Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

LỢI DỤNG GIÁO LÝ, GIÁO LUẬT, NHỮNG KẺ ĐỨNG ĐẦU CỰC ĐOAN TRONG MỘT SỐ TÔN GIÁO VÀ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT TÔN GIÁO ĐỂ KÍCH ĐỘNG TÍN ĐỒ CHỐNG LẠI CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 


Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng. Theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng kinh kệ, đạo pháp… các linh mục, mục sư thay Chúa trời giảng Kinh thánh trong các ngày hành lễ; các hoà thượng, trưởng quản giảng về kinh kệ, Phật pháp…

Ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc và chống phá chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; mức độ cao hơn là làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Lợi dụng và ủng hộ một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, quá khích để kích động chia rẽ các tôn giáo, giữa tôn giáo với dân tộc, với Đảng và Nhà nước. Chúng ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ xuý các phần tử cực đoan trong các tôn giáo móc nối với nhau dự định cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng như: Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Thích Quảng Độ (Phật giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hoà Hảo)… ở đầu thế kỷ XXI.

Hiện nay, xuất hiện những kẻ chống đối quá khích, cực đoan như: Nguyễn Ngọc Nam Phong, Đinh Hữu Thoại, Đặng Hữu Nam… thường xuyên kích động số phần tử bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền; lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại như đất đai, nơi thờ tự để kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai, chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo…

Lợi dụng hoạt động tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai, tự trị, sử dụng hệ thống nhà nguyện làm nơi tụ tập lực lượng, sở chỉ huy để phối hợp hoạt động chống phá.

Hiện nay, đáng chú ý là vấn đề “đạo hoá” dân tộc ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Đây là một trong những thủ đoạn thường xuyên, quen thuộc mà các thế lực thù địch đã sử dụng với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Với các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo một tôn giáo nào thì việc “đạo hoá” càng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lôi kéo, tập hợp dân chúng và hình thành các “khung chính quyền” ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, sử dụng hệ thống nhà nguyện Tin lành để hoạt động chống đối chính quyền.

Với những toan tính đó, trong những năm tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường đạo hoá dân tộc, nhất là truyền đạo Tin lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích chuyển hoá ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng cứu thế, làm thay đổi nếp sống văn hoá truyền thống bằng thứ văn hoá xa lạ, dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, tạo dựng ngọn cờ, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp vào nước ta, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên./.

TBQL 17

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 


Trong những năm qua, với chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đại đa số các chức sắc tôn giáo yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “tốt đời, đẹp đạo”, có sự điều chỉnh theo hướng thích nghi, hợp tác với chính quyền để tăng cường truyền giáo.

Tuy nhiên, có một số người mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân, thậm chí một số người ra mặt chống đối pháp luật. Những phần tử này đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, nguỵ, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước.

Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.

Đáng quan ngại, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo.

Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý suy bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự./.

TBQL 17

KÍCH ĐỘNG MÂU THUẪN GIỮA CÁC TÔN GIÁO, LÔI KÉO QUẦN CHÚNG CÓ ĐẠO PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 


Trong lịch sử, các thế lực thực dân, đế quốc đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để đô hộ, nô dịch, cai trị nhân dân ta.

Những năm cuối của thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng các cha cố người Pháp truyền đạo Thiên chúa vào Việt Nam. Vì vậy, từ rất sớm, trong bài viết Giáo hội năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã lột sạch bản chất của chúng: “Nếu có dân tộc nào phải nhớ ơn Chúa và các giáo sĩ, thì chính đó là dân tộc An Nam! Vì Chúa và các giáo sĩ mà dân tộc này đã sa vào tình cảnh nô lệ như ngày nay. Bước đầu, khi giúp Gia Long chiếm lấy ngôi vua, Pinhô đờ Bêhen đã làm hết cách dọn đường cho thực dân cướp nước. Cho nên để đổi lấy một ít súng ống, y đã bắt Gia Long nhượng cho Pháp những thương cảng và quân cảng sau này trở thành những căn cứ xâm lược của Pháp”.

