Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024
PHÁT HUY MẠNH MẼ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
DÀNH ƯU TIÊN CAO NHẤT VUN ĐẮP TÌNH ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT, THỦY CHUNG VIỆT NAM - LÀO
Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Sonexay Siphandone và phu nhân thăm chính thức Việt Nam, kết hợp đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Lào từ ngày 6 đến 7-1.
Hai nước Việt Nam và Lào không chỉ là láng giềng mà còn là anh em, đồng chí. Cùng uống chung dòng nước sông Mê Công, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, Việt Nam và Lào có lịch sử gắn bó lâu đời và truyền thống đoàn kết, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau. Từ khi có sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, mối quan hệ đó ngày càng phát triển và được nâng lên về chất. Hai dân tộc Việt Nam và Lào luôn kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ với nhau. Máu đào của các chiến sĩ Việt Nam và Lào đã thấm vào dãy Trường Sơn, hòa vào nước sông Mê Công, nước mắt của những người mẹ Việt Nam và Lào có con hy sinh đều chung vị mặn đắng của đau thương, mất mát. Dẫu có nhiều gian khó, hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, quân và dân hai nước đã cùng nhau chiến đấu kiên cường, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn của cách mạng mỗi nước vào năm 1975.
Tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng, bước vào thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Kaysone Phomvihane ở Lào, hai Đảng, hai nước tiếp tục kề vai sát cánh, dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, quý báu, chí tình, chí nghĩa, cùng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng mà hai dân tộc đã cùng đi qua, chúng ta hoàn toàn tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, hết mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào. Tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng, được các thế hệ quân và dân hai nước dày công gây dựng, giữ gìn, vun đắp bằng mồ hôi, công sức và cả máu xương, thực sự đã trở thành tài sản chung vô giá, quy luật phát triển, nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của mỗi nước và là mối quan hệ có một không hai trên thế giới. Những bài học lịch sử của tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào mãi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của hai Đảng và nhân dân hai nước.
Những năm gần đây, chúng ta vui mừng nhận thấy, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, kể cả những tác động chưa từng có của đại dịch Covid-19, quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam-Lào tiếp tục phát triển vững chắc, ngày càng đi vào chiều sâu thiết thực và hiệu quả trên tất cả lĩnh vực với nhiều hình thức hợp tác phong phú, đa dạng. Quan hệ chính trị không ngừng được củng cố và nâng cao, từ quan hệ hữu nghị truyền thống thành quan hệ hữu nghị vĩ đại, định hướng cho các lĩnh vực hợp tác khác. Hợp tác trên các lĩnh vực từ đối ngoại, quốc phòng, an ninh cho đến kinh tế, văn hóa, xã hội tiếp tục được tăng cường cả về lượng và chất, mang lại lợi ích tốt đẹp cho nhân dân hai nước.
Với niềm tự hào, phấn khởi trước những bước phát triển hết sức tốt đẹp của mối quan hệ Việt Nam-Lào, chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên của Thủ tướng Sonexay Siphandone kể từ khi đảm nhiệm cương vị mới tiếp tục khẳng định chính sách nhất quán của hai Đảng, hai Nhà nước luôn coi trọng và dành ưu tiên cao nhất cho việc củng cố, vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào.
Trong thế giới phát triển đầy biến động và phức tạp với cơ hội và thách thức đan xen như hiện nay, mối quan hệ Việt Nam-Lào càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với cả hai nước. Hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước trước sau như một quyết tâm tiếp bước cha anh, gìn giữ và không ngừng vun đắp cho tình đoàn kết đặc biệt mẫu mực, thủy chung, trong sáng Việt Nam-Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững./.
ST
NHỮNG SỰ KIỆN TRỌNG ĐẠI TRONG CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cách mạng Việt Nam nói chung, của công tác tổ chức và cán bộ nói riêng. Điều đó đã mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta - một thời kỳ có Quốc hội, có Chính phủ thống nhất, có một bản Hiến pháp tiến bộ và có cả một hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, có đầy đủ cơ sở pháp lý đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội cũng như đối ngoại.
Một cuộc tuyển cử thần kỳ
Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03-9-1945, tức là sau lễ Tuyên ngôn độc lập một ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v...”.
Tiếp đó, ngày 08-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội để thành lập một cơ quan lập pháp chính thống (Quốc hội) của nước Việt Nam mới. Sắc lệnh nói rõ, “Chiểu theo Nghị quyết của quốc dân Đại hội ngày 16, 17-8-1945 tại khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên;
Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hòa;
Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm...”. Chương trình công tác đối nội đầu tiên của Chính phủ liên hiệp lâm thời là, “Làm cho cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẳn sàng việc khai Quốc hội”.
Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử, các Ban bầu cử đã được thành lập cho tới tận xã, làng, bản, ấp do các Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm. Danh sách cử tri và các ứng cử viên được niêm yết công khai. Nhân dân sôi nổi trao đổi, tranh luận, nhằm lựa chọn đúng đắn những người xứng đáng nhất đại diện cho mình và hạn chế tới mức thấp nhất tình huống kẻ cơ hội tranh giành quyền lực, chức tước làm tổn hại cách mạng.
Càng gần đến ngày Tổng tuyển cử, khí thế trong cả nước càng sôi nổi. Một số địa phương ở phía Nam do lệnh lùi ngày bầu cử không kịp đến nên vẫn Tổng tuyển cử như kế hoạch đã định là 23-12-1945. Tuy nhiên ở những nơi đó Tổng tuyển cử vẫn diễn ra và thắng lợi tưng bừng làm cho không khí chính trị trong cả nước sôi động hướng tới ngày 06 tháng Giêng năm 1946. Uy tín của Đảng, của Bác ngày càng dâng cao. Ở Hà Nội có 118 Chủ tịch các Ủy ban nhân dân và tất cả các giới làng, xã đã công bố một bản kiến nghị: “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bác đã hết sức trân trọng tấm lòng người dân và đã gửi thư cho đồng bào ngoại ô như sau: “Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khác cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định.
Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.
Xin cảm tạ các đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới”.
Ngày 03-01-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp của Chính phủ liên hiệp lâm thời để kiểm tra lần cuối các công việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử và ngày 05-01-1946, Bác ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong Lời kêu gọi có đoạn, “Ngày mai tất cả các bạn cử tri đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập tự do”. Chiều hôm đó Bác đã tham dự cuộc mít tinh lớn của hơn hai vạn nhân dân Thủ đô tại Đông Dương học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa), nhiệt liệt chào mừng Tổng tuyển cử.
Ngày 06-01-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành sôi nổi ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Tại Hà Nội, đúng 7 giờ sáng, tiếng chuông, tiếng trống ở các nhà thờ, các chùa chiền đã vang lên khắp các phố phường, kéo dài tới 15 phút, báo hiệu giờ Tổng tuyển cử bắt đầu. Hà Nội tổ chức Tổng tuyển cử khá chu đáo, diễn ra với khí thế ngập tràn phấn khởi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với hàng chục vạn cử tri đã đi làm nghĩa vụ công dân. Người đã bầu cử ở phòng bỏ phiếu tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay thuộc phố Lý Thái Tổ), sau đó Người còn đi thăm nhiều nơi bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, Ô Đông Mác...
Có thể khẳng định rằng, Tổng tuyển cử là một cuộc thử thách máu lửa trên phạm vi cả nước mà nhân dân ta đã anh dũng vượt qua và đã chiến thắng. Ngay tại Thủ đô, ở khu Ngũ Xã, bọn phản động đã huy động một lực lượng khá đông có trang bị súng liên thanh trực tiếp ngăn cản cử tri đi bỏ phiếu; chúng cấm treo cờ đỏ sao vàng, cấm đặt các hòm phiếu...Nhưng nhân dân không hề nao núng, vẫn làm nghĩa vụ công dân khá đầy đủ; 172.765 trên tổng số 187.880, tức 91,95% cử tri của cả 74 khu phố nội đô và 118 thôn, làng ngoại ô đã đi bỏ phiếu. Trong số 74 ứng cử viên đã có 6 người trúng cử đại biểu Quốc hội. Người trúng cử thấp nhất cũng đạt 52,50% số phiếu hợp lệ. Người trúng cử với số phiếu cao nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh 98,40%.
Ở phía Bắc, một vài nơi đã xảy ra đổ máu. Tại Hải Phòng (các khu vực bỏ phiếu như Nhà hát lớn, phố Tràng Kênh...) quân Tưởng xông vào cướp súng của tự vệ đang bảo vệ hòm phiếu, ta bắn cảnh cáo, chúng huy động lực lượng đến cướp hòm phiếu; công an, tự vệ ta phải giằng co để giữ cho được hòm phiếu. Chúng đã bắt của ta 16 công an, 40 tự vệ và hành hung rất dã man nhiều người khác. Chúng ta đã kịp thời huy động hàng nghìn người mít tinh, biểu tình, thị uy, phản đối kịch liệt hành động của chúng, buộc chúng phải thả những người đã bị bắt. Mặc dù vậy , Hải Phòng vẫn có tới 96% cử tri đi bỏ phiếu.
