Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa

Kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” được hình thành, đúc kết trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, phương thức giữ nước trong mọi thời đại. Với tư duy, tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã kế thừa, vận dụng sáng tạo, phát triển kế sách của cha ông thành quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tổng thể các hoạt động của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong việc tích cực chuẩn bị đất nước mọi mặt từ trước, ngay trong thời bình để xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động ngăn ngừa, xử lý, đẩy lùi, triệt tiêu các nhân tố có thể phát triển thành các nguy cơ, thách thức đe dọa đối với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự ổn định chính trị của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, cũng như môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng nhiều biện pháp. Nổi bật là: các hoạt động bang giao, giữ hòa khí với các nước láng giềng, bảo vệ hòa bình, tránh nạn binh đao; chăm lo xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, thực hiện “khoan thư sức dân” làm kế sâu rễ, bền gốc, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, v.v. Đặc biệt, với tư duy sắc sảo, tầm nhìn chiến lược và từ thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có nhận định đúng và hiểu rõ những nguy cơ đe dọa hòa bình của đất nước từ sớm, từ xa. Người từng chỉ rõ: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, quan điểm chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, giữ nước từ khi nước chưa nguy được Đảng ta phát triển lên một tầm cao mới, với những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng, là định hướng chiến lược, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn kế thừa, bổ sung và không ngừng phát triển quan điểm về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng, các văn kiện nghị quyết luôn xác định phải nâng cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu hành động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chỉ rõ: “Phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển, đảo, chiến tranh mạng; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố”. Đến Đại hội XII, lần đầu tiên Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”1. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quốc phòng Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” được chính thức sử dụng. Nghị quyết đã khái quát nhiều vấn đề cơ bản, như: mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, phương châm, phương thức, sức mạnh,... để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”2.

Hai là, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự nghiệp của toàn dân, trong đó lực lượng Quân đội, Công an là nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh là nguyên tắc bất di, bất dịch và là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Quan điểm này khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, an ninh ở nước ta. Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì không thể huy động cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc, toàn diện.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc luôn đòi hỏi phải hoạch định đường lối, chiến lược quân sự, quốc phòng, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, các chủ trương, chính sách lớn về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thực tiễn từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử; xác định những phương hướng cơ bản phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, Công an. Đồng thời, Đảng phải có những quyết sách đúng để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tích cực, chủ động nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược; giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước là nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm kịp thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giữ thế chủ động, kịp thời hóa giải các nguy cơ bùng nổ thành xung đột, chiến tranh. Trên cơ sở đó, chuẩn bị sớm về tư tưởng, đường lối, nguồn nhân lực, vật lực, phương thức, phương tiện, phương án phòng ngừa, phát hiện từ sớm, ngăn chặn từ xa, triệt tiêu các nguy cơ, thách thức, nhất là nhân tố bên trong có thể dẫn đến đột biến bất lợi, xử lý hiệu quả mọi mầm mống có thể trở thành những nguy cơ đe dọa sự ổn định của đất nước và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân. Đại hội XIII của Đảng xác định: tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đồng thời, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại, không để bị động bất ngờ.

Bốn là, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao thế, lực, uy tín của đất nước. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh tính hiệu quả của các chính sách “bang giao hòa hiếu”, mềm dẻo, khôn khéo, tránh “họa binh đao” cho đất nước mà ông cha ta đã sử dụng để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa. Kế thừa, phát huy truyền thống và kinh nghiệm đó, hiện nay, hoạt động đối ngoại (ở các cấp độ) được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng và luôn xem đó là mặt công tác mũi nhọn, trọng yếu và có vai trò thiết yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta xác định: xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của đối ngoại quốc phòng là: đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Do đó, cần phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng, an ninh nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Năm là, thường xuyên chăm lo xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, tạo nền tảng vật chất, tinh thần để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là sự kế thừa, phát triển chính sách “quốc phú, binh cường”, kết hợp chặt chẽ giữa việc “binh” và việc “nông”, đẩy mạnh “khoan thư sức dân”, “lấy dân làm gốc” của cha ông ta. Theo đó, Đảng ta xác định, chủ động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” vững mạnh. Về xây dựng tiềm lực, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Về xây dựng lực lượng, Đảng ta nhấn mạnh: xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở. Về xây dựng thế trận, tập trung xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Trong đó coi trọng “thế trận lòng dân”; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững mạnh theo phương châm: “Làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”, tạo nền tảng cho thế trận quốc phòng toàn dân trong thời bình, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tư tưởng chỉ đạo, quan điểm nhất quán và hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là kế sách lớn, chiến lược tổng thể giữ nước ngày nay. Quán triệt và thực hiện tốt các nội dung kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chính là hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình mà không phải tiến hành chiến tranh; là thượng sách bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Quan điểm “bốn không” của Đảng - thông điệp hòa bình

Nhằm thể hiện sự công khai, minh bạch chính sách quốc phòng, năm 2019 Việt Nam tiếp tục công bố Sách trắng Quốc phòng. Và sự kiện đó được dư luận quốc tế quan tâm, đánh giá cao. Cuốn sách có nhiều nội dung quan trọng, với tinh thần cơ bản là: xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc; thực thi chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ. Đặc biệt, trong đó khẳng định rõ: Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Đây chính là quan điểm “Bốn không” của Đảng; là thông điệp hòa bình, thể hiện sâu sắc khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam gửi tới tất cả các quốc gia trên thế giới.

Câu hỏi đặt ra là, tại sao khẳng định quan điểm “Bốn không” nêu trên là thông điệp hòa bình? Nói như thế liệu có mâu thuẫn không? Câu trả lời là đúng như vậy! Và không hề có sự mâu thuẫn. Bởi vì, thực chất quan điểm “Bốn không” đã thể hiện sự nhất quán nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh từ phía Việt Nam; không cho bất cứ ai có thể lợi dụng Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam để xâm lược hoặc gây phương hại nước khác. Từ thực tiễn khắc nghiệt của đất nước, Việt Nam thấu hiểu hòa bình không phải là mỹ từ để ngợi ca, mà là mục tiêu cao cả của nhân loại chân chính. Không một ai trong số những người có lương tri trên trái đất này lại không yêu chuộng hòa bình, đấu tranh vì hòa bình. Cũng vì thế mà nhân dân Việt Nam và các dân tộc từng bị áp bức, nô dịch bởi chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã kiên quyết đứng lên đấu tranh đến cùng, không khoan nhượng để giành độc lập, tự do, hòa bình cho dân tộc mình – thứ quý đến mức “không có gì quý hơn” theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để có được nó dân tộc Việt Nam đã phải trả giá bằng máu cùng sự đau thương, mất mát của nhiều thế hệ. Ngay trong cuộc sống hòa bình hôm nay, trên dải đất hình chữ “S” vẫn hằn sâu những vết thương chiến tranh, di chứng chiến tranh. Vẫn còn đó những Mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chất độc da cam,… họ là những chứng nhân của lịch sử, hiện thân của chiến tranh đã vượt lên số phận, không những có ích cho đời mà còn cho cả xã hội. Họ thực sự trở thành những tâm hồn cao đẹp của dân tộc Việt Nam đã tỏa sáng, được kết tinh bởi khát vọng hòa bình. Không phải ngẫu nhiên, ngay trong cuộc chiến tranh chính nghĩa đó của nhân dân ta chống chiến tranh xâm lược phi nghĩa của tên đế quốc đầu sỏ, Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới Romesh Chandra đã khâm phục, ngợi ca: “Việt Nam là lương tri của thời đại”. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Hà Nội – Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vốn bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của đế quốc Mỹ lại được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, bạn bè quốc tế vinh danh “Thủ đô của phẩm giá con người”. Thật đáng tự hào!