Hiện nay, chúng tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản; vu cáo cộng sản diệt đạo, vu cáo Nhà nước đàn áp tôn giáo làm cho bộ phận quần chúng lạc hậu ngộ nhận tin theo, từ đó, tạo lực lượng chống đối ngầm chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bằng mọi thủ đoạn, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, mạng xã hội… các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dưới danh nghĩa các “kỷ yếu hội nghị tôn giáo”, “thông điệp", “lời chứng”…  của các tín đồ trong nước hoặc các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong ở nước ngoài vu cáo “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tín đồ chống lại đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, chúng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai dân tộc; kích động chia rẽ quan hệ dân tộc, quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau như: Đòi “tự do tôn giáo”, “tự trị”, thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông độc lập”, “Nhà nước Đề Ga” (gắn với đạo Lin lành), “Quốc gia Khơmer Crôm” (gắn với Phật giáo Nam tông Khmer)… hòng làm chia rẽ, phá hoại, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam./.

TBQL 17

NÂNG CAO “SỨC ĐỀ KHÁNG” TRƯỚC NHỮNG TƯ TƯỞNG SAI TRÁI, LỆCH LẠC

 


Thực chất các hạt động tuyên truyền này của các thế lực thù địch và các phần tử xấu là nhằm gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Các phần tử phản động ra sức tuyên truyền các thông tin xấu, độc, các thông tin không được kiểm chứng, nhất là lợi dụng cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ, là chuẩn bị ghế nhân sự cho vị trí cao hơn… Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, gây hoang mang, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân và cuối cùng tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta và đánh đổ vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nền tảng cách mạng của dân tộc ta là hết sức tinh vi, phức tạp. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau dồi nhận thức, bản lĩnh chính trị, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 22/10/2018, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, nâng cao “sức đề kháng” trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ đó, có kỹ năng nhận diện và bóc trần những âm mưu, thủ đoạn sai trái, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng để trực tiếp tuyên truyền, thực hiện đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với Nhân dân.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo tại cơ sở để góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các đối tượng chống phá, những thông tin xấu độc, tuyên truyền lan tỏa những thông tin chính thống, kết quả phát triển kinh tế - xã hội, gương người tốt, việc tốt, góp phần nâng cao dân trí khiến các thế lực thù địch dần dần không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá./.

TBQL 17

THẾ LỰC THÙ ĐỊCH BÔI NHỌ CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG HÒNG CHIA RẼ, GÂY NHIỄU LOẠN XÃ HỘI

 


Xuyên tạc, bôi nhọ công tác cán bộ của Đảng, mục tiêu chính của thế lực thù địch là hòng chia rẽ, gây mâu thuẫn nội bộ và lung lạc lòng tin của người dân với Đảng, Nhà nước.  

Công tác cán bộ là một trong những vấn đề các thế lực thù địch thường lợi dụng để chống phá Đảng, chống chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, mỗi khi có thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về xử lý kỷ luật cán bộ mắc sai phạm là trên các trang mạng xã hội lại nhan nhản thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc.

Những phương thức, thủ đoạn và cách thức chống phá của các thế lực thù địch không có gì mới. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, vào những thời điểm đất nước có các sự kiện chính trị hoặc sự kiện về văn hóa, thể thao, hay sự kiện nào đó xảy ra; Đặc biệt, trong dịp Đảng và Nhà nước có sự thay đổi một số nhân sự cấp cao, các đối tượng, các thế lực thù địch, các phần tử phản động bất mãn, hoặc cơ hội chính trị lợi dụng tình hình này để tăng cường chống phá.

Mục đích cao nhất của các đối tượng này là làm nhiễu loạn, bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

Các thế lực thù địch cũng như các đối tượng, phần tử cơ hội chính trị và phản động, chúng không bao giờ thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng CSVN đối với sự nghiệp cách mạng và thể chế chính trị. Các đối tượng này cũng không bao giờ vui mừng trước những thành công, những thành tựu của đất nước chúng ta. Vì vậy, mục tiêu không thay đổi của chúng là chống phá, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng và sự phát triển đất nước.