Ở các tỉnh, thành phía Nam, nhất là Nam Bộ, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra dưới đạn bom rất ác liệt của quân thù, vì ngay từ cuối tháng 10 năm 1945 sau khi được tăng viện, thực dân Pháp đã đánh phá khắp các tỉnh Nam Bộ, chúng đổ bộ lên Nha Trang, đánh phá rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ và các vùng rừng núi Tây Nguyên. Chúng dự tính trong một thời gian ngắn phải thôn tính cho được từ vĩ tuyền 16 trở vào. Cuộc Tổng tuyển cử gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhân dân miền Nam đã thể hiện rõ ý chí độc lập, thống nhất cao, kiên quyết kháng chiến chống lại thực dân Pháp xâm lược; nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Bất chấp bom đạn của thực dân Pháp, nhân dân vẫn đi bỏ phiếu rất đông. Nhiều nơi cử tri phải đánh đổi cả xương máu để thực hiện cho được quyền tự do dân chủ của mình. Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, quân pháp đã chiếm đóng toàn bộ thành phố và các vùng lân cận. Tiếng súng kháng chiến đã vang lên dưới nhiều hình thức, diệt tề trừ gian; tập kích đốt phá kho tàng của địch... Cuộc Tổng tuyển cử ở đây đã diễn ra trong sự lùng ráp, khủng bố gắt gao của quân thù. Ủy ban hành chính thành phố đã phải chuyển ra ngoại ô phía Tây Nam, nhưng vẫn bám sát chỉ đạo nhân dân nội ô, ngoại ô tiến hành Tổng tuyển cử. Không có nơi đặt hòm phiếu cố định, hàng trăm hòm phiếu được lưu chuyển đến từng ngõ, từng nhà cho cử tri bỏ phiếu; 42 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử. Tại Nha Trang, máy bay Pháp ném bom khủng bố làm chết 4 người, 12 người bị thương. Tại Tân An, máy bay địch xả đạn vào nơi cử tri đang bỏ phiếu, làm 14 người chết, nhiều người bị thương, nhiều nơi phải bỏ phiếu ban đêm, vậy mà có đến 90% cử tri đã hoàn tất việc bỏ phiếu. Tại Cần Thơ, quận Trà Ôn, làng Đông Thành, máy bay địch oanh tạc dữ dội nhưng 1.827 trong số 2.188 cử tri vẫn đến được hòm phiếu làm nghĩa vụ công dân; ở làng Thành Mỹ Hưng, bất chấp địch càn quét, đánh phá, 4.209 trên 4.288 cử tri vẫn tới được hòm phiếu làm nghĩa vụ của mình. Ở Mỹ Tho, máy bay địch rà theo kênh, rạch bắn phá suốt ngày, nhưng tại Mỹ Hạnh Đông, cán bộ ta vẫn chèo ghe, xuồng, đánh trống, chở hòm phiếu len lỏi vào các kênh mương, rạch nhỏ nơi đồng bào tản cư để cử tri bỏ phiếu....
Tại Tây Nguyên, hai ngày trước ngày bầu cử, thực dân Pháp đã huy động máy bay liên tục ném bom lửa xuống các làng Ra Đê và tấn công nhiều làng khác cách Buôn Ma Thuột 19 km...
Có thể nói, các tỉnh, thành phía Nam, trừ Tây Ninh, nơi chiến sự đã xẩy ra rộng khắp và vô cùng ác liệt, trước ngày bầu cử, một trong hai ứng cử viên đã bị địch giết hại nên không thực hiện được cuộc bầu cử, còn tất cả các tỉnh, thành đều đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử với tuyệt đại bộ phận các cử tri đã đi bỏ phiếu, trong đó nhiều tỉnh cử tri đi bầu đạt tỷ lệ rất cao như Sa Đéc 93,54%, Bạc Liêu 90,77%...
Nhìn chung cuộc Tổng tuyển cử ở cả 71 tỉnh, thành trong cả nước đã có tới 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, phổ biến đạt mức 80%, nhiều nơi đạt cao tới 95%. Có một vài nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng; 10 đại biểu là phụ nữ; 34 đại biểu là người dân tộc thiểu số. Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã ra đời.
Chúng ta không thể không nhắc đến một sự kiện quan trọng trong việc thành lập Quốc hội khóa đầu tiên. Đó là một sách lược tuyệt vời của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chính sách đoàn kết, tập hợp lực lượng, làm dịu tình hình đang hết sức căng thẳng. Sáng ngày 02-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khai mạc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc kỳ họp, Bác đã nêu lên thắng lợi và ý nghĩa lớn lao của cuộc Tổng tuyển cử ngày 06-01-1946, đã “tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí”. Sau đó Người đề nghị với Quốc hội mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người nữa; 70 người đó dành cho các vị ở hải ngoại về là Việt Nam quốc dân đảng (Việt quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt cách). Tất cả các đại biểu dự kỳ họp đều tