Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

Nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 

    Nhằm phủ nhận đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc đường lối đó với nhiều quan điểm sai trái. Vì vậy, nhận diện đúng và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

    Ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tổng kết quá trình thực hiện những đổi mới cục bộ, từng phần theo hướng xóa bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tạo môi trường và điều kiện mở rộng các quan hệ thị trường, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà Đại hội IX của Đảng xác định: “đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Chủ trương đó đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận của 07 kỳ đại hội đã qua; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của hơn 35 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước vẫn ra sức xuyên tạc đường lối này với nhiều quan điểm sai trái. Có thể nhận diện những quan điểm sai trái đó dưới hai nhóm vấn đề sau đây:

    Một là, họ cho rằng không có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “sự gán ghép chủ quan, duy ý chí”, là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, là “đầu Ngô, mình Sở”(!), v.v. Theo họ, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập, loại trừ nhau, như “nước với lửa”(!).

    Hai là, họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận phát triển kinh tế thị trường là “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”, “gác lại mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội”(!), không khác gì “vỏ đỏ, ruột xanh”(!).

    Những quan điểm sai trái nói trên đều xuất phát từ sự đồng nhất sai lầm giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản, khi quan niệm rằng: “kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản; kinh tế thị trường vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa với định hướng xã hội chủ nghĩa”(!). Từ đây, họ đòi Đảng ta phải công khai tuyên bố lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà thực chất là đòi Đảng từ bỏ con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

    Cần khẳng định ngay rằng, việc các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi đây là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi mà đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường. Kinh tế thị trường chỉ là một kiểu tổ chức kinh tế mà xã hội loài người sáng tạo ra, tồn tại ở nhiều chế độ xã hội khác nhau và được chủ nghĩa tư bản sử dụng làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Chính sự phát triển của sức sản xuất đạt đến một trình độ nhất định sẽ làm xuất hiện những điều kiện khách quan cho kinh tế hàng hóa - điểm khởi đầu của kinh tế thị trường tồn tại. Đó là phân công lao động xã hội và những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Những điều kiện ấy đã xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản và vẫn tiếp tục tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, nên việc duy trì và phát triển kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta là đúng với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chứ không phải là sự “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”. Bởi, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển tất yếu của quá trình phát triển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư, tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”, trong đó có thành tựu về phát triển kinh tế thị trường.

    Trên phương diện thực tiễn, trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô - viết, V.I. Lênin đã sớm nhận thấy sai lầm khi đồng nhất kinh tế hàng hóa với chủ nghĩa tư bản, không sử dụng các quan hệ thị trường để thúc đẩy sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Người đã đề ra và tổ chức thực hiện “Chính sách kinh tế mới” (NEP), mà nội dung cơ bản là duy trì và phát triển các quan hệ thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước vô sản. Việc thực hiện chính sách đó đã nhanh chóng đưa nước Nga thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 20 của thế kỷ XX; đồng thời, khẳng định tính hiện thực của mô hình kinh tế chứa đựng sự dung hợp giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Lý luận về phát triển kinh tế hàng hóa thời kỳ thực hiện NEP là một cống hiến xuất sắc của V.I. Lênin trong phát triển chủ nghĩa Mác về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước có nền kinh tế còn kém phát triển. Khai thác những di sản đó, từ những năm cuối thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc và Việt Nam đã căn cứ vào thực tiễn của nước mình, tiến hành “cải cách”, “đổi mới” theo hướng duy trì và phát triển kinh tế thị trường, đem lại những kết quả tích cực, cho phép hiện thực hóa từng bước các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

    Đối với nước ta, việc tổ chức thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hơn 35 năm qua đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Nền kinh tế quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế với nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường thế giới. Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thành viên của hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với những cam kết rất cao về tự do hóa thương mại và phát triển bền vững (liên quan đến lao động và bảo vệ môi trường), đã chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích ứng với các điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; đồng thời, đưa nước ta trở thành nền kinh tế có độ mở cao - tới 200% GDP. Điều đó được thể hiện bằng các con số ấn tượng, nếu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2005 mới đạt 20,7 tỉ USD/năm, thì riêng năm 2022 đã đạt 732,5 tỉ USD; cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu 07 năm liên tục kể từ năm 2016, riêng năm 2022 xuất siêu đạt 11,2 tỉ USD. Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam (do Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới - Brand Finance công bố) liên tục tăng trưởng với tốc độ nhanh. Nếu năm 2019, giá trị đó là 274 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 431 tỉ USD, được xem là quốc gia có tốc độ tăng trưởng giá trị nhanh nhất thế giới (tăng 74%) trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022.

