tiến hành tập huấn, trang bị, huấn luyện cho học viên các nội dung về đấu tranh bất bạo động đối với chính quyền, đặc biệt là việc sử dụng chiêu bài tự do, nhân quyền để tiến hành chống phá. Ngoài ra, VOICE còn tổ chức cho học viên tiếp xúc với các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị để học hỏi phương thức hoạt động, thậm chí là cả cách ứng phó với cơ quan chức năng. Các “sản phẩm” sau đào tạo được tung về nước, trở thành hạt nhân tập trung lực lượng tiến hành chống phá chính quyền.

Và cũng chính VOICE từng thông qua một số tổ chức phi chính phủ lấy danh nghĩa từ thiện để tài trợ 30 ngàn đô la Canada để mua 100 chiếc xe lăn trao tặng cho số thương, phế binh quân đội Việt Nam cộng hòa. Đáng chú ý, tổ chức này và “Hội đồng liên tôn” còn thành lập các “Chi hội thương phế binh Việt Nam Cộng hòa” nhằm tập hợp số thương, phế binh thuộc chế độ ngụy quyền Sài Gòn vào các “Chi hội Tôn giáo”, chờ “cơ hội” để “xuống đường đấu tranh” chống chính quyền.

Một thủ đoạn nham hiểm khác của Việt Tân là sử dụng các đối tượng chống đối trong nước làm bằng chứng sống, cung cấp những thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam cho chính giới một số nước; một số hãng thông tin quốc tế, xuyên tạc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đồng thời khuếch trương thanh thế, chứng tỏ thực lực của Việt Tân ở nước ngoài, gây dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá Việt Nam.

Những đối tượng thường được Việt Tân nhắm tới là số thân nhân đặc biệt như luật sư, trí thức, văn nghệ sĩ, giảng viên một số trường đại học trong nước, số cốt cán của các hội, nhóm chống đối trong nước; thân nhân đối tượng đang bị bắt; các blogger thường xuyên viết bài chống Đảng, Nhà nước và số chức sắc, tín đồ chống đối trong tôn giáo. Đồng thời, Việt Tân sử dụng danh nghĩa của một số tổ chức nước ngoài mời các đối tượng trong nước; chỉ đạo số trong nước xuất cảnh sang Campuchia hoặc Thái Lan bằng đường bộ, sau đó mới xin thị thực nhập cảnh vào nước thứ ba.

Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và xã hội

Ông Nguyễn Thanh Tú là con trai của ký giả Ðạm Phong - một trong năm ký giả người Mỹ gốc Việt đã bị giết hại tại Mỹ trong những năm 80 của thế kỷ trước khi chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân đã khẳng định: Hồi nhỏ, tôi theo bố làm báo. Bố tôi bảo làm báo để "làm người", song tôi theo ông để học hỏi, và vì thương bố. Lúc đó tiếng Việt của tôi không tốt, ngồi bên bố và bạn bè, họ nói các vấn đề to tát quá, tôi càng không hiểu. Trước khi bố tôi bị giết hại, tôi đã chứng kiến nhiều việc lắm, có việc đến hôm nay tôi vẫn không đủ can đảm để nói ra. Trước khi chết, bố tôi có hướng dẫn tôi rất kỹ càng. Một trong những việc đó là ông nói về "băng đảng Việt Tân", ông bảo rồi đây họ sẽ "Việt Tân hóa truyền thông hải ngoại", họ sẽ biến truyền thông hải ngoại thành bộ máy tuyên truyền cho họ. Ðiều bố tôi lo nhất là đồng bào trong nước không có điều kiện tìm hiểu nên không biết mặt thật của "Việt Tân".

Việt Tân còn triệt để lợi dụng sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng. Với chiêu bài “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất là để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ thù địch của thanh niên, sinh viên với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức.