Việt Nam là thế. Một dân tộc biết chiến đấu, dám hy sinh bởi khát vọng hòa bình, vì hòa bình và quyết biến nó thành hiện thực. Hẳn nhiên, dân tộc đó hiểu rõ giá trị của hòa bình. Trước đây là thế và bây giờ vẫn vậy, trong khả năng của mình, Việt Nam đã và đang làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình cho đất nước; đồng thời, đóng góp tích cực vào đảm bảo môi trường hòa bình trong khu vực và trên thế giới.

Quan điểm “Bốn không” trong “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019” là thông điệp hòa bình và cũng là cam kết của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam gửi tới các quốc gia trên thế giới. Trước sau như một, Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác, kể cả hợp tác quốc phòng, trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Từ lịch sử đến hiện tại và tương lai, Việt Nam chưa từng và sẽ không bao giờ gây hấn hay xâm lược nước khác, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là tôn chỉ, là truyền thống văn hóa lâu đời đã trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam. Như vậy, với cam kết “Bốn không”, Việt Nam đã chủ động bày tỏ thẳng thắn thái độ của mình xuất phát từ khát vọng hòa bình, vì hòa bình của chính dân tộc mình cũng như hòa bình của nhân loại.

Hòa bình là không gian sinh tồn của con người theo đúng nghĩa đen của mỹ từ này. Thực tiễn chỉ ra rằng, để có được hòa bình là điều không dễ, nhưng giữ vững được hòa bình còn khó hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, khi mà các mối quan hệ đan xen lợi ích với những toan tính chiến lược rất khó nhận biết của các nước lớn. Vì lợi ích ích kỷ, họ bất chấp mọi luân thường đạo lý, sẵn sàng “đi đêm”, “mặc cả” sau lưng người khác, thì việc giữ vững hòa bình càng trở nên không đơn giản với mọi quốc gia. Việt Nam đủ tỉnh táo để nhận rõ điều đó và biết rằng, nếu chỉ với quan điểm “Bốn không” sẽ không thể bảo vệ được nền hòa bình của đất nước, mà phải nỗ lực thực hiện bằng nhiều phương thức kết hợp, trong đó không thể thiếu việc tăng cường sức mạnh quốc phòng. Đề cập về vấn đề này trong tâm trí những người có lương tri lại dấy lên nỗi đau khi mà chiến sự Nga - Ukraine đang diễn ra khốc liệt, với biết bao người dân vô tội ở đó đang đổ máu, phải tạm rời bỏ đất nước mình. Đã có nhiều ý kiến khác nhau về căn nguyên của cuộc chiến này, nhưng đâu là sự thật thì ngoại trừ người trong cuộc chỉ có “trời mới biết”. Tuy nhiên, có điều chắc chắn mà ai cũng biết là sẽ không có người chiến thắng, có chăng chỉ những kẻ “đục nước béo cò”.

Từ thực tiễn đó, soi chiếu vào chính sách quốc phòng của Việt Nam mới thấy hết sự đúng đắn, sáng suốt, cũng như vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng chiến lược của quan điểm “Bốn không” mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang thực hiện đối với sự tồn vong của đất nước, của chế độ, sự an nguy của dân tộc. Điều đó cho thấy tư duy mới rất sáng tạo của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Quan điểm “Bốn không” cũng là cơ sở, điều kiện quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Điều đó càng thể hiện rõ, quan điểm “Bốn không” trong chính sách quốc phòng của Việt Nam chính là thông điệp và khát vọng hòa bình mà dân tộc ta gửi tới các quốc gia trên thế giới.

Quan điểm “Bốn không” một mặt là thông điệp hòa bình, mặt khác còn là kế sách ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” của dân tộc ta. Bởi thế, nó rất cần thiết và quan trọng, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, phức tạp, khó lường hiện nay. Dẫu vậy, chúng ta không tuyệt đối hóa quan điểm đó, hay coi đó là liệu pháp duy nhất chữa trị “căn bệnh nan y”; trái lại nó phải được kết hợp đồng bộ với nhiều phương thức hữu hiệu khác. Chỉ như vậy mới bảo vệ được vững chắc Tổ quốc, gìn giữ được hòa bình cho đất nước. Cho nên cần phải thường xuyên tăng cường sức mạnh quốc phòng trên cơ sở sức mạnh tổng hợp của cả nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Đó là quan điểm bao trùm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.

Như đã đề cập, khi thực hiện tăng cường sức mạnh quốc phòng, Việt Nam khẳng định rõ chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ. Việt Nam tăng cường sức mạnh quốc phòng chỉ với mục đích duy nhất là để tự vệ, bảo vệ Tổ quốc chứ không phải là chạy đua vũ trang như một số kẻ thù địch từng rêu rao, xuyên tạc. Nói cách khác, việc làm đó của Việt Nam không nhằm đe dọa, xâm lược bất cứ quốc gia nào mà chỉ nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh; đồng thời, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi quy mô, hình thức của các thế lực thù địch nếu chúng liều lĩnh tiến hành. Bởi chúng ta biết sức mạnh quốc phòng là yếu tố cốt lõi để bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình cho đất nước. Nếu chúng ta thiếu sức mạnh quốc phòng, không đủ khả năng tự vệ, thì nguy cơ xảy ra chiến tranh đối với nước ta sẽ lớn; ngược lại, nếu có tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, khả năng tự vệ cao thì hẳn nhiên nguy cơ bị xâm lược sẽ thấp. Nếu kẻ nào có dã tâm xâm lược đối với nước ta thì chúng cũng phải dè chừng. Cho nên, đối với Việt Nam, nói tăng cường sức mạnh quốc phòng trước hết nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh là vì thế.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình mọi mặt cả quốc tế và trong nước, Đảng ta nhận định trong những năm tới ít có khả năng xảy ra chiến tranh quy mô lớn đối với nước ta. Nhận định đó rất quan trọng và đáng mừng. Nhưng “ít” không có nghĩa là không còn khả năng đó, hay nói cách khác bị loại trừ hoàn toàn. Cho nên, dù khả năng đó là rất nhỏ thì chúng ta cũng không được phép mất cảnh giác, mà phải thường xuyên chăm lo tăng cường quốc phòng, an ninh. Đó là giải pháp không thể thiếu để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, gìn giữ cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Dân tộc Việt Nam có truyền thống nhân văn cao đẹp, khát khao hòa bình không chỉ cho đất nước mình mà còn cho tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Cùng với việc khẳng định rõ quan điểm “Bốn không” – thông điệp hòa bình, Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam đã và đang nỗ lực góp phần gìn giữ hòa bình với tư cách là “thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế”. Dưới lá cờ Liên hợp quốc, những cán bộ, chiến sĩ quân y, công binh,… của Việt Nam không quản ngại hy sinh, gian khổ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Abyei. Tinh thần đoàn kết đấu tranh cho hòa bình, vì hòa bình đang tỏa sáng ở Châu Phi và nhiều nơi trên thế giới sẽ đưa các quốc gia xích lại gần nhau hơn trên con đường hướng tới tương lai tốt đẹp./.