Các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động đã và đang tiến hành các hoạt động phá hoại tư tưởng với các biểu hiện như: Bóp méo, phủ nhận những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội; Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia; Xuyên tạc đời tư, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ; xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước; Tuyên truyền xuyên tạc cho rằng, Việt Nam sử dụng chống tham nhũng là phương tiện để trấn áp bất đồng chính kiến trong hàng ngũ của Đảng./.

TBQL 17

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH, CÓ HIỆU QUẢ NHIỆM VỤ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

TBQL 17

NHẬN DIỆN RÕ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, HÒNG CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam./.

TBQL 17

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH MÃI LÀ KIM CHỈ NAM CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(1). Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”./.

TBQL 17

Hà Nội: hạn chế ùn tắc kéo dài trên 30 phút


Năm 2024, Hà Nội sẽ tập trung giải quyết từ 8 - 10 điểm ùn tắc giao thông, hạn chế để xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút.

Theo kế hoạch thực hiện công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, giảm ùn tắc giao thông trên địa bàn Thành phố năm 2024, Hà Nội đặt mục tiêu vận tải hành khách công cộng bảo đảm chất lượng, phục vụ hiệu quả, phấn đấu năm 2024 đạt từ 22-25%; tiếp tục kiềm chế giảm tai nạn giao thông từ 5% so với năm 2023 trên cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết, số người bị thương).

Tập trung giải quyết từ 8-10 điểm ùn tắc giao thông, hạn chế để xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút; kịp thời xử lý những điểm có nguy cơ phát sinh ùn tắc giao thông mới và các điểm đen về tai nạn giao thông.

Sở Giao thông vận tải (GTVT) chủ trì phối hợp với các sở và đơn vị liên quan tiếp tục nghiên cứu, đề xuất triển khai xây dựng Đề án "Giao thông thông minh" trong tổng thể xây dựng thành phố thông minh.

Từng bước xây dựng hệ thống giao thông thông minh, trong đó ưu tiên xây dựng một số hợp phần như: xây dựng trung tâm điều hành giao thông thông minh của Thành phố; hệ thống camera giám sát giao thông, hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ, kết nối tín hiệu đường bộ và đường sắt, lắp đặt hệ thống trạm cân kiểm soát tải trọng phương tiện…

UBND Thành phố cũng yêu cầu các cơ quan chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm người điều khiển phương tiện vi phạm giao thông; kiên quyết xử lý và chấm dứt tình trạng người đi mô tô, xe máy, xe đạp đi vào đường cao tốc và các tuyến đường cấm.

Khai thác, sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô để kiểm tra, xử lý đối với các trường hợp vi phạm; đối tượng tập trung kiểm tra, xử lý là người điều khiển xe ô tô chở khách, ô tô chở hàng hóa... Cương quyết ngăn chặn các vụ đua xe trái phép, tụ tập gây rối trật tự công cộng, trấn áp mọi hành vi chống người thi hành công vụ...

Đối với các phương tiện chở khách, tập trung kiểm soát ngay tại nơi xuất phát. Đối với các xe chở hàng hóa, vật liệu xây dựng, tổ chức kiểm soát tải trọng phương tiện ngay tại đầu nguồn, kho, bãi, mỏ vật liệu.

Đẩy mạnh xử lý vi phạm về tốc độ, thời gian làm việc của lái xe thông qua dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình (GPS); nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm qua hệ thống camera giám sát giao thông.

Kiểm tra, xử lý và ngăn chặn việc đầu cơ, buôn bán vé, không để xảy ra tình trạng tăng giá vé vận tải hành khách trái quy định; bảo đảm an ninh, an toàn, thuận lợi cho hành khách, hạn chế tối đa hiện tượng ùn ứ khách tại các bến xe, nhất là trong các ngày lễ, Tết.

Tính đến ngày 15/12/2023, Hà Nội đã xử lý 15 điểm ùn tắc giao thông. Sở Giao thông vận tải phối hợp với Phòng Cảnh sát Giao thông – Công an Thành phố xử lý 7 điểm đen giao thông. Đối với 1 điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông trên tuyến đường Lĩnh Nam, Sở đã chỉ đạo Ban Duy tu tăng cường duy tu, duy trì nhằm bảo đảm êm thuận và phối hợp với UBND quận Hoàng Mai đẩy nhanh tiến độ thi công mở rộng mặt đường Lĩnh Nam.

Tại khu vực cầu Thanh Trì thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông, Sở Giao thông vận tải đã chỉ đạo Ban Duy tu cắm bổ sung biển cảnh báo, tăng cường duy tu mặt cầu, vệ sinh hệ thống an toàn giao thông, bổ sung phản quang trên lan can thành cầu... và đang tổ chức nghiên cứu thay thế vật liệu dải phân làn phương tiện cho phù hợp để giảm thiểu tai nạn giao thông xảy ra.

Đại diện Ban đại diện cha mẹ học sinh tham gia Hội đồng lựa chọn sách giáo khoa

 Hội đồng lựa chọn sách giáo khoa trong cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm: Người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu; tổ trưởng tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn, phòng chuyên môn (tổ chuyên môn), đại diện giáo viên, đại diện Ban đại diện cha mẹ học sinh của cơ sở giáo dục.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 27/2023/TT-BGDĐT quy định về việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông, có hiệu lực thi hành từ ngày 12/02/2024.

Theo Thông tư, việc lựa chọn sách giáo khoa phải đảm bảo nguyên tắc lựa chọn sách giáo khoa trong danh mục sách giáo khoa đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt để sử dụng ổn định trong cơ sở giáo dục.

Mỗi khối lớp lựa chọn 01 sách giáo khoa cho mỗi môn học, hoạt động giáo dục (bao gồm các nội dung, chuyên đề học tập lựa chọn nếu có) được thực hiện ở cơ sở giáo dục (gọi chung là môn học).

Việc lựa chọn sách giáo khoa bảo đảm thực hiện dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, vì quyền lợi của học sinh.

Tiêu chí lựa chọn sách giáo khoa phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, phù hợp với điều kiện tổ chức dạy và học tại cơ sở giáo dục.

Hiệu trưởng thành lập Hội đồng lựa chọn SGK, tối thiểu 11 người

Hội đồng lựa chọn sách giáo khoa của cơ sở giáo dục (gọi tắt là Hội đồng) do Hiệu trưởng cơ sở giáo dục hoặc Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên, Giám đốc trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, người đứng đầu các cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông (người đứng đầu) thành lập, giúp người đứng đầu cơ sở giáo dục tổ chức lựa chọn sách giáo khoa. Mỗi cơ sở giáo dục thành lập 01 Hội đồng. Đối với cơ sở giáo dục có nhiều cấp học, mỗi cấp học thành lập 01 Hội đồng.

Hội đồng bao gồm: Người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu; tổ trưởng tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn, phòng chuyên môn (tổ chuyên môn), đại diện giáo viên, đại diện Ban đại diện cha mẹ học sinh của cơ sở giáo dục. Số lượng thành viên Hội đồng là số lẻ, tối thiểu là 11 người. Đối với cơ sở giáo dục có quy mô dưới 10 lớp, số lượng thành viên Hội đồng tối thiểu là 05 người.

Cơ cấu Hội đồng bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư kí và các ủy viên Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu.

Người đã tham gia biên soạn sách giáo khoa hoặc tham gia chỉ đạo biên soạn, xuất bản, in, phát hành sách giáo khoa (trong danh mục sách giáo khoa được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt); cha, mẹ, cha mẹ vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; anh, chị, em ruột và anh, chị, em vợ hoặc chồng của người đã tham gia biên soạn sách giáo khoa hoặc tham gia chỉ đạo biên soạn, xuất bản, in, phát hành sách giáo khoa; người làm việc ở các nhà xuất bản, các tổ chức có sách giáo khoa không được tham gia Hội đồng.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới

Trong Cương lĩnh và đường lối cách mạng của Ðảng ta từ khi ra đời đến nay, Ðảng luôn khẳng định một cách nhất quán mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) và kiên định, kiên quyết lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu đó.

Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng đã nêu rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Ðảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Ðảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” đã phân tích sâu sắc, tâm huyết một vấn đề rất lớn và quan trọng trong đường lối cách mạng của nước ta. Trong bài viết, đồng chí đã làm rõ tính tất yếu con đường đi lên CNXH, khẳng định những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử mà nước ta đạt được trên con đường đó, đề ra một số phương hướng để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng CNXH trong tình hình mới.

Sự lựa chọn con đường kết hợp độc lập dân tộc với CNXH ở nước ta vừa phù hợp với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, với mục tiêu lớn của thời đại, vừa phù hợp với ý nguyện của nhân dân ta; gắn với đặc điểm tình hình của mỗi giai đoạn khác nhau của cách mạng Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên của mình (năm 1930), Ðảng ta đã khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH và trong suốt hơn 90 năm qua Ðảng ta luôn kiên trì với mục tiêu đó: Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Ðường lối đó không chỉ phù hợp trong giai đoạn Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước đây khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, mà còn là đường lối chỉ đạo trong giai đoạn Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) khi mà nhiệm vụ phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đóng vai trò trọng tâm. Ðộc lập dân tộc là tiền đề, điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH, còn CNXH là bước phát triển tất yếu, là điều kiện để củng cố và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”, “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

Từ thực tiễn cách mạng thế giới và từ kinh nghiệm cách mạng Việt Nam, Ðảng ta nhận thức sâu sắc rằng: Chỉ có con đường độc lập dân tộc và CNXH, Tổ quốc ta mới được độc lập tự do thực sự, nhân dân ta mới trở thành người làm chủ, tự quyết định vận mệnh của mình, quyết định con đường phát triển của đất nước. Trong bối cảnh thế giới những năm 80, 90 thế kỷ 20, khi Liên Xô và các nước XHCN ở Ðông Âu tan rã, CNXH thế giới lâm vào thoái trào, Ðảng ta vẫn kiên định con đường đã chọn - con đường độc lập dân tộc và CNXH. Ðó là con đường hợp quy luật phát triển của lịch sử Việt Nam, của cách mạng Việt Nam để có một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con đường hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Ðối với Ðảng ta, đổi mới không phải là đổi màu; đổi mới có nguyên tắc mà nguyên tắc hàng đầu là bảo đảm độc lập dân tộc và CNXH cho đất nước. Nếu Ðảng ta không kiên định con đường đi lên CNXH thì không thể có công cuộc đổi mới vừa giữ vững những thành quả của cách mạng và mục tiêu cách mạng, vừa kiên quyết, dũng cảm từ bỏ những phương pháp, quan niệm sai lầm, sáng tạo phương pháp mới, quan niệm mới để xây dựng CNXH phù hợp hơn, hiệu quả hơn.

Việc kiên định con đường XHCN trong bối cảnh của tình hình thế giới hiện nay với những diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, khó đoán định, với nhiều bất ổn, thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen đòi hỏi Ðảng ta không chỉ cần có bản lĩnh chính trị vững vàng mà phải có trình độ trí tuệ cao, có tư duy đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, biết nhìn xa trông rộng. Sự nghiệp xây dựng CNXH là một sự nghiệp lâu dài, khó khăn, gian khổ bởi điểm xuất phát của nước ta rất thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, luôn bị các thế lực thù địch chống phá, thực hiện âm mưu và hoạt động diễn biến hòa bình. Ðặc biệt, sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN là một sự nghiệp mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, lại đang diễn ra trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Ðây là quá trình vừa làm vừa học, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm, khái quát thành lý luận trên cơ sở lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý, từng bước khắc phục các quan niệm giáo điều, đơn giản, ấu trĩ về CNXH.

Qua 35 năm đổi mới, nhờ vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng, sự nỗ lực phấn đấu, chung sức đồng lòng của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân và sự giúp đỡ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Văn kiện Ðại hội XIII của Ðảng nhận định: “lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa… Ðất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Những thành tựu trên đây tạo tiền đề quan trọng, tạo nguồn lực, động lực vật chất và tinh thần to lớn để toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới, vì độc lập dân tộc và CNXH.

Những thành tựu ấy do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là Ðảng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới. Chính vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khái quát 5 bài học lớn, trong đó bài học lớn đầu tiên là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau”.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử cả về lý luận và thực tiễn của 35 năm đổi mới, đặc biệt là nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật trong nhiệm kỳ Ðại hội XII là minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc và CNXH của nước ta. Ðồng thời đó cũng là sự bác bỏ đanh thép những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Ðảng, phủ nhận con đường XHCN, tách rời, đối lập độc lập dân tộc và CNXH, phủ nhận định hướng XHCN, phủ nhận những thành tựu mà nhân dân ta đạt được trong đổi mới. Cần kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ Ðảng, Nhà nước và chế độ XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, bảo vệ và phát triển đường lối đổi mới, thành quả của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN.

Trong bài viết của mình, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bằng tư duy lý luận sắc sảo, đã luận chứng một cách có sức thuyết phục để trả lời câu hỏi lớn mà đồng chí đặt ra là CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào?

Có thể nói, những thành tựu của cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của 35 năm đổi mới là cơ sở vững chắc để khẳng định tính tất yếu của con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là con đường phát triển khách quan của dân tộc, là chân lý lớn của thời đại Hồ Chí Minh, là động lực xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Lựa chọn con đường XHCN là sự lựa chọn của Ðảng ta, của Bác Hồ và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân, của lịch sử. Sự ra đời của Ðảng ta năm 1930, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, thắng lợi của công cuộc đổi mới do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay là những mốc son chói lọi trên con đường đó.

Trong thời kỳ đổi mới, thông qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta từng bước được hình thành, bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Lý luận đó trước hết được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, được bổ sung, phát triển năm 2011. Cương lĩnh đã khái quát những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN Việt Nam mà nhân dân ta xây dựng, chỉ ra những phương hướng cơ bản để xây dựng CNXH và những vấn đề lớn (những mối quan hệ biện chứng) cần phải nắm vững và giải quyết tốt. Văn kiện các kỳ Ðại hội Ðảng toàn quốc trong thời kỳ đổi mới đều bổ sung những nhận thức mới làm cho lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn. Vì vậy, Văn kiện Ðại hội XIII nhận định: “Tư duy lý luận của Ðảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển”. Chúng ta tin tưởng rằng, Ðại hội XIII của Ðảng với những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng tạo được thể hiện trong 12 định hướng, các mục tiêu phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược sẽ đưa đất nước phát triển lên một giai đoạn mới trên con đường độc lập dân tộc và CNXH để đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN có thu nhập cao. Cùng với quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tăng cường tổng kết thực tiễn, Ðảng ta sẽ có nhiều bổ sung, phát triển hơn nữa lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng là phải: “Nâng tầm tư duy lý luận của Ðảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Ðảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”./.

ST.

Nâng cao chất lượng dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

Dự báo chiến lược là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động nghiên cứu, hoạch định chiến lược và là đặc trưng chủ yếu, quan trọng của tư duy chiến lược - tư duy dự báo. Dự báo đúng là cơ sở khoa học để Đảng ta hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn; ngược lại, dự báo sai sẽ nguy hại đến an ninh quốc gia, lợi ích dân tộc, thậm chí cả sự tồn vong của chế độ.

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là những trang sử chói lọi về công tác lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, trong đó đặc biệt xuất sắc là công tác dự báo chiến lược, nhất là nhận định, đánh giá tình hình, dự báo chiến lược trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Thực tế cho thấy, sai lầm về dự báo chiến lược là rất nghiêm trọng, nhưng nghiêm trọng hơn là đưa ra một chiến lược sai.

Công tác dự báo chiến lược luôn được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quan tâm đúng mức, tổ chức thực hiện quyết liệt và đã thu được những kết quả nhất định trên các lĩnh vực, nhất là quốc phòng, quân sự, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dự báo chiến lược còn nhiều hạn chế. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động”1 và khi nêu bài học kinh nghiệm đã khẳng định: “Chủ động nghiên cứu, nắm bắt dự báo đúng tình hình, không để bị động bất ngờ”2. Vì vậy, để tiếp tục nghiên cứu, quán triệt phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh do Đại hội XIII của Đảng xác định: “nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”3, đặt ra vấn đề cần phải nâng cao chất lượng dự báo chiến lược; trong đó, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Nhận thức về dự báo chiến lược

Dự báo trong lĩnh vực quân sự là: “Xác định trước, có luận cứ khoa học về triển vọng phát triển của lực lượng vũ trang, kỹ thuật quân sự, nghệ thuật quân sự, tiến trình và kết cục của chiến tranh có thể xảy ra”4. Như vậy, dự báo nói chung, dự báo chiến lược nói riêng là tiến hành công việc của tương lai, nên rất khó và phức tạp. Dự báo chiến lược trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh còn khó khăn, phức tạp hơn, vì nó phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất đặc thù của chính hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh. Đây là lĩnh vực được bảo vệ, bảo mật nghiêm ngặt, nên mọi hoạt động nghiên cứu, nắm bắt tình hình hết sức khó khăn, gay go, quyết liệt và vô cùng nhạy cảm, dự báo không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Dự báo chiến lược trong lĩnh vực này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn ảnh hưởng đến quan hệ trong khu vực và quốc tế. Vì thế, lực lượng hoạt động ở lĩnh vực này cần phải là những người “thông thái”, có tầm nhìn xa, dài hạn mới đảm bảo chất lượng công tác dự báo nói chung, dự báo chiến lược nói riêng.

Yêu cầu nâng cao chất lượng công tác dự báo

 (1) Công tác dự báo phải đạt được tính khách quan, trung thực, không gò ép, dự báo đầy đủ cả tích cực, tiêu cực, vận hội, cơ hội, thời cơ, nguy cơ và thách thức; ở cả hai chiều biến cố rủi ro và những cơ hội đưa đến, dự kiến được cả hai mặt thuận - nghịch mà không “kiêng” những chỗ (vấn đề, lĩnh vực, khu vực) có thể xảy ra nguy hiểm. (2) Dự báo phải bảo đảm tính chính xác cao, nghĩa là kết quả dự báo phải trên cơ sở khoa học tin cậy, có phương pháp luận khoa học, chặt chẽ, hợp lý. Dự báo càng sát, đúng thì giá trị của dự báo càng cao. (3) Dự báo phải bám sát thực tiễn và phải ở tầm chiến lược, tư duy dự báo nhất thiết phải là tư duy trải nghiệm, phải bám sát thời cuộc và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Kết quả dự báo phải có tầm nhìn xa, tầm nhìn dài hạn và có giá trị ảnh hưởng, tác động đến các vấn đề cơ bản của cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc. (4) Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, dự báo chiến lược phải phù hợp đặc điểm, tính chất đặc thù của hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh và phải chịu sự chi phối bởi các hoạt động có tính đặc thù ấy. Dự báo phải có tính hướng đích rõ ràng, nghĩa là phải nhằm hoạch định chiến lược trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác dự báo chiến lược

Để nâng cao chất lượng công tác dự báo chiến lược, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải luôn quán triệt đầy đủ, nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm giữ đúng định hướng chính trị trong công tác dự báo. Trong đó, các nhiệm vụ ngắn hạn được xác định trong kế hoạch 05 năm của các kỳ đại hội Đảng, trung hạn là Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế - xã hội hoặc dài hạn là định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, v.v. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nhằm cung cấp lý luận và các luận cứ khoa học cho công tác dự báo. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, một số vấn đề mới, khó, phức tạp chưa được làm sáng tỏ”5. Vì vậy, cần phải: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới cũng như lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”6. Trong đó, cần hết sức chú trọng nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ các vấn đề thực tiễn đặt ra về chủ nghĩa xã hội ngày nay, như: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân; đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc và nhiều vấn đề khác, nhằm cung cấp luận cứ khoa học, bảo đảm cho dự báo chiến lược có chất lượng cao. Dự báo chiến lược phải toàn diện, nhưng hết sức tập trung, có trọng tâm, trọng điểm vào các vấn đề cốt lõi của chiến lược cần hoạch định, nhất là các vấn đề nổi cộm, các thách thức chủ yếu tác động đến sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, v.v. Kết quả dự báo phải cập nhật tình hình mới nhất, liên quan đến chiến lược cần dự báo và phải có tính đột phá về chiến lược, làm xoay chuyển về căn bản bản chất của chiến lược được hoạch định theo hướng tích cực. Nội dung dự báo nhất thiết phải ở tầm chiến lược, có giá trị lớn đối với lợi ích quốc gia - dân tộc với tầm nhìn dài hạn.

Nội dung dự báo chiến lược thường gồm những vấn đề về sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực; các vấn đề liên quan đến: an ninh, chính trị nội bộ, sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, đối ngoại, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Về an ninh, cần dự báo các âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá mới của các thế lực thù địch, nhất là về chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bạo loạn ly khai, v.v. Về nội bộ, cần dự báo rõ các vấn đề liên quan đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đoàn kết nội bộ, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, nạn tham nhũng, lòng tin của nhân dân; khả năng có thể hình thành lực lượng chính trị đối lập, gây đột biến về chính trị để “có biện pháp và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến”. Về quân sự, quốc phòng cần tập trung dự báo các thách thức về quốc phòng, các tình huống quốc phòng, các hình thái chiến tranh. Dự báo toàn diện, nhưng tập trung vào các vấn đề chủ yếu, các điểm nóng, nhất là các vấn đề về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ trên biển, đảo, không gian mạng, biên giới theo phương châm “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Tình hình an ninh chính trị ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các khả năng có thể xảy ra bạo loạn lật đổ, bạo loạn ly khai, xung đột và chiến tranh trên biển, đảo, biên giới, không gian mạng, v.v. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cần quan tâm dự báo cả về sự tác động từ những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, khủng bố, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, v.v.

Dự báo chiến lược là để hoạch định chiến lược, vì vậy nội dung dự báo phải bám sát nội dung chủ yếu của chiến lược dự kiến hoạch định. Đồng thời, phải nâng cao năng lực hoạch định chiến lược cho đội ngũ cán bộ chiến lược. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”7. Cùng với đó, ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - công nghệ vào công tác dự báo.

Một nội dung quan trọng cần hết sức quan tâm là sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu chiến lược, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình nghiên cứu dự báo chiến lược, một cách hợp lý, nhưng có sự vận dụng linh hoạt. Coi trọng quá trình thu thập và xử lý thông tin, kết hợp chặt chẽ hoạt động của cơ quan trung tâm và các cơ quan liên quan, phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, trong xác định các vấn đề chủ yếu của dự báo chiến lược và nội dung chủ yếu của chiến lược hoạch định. Vì chiến lược là sự thể hiện cao độ ý chí, quyết tâm, trí tuệ, phẩm chất và bản lĩnh của người lãnh đạo, chỉ huy cấp chiến lược, nhất là người đứng đầu. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, giữ vững kỷ cương”8. Nêu cao trách nhiệm của cơ quan trung tâm, lực lượng nòng cốt trong dự báo và hoạch định chiến lược, đảm bảo phải có đủ năng lực đưa ra  các nội dung dự báo chủ yếu và có khả năng cao trong việc khai thác trí tuệ của các cơ quan phối hợp, để đưa ra dự báo chiến lược hoàn chỉnh, chất lượng cao.

Tư duy chiến lược, nhất là tư duy dự báo chiến lược quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ rất khó, cần phải nhanh nhạy, linh hoạt, trí tuệ để có đủ khả năng phân tích, đánh giá nhanh, chính xác tình hình; đồng thời, đưa ra dự báo sát, đúng, kịp thời để Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, đòi hỏi đội ngũ này phải nắm chắc các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm lịch sử, giỏi phân tích hiện tại, tiếp thu tinh hoa thế giới, biết kết hợp hài hòa các vấn đề dân tộc và thời đại, dự báo các vấn đề chiến lược khu vực, thế giới liên quan đến Việt Nam, giúp Đảng hoạch định đường lối chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đúng đắn, hiệu quả./.

ST.