Theo Báo Công an nhân dân, Việt Tân đã cho lập mới hơn 300 tài khoản và nhiều diễn đàn kín, kết hợp với những diễn đàn trước đó như “Canh Tân”, “Bạn của Việt Tân”, “Bạn của Nguyễn Quốc Quân”... duy trì gần 1.000 tài khoản mạng xã hội, đăng tải, chia sẻ những bài viết, thông tin tiêu cực trong xã hội để thổi phồng, phá hoại tư tưởng. Ý đồ của chúng là biến mỗi thành viên, cảm tình viên của tổ chức trở thành một tuyên truyền viên, một kênh thông tin hữu hiệu để tuyên truyền, lan tỏa những “thông điệp” của Việt Tân trong cộng đồng người thân và bạn bè của đối tượng. Từ đó, tác động tư tưởng, phát hiện đầu mối giới thiệu cho tổ chức thông qua các trang facebook.

Việt Tân đồng thời duy trì các trang web, đài phát thanh và lập bản tin..., cung cấp tài chính, phương tiện cho số đối tượng trong nội địa của chúng thu thập thông tin, viết bài công kích trực tiếp lãnh đạo Đảng Nhà nước; khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tập trung khai thác những sự kiện được dư luận quan tâm như vụ cây xanh tại Hà Nội, vấn đề Biển Đông, sự kiện công nhân đình công..., lồng ghép thông tin xuyên tạc tình hình, bôi nhọ, vu cáo các cơ quan chức năng của ta.

Bằng cách liên kết với các đối tượng như Đoàn Viết Hoạt (cầm đầu Họp mặt dân chủ) và Nguyễn Văn Đài (cầm đầu Hội anh em dân chủ), từ tháng 10-2014 đến nay, Việt Tân đã tổ chức các khóa học với trên 55 đối tượng tham dự vào các tối thứ 4 và thứ 7 hằng tuần. Chúng lập ra nhóm học tập dân chủ online; tổ chức huấn luyện 15 nội dung liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền như: Dân chủ là mục tiêu hàng đầu của đấu tranh; từ độc tài đến dân chủ trên thế giới..., điều hành nhóm là số cầm đầu “cốt cán” của Việt Tân như Hoàng Cơ Định, Nguyễn Quốc Quân, Đỗ Đăng Liêu, Nguyễn Đỗ Thanh Phong đều là “ủy viên trung ương”.

Không dừng lại ở đó, chúng liên kết, tài trợ cho Dòng chúa cứu thế mở các văn phòng truyền thông công giáo tại ba miền Bắc, Trung, Nam để tuyên truyền chống chế độ; mở chiến dịch tiếp cận internet tại các vùng ở Tây Nguyên, Tây Bắc nhằm trang bị kiến thức, huấn luyện cách thức sử dụng Internet cho đồng bào dân tộc để dễ dàng tuyên truyền, phát triển lực lượng và kích động họ tham gia các hoạt động tụ tập, gây rối an ninh trật tự tại địa phương, tạo ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Từ bên ngoài, năm 2015, đúng dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các đối tượng đã soạn thảo và tán phát vào trong nước “bản tuyên bố” có tựa đề “40 năm đã qua” và bộ phim tài liệu “Những ngày cuối cùng ở Việt Nam” với nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đồng thời kêu gọi số chống đối tham gia ký tên và tán phát rộng rãi trong cả nước.

Ngang nhiên và liều lĩnh hơn, các đối tượng còn phát động trên mạng Internet phong trào “Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam”; cuộc thi “Cộng sản và tôi”; tổ chức các buổi “hội luận” trên mạng Internet với sự tham gia của số cầm đầu như Lý Thái Hùng, Đỗ Hoàng Điềm và số đối tượng trong nước. Việt Tân còn chỉ đạo các đối tượng trong nước vận động mọi người trong nước tham gia các buổi “tưởng niệm”, xuyên tạc lịch sử năm 1975.

Hiện nay, Việt Tân đang ráo riêng kích động các hoạt động chống phá bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XV, hậu thuẫn các đối tượng phản động, cơ hội chính trị tự ứng cử để phá hoại bầu cử.