ST.

Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã quyết nghị, ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Đây là vấn đề luôn được Đảng ta hết sức coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, nên cần được quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”1, đảng viên là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”2. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”3; “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”4. Điều đó cho thấy vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Những năm qua, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên luôn được Đảng ta coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên; được triển khai thực hiện một cách toàn diện, với đồng bộ các giải pháp và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nổi bật là: công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh được đẩy mạnh; tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn, sắp xếp phù hợp; bổ sung chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, gắn với xây dựng hệ thống chính trị. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy được quan tâm hơn; chất lượng đội ngũ đảng viên có chuyển biến tích cực, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, năng lực, uy tín và phẩm chất tốt, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ của cách mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, “chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy, tinh thần tự phê bình và phê bình, công tác đánh giá, xếp loại còn hạn chế; chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân ở cơ sở”5; không ít tổ chức cơ sở đảng chưa thực sự làm tròn vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với Nhân dân, cũng như bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Mô hình tổ chức một số loại hình tổ chức cơ sở đảng còn bất cập, chậm được kiện toàn, sắp xếp. Một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, chưa làm tròn trách nhiệm của mình trước Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật6.

Để khắc phục thực trạng này, “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng”7 theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII), thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, cần quán triệt, thực hiện tốt những nội dung, giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng

Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị và là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở luôn được phát huy cao. Đây là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm.

Trước hết, gắn củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng với xây dựng hệ thống chính trị bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Đây là đòi hỏi khách quan, bởi tổ chức đảng nói chung, tổ chức cơ sở đảng nói riêng hoạt động không “đơn tuyến” mà nằm trong tổng thể của cả hệ thống và có mối quan hệ hữu cơ với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Vì thế, củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng phải đồng bộ với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị. Quá trình thưc hiện, phải gắn việc xây dựng, củng cố, kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, hoàn thiện các chức danh,... cũng như phù hợp với cơ cấu, quy mô tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của từng tổ chức, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững.

Hai là, đổi mới, hoàn thiện về mặt tổ chức các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Để thực hiện tốt nội dung này, cần khẩn trương, nghiêm túc trong đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn; tổ chức cơ sở đảng ở các loại hình đặc thù, như: các loại hình doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp theo ngành, lãnh thổ, v.v. Trong bối cảnh đất nước ta đang tiến sâu vào quá trình đổi mới với sự phát triển nhanh của tình hình kinh tế, xã hội, cần đẩy mạnh xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng đối với khu vực ngoài nhà nước, ở các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và các loại hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã, tổ hợp tác, kinh tế trang trại, v.v. Chú trọng duy trì, củng cố, xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các chi bộ quân sự, công an xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, phù hợp với quy định về tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang. Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, nhất là một số tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Quân đội và Đảng bộ Công an phù hợp với thực tiễn.

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Trong đó, cần chú trọng thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết trong Đảng. Nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của trên; hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh; khắc phục tình trạng dập khuôn máy móc, “bệnh” hình thức, chạy theo thành tích trong đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên. Triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt” (hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; chất lượng sinh hoạt tốt; đoàn kết, kỷ luật tốt; cán bộ, đảng viên tốt). Nội dung sinh hoạt chi bộ phải gắn với thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhất là Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay từ cơ sở. Nội dung thảo luận phải thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường sinh hoạt chuyên đề; kịp thời thông tin, phổ biến, quán triệt chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp trên, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự trong và ngoài nước; lắng nghe và giải quyết tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đảng viên và nhân dân; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Bốn là, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở. Đây là một trong những nội dung quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở. Vì thế, cần thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở về lý luận chính trị, kỹ năng, nghiệp vụ công tác đảng, công tác quần chúng, kinh nghiệm thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương, cơ sở. Đồng thời, chú trọng công tác quy hoạch, tạo nguồn, xây dựng cán bộ cơ sở; thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân; bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân ở những nơi có điều kiện; bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khóm, ấp, tổ dân phố hoặc trưởng ban công tác mặt trận; bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và thực tiễn ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

2. Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Nói đến đội ngũ đảng viên là nói đến vấn đề liên quan đến con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, có ý nghĩa rất quan trọng tới sự phát triển bền vững của đất nước cả trước mắt và lâu dài. Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nâng cao phẩm chất và năng lực - yếu tố cơ bản, tổng hợp có tính quyết định làm nên chất lượng của toàn Đảng. Đây là vấn đề có nội hàm rộng, phong phú, đa dạng và có tính xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng, nên cần tập trung thực hiện tốt những nội dung căn cốt nhất.

Một là, đổi mới, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ đảng viên. Đây là nhiệm vụ hàng đầu, vì tư tưởng có “thông” thì hành động mới có kết quả tốt. Bản lĩnh chính trị của đảng viên cũng bắt đầu từ tư tưởng chính trị mà nên. Do đó, phải nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị; đề cao tính tự giác nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tổ chức đảng các cấp cần chủ động nắm chắc tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa của dân tộc. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa, “cả quyết sửa lỗi mình”, đề cao danh dự của người cách mạng.

Hai là, tăng cường công tác quản lý đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách. Phải làm tốt công tác quản lý đảng viên ngay từ cấp ủy cơ sở; tăng cường công tác quản lý đảng viên ở ngoài nước; thường xuyên kiểm tra chi bộ, đảng viên thực hiện chế độ sinh hoạt đảng. Tích cực đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên; sửa đổi, bổ sung, quy định chặt chẽ việc sinh hoạt đảng; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đảng viên để bảo đảm đồng bộ, liên thông trong toàn Đảng; hoàn thành cơ sở dữ liệu tổ chức cơ sở đảng, đảng viên. Kịp thời rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng; khắc phục triệt để tình trạng dễ dãi, nể nang, né tránh, bệnh thành tích,... trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại đảng viên.

Ba là, giải quyết tốt vấn đề số lượng và chất lượng trong công tác phát triển đảng viên, bảo đảm vừa nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên theo phương châm: “thà ít mà tốt”, vừa tiếp tục tăng số lượng và phân bổ cho phù hợp với từng vùng, từng lĩnh vực theo phương châm: “ở đâu có dân thì ở đó có đảng viên”. Trong đó, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp đảng viên trong lực lượng vũ trang, khu vực ngoài nhà nước, trong công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân; khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, nhằm tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp. Chú trọng đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng và đảng viên mới, bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng.

Các nội dung, giải pháp trên cần được nhận thức đầy đủ và thực hiện đồng bộ với sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị, nhất là sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để thực hiện điều đó, tổ chức cơ sở đảng phải chú trọng tạo điều kiện cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn tổ chức cơ sở đảng một cách toàn diện. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng công tác tiếp dân, tăng các kênh tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân đối với  những chủ trương, nhiệm vụ mà tổ chức cơ sở đảng đề ra; phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp trên cơ sở đang cư trú tại địa phương; kịp thời phát hiện, tố giác cán bộ, đảng viên vi phạm; làm tốt công tác giới thiệu những người ưu tú để chi bộ, tổ chức cơ sở đảng xem xét kết nạp vào Đảng hoặc để giới thiệu bầu vào những vị trí lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị các cấp. Cùng với đó, phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; làm tròn trách nhiệm phản biện những nhiệm vụ, chủ trương của tổ chức đảng; tích cực động viên nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là giám sát và nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở nơi làm việc và nơi cư trú, v.v.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên luôn được Đảng ta coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Quán triệt, thực hiện tốt các nội dung, giải pháp nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

ST.

Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ - vấn đề cơ bản trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới,  việc nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng là một vấn đề vừa cơ bản vừa cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với công tác xây dựng đảng hiện nay.

 Bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ là hai mặt không thể thiếu đối với một đảng cầm quyền. Bản lĩnh chính trị đảm bảo cho Đảng luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn. Tầm cao trí tuệ là cơ sở để Đảng đề ra đường lối, đúng đắn, lãnh đạo toàn dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, để có bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn căn cứ vào đặc điểm, tình hình của đất nước, khu vực và thế giới, để đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn lãnh đạo cách mạng; đồng thời, không ngừng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, khái quát, phát hiện những vấn đề mới, nhằm phát triển lý luận và bổ sung, hoàn thiện đường lối. Điều này càng đặc biệt cần thiết đối với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Để tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng trong thời kỳ mới, cần tập trung làm tốt những vấn đề sau:

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đặt ra. Đổi mới tư duy lý luận, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở lập trường, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn của đất nước. Đây chính là mục đích, phương pháp luận đúng đắn cho việc đổi mới tư duy lý luận. Đổi mới tư duy lý luận không phải là đi tìm một chủ nghĩa khác, “một hệ tư tưởng thứ ba” nào khác, mà là hiểu sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn nữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong quá trình vận dụng vào thực tiễn và góp phần hoàn thiện, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong điều kiện mới V.I. Lê-nin đã chỉ rõ: “... phải áp dụng những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa cộng sản... sao cho những nguyên tắc ấy được cải biến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết, được làm cho phù hợp, cho thích hợp với những đặc điểm dân tộc và đặc điểm nhà nước-dân tộc”1. Như vậy, sự sáng tạo ở đây chính là sự kết hợp nguyên lý, nguyên tắc với đặc điểm dân tộc mà phát hiện ra cái mới để khái quát nó thành lý luận, làm phong phú thêm nguyên lý, nguyên tắc hoặc bổ sung thêm nguyên lý, nguyên tắc mới, nếu nguyên lý, nguyên tắc cũ không hàm chứa được nội dung mới. Cùng với đó, V.I. Lê-nin cũng chỉ ra rằng: “... phải nhìn thấy sự đảo lộn do điều kiện khách quan tất nhiên phải dẫn tới”2 và đừng “lắp đi lắp lại những chân lý sơ đẳng đã học thuộc lòng mà thoạt nhìn thì dường như không thể tranh cãi gì nữa”3. Như vậy, sự sáng tạo chính là việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở các thời điểm lịch sử khác nhau. Khi hoàn cảnh khách quan để hình thành nguyên lý, nguyên tắc đã thay đổi, thì không được gò hoàn cảnh khách quan theo yêu cầu của nguyên lý, nguyên tắc cũ, mà phải điều chỉnh, bổ sung nguyên lý, nguyên tắc cho hợp với yếu tố mới của hoàn cảnh khách quan; thậm chí nếu hiện thực phát triển đã vượt qua các nguyên lý, nguyên tắc cũ, thì nhất thiết nguyên lý, nguyên tắc mới phải được sáng tạo ra. Điều đó không trái với bản chất và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và sẽ là giáo điều, nếu không thực hiện như thế!

Hai là,nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước. Chính mệnh lệnh của cuộc sống đòi hỏi Đảng ta phải kết hợp nhuần nhuyễn việc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những giá trị tiến bộ của nền văn minh nhân loại phù hợp với truyền thống và hoàn cảnh thực tế của cách mạng nước ta. Thực tế chứng minh: thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là nguồn cung cấp cứ liệu và kinh nghiệm sinh động cho hoạt động nghiên cứu lý luận. Chỉ khi nào công tác lý luận bám sát thực tiễn, nắm bắt kịp thời hơi thở của cuộc sống, bắt rễ sâu trong đời sống hiện thực, giải đáp đúng những vấn đề do thực tiễn cách mạng và đời sống tư tưởng của xã hội đặt ra, khơi nguồn sáng tạo từ các phong trào cách mạng và sáng kiến phong phú của quần chúng, thì khi đó mới có chất lượng và hiệu quả cao, tránh được giáo điều, tư biện và các lệch lạc khác, giúp ích cho hoạt động thực tiễn.