    Thực tiễn đó đã chứng minh rõ những lợi ích mà sự phát triển kinh tế thị trường đem lại phù hợp với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Nó không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại, còn thúc đẩy việc thực hiện những nhiệm vụ đó hiệu quả hơn. Tuy nhiên, chúng ta không chọn phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà chọn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ”. Nói cách khác, đó là nền kinh tế thị trường của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế đó có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; nhưng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “nền kinh tế thị trường hiện đại”, được điều tiết, vận hành bằng “bàn tay” của cơ chế thị trường kết hợp với “bàn tay” của nhà nước, nhưng đây là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế; đồng thời, theo mức góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội được quan tâm giải quyết ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển; chính sách kinh tế luôn thống nhất và gắn chặt với chính sách xã hội. Theo đó, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Đó là những điểm khác biệt rất căn bản của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

    Qua 37 năm đổi mới, bằng nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nói trên đã từng bước hình thành và phát triển. “Thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước được xác lập”; “Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển, gắn với thị trường khu vực và thế giới”. Hầu hết các loại giá cả hàng hóa được xác lập theo nguyên tắc thị trường. Vai trò của nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc huy động và phân bổ các nguồn lực gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng bước phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Những tiến bộ nói trên là cơ sở để đến nay đã có 90 quốc gia công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ.

    Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta. Việc thực hiện thành công đường lối đó sẽ góp phần bổ sung, phát triển lý luận Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước có nền kinh tế còn kém phát triển; đồng thời, là minh chứng sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch.

Sưu tầm

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc chủ trương của Đảng về “dân thụ hưởng”

 

    Chủ trương “dân thụ hưởng” là một điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Điều đó, khẳng định sự nhất quán từ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên đều hướng tới mục đích cao cả là vì hạnh phúc của nhân dân; nhân dân thực sự được hưởng mọi thành quả của sự nghiệp cách mạng. Song hòng chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức bóp méo, xuyên tạc chủ trương này. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, cần kiên quyết vạch trần, bác bỏ.

    Kế thừa quan điểm các kỳ đại hội trước và tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, Đại hội XIII của Đảng bổ sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, đó là: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Đây không chỉ là sự hoàn thiện chủ trương của Đảng trong thực hành dân chủ, tạo cơ sở chính trị, pháp lý thuận lợi để tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ và vai trò chủ thể của nhân dân, mà còn là sự cụ thể, hiện thực hóa, khẳng định mục tiêu quan trọng tối thượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã lựa chọn là vì lợi ích của nhân dân: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, v.v. Song với mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình xuyên tạc rằng chủ trương “dân thụ hưởng” của Đảng, Nhà nước ta chỉ là hình thức, là khẩu hiệu suông, là “chiêu trò” mị dân, lợi dụng dân để củng cố địa vị của giai cấp và thu lợi cho mình. Đặc biệt, lợi dụng tình hình đời sống một bộ phận nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn; nhất là khi Đảng, Nhà nước ta quyết liệt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đã phanh phui, đưa ra xét xử một số vụ án lớn, trong đó có một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, các thế lực chĩa mũi rêu rao: chỉ “quan mới được hưởng thụ”, còn dân vạn đời vẫn chỉ nghèo khổ mà thôi; rằng, khẩu hiệu mà Đảng Cộng sản nêu ra chỉ lừa bịp, mị dân, ru ngủ dân để rồi cai trị dân, bao nhiêu quyền hành, bao nhiêu lợi ích quan đều hưởng hết. Thậm chí có kẻ còn “ác khẩu” cho rằng cần sửa lại chủ trương “dân thụ hưởng” thành “quan thụ hưởng”, v.v. Chúng ta không lạ gì những luận điệu, chiêu trò này của các thế lực thù địch; đó hoàn toàn là sự suy diễn, quy chụp thiếu khách quan, lấy hiện tượng quy bản chất, “gắp lửa bỏ tay người”; mục đích của họ không có gì khác là phủ nhận tất cả những nỗ lực và thành quả đạt được mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã và đang dày công gây dựng, nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Song, thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của gần 40 năm đổi mới đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu xuyên tạc này.

    “Dân thụ hưởng” là mục tiêu cao cả của cách mạng Việt Nam, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân; kế thừa truyền thống của dân tộc và từ thực tiễn cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân, quần chúng vừa là động lực, vừa là chủ thể thực hiện và thụ hưởng chính thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa, vì vậy “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách,... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng, đạo đức, phong cách, mọi việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều vì dân, vì nước: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người cũng yêu cầu Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, cán bộ, đảng viên phải làm cho các giá trị về tự do, độc lập không chỉ là khẩu hiệu cách mạng, mà phải được hiện thực hóa trên thực tế để nhân dân, đồng bào mình được thụ hưởng những giá trị to lớn của nền độc lập, của thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là: tự do, hạnh phúc, cơm ăn, áo mặc, cơ hội được học hành, phát triển toàn diện cá nhân, v.v. Thấm nhuần tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương châm “dân thụ hưởng” luôn được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân”. Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã bổ sung, hoàn thiện, yêu cầu phải thực hiện tốt phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Chủ trương này không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và các nguồn lực trong nhân dân trong tiến trình hiện thực hóa các chủ trương, quyết sách của Đảng vào cuộc sống. Không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng, mà chủ trương “dân thụ hưởng” còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Ngay ở Điều 1, Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “... Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, v.v. Điều này khẳng định, “dân thụ hưởng” là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng xã hội chủ nghĩa, đã và đang từng ngày, từng giờ được hiện thực hóa ở Việt Nam. Nó không phải là khẩu hiệu suông!