Các vị trí chủ chốt của Việt Tân đều có nguồn gốc liên quan đến dòng họ của Hoàng Cơ Minh. Sau khi Hoàng Cơ Minh chết tại Lào, cái gọi là “Mặt trận” giải tán, Hoàng Cơ Định chính là người nắm quỹ tài chính, điều hành hoạt động của Việt Tân từ đó đến nay. Hoàng Tứ Duy – kẻ xưng là người phát ngôn chính thức của Việt Tân lại chính là con trai của Hoàng Cơ Định. Đỗ Hoàng Điềm - kẻ tự xưng là Chủ tịch Việt Tân là cháu vợ của Hoàng Cơ Định...

Anh Nguyễn Thanh Tú cho biết: Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đã phải đóng góp biết bao nhiêu tiền, nhưng băng đảng "Việt Tân" lấy cả chục triệu USD của chung để biến thành của riêng. Tôi muốn tuổi trẻ ở Việt Nam - trong đó có những người rất dễ trở thành “con mồi” của băng đảng Việt Tân, thấy rằng đó là một tổ chức băng đảng chứ không phải đảng phái chính trị gì cả.

Mặc dù Việt Tân và các thế lực thù địch luôn tìm cách chối bỏ bản chất khủng bố, chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nhưng theo các quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế, đủ cơ sở khẳng định Việt Tân chính là tổ chức khủng bố. Bộ Công an khẳng định: Việt Tân là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của Việt Tân; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do Việt Tân tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam./.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 


Ngày 4-10-2016, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm lật đổ chính quyền XHCN ở Việt Nam.

Từ tàn quân lưu vong đến khủng bố “chuyển lửa về quê nhà”

Theo thông báo của Bộ Công an, Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Mỹ và "Văn phòng 2" tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo "Kháng chiến"; đài "Việt Nam kháng chiến" và "Chân trời mới". Đối tượng cầm đầu là Đỗ Hoàng Điềm, sinh 1963, quốc tịch Mỹ, "Chủ tịch Việt Tân" và Lý Thái Hùng, sinh 1953, quốc tịch Mỹ, "Tổng bí thư Việt Tân".

Năm 1981, Hoàng Cơ Minh (nguyên chuẩn tướng, Phó đề đốc hải quân chính quyền Việt Nam Cộng hòa) và một số đối tượng phản động lưu vong đứng ra thành lập tổ chức phản động "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam". Cái gọi là mặt trận ấy có cương lĩnh, có con dấu, hiến chương và vẫn một sắc màu ba que được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo, nhằm chống phá Việt Nam bằng các hoạt động vũ trang, khủng bố.

Với tham vọng ngông cuồng, đồng thời để lừa mị một bộ phận kiều bào ở hải ngoại, ngày 10-9-1982 tại căn cứ ở Thái Lan, Hoàng Cơ Minh lập ra tổ chức "Việt Nam canh tân cách mạng đảng" - gọi tắt là "Việt Tân", là cơ quan đầu não cực kỳ phản động, chỉ huy mọi hoạt động của “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” và một số tổ chức phản động khác tiến hành các hoạt động chống phá, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Các thành viên của “Mặt trận” này đồng thời là thành viên của “Việt Tân”.   

Theo tài liệu tố cáo tội ác của “Mặt trận” và các thành viên “Mặt trận” nhận nhiệm vụ xâm nhập về nước hoạt động khủng bố phá hoại (Bộ Công an), Hoàng Cơ Minh từng huênh hoang tuyên bố mục tiêu “kháng chiến giải phóng Việt Nam” gồm các giai đoạn từ 30-4-1975 đến năm 1980, tập hợp lực lượng, đối tượng chủ yếu nhằm vào những người trong chính quyền cũ là sĩ quan cao cấp ở trong nước và những kẻ có nợ máu với nhân dân đang lẩn trốn ở nước ngoài. Năm 1980-1983, tuyển mộ lính đánh thuê ở các trại tị nạn người Việt để đào tạo huấn luyện. Năm 1984-1987, xây dựng cơ sở hạ tầng hạt nhân. Từ năm 1986-1990, là giai đoạn xây dựng vùng giải phóng tạm, lấy chỗ đứng chân đón các “kháng chiến quân” trở về. Đến năm 1992 là giai đoạn lật đổ và giành chính quyền.

Để thực hiện dã tâm đó, Hoàng Cơ Minh phái tay chân sục sạo các trại tị nạn người Việt tuyển mộ lính đưa về căn cứ huấn luyện gián điệp, biệt kích, tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con tin. Tuy nhiên, trong suốt 5 năm liền, y chỉ tuyển được 200 quân. Để lòe bịp dư luận và moi đô la từ bà con Việt kiều ở nước ngoài, Hoàng Cơ Minh thuê bọn phỉ Lào đóng giả các “kháng chiến quân”, quay phim gửi về Mỹ và tuyên bố đã dựng được cờ và tập hợp được các tổ chức kháng chiến, với đội quân 10.000 người.

Sự bịp bợm của Hoàng Cơ Minh không chỉ khiến bà con kiều bào mà ngay cả phe đối lập của hắn cũng phải lên tiếng. Chính Trần Văn Liễu, Tổng trưởng Tổng cục Hải ngoại của Minh từng công khai chỉ trích Minh là bọn tống tiền, là bọn buôn kháng chiến, bọn lừa đảo bà con người Việt sống xa xứ sở để móc túi moi đô la và vàng.

Kế hoạch ngông cuồng  

Hoàng Cơ Minh và đồng bọn xác định: Hướng xâm nhập, xây dựng "mật cứ" trong nội địa là các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Chúng hy vọng sẽ móc nối với các tổ chức phản động ở trong nước, đưa người vào rừng huấn luyện rồi tung trở lại thực hiện phương châm "Trong nổi dậy, ngoài đánh vào".

Tư liệu của Bộ Công an cho biết, từ năm 1982 - 1989, "Việt Tân" đã tổ chức nhiều đợt đưa người và vũ khí xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam; tiến hành các chiến dịch "Đông tiến 1", "Đông tiến 2", "Đông tiến 3"… qua đất Lào, Campuchia. Mặc dù Hoàng Cơ Minh cùng những kẻ cầm đầu "Việt Tân" xây dựng kế hoạch công phu, tổ chức xâm nhập với điều kiện, trang bị hoàn hảo, nhưng toán "Kháng quản" là toán xâm nhập mở đường, chưa kịp lập "mật cứ", thì đã bị cơ quan an ninh Việt Nam tóm gọn.

Tiếp đó, chiến dịch "Đông tiến 1" do Dương Văn Tư cầm đầu gồm 51 tên xâm nhập ngày 15-5-1986. Mục đích của chuyến đi mở đường là lập một “mật khu” khô tại Gia Lai-Kon Tum, móc nối với những tên làm việc cho chế độ Mỹ-ngụy chưa chịu cải tạo, tổ chức ám sát cán bộ, đánh phá các đồn biên phòng, các nông, lâm trường, chặn đánh xe vận tải trên các tuyến đường cao nguyên. Tuy nhiên, mọi chuyển động và những hành tung của toán biệt kích này không thoát khỏi tai mắt nhân dân trên đường xâm nhập Việt Nam. Trong suốt hơn 4 tháng hành quân, bọn chúng đi được không quá 300 cây số đường rừng và liên tục bị các lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia truy đuổi, bao vây. Một số tên bị tiêu diệt, số còn lại đã giết lẫn nhau để đoạt tiền, vàng rồi bỏ trốn khỏi đội hình.

Đám tàn quân được phái đi nhiều tên bị diệt, một số bị bắt, những tên ngoan cố bỏ chạy cũng bị truy kích và phải đầu hàng, nhưng Hoàng Cơ Minh vẫn hò hét “Đông Tiến” giải phóng Việt Nam để tiếp tục lòe bịp dư luận và bà con kiều bào sống xa quê hương. Ngày 7-7-1987, Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy toàn bộ lực lược gần 150 tên thực hiện chiến dịch "Đông tiến 2", xâm nhập vào Tây Nguyên để xây dựng "mật cứ". Nhưng khi mới vào đất Lào, chúng bị lực lượng vũ trang Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam chặn đánh. Trong trận đánh cuối cùng ngày 28-8-1987, Hoàng Cơ Minh đã phải phơi xác cùng đám tàn quân. Kết cục, "Đông tiến 2" hoàn toàn thất bại với 60 tên bị tiêu diệt, 67 tên bị bắt sống…