Lý luận Mác - Lê-nin là một khoa học. Cho nên, sự gắn bó giữa lý luận chính trị và khoa học sẽ giúp cho nghiên cứu lý luận phát huy vai trò của mình và phát triển đúng hướng, phù hợp với những yêu cầu cấp bách của thực tiễn cách mạng. Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ này, cần có sự nhận thức thống nhất của các cấp uỷ, các cơ quan và đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền lý luận; đồng thời, phải hình thành quy chế trong lãnh đạo, quản lý và trong hoạt động lý luận. Phát triển lý luận là sự nghiệp của toàn Đảng, với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lực lượng. Vì thế, cần mở rộng dân chủ đi đôi với thực hiện nguyên tắc tổ chức của Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân. Trong nghiên cứu lý luận, sự sáng tạo của các cá nhân nhà khoa học có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với những chuyên gia có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, cơ quan khoa học và các cấp lãnh đạo, quản lý cần động viên, khích lệ khả năng cống hiến của từng người, chú trọng xây dựng các tập thể khoa học luôn có bầu không khí phấn đấu vươn lên, đòi hỏi cao lẫn nhau, giúp đỡ, bổ sung lẫn nhau một cách trung thực và trong sáng, tôn trọng sáng tạo của mỗi cá nhân, kể cả đối với những người có ý kiến lúc đầu chưa được số đông đồng tình, qua đó mà nâng dần trình độ khoa học của tập thể lên. Đó chính là con đường để thúc đẩy công tác lý luận phát triển nhanh, phong phú.

Trong thời điểm hiện nay, CNXH thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, công cuộc đổi mới ở nước ta vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn đan xen lẫn nhau, không tránh khỏi xuất hiện các quan điểm lý luận sai trái, giả danh mác-xít đủ loại. Tình hình đó đòi hỏi công tác lý luận phải kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm lý luận không khoa học, nhất là các quan điểm xuyên tạc, thù địch… bằng căn cứ khoa học, đủ sức thuyết phục. Do đó, đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn và những giá trị bất hủ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng; phê phán các quan điểm sai trái, vạch trần tính chất phản khoa học của các luận điệu thù địch cũng chính là một trong những phương sách để phát triển, mài sắc lý luận, củng cố vững chắc hơn lập trường giai cấp công nhân của Đảng.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc bồi dưỡng lý tưởng chính trị là nhiệm vụ trọng tâm, là yêu cầu hàng đầu của công tác giáo dục lý luận chính trị. Lý tưởng của chúng ta là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Vì thế, cần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, để chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị không dừng lại ở những nguyên lý chung, truyền đạt nội dung lý luận một cách công thức, cứng nhắc, thiếu sự phân tích gắn với thực tiễn, sự phát triển của cách mạng trong nước và thế giới; né tránh đấu tranh với quan điểm thù địch, sai trái, cơ hội, xét lại, hữu khuynh… hoặc chỉ tích cực bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng dưới hình thức xuôi chiều, mà phải làm rõ cả những khó khăn, phức tạp ở trong nước và quốc tế cũng như những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày, để mỗi người tự phân tích, lý giải, phân biệt được đúng, sai... Từ đó, xây dựng cho mỗi cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, hành động đúng đắn; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống; đồng thời phê phán, bác bỏ có sức thuyết phục các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng ta.

Tư tưởng là bộ phận cốt lõi trong đời sống tinh thần của con người. Việc phát huy tự do tư tưởng là một biện pháp cơ bản để có thể hiểu đúng và giải quyết tốt tình hình tư tưởng, và đó cũng chính là một nhiệm vụ cơ bản mà công tác giáo dục lý luận chính trị phải thực hiện. Mục đích của công tác tư tưởng nói chung, giáo dục lý luận chính trị nói riêng là phải phát huy sự năng động, sáng tạo của từng cá nhân, nhưng phải tạo ra ý chí chung để có sức mạnh tổng hợp. Vì vậy, cần phải có cơ chế để phát huy được tự do cá nhân, tự do tư tưởng của cá nhân; mặt khác, phải đề cao ý chí chung, vì không có ý chí chung thì xã hội không có kỷ cương; trong Đảng không có ý chí chung thì Cương lĩnh, Điều lệ không được chấp hành nghiêm túc, do đó Đảng không thể trở thành tổ chức có sức mạnh để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng.

Cần hiểu đúng, tự do tư tưởng là một đòi hỏi khách quan trong đời sống tinh thần của mỗi người; nhưng trong tư tưởng có cái đúng, có cái chưa đúng; vì vậy phải có đấu tranh tư tưởng. Đấu tranh tư tưởng trong nội bộ là tự phê bình và phê bình, lắng nghe nhau để tiếp thu tư tưởng đúng, sửa chữa tư tưởng sai; phương pháp phải dân chủ, không quy kết, chụp mũ mà là thuyết phục bằng lý luận, bằng chứng minh thực tế, bằng nêu gương, bằng lòng chân thành, chứa chan tình đồng chí của những người cộng sản. Chỉ bằng cách đó thì việc phát huy tự do tư tưởng mới có hiệu quả cao, mới đẩy mạnh phát triển tư duy, nâng tầm trí tuệ của cán bộ, đảng viên, tạo nên sự đoàn kết thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong Đảng, bảo đảm cho Đảng ta tuy đông người nhưng đồng lòng nhất trí như một người.

Bốn là, phát huy tốt vai trò của tự giáo dục, tự học tập, nghiên cứu, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Việc nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ trước hết phải do chính bản thân người cán bộ, đảng viên quyết định, nhất là chủ thể có ý thức, có chức, có quyền trong bộ máy Đảng, Nhà nước, có liên quan, ảnh hưởng và tác động đến nhiều thành viên khác. Đảng viên là tấm gương, là người trực tiếp giáo dục, hướng dẫn, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Để thực hiện được điều đó thì mỗi cán bộ, đảng viên phải tự nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ thông qua con đường tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt; trong đó, cần nắm vững phương châm tự giáo dục là chính. Bởi lẽ, phương pháp tự giáo dục bao giờ cũng làm cho người ta tự tin hơn, trách nhiệm phấn đấu rõ rệt hơn; phát huy tốt vai trò của tự giáo dục là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên. Đây chính là quá trình tạo động lực, thúc đẩy mỗi cán bộ, đảng viên tích cực trau dồi tri thức và phương pháp tư duy khoa học; thường xuyên cập nhật thông tin và tri thức mới, nhất là thông tin tư tưởng, lý luận; bám sát, đi sâu vào thực tiễn để phát hiện những vấn đề mới nảy sinh, đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn. Có ý thức tự giáo dục, người cán bộ, đảng viên sẽ luôn chủ động nắm bắt, xử lý thông tin để cùng tập thể ra các quyết định đúng và tổ chức thực hiện có hiệu quả; đồng thời, tích cực, chủ động tham gia đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch.

Quá trình giáo dục, tự giáo dục là quá trình mỗi người luôn phải tự đấu tranh với bản thân, với mọi cám dỗ, tiêu cực; tạo dựng ý chí quyết tâm vươn tới cái cao đẹp. Đó cũng chính là con đường tốt nhất để nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ ngang tầm với chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng và Đảng ta nói chung, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế./.

ST.

Phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2025 và mục tiêu đến năm 2030

Trong các kỳ đại hội Đảng, việc xác định phương hướng xây dựng Quân đội là một nội dung quan trọng, luôn được quan tâm. Đại hội XIII của Đảng cũng vậy, nhưng có điểm rất mới là vấn đề trên không chỉ được định hướng thực hiện trong nhiệm kỳ đến năm 2025 (5 năm), mà còn xác định rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 (10 năm) - xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là điều rất mừng và đặc biệt có ý nghĩa khi mục tiêu đó trở thành hiện thực đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cần khẳng định, xây dựng Quân đội hiện đại là vấn đề lớn, hệ trọng và là khát vọng cháy bỏng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Quân đội ta, kể từ khi ra đời (năm 1944) đã trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đến nay mới có điều kiện xác định phấn đấu xây dựng hiện đại, thử hỏi không mừng sao được. Câu hỏi đặt ra là, Đảng ta dựa vào cơ sở nào để có tư duy mang tính đột phá đó?

Chúng ta biết, xây dựng Quân đội hiện đại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là cần phải có thời gian đủ dài, nguồn lực đủ lớn mới có thể thực hiện được. Nếu không đáp ứng được điều kiện khách quan đó thì việc thực hiện không thể thành công. Cũng vì thế, xét về yếu tố thời gian, suốt từ Đại hội VII đến nay, tức là hơn 30 năm, qua 7 kỳ đại hội, Đảng ta đã định hướng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đặc biệt, đến Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh: “Ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”1 và Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”2. Như vậy, chúng ta thấy lộ trình xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030 được Đảng ta hoạch định rõ mục tiêu cho từng giai đoạn với thời gian đủ dài, qua nhiều lần xây dựng từng bước hiện đại. Cùng với yếu tố thời gian thì nguồn lực đầu tư cũng được coi trọng đúng mức; trong đó, tập trung ưu tiên cho một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Điều đó càng cho thấy, để tiến tới xây dựng Quân đội hiện đại, Đảng ta đã không nóng vội, trái lại có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, khoa học, đáp ứng đầy đủ điều kiện cần thiết mới bước vào thực hiện. Từ đó khẳng định việc xác định mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030 là hoàn toàn có cơ sở, tính khả thi cao. Đồng thời, Đảng ta nhấn mạnh, kết quả thực hiện xây dựng Quân đội trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, tức là đến hết năm 2025 có ý nghĩa rất quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để hoàn thành mục tiêu đề ra.

Theo đó, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Chúng ta đều biết, Quân đội ta là Quân đội cách mạng; là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được Đảng và Bác Hồ sáng lập, chăm lo giáo dục, rèn luyện, trở thành Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhưng, không vì thế mà Đảng ta chủ quan, xem nhẹ việc xây dựng, trau dồi bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân cho Quân đội. Đặc biệt trong tình hình phức tạp hiện nay, khi mà các thế lực thù địch đang chĩa mũi nhọn vào Quân đội để chống phá, xuyên tạc bản chất, chức năng, truyền thống của Quân đội, hòng làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng và bản chất cách mạng, tiến tới vô hiệu hóa Quân đội nhân dân thì việc thường xuyên chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên quan trọng, nhằm đảm bảo cho Quân đội nhân dân thực sự và mãi mãi là Quân đội cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Cần coi trọng xây dựng, tạo chuyển biến mới về nền nếp chính quy đối với Quân đội. Bởi chính quy và kỷ luật là sức mạnh của Quân đội, nếu thiếu nó Quân đội không những giảm sức mạnh chiến đấu, không hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ, mà còn không tạo được sự thống nhất về ý chí và hành động, do đó bản chất cách mạng, của dân, do dân và vì dân cũng bị phai nhạt. Xây dựng nền nếp chính quy phải toàn diện, trước hết cần tập trung thực hiện tốt nền nếp chính quy chế độ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập,… đảm bảo cho Quân đội luôn chủ động trong mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cần rèn luyện tác phong công tác, lễ tiết, ứng xử, phát ngôn,… cho cán bộ, chiến sĩ để không ngừng bồi đắp hình ảnh tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Xây dựng Quân đội tinh nhuệ, thiện chiến là yêu cầu khách quan. Đặc biệt, trong điều kiện tác chiến mới ứng phó với các loại hình chiến tranh toàn diện, trang bị phương tiện, vũ khí hiện đại, cũng như sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc xây dựng Quân đội tinh nhuệ càng trở nên quan trọng, cấp thiết. Trên thực tế, Quân đội ta là đội quân tinh nhuệ, yêu cầu đặt ra phải ngày càng tinh nhuệ hơn. Muốn thế, phải coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ về mọi mặt, trước hết và quan trọng là tinh nhuệ về chính trị và trình độ tác chiến. Bởi đó là hai yếu tố cốt lõi nhất bảo đảm cho Quân đội thực sự tinh nhuệ, thiện chiến; để “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Bác Hồ đã dạy.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội từng bước hiện đại, tạo cơ sở nền tảng vững chắc để tiến tới xây dựng Quân đội hiện đại. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng tại Đại hội XIII, vì thế chúng ta cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Xét về toàn cục, phương hướng xây dựng Quân đội trong nhiệm kỳ này vẫn là “từng bước hiện đại”, trong đó có một số lực lượng quan trọng tiếp tục được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại. Thời gian tới cần nghiên cứu, lựa chọn thêm một số lực lượng để đầu tư theo hướng này, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu hiện đại hóa Quân đội vào năm 2030 theo định hướng của Đảng.

Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là một thể hoàn chỉnh, thống nhất; trong đó, các nội dung có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Trong quá trình thực hiện phải tiến hành đồng thời, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào và phải căn cứ vào tình hình, khả năng, tính cấp thiết của mỗi nội dung để có giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Để tạo tiền đề cho thực hiện mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030, cần tập trung điều chỉnh, tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, phù hợp với tổ chức quân sự thời bình. Hiện nay nước ta đang trong trạng thái thời bình, cho nên tổ chức quân sự nói chung, tổ chức lực lượng vũ trang và quân đội nói riêng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm tình hình đó. Đây là yêu cầu khách quan và nếu không đáp ứng được sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đây không phải lần đầu Quân đội ta thực hiện điều chỉnh tổ chức lực lượng mà trước đó cũng đã tiến hành và đạt kết quả tốt. Tuy nhiên hiện nay, về tổ chức lực lượng đang tồn tại những bất cập nên cần được tiếp tục điều chỉnh phù hợp với tình hình mới. Theo đó, điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội phải đảm bảo “tinh, gọn, mạnh”, cân đối giữa khối cơ quan, đơn vị. Chủ trương chung là giảm cả về đầu mối tổ chức và quân số, nhưng không phải giảm theo cơ học mà có sự nghiên cứu, cân nhắc hợp lý, khoa học đó là giảm hoặc rút gọn những đầu mối tổ chức không còn phù hợp và sáp nhập những đầu mối cơ quan có cùng chức năng. Đồng thời, thành lập mới những tổ chức, bộ phận, lực lượng chuyên trách, chuyên sâu theo yêu cầu nhiệm vụ mới của Quân đội. Điều chỉnh tổ chức, lực lượng là nhiệm vụ trọng tâm của Quân đội trong nhiệm kỳ, cho nên cần được triển khai quyết liệt, hiệu quả. Việc điều chỉnh tổ chức, lực lượng Quân đội phải đạt được yêu cầu “tinh, gọn, mạnh”, với chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng cao. Quá trình thực hiện phải theo đúng đề án, lộ trình, kế hoạch đã xây dựng, phải kết hợp tốt giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức, công tác cán bộ, công tác chính sách và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong và ngoài Quân đội, nhằm đảm bảo sự ổn định về tư tưởng, tâm lý của đội ngũ cán bộ các cấp. Điều đặc biệt quan trọng là, việc thực hiện điều chỉnh tổ chức, lực lượng thường trực phải gắn liền với nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ. Chỉ có như vậy mới đảm bảo tăng cường được sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại là vấn đề lớn của đất nước, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đặc biệt, Quân đội với tư cách là lực lượng được trực tiếp đầu tư hiện đại hóa, cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm của Đảng. Để đến năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, chúng ta đã qua quá trình khá dài đầu tư xây dựng từng bước hiện đại, về thực chất của nhiệm vụ này là sự tiếp tục đầu tư để chuyển hóa từ từng bước hiện đại lên hiện đại. Cụ thể là với các quân chủng, binh chủng, lực lượng đã được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại thì cần được nghiên cứu đầu tư để hiện đại hơn; với các lực lượng còn lại chưa được đầu tư theo hướng này thì cần được ưu tiên để đảm bảo bình diện chung của Quân đội là hiện đại. Về nguồn đầu tư, cần kết hợp cả nguồn nội lực và ngoại lực, trong đó nội lực là quyết định và tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài thông qua hợp tác, hội nhập quốc tế, nhất là với các đối tác truyền thống cũng rất quan trọng. Cần thấy, xây dựng Quân đội hiện đại có nhiều việc phải làm, nhiều nội dung cần được đầu tư, trong đó không thể thiếu việc nâng cao xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, trình độ công nghệ cao. Trong thời gian tới, cần tiếp tục đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, với các tổ hợp công nghệ cao, bảo đảm tự sản xuất được vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, tương đối hiện đại để trang bị cho lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nói riêng, hạn chế tới mức thấp nhất việc mua sắm từ bên ngoài, ngoại trừ những phương tiện, vũ khí hiện đại đặc chủng mà nền công nghiệp quốc phòng của đất nước chưa đủ khả năng trình độ công nghệ sản xuất.

Với quá trình chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cùng với sự nỗ lực cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta tin tưởng rằng sẽ đạt được mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại vào năm 2030, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

ST.

Tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước

 Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc, tạo động lực mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

    Quang cảnh Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII. Ảnh: dangcongsan.vn

Trong tiến trình tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước, Đảng ta đã khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo triển khai sự nghiệp đổi mới với những đường lối, định hướng, chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo, đem lại thành quả vô cùng to lớn. Gần 40 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Không phải bây giờ mà trong quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện sự đổi mới. Có điều, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, được chuẩn bị và tiến hành có bài bản. Ở đây, phải định rằng, sự nghiệp đổi mới đất nước là công việc của chúng ta, theo cách thức và bước đi của ta; là công cuộc sáng tạo mang tính tất yếu và công cuộc đó phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng vì nó còn mới mẻ nên phải cân nhắc từng đường đi nước bước cụ thể, chắc chắn.

Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn phù hợp để cải biến cho nó trở nên thích ứng và hữu dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: “không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ”. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường đúng đắn mà chúng ta đã chọn. Trong quá trình ấy, có người khuyên ta cần tư nhân hóa nhanh hơn, mạnh hơn trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; cần hội nhập và hòa nhập với quốc tế mạnh hơn, sâu hơn, toàn diện hơn. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình, và đặc biệt quan trọng là chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập; đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập - mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.

Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng, cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII và chắc chắn cả Đại hội XIV tới đây của Đảng cũng sẽ khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Quá trình đổi mới là quá trình chuyển biến to lớn và thiết thực. Đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí; từng bước hình thành những quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây, vừa có cách nghĩ, nghe, nhìn và làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài, vững chắc trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Qua 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển bền vững đất nước”1. Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.

Cội nguồn của những thành tựu trên là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện. Đảng ta nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi. Đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đường lối đổi mới. Sự nghiệp đổi mới được bàn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.

Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thời cơ và thuận lợi mà còn phải đối mặt với những khó khăn và thách thức đan xen. Điều này đã làm nảy sinh những băn khoăn, lo lắng về chặng đường tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, một số phần tử bất mãn, cơ hội và các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn sự nghiệp đổi mới của chúng ta; luận điệu thâm độc nhất là: “Đổi mới đã hết thời, đã không còn động lực và cạn kiệt hết nguồn lực. Vậy nên, đất nước không thể tiếp tục đổi mới nữa,...”. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần nhận thức đúng cả thời cơ và thách thức để không bị rơi vào các trạng thái tự mãn, chủ quan hoặc bi quan thái quá. Trên cơ sở đó, xây dựng quyết tâm, niềm tin, khát vọng tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc bằng cả kinh nghiệm thực tiễn và những luận cứ khoa học.

Theo đó, nếu chúng ta quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực bảo đảm cho sự đổi mới liên tục bao gồm nhiều yếu tố có thể nhận biết rất rõ sau:

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, tạo nên sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của đổi mới tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội; là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng; là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và sức mạnh tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài -một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

Rõ ràng công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua gần 40 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, tạo nên khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: xây dựng đất nước ta giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

ST.

Bác bỏ luận điệu xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại làm ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế của đất nước

Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân hiện đại là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là vấn đề khách quan mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải tiến hành và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch cho rằng: xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại làm ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế của đất nước. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần đấu tranh bác bỏ.

Trong văn kiện nhiều kỳ đại hội của Đảng, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân luôn được xác định: xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tới Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”1. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nên chủ trương của Đảng là phải tiến hành từng bước, trong nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, khi điều kiện kinh tế - xã hội cho phép sẽ hiện đại hóa Quân đội và Công an. Đó là vấn đề hết sức bình thường đối với mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vậy mà, ngay sau khi Đại hội XIII của Đảng đề cập đến việc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội, Công an tiến tới hiện đại thì xuất hiện luận điệu: xây dựng Quân đội, Công an hiện đại làm ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế của đất nước.