    “Dân thụ hưởng” được bảo đảm trên thực tế. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam là toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... song có thể thấy rõ nhất là đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên rõ rệt. Mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhưng nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện. Các chỉ số cơ bản thể hiện quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân đều tăng dần qua từng năm: năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm phát triển con người cao (đạt mức 0,703), nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển; chỉ số hạnh phúc (các tiêu chí được đánh giá, gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng) của nước ta cũng liên tục tăng tới 12 bậc, từ vị trí 77 năm 2022 lên vị trí 65/150 quốc gia trong năm 2023. Liên hợp quốc đánh giá và công nhận Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ trung bình tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020); chỉ số giáo dục Việt Nam tăng từ 0,618 (năm 2016) lên 0,640 (năm 2020); chỉ số thu nhập tăng 0,624 (năm 2016) lên 0,664 (năm 2020). Tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD của Mỹ đánh giá chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể: có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia (năm 2021), v.v. Điều đó cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững, thực chất. Cùng với đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người; xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý đất nước, xã hội là để mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Đồng thời, thực hiện tốt đường lối đối ngoại, quốc phòng, an ninh để mỗi người dân Việt Nam đang hàng ngày, hàng giờ được thực sự thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả lao động của mình. Đặc biệt, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, dịch bệnh (đặc biệt là đại dịch Covid-19) khiến đời sống vô cùng khó khăn thì Đảng, Nhà nước đều kịp thời có các chính sách an sinh xã hội để hỗ trợ; các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và toàn xã hội đều đoàn kết, giang tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mọi người dân Việt Nam không ai bị bỏ lại phía sau, đều bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí minh: “dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, v.v.

    Thực tiễn trên là con số biết nói, được các quốc gia, tổ chức uy tín thế giới; ngay cả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng phải thừa nhận. Đó là minh chứng rõ ràng nhất, thuyết phục nhất về sự hiện thực hóa quan điểm, chủ trương “dân thụ hưởng” của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, khẳng định chủ trương “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, hay khẩu hiệu để hô hào, mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam; không thủ đoạn xảo trá nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Sưu tầm

Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là chủ trương nhất quán của Việt Nam

    Kỷ niệm 75 năm Ngày Nhân quyền thế giới - ngày ra đời Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (10/12/1948 - 10/12/2023), Việt Nam chúng ta tự hào là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, nỗ lực bảo đảm và thúc đẩy quyền con người cả trong nước và trên thế giới. Những nỗ lực đó góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và là minh chứng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

    Tôn trọng, bảo đảm quyền con người là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ; được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; được thực hiện tích cực, có trách nhiệm trong quá trình triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người.

    Ngay từ bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người đã được khẳng định như một chân lý vĩnh cửu và phổ biến: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta cũng khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản; Tự do tổ chức và hội họp; Tự do tín ngưỡng; Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Kể từ đó đến nay, với nhận thức “quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người cùng nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản về lao động. Trên cơ sở đó, Việt Nam đã nỗ lực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người nhằm bảo đảm sự tương thích của hệ thống pháp luật quốc gia với các điều ước quốc tế, phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao của hoạt động lập hiến về quyền con người khi dành tới 36/120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung, ban hành các luật, bộ luật trên các lĩnh vực nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam ngày càng tốt hơn.

    Bên cạnh việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, với sự nhất quán về chính sách coi “con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người cả ở trong nước và trên thế giới. Việt Nam đã đảm nhận thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và tiếp tục được tín nhiệm giữ vai trò này trong nhiệm kỳ 2023 - 2025. Cần lưu ý rằng, để trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, quốc gia ứng viên phải đạt được những tiến bộ vượt bậc trong hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở trong nước; đồng thời, phải có đóng góp, đưa ra nhiều sáng kiến và tích cực hành động thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu. Bởi vậy, việc Việt Nam hai lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng cho những nỗ lực tích cực, hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực quyền con người suốt nhiều năm qua; đồng thời, khẳng định sự coi trọng của bạn bè quốc tế đối với vị thế của Việt Nam trong các hoạt động thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

    Trên thực tế, kể từ khi gia nhập Liên hợp quốc (năm 1977) đến nay, Việt Nam đã luôn chứng tỏ là một thành viên có trách nhiệm với công tác bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thông qua việc tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người; đồng thời, đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở trong nước, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Công cuộc đổi mới được Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện trong 37 năm qua với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đều hướng vào mục tiêu bảo đảm, bảo vệ các quyền của người dân. Đúng như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no, và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người, đó là điều quan trọng nhất”. Còn ông Jean Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt thì nhấn mạnh: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị được bảo đảm, bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, được thực hiện minh bạch trong thực tiễn. Theo đó, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; mọi công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, nếu đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Các quyền con người, quyền công dân về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng ngày càng được bảo đảm tốt hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Nếu thu nhập bình quân đầu người (GDP) trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD. Nhờ đó, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Tiến bộ và công bằng xã hội đạt nhiều kết quả ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% (năm 1993) xuống dưới 03% (năm 2020) theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, năm 2021 đứng thứ 115/191 quốc gia trong bảng xếp hạng, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng HDI nhanh nhất thế giới giai đoạn 1990 - 2021. Các vấn đề an sinh xã hội cũng luôn được quan tâm chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Để bảo đảm quyền được sống của người dân trước sự lây lan nhanh chóng của đại dịch Covid-19, Chính phủ Việt Nam đã coi việc bảo vệ sức khỏe, quyền lợi của người dân là ưu tiên cao nhất trong mọi chính sách, chương trình hành động. Ở một số thời điểm, Chính phủ chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế đất nước để bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân, bảo đảm an toàn, ổn định xã hội nhằm hỗ trợ cho người lao động và doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, góp phần giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch, bảo đảm đời sống và an toàn cho người lao động. Kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 01/7/2021 của Chính phủ “Về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” đã đến tay 36,5 triệu người dân trên cả nước, 394.000 đơn vị sử dụng lao động và 500.000 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.600 tỉ đồng, là một minh chứng cụ thể cho những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền con người. Đánh giá sự tiến bộ của Việt Nam trên lĩnh vực này, bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, khi trả lời phỏng vấn của VOV vào ngày 12/9/2023 về mối quan hệ hợp tác Việt Nam - UNDP trong 45 năm qua (1978 - 2023) và những triển vọng trong thời gian tới đã khẳng định: “Việt Nam là một hình mẫu về giảm nghèo, nhất là trong một khoảng thời gian đặc biệt ngắn. Tôi nghĩ rằng nhiều quốc gia sẽ nhìn vào Việt Nam để học hỏi những bài học đó”.

    Cùng với các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nói trên, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện quyền con người, quyền công dân về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng; nhờ đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Nếu năm 2003 cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì đến năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo được tổ chức, thu hút hàng vạn tín đồ, nhân dân tham dự. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm; xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự,... của các tôn giáo cũng được thực hiện thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật. Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ; 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

    Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tính đến cuối năm 2022, nước ta có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó, có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 cán bộ đã được cấp thẻ nhà báo. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam. Số người dùng internet ở Việt Nam lên đến 72,1 triệu người, chiếm khoảng 73,2% dân số cả nước. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 6 trong 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống báo chí, các cơ quan truyền thông đại chúng, internet và chỉ số trung bình thời gian sử dụng internet của người Việt Nam ở mức cao (khoảng 07 giờ/ngày) là minh chứng cụ thể cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

    Với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền, trong nhiệm kỳ 2014 - 2016, Việt Nam đã có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người; là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết, hoặc trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được Hội đồng Nhân quyền thông qua bằng đồng thuận. Đặc biệt, từ năm 2009 đến nay, Việt Nam đã tự nguyện thực hiện 03 lần công bố Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) và tích cực thực hiện hầu hết các khuyến nghị của Hội đồng Nhân quyền sau các kỳ báo cáo; đồng thời, đang tích cực chuẩn bị để hoàn thành đúng hạn nghĩa vụ báo cáo quốc gia chu kỳ IV theo Cơ chế này. Bên cạnh đó, từ tháng 6/2014 đến nay, Việt Nam đã cử hàng trăm lượt sĩ quan, nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại hai Phái bộ ở Cộng hòa Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi, thể hiện trách nhiệm đối với việc bảo vệ quyền con người trên phạm vi quốc tế. Với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam đã chứng tỏ ngay vai trò của mình trong lĩnh vực quyền con người trên phạm vi toàn cầu khi hỗ trợ khẩn cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria sau thảm họa động đất diễn ra ngày 06/02/2023. Thêm nữa, việc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 03/4/2023 đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025.

    Tất cả những nỗ lực đó của Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền là minh chứng thuyết phục khẳng định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở trong nước, cũng như trên phạm vi thế giới là nhất quán và liên tục. Những nỗ lực đó góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và thúc đẩy bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu; đồng thời, là minh chứng bác bỏ mọi xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Sưu tầm

Nâng cao ý thức, trách nhiệm để xây dựng không gian mạng lành mạnh

 

    Không gian mạng, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi thông tin, một mạng lưới toàn cầu; một môi trường mới, nơi diễn ra tất cả các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội… một thế giới ảo, tồn tại và tương tác, đan xen, gắn kết mạnh mẽ với thế giới thực của con người. 

    Sử dụng không gian mạng là nhu cầu không thể thiếu của mỗi chúng ta hiện nay và trở thành xu hướng của thời đại. Vai trò to lớn của không gian mạng đối với sự phát triển của xã hội loài người là không thể phủ nhận. Vì vậy, không gian mạng cũng đã trở thành môi trường tác chiến mà các quốc gia trên thế giới không thể đứng ngoài. Theo đó, trong môi trường ấy đã diễn ra các hình thái chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng đã xuất hiện và đang tác động đến tới tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… thậm chí đe dọa chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc. 

    Thực tiễn đã từng diễn ra nhiều cuộc binh biến chính trị như: năm 2014, làn sóng cách mạng xã hội và các cuộc biểu tình ở Bắc Phi, Trung Đông và Hồng Kông có sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng; năm 2016 ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ đã dập tắt cuộc đảo chính của quân đội nhờ mạng xã hội; năm 2016, Donal Trump thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống nước Mỹ cũng có sự đóng góp to lớn của mạng xã hội… 

    Hiện nay, thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra cho Việt Nam một kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cùng với cơ hội phát triển đất nước là nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, tội phạm công nghệ cao đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới đất nước một cách quyết liệt. Chúng đã trực tiếp đe dọa, làm tổn hại uy tín, vị thế, lợi ích, chủ quyền, an ninh, an toàn của đất nước và đời sống của Nhân dân ta

    Trên không gian mạng mà trực tiếp là truyền thông mạng là công cụ đắc lực của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động để thúc đẩy “tự diễn biến”“tự chuyển hóa” trong lòng xã hội Việt Nam. Các thế lực này chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, tôn giáo - dân tộc, quốc phòng - an ninh, đối ngoại với đủ các chiêu trò và thủ đoạn khác nhau. Vậy, chúng ta phải làm gì trước mặt trái của truyền thông trên không gian mạng? 

    Nhìn ra thế giới: Để đối phó với các mặt trái của truyền thông, mạng xã hội, đa phần các quốc gia đều coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn, kết hợp với tuyên truyền và xây dựng các biện pháp, chế tài pháp lý trong quản lý, kiểm soát hoạt động truyền thông. Để ngăn chặn sự chống phá của phương Tây và lực lượng thù địch, đặc biệt là sự tác động vào ý thức của những người trẻ. Điển hình như:

    Trung Quốc đã đưa ra “7 giới hạn đỏ” yêu cầu cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện. Khi xảy ra các sự cố trong nước, Trung Quốc cho lập “tường lửa vạn lý Trường Thành”, thậm chí chặn toàn bộ các mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo các cơ quan truyền thông tập trung tuyên truyền, đấu tranh mang tính hệ thống.

    Mỹ cũng lập riêng một tiểu ban để phân tích và kiểm tra các thông tin trên báo chí khi xảy ra các biến cố an ninh trong nước, bên cạnh đó, Cục Điều tra Liên bang còn thành lập một lực lượng chuyên kiểm soát thông tin trên internet, cũng như các liên lạc bằng điện thoại di động. 

    Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu về Internet nhưng đất nước này cũng có những qui định rất chặt chẽ về quản lý truyền thông đặc biệt là internet như: để gửi bài viết, kể cả bình luận trên mạng buộc người gửi phải có số chứng minh nhân dân; những bài viết liên quan đến phản đối nghĩa vụ quân sự, ủng hộ Triều Tiên đều bị cơ quan quản lý gỡ bỏ.

    Chính phủ Nga đã ngăn cấm các công ty nước ngoài phát triển mạng xã hội trong nước. Nga rất coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu, đồng thời còn đẩy mạnh phát triển lực lượng tác chiến mạng và coi đó là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. 

    Ở nước ta, cùng với hàng loạt giải pháp kỹ thuật, quản lý Nhà nước, Việt Nam còn sử dụng chính truyền thông trên không gian mạng để làm công tác đấu tranh chống lại âm mưu diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, tổ chức phản động. Tiêu biểu là sự ra đời của Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng đã được Bộ Quốc phòng công bố ngày 08/01/2018. Công bố này cho thấy sự quyết tâm và chủ động về chủ trương nhằm thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, phương thức bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước, Quân đội trong tình hình mới. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng có chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và công nghệ thông tin trong toàn quân. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng sẽ đóng vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, là lực lượng quan trọng tham gia bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao và “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc cả trên đất liền, trên không, trên biển và trên không gian mạng. 

    Trong thời gian qua, hoạt động chống các tư tưởng, quan điểm sai trái, thông tin sai sự thật trên không gian mạng đã cho chúng ta thấy sự cần thiết phải đấu tranh trên không gian mạng, đặc biệt là truyền thông nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong tình hình mới – nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

    Mỗi công dân Việt Nam, khi tham gia vào không gian mạng, có thể nhận diện các thế thực thù địch, phản động thông qua các thủ đoạn trên cũng như cần cảnh giác với các trang web, blog, trang thông tin truyền thông như: VOA tiếng Việt, “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Chân dung quyền lực”… Đồng thời, nhân dân cũng cần biết rằng các tổ chức như: Việt Tân, Hội anh em dân chủ và Hoàng Sa, đảng “Dân chủ nhân dân”, “Phong trào Lao động Việt”, “Viễn tưởng Việt Nam”, “Đảng Vì dân”… là các tổ chức phản động chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam.

    Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở Học viện Lục quân khi tham gia vào không gian mạng cần:

    Nghiên cứu, hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung của Luật An ninh mạng, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm khi tham gia hoạt động trên không gian mạng.

    Tự trau dồi kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn gây nguy cơ mất an ninh mạng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhận diện được các tổ chức chống đối hoạt động trên không gian mạng như đã nêu ở trên.

    Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ khi tham gia mạng xã hội. Nghiên cứu kỹ trước khi like hoặc chia sẻ các file, các bài viết hoặc đường link, cảnh giác với các trang web lạ, email chưa rõ danh tính và đường dẫn nghi ngờ, tuyệt đối không a dua, hiếu kỳ, hoặc tham tiền bạc cùng với những lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu. Kịp thời cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có trách nhiệm.

    Tận dụng, sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để mở mạng kiến thức, cùng nhau xây dựng môi trường văn hoá mạng xã hội lành mạnh, tránh bị các thông tin ảo chi phối tác động, góp phần phòng chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

    Phổ biến, tuyên truyền đến đồng chí đồng đội, gia đình, người thân, bạn bè và Nhân dân các quy định của Luật An ninh mạng để mọi người nắm, hiểu và không thực hiện các hành vi vi phạm liên quan đến an ninh mạng, “góp phần xây dựng không gian mạng lành mạnh từ cơ sở”.

     Với đặc tính không biên giới, không gian mạng có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu và đã, đang tác động đến mỗi chúng ta. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận đối với sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng bảo đảm an toàn, an ninh mạng của các cơ quan, đơn vị đến ý thức tham gia xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người./.

Sưu tầm

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ LỆNH HẢI QUÂN YÊU CẦU TOÀN QUÂN CHỦNG XỬ TRÍ HIỆU QUẢ CÁC TÌNH HUỐNG!

     Tư lệnh Hải quân Trần Thanh Nghiêm yêu cầu, trong năm 2024, toàn Quân chủng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) cao, xử trí hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; giữ vững chủ quyền biển, đảo và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Ngày 3/1, tại Hải Phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân tổ chức Hội nghị Quân chính năm 2023. Phó Đô đốc Trần Thanh Nghiêm - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Hải quân chủ trì hội nghị; Trung tướng Nguyễn Văn Bổng - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Hải quân quán triệt nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2024 của Đảng ủy Quân chủng.

Năm 2023, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

Theo đó, Quân chủng đã duy trì nghiêm lực lượng, phương tiện SSCĐ, chủ động nắm chắc, đánh giá đúng tình hình, kịp thời tham mưu đề xuất và xử trí có hiệu quả các tình huống, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, các hoạt động kinh tế biển; chủ động triển khai bảo đảm tiến độ các đề án, dự án; tổ chức diễn tập đúng kế hoạch, bảo đảm chất lượng, an toàn; đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức các đoàn đi kiểm tra, thăm quân dân huyện đảo Trường Sa, Nhà giàn DK1 và các vùng biển đảo của Tổ quốc.

Công tác tổ chức xây dựng lực lượng được triển khai đồng bộ, đúng tiến độ; chất lượng huấn luyện, đào tạo, giáo dục chính trị, tư tưởng và công tác tuyên truyền, chấp hành kỷ luật có nhiều chuyển biến; tham gia các hội thi, hội thao các cấp, khu vực đạt thành tích cao.

Công tác hậu cần, kỹ thuật triển khai đồng bộ, kịp thời cho các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất. Hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục tăng trưởng; đối ngoại quốc phòng tiến hành có hiệu quả. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Toàn Quân chủng luôn đoàn kết, kiên định, vững vàng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh những thành tích nổi bật, Đảng ủy Quân chủng cũng thẳng thắn đánh giá, năm 2023, Quân chủng vẫn còn một số khuyết điểm, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới.

Sẵn sàng chiến đấu cao
Hội nghị đã xác định 6 mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu năm 2024, bao gồm: Nắm chắc tình hình, xử trí các tình huống hiệu quả, đúng đối sách trên biển; điều chỉnh tổ chức lực lượng đúng lộ trình, phấn đấu đơn vị cấp trung, lữ đoàn đạt “Đơn vị huấn luyện giỏi”; bảo đảm đúng, đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ…

Phát biểu tại hội nghị, Tư lệnh Hải quân Trần Thanh Nghiêm nhấn mạnh: Năm 2024, để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần bám sát Nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Quân chủng và nhiệm vụ quân sự quốc phòng; xây dựng lộ trình cụ thể, triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp khắc phục dứt điểm tồn tại.

Toàn Quân chủng tập trung thực hiện hiệu quả đột phá của các ngành; cơ quan các cấp (nhất là cấp trung, lữ đoàn) làm tốt chức năng tham mưu, đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ; nâng cao năng lực, chất lượng nắm, dự báo, tham mưu đúng, trúng và xử trí hiệu quả các tình huống trên biển; tăng cường huấn luyện hiệp đồng giữa các lực lượng, huấn luyện dã ngoại, huấn luyện đêm và huấn luyện thuần thục các bài bắn…

Đồng thời, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng tập trung lãnh đạo, quán triệt nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của trên; thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến dịch - chiến lược về quân sự, quốc phòng trên hướng biển. Toàn Quân chủng sẵn sàng chiến đấu cao, xử trí hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; giữ vững chủ quyền biển, đảo và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./.

Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 05 THÁNG 01 NĂM 1952!

     “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"!
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa: “Gửi anh chị em họa sĩ, biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thăm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo. Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5 tháng 1 năm 1952; trong bối cảnh toàn thể dân Việt Nam đang thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện” chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong thư năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa, nghệ thuật đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời tin tưởng, mong muốn công tác giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ họa sĩ đi đầu xung kích, sáng tạo trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; xứng đáng là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, một trong những lực lượng tiên tiến trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc.
Lời của Người trong thư năm ấy đã nhanh chóng được anh chị em họa sĩ nói chung, họa sĩ trong quân đội nói riêng vui mừng đón nhận, hun đúc tinh thần thi đua yêu nước, hăng say, sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy " Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao chất lượng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ - người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; thực sự là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CẢNH GIÁC VỚI UY TÍN GIẢ - TẤM BÌNH PHONG “CHUI SÂU, LEO CAO”!

         Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện, thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.

Quyền uy và “dân chủ giả hiệu”
Trong công tác lãnh đạo, quản lý, uy tín có vai trò rất lớn đối với hoạt động thực tiễn của người lãnh đạo. Người lãnh đạo có uy tín càng cao thì ảnh hưởng của người đó với tổ chức càng lớn, tính chất ám thị và thuyết phục đối với những người dưới quyền càng tăng lên. Nếu người lãnh đạo không có uy tín thì mọi lời nói và mệnh lệnh sẽ không được cấp dưới thực hiện một cách có hiệu quả. Lúc sinh thời, lãnh tụ Lênin cho rằng: Điều quyết định thành công trong việc lãnh đạo quần chúng không phải bởi sức mạnh của quyền hành mà là sức mạnh của uy tín, sức mạnh của nghị lực, của sự hiểu biết phong phú, của tài năng xuất sắc...

Nói một cách khái quát thì uy tín được hình thành từ 3 yếu tố chính: Phẩm chất, năng lực và phong cách của người lãnh đạo. Nó được thể hiện và đo lường ở “lòng dân”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Người lãnh đạo chỉ có uy tín khi được dân tin, dân phục, dân yêu.

Trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành hiện nay cho thấy, bên cạnh những cán bộ có uy tín đích thực còn có cán bộ cố tình tạo ra cho mình loại uy tín giả danh (giả hiệu). Loại uy tín này được xây dựng không dựa trên những phẩm chất, năng lực và giá trị xã hội đích thực của người lãnh đạo, quản lý mà được chủ thể tạo nên bằng nhiều thủ đoạn. Theo Đại tá, PGS TS Đỗ Duy Môn, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý học Quân sự, Học viện Chính trị thì uy tín giả biểu hiện rất phong phú với nhiều dạng khác nhau. Đó là: 

Loại uy tín do hạ thấp yêu cầu hay là “mị dân”, “dân chủ giả hiệu”. Họ giả vờ tỏ ra quan tâm, gần gũi quần chúng, hạ thấp yêu cầu với cấp dưới để lôi kéo tình cảm, sự ủng hộ của cấp dưới theo mình.

Loại uy tín được tạo ra bởi “trấn áp” bằng quyền lực, độc đoán, gia trưởng, tạo khoảng cách đối với cấp dưới. Người lãnh đạo tìm cách phô trương sức mạnh quyền lực, đe dọa cấp dưới; tạo quyền uy, khoảng cách, che đậy bản chất thật. 

Loại uy tín do phóng đại thành tích của mình, thổi phồng khuyết điểm người khác. Họ lẩn tránh khuyết điểm của bản thân, nhưng lại khoét sâu hoặc xuyên tạc khuyết điểm người khác; phóng đại thành tích để thông báo, tự ca ngợi mình; luôn đề cao cá nhân, coi mình là nhất...

Uy tín giả tìm mọi cách che mắt tập thể, che mắt cấp trên. Nhất là mỗi khi có sự kiện như: Chuẩn bị đại hội Đảng, làm quy trình nhân sự hay thay đổi đội ngũ cán bộ chủ chốt... Thời điểm này, những kẻ cơ hội tìm mọi cách ban phát những quyền lợi vật chất nhỏ bé, "thiết kế" các cuộc gặp gỡ "chén chú chén anh", cười cợt lừa phỉnh người nhẹ dạ để lôi kéo phe cánh, quần chúng, dùng phiếu bầu để hạ uy tín người khác; họ có thể thu mình, tránh va chạm, nịnh trên, vuốt ve dưới...