Ngày 1-12-1987, Tòa án nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở phiên tòa sơ thẩm đồng thời là chung thẩm xét xử công khai vụ án Hoàng Cơ Minh, với tội danh phản bội tổ quốc và hoạt động phỉ. Hàng ngàn người, trong đó có đoàn đại biểu Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hai nước bạn Lào, Campuchia cũng có mặt theo dõi phiên tòa.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã bị tiêu diệt, nhưng ảo vọng “lật đổ và giành chính quyền” vẫn được nhóm tàn quân của Việt Tân nhen nhóm thực hiện bằng chiến dịch "Đông tiến 3", do Trần Quang Đô chỉ huy. Ngày 22-8-1989 Trần Quang Đô cùng 68 tên khác âm mưu xâm nhập Quảng Trị - Quảng Nam - Đà Nẵng - Gia Lai - Kon Tum xây dựng căn cứ, sau đó phát triển lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, khi chúng vừa vào đất Lào thì bị quân và dân Lào truy quét quyết liệt phải chịu kết cục bi thảm với 30 tên ngoan cố bị tiêu diệt, 38 tên còn lại bị bắt sống.

Khủng bố “phiên bản 2.0”

Giai đoạn sau năm 1989, Việt Tân tiếp tục tuyển mộ, huấn luyện, chỉ đạo thành viên xâm nhập về Việt Nam kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, thủ tiêu, bắt cóc con tin; đưa người ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện, tổ chức các khóa đào tạo trực tuyến về phương thức, hoạt động khủng bố, phá hoại; tán phát lên mạng Internet hướng dẫn cách chế tạo bom xăng để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát…  Mặc dù năm 1987, Hoàng Cơ Minh bị thương và đã tự sát. Năm 1991, chiến dịch "Đông tiến 3"  cũng bị thất bại nhưng Việt Tân vẫn lừa dối nhiều người Việt Nam ở nước ngoài không công bố thông tin này để vận động quyên góp tiền cho “kháng chiến”, có thông tin cho biết số tiền lên đến hàng trăm triệu USD nhưng chủ yếu rơi vào tay các cá nhân cầm đầu tổ chức này.

Năm 2001, “tổ chức Mặt Trận” chính thức công bố sự thật về cái chết của Hoàng Cơ Minh. Năm 2004, tại Đức, tổ chức Mặt Trận tuyên bố giải tán và công khai hóa Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (gọi tắt là Việt Tân).

Tháng 8-2006, Việt Tân đã tổ chức nhóm “sang sông”, thực chất là chiến dịch “Đông tiến 7”, và nhóm “liên minh dân tộc” với ý đồ đưa người về nước tiến hành các hoạt động khủng bố. Để thực hiện âm mưu này, Việt Tân đã từng bước công khai hóa tổ chức. Từ tháng  3 đến tháng 11-2007, Nguyễn Kim - chủ tịch “Việt Tân” đã chỉ đạo Nguyễn Hải tên gọi khác là Khunmi Somsak, Nguyễn Quang Phục, Nguyễn Quốc Hải ở Thái Lan 4 lần về Việt Nam khảo sát, thiết lập tuyến đường bí mật xâm nhập vào Việt Nam, móc nối cơ sở, tán phát truyền đơn, thuê nhà tìm địa điểm ẩn náu cho đồng bọn.

Đồng thời, cử Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Quốc Quân về nước bằng con đường bất hợp pháp; Nguyễn Thị Thanh Vân và Trương Leon về Việt Nam bằng con đường công khai, có nhiệm vụ chỉ đạo số đối tượng trong nước biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn nhằm gây hoang mang, uy hiếp tinh thần của một bộ phận người dân..., nhưng đã bị cơ quan an ninh điều tra của ta phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nhóm đối tượng này đã được đồng bọn trong nước cung cấp tên 40 công ty và 7.000 địa chỉ người thân nhận thư, 1.000 USD để mua thiết bị máy in, usb, tem, bì thư... để tin 7.000 tờ truyền đơn. 

Một vụ việc khác tinh vi hơn đã được Báo An ninh Thế giới Online đưa tin là việc “Việt Tân” tổ chức cho Phạm Minh Hoàng, thành viên của “Việt Tân” tại Pháp về Việt Nam làm giảng viên hợp đồng của một trường Đại học tại TP Hồ Chí Minh. Dưới bút danh Phan Kiến Quốc, tên Hoàng đã viết nhiều bài. Trong đó, 33 bài viết có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam rồi gửi cho tổ chức khủng bố Việt Tân đăng tin, tán phát trên mạng internet nhằm mục đích kích động, lôi kéo người dân biểu tình. Tháng 8-2011, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử, tuyên bố Hoàng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Sau khi ra tù, Hoàng tiếp tục hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia nên đã bị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tước quốc tịch, trục xuất về Pháp vào giữa năm 2017. 

Tiếp đó, từ tháng 8-2009 đến tháng 11-2011, “Việt Tân” tổ chức đưa 17 đối tượng là cơ sở trong nước nhiều lần sang Thái Lan, Campuchia, Lào, Philippines và Mỹ để các thành viên của “Việt Tân” huấn luyện phương thức hoạt động. Ngày 2-8-2011, khi các đối tượng nhập cảnh về Việt Nam thì bị cơ quan an ninh Bộ Công an phát hiện, bắt giữ và khởi tố 17 bị can; đề nghị truy tố 14 bị can, truy nã 3 bị can.

Mới đây nhất là ngày 11-11-2019, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 6 bị cáo về các tội: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân," "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức." Trong vụ án này, 3 bị cáo: Châu Văn Khảm (sinh năm 1949, quốc tịch Việt Nam, Australia), Nguyễn Văn Viễn (sinh năm 1971, trú tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), Trần Văn Quyền (sinh năm 1999, trú tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) bị truy tố về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" theo quy định tại Điều 113, khoản 2, điểm a, Bộ luật Hình sự năm 2015. Ba bị cáo còn lại là Bùi Văn Kiên, Trần Thị Nhài và Nguyễn Thị Ánh bị truy tố về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" do đã có hành vi làm giả nhiều chứng minh nhân dân, hồ sơ xin việc làm cho các đối tượng trong vụ án. Với những bằng chứng xác đáng, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Châu Văn Khảm 12 năm tù; Nguyễn Văn Viễn 11 năm tù và Trần Văn Quyền 10 năm tù (cả hai bị quản thúc 5 năm sau khi mãn hạn tù). Các bị cáo còn lại Bùi Văn Kiên bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Ánh 3 năm tù, Trần Thị Nhài 3 năm tù.

Không dừng lại ở đó, trong năm 2019, số cầm đầu “Việt Tân” tại Mỹ còn chỉ đạo số đối tượng tại TP Hồ Chí Minh tính toán khả năng thực hiện một số hoạt động phá hoại ở Việt Nam vào các dịp lễ lớn. Ban đầu, Việt Tân chủ trương tiến hành đặt bom phá hoại một số tượng đài ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau đó, các đối tượng đã thay đổi kế hoạch nhằm vào TP Hà Nội theo 3 hướng. Hướng thứ nhất là đặt bom trong thùng rác công cộng ở một số địa điểm quan trọng, tập trung là khu vực trung tâm của Hà Nội. Phương án hai là kích động một số đối tượng cực đoan, quá khích tập trung gây “náo loạn” trước khu vực trung tâm chính trị nhằm tạo điểm nóng, thu hút sự chú ý của lực lượng an ninh để các đối tượng khác tiến hành đánh bom theo kế hoạch. Sau đó, bố trí ghi hình, tung lên mạng xã hội tất cả các hoạt động nhằm gây tiếng vang, vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp khủng bố” các nhà “hoạt động dân chủ”, “bất đồng chính kiến”.

Đầu tháng 8-2019, trên cơ sở khuyến nghị của lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố và đề nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ Công an đã công bố danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.

Ngoài danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố do Việt Nam chỉ định đã công bố là “Tổ chức khủng bố Việt Tân” và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Bộ Công an bổ sung thêm Danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố do Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chỉ định. Danh sách những tổ chức, các nhân này đã được thông báo công khai trên trang web của Bộ Công an./.