Có thể hiểu quan điểm trên xuất phát từ nhiều trạng thái tư tưởng khác nhau. Cũng có ý kiến như vậy là do băn khoăn, lo lắng chính đáng vì đất nước vừa trải qua đại dịch Covid-19, lại gặp thiên tai, bão lụt triền miên, còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư lớn để hiện đại hóa Quân đội, Công an sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Quan điểm như vậy là bình thường và được giải tỏa ngay nếu có đầy đủ thông tin và có sự nghiên cứu thấu đáo. Vấn đề ở đây là sự không bình thường, là luận điệu sai trái để lôi kéo, kích động, chống lại chủ trương hiện đại hóa Quân đội và Công an - lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, chúng ta có đủ luận cứ để bác bỏ luận điệu này.

Thứ nhấtxây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân từng bước hiện đại là chủ trương đúng đắn, nhất quán của Đảng và nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta. Đảng ta luôn xác định việc xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh là nội dung trọng yếu của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đặt nó trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng là nguyện vọng thiết tha của các tầng lớp nhân dân ta mong muốn xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân nói riêng hiện đại, hùng mạnh, làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đủ sức răn đe, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân dựa vào sức mạnh tổng hợp của chế độ ta; xây dựng một cách toàn diện và có trọng điểm các yếu tố, tạo thành sức mạnh chiến đấu tổng lực để bảo vệ Tổ quốc. Và trên thực tế, việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) là “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, được Nhân dân tin yêu”, đã đạt được những thành tựu nổi bật. Sức mạnh tổng hợp, khả năng chiến đấu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được chú trọng xây dựng và từng bước nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Lực lượng vũ trang đã nâng cao tinh thần chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu; các quân chủng, binh chủng của Quân đội và các lực lượng trọng yếu của Công an đã được củng cố, tăng cường; vũ khí, khí tài được nâng cấp và trang bị tốt hơn; một số quân chủng, binh chủng của Quân đội và một số lực lượng tinh nhuệ của Công an đã phát triển theo hướng chính quy, tinh nhuệ và đi thẳng tới hiện đại. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của đội quân cách mạng, đoàn kết, nhất trí cao trong nội bộ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế cao cả, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Có được kết quả như vậy nhưng tiềm lực kinh tế của đất nước không hề bị ảnh hưởng mà còn phát triển vững chắc.

Thứ haihiện đại hóa Quân đội và Công an là nhiệm vụ quan trọng và là yêu cầu mới đặt ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử hình thành, tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam là lịch sử quang vinh của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật phát triển của dân tộc, của đất nước hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau; là hai nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Xây dựng Tổ quốc hùng mạnh là điều kiện cơ bản để bảo vệ Tổ quốc. Đến lượt mình, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được thực hiện trọn vẹn sẽ bảo đảm cho đất nước bình yên, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân yên tâm chung lòng, góp sức xây dựng, phát triển đất nước.

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên luôn được thực hiện trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Dự báo, những năm tới, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động rất phức tạp, khó lường. Chạy đua vũ trang, xung đột vũ trang, chiến tranh lạnh kiểu mới, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy gia tăng, trật tự thế giới đang bị xáo trộn phức tạp được thể hiện rất rõ trong cuộc xung đột chưa từng có tại Ukraine. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức cho mọi quốc gia. Tình hình đó đặt ra yêu cầu hiện đại hóa Quân đội và Công an như một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết để bảo vệ Tổ quốc.

Thứ baqua 36 năm đổi mới, tiềm lực kinh tế đất nước đã tăng lên mạnh mẽ, bảo đảm vững chắc cho việc từng bước xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại. Thực hiện hiệu quả công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã hình thành, phát triển, nâng tầm kinh tế đất nước lên trình độ, tầm cao mới. Năm 2012, GDP của nước ta ở mức 155,8 tỉ USD và con số đó đã gấp đôi lên 362 tỉ USD vào năm 2021. Tỷ trọng của Việt Nam trong GDP khu vực ASEAN cũng tăng lên, tỷ lệ này ở mức 6,5% trong thập kỷ trước thì nay là 10,8%. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2021 đã đạt 3.743 USD, đứng thứ sáu trong Cộng đồng ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Đặc biệt, trong 9 tháng của năm 2022, kinh tế Việt Nam có bước phát triển ngoạn mục; tăng trưởng kinh tế phục hồi tích cực, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tỷ trọng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong 9 tháng đạt 8,83%, ước cả năm đạt khoảng 8%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng đạt trên 558 tỉ USD, tăng 15%; dự báo cả năm có thể đạt khoảng 800 tỉ USD. Trên cơ sở đó, những năm qua, chúng ta đã từng bước thực hiện hiện đại hóa lực lượng vũ trang; một số quân chủng, binh chủng của Quân đội, một số đơn vị đặc biệt của Công an đã được hiện đại hóa trong khi nền kinh tế không chỉ đáp ứng cho nhiệm vụ này, mà còn tiếp tục phát triển, tiềm lực nền kinh tế không ngừng tăng lên một cách bền vững. Hơn nữa, khi Quân đội và Công an từng bước hiện đại hóa, phát triển mạnh mẽ, vững chắc, sẽ trở thành động lực bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế đất nước; như Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”2. Đây là điều kiện tiên quyết để phấn đấu năm 2030 chúng ta xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Thứ tưviệc hiện đại hóa đối với Quân đội và Công an không chỉ về vũ khí, trang bị, mà còn được tiến hành một cách tổng thể, đồng bộ, thiết thực. Nhìn một cách tổng quát, việc xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân hiện đại phải căn cứ vào phương hướng, mục tiêu, nguyên tắc và định hướng chính sách về quốc phòng, an ninh, phát huy truyền thống độc lập, tự chủ, sáng tạo để xác định các chủ trương, biện pháp đúng đắn trong khi thực hiện hiện đại hóa. Hiện đại hóa Quân đội và Công an là việc xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ vững vàng về chính trị, mạnh về bản lĩnh chiến đấu, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chức trách. Hiện đại hóa còn là hiện đại trong việc tổ chức lực lượng, về xây dựng chính quy; hiện đại về kỹ thuật, chiến thuật tinh thông, sẵn sàng thực hiện và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; hiện đại hóa về trình độ làm chủ khoa học công nghệ; hiện đại hóa trong dự báo chính xác tình hình thời cuộc; phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng hiện đại, v.v. Những nội dung trên cho thấy, việc hiện đại hóa Quân đội nhân dân, Công an nhân dân không ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế đất nước.

Những luận chứng trên khẳng định chủ trương của Đảng ta về xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nói riêng tiến lên hiện đại là hết sức đúng đắn, hoàn toàn có thể thực hiện thắng lợi. Bởi, chúng ta có một chế độ chính trị vững mạnh, ưu việt, được nhân dân ủng hộ và đồng lòng chung sức xây dựng; có một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang phát triển mạnh mẽ, đáp ứng điều kiện cần và đủ để xây dựng lực lượng vũ trang của đất nước hùng mạnh, sẵn sàng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

ST.