Uy tín giả và cuộc đấu tranh chống “địch bên trong”
Có thể thấy, uy tín giả rất nguy hại, nó tác động và làm suy yếu tổ chức, tập thể, làm méo mó động cơ phấn đấu của cá nhân. Nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết trong tập thể; tạo ra môi trường, tâm lý không lành mạnh với sự ghen ghét, độ kỵ, nghi ngờ trong các thành viên và làm suy giảm hiệu quả công việc của tập thể. Đặc biệt, nếu tổ chức, tập thể không tỉnh táo, dũng cảm để nhận diện và đấu tranh thì uy tín giả sẽ trở thành bình phong để những kẻ cơ hội tiến thân, lọt qua các quy trình để “chui sâu, leo cao” vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn.

Uy tín giả gây tác hại khôn lường, nhưng nhận diện không hề đơn giản vì nó được che đậy tinh vi bằng nhiều thủ đoạn, nó nằm sâu trong động cơ, lợi ích cá nhân của một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Phát hiện ra nó phải nhìn nhận từ phẩm chất, năng lực thật sự, đặc biệt là phong cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ đó. Xem đạo đức, trình độ có tương xứng với cương vị, chức trách không, có độc đoán, gia trưởng hay mị dân, dân chủ giả hiệu không, có thổi phồng thành tích của mình không?...

PGS, TS Đỗ Duy Môn cho rằng, nguyên nhân tạo nên uy tín giả có cả khách quan và chủ quan. Đó là do công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ chưa chặt chẽ, tinh thần dân chủ, tính đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể không cao hoặc bị vô hiệu hóa. Bản thân một số cán bộ không có phẩm chất, năng lực đáp ứng chức trách nhiệm vụ được giao, không có nhận thức đúng về uy tín, động cơ sai trái, nhằm mục đích cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện... Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha hóa Ðảng. Người cũng khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Phải tinh tường, đừng “thấy đỏ tưởng là chín”
Đấu tranh chống lại các biểu hiện và thủ đoạn để tạo uy tín giả cũng là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải có dũng khí, có phương pháp và kiên trì. Nó gắn liền với việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, gắn với việc tu dưỡng, rèn luyện đội ngũ... Trong xây dựng uy tín thật, đấu tranh với uy tín giả trong đội ngũ cán bộ hiện nay, cần quan tâm và thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có ý thức và quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, năng lực, hoàn thiện về nhân cách, xứng đáng với chức trách nhiệm vụ được giao. Muốn có uy tín, mỗi người phải tự học tập, tu dưỡng, tích lũy tri thức, kinh nghiệm, vốn sống, nâng cao năng lực mọi mặt để được đồng nghiệp, quần chúng thừa nhận, tin theo. Đồng thời và quan trọng hơn là đội ngũ cán bộ phải thường xuyên rèn luyện về đạo đức, lối sống cũng như sinh hoạt. Những vi phạm về đạo đức, lối sống bao giờ cũng là nguyên nhân chính, rất nhạy cảm làm giảm sút và mất uy tín của người cán bộ. Cùng với đó, quá trình gây dựng và nâng cao uy tín của người cán bộ cần tạo dựng cho mình một phong cách lãnh đạo, quản lý thích hợp, một phương pháp, tác phong công tác hiệu quả. Một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định, mặt khác phải linh hoạt, thích ứng, không rập khuôn, máy móc, với động cơ thật sự trong sáng vì tập thể, vì cái chung. Cần chống lại mọi biểu hiện như độc đoán, gia trưởng hay mị dân, bệnh công thần, háo danh...

Mặt khác, cần xác lập tốt các mối quan hệ và giao tiếp trong tập thể để hình thành lòng tin, sự tín nhiệm của cấp dưới với người lãnh đạo, quản lý. Nó đòi hỏi người cán bộ phải thật tâm, thật tình, thật tin tưởng khi quan hệ với dưới, được biểu hiện bằng sự quan tâm, chăm lo, ứng xử đúng mực với dưới. Là sự giản dị, khiêm nhường, không định kiến...

Một giải pháp rất căn cơ để xây dựng uy tín đích thực trong tập thể là phải tạo được bầu không khí dân chủ, đoàn kết, tinh thần phê bình và tự phê bình tích cực trong tập thể. Muốn có được điều đó cần quan tâm xây dựng tổ chức, tập thể vững mạnh; cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, trách nhiệm; các thành viên đoàn kết, gắn bó.

Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, các thủ đoạn để tạo dựng uy tín giả. Nó đòi hỏi tổ chức, tập thể phải tinh tường và có dũng khí trong vạch trần các cá nhân có động cơ và việc làm sai trái. Các cá nhân này thường rất tinh vi để che đậy bản chất, đánh lừa tổ chức, tập thể vì mục đích vụ lợi, cá nhân. Trong chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã cảnh báo: Đừng “nhìn gà hóa cuốc”, “thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy "cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong"...

Uy tín giả làm xói mòn niềm tin của cấp dưới với cấp trên, nói rộng ra là của quần chúng với Đảng. Vì thế đấu tranh chống uy tín giả cũng chính là xây dựng niềm tin, “lòng dân” ở các tổ chức, tập thể, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới hiện nay./.
Yêu nước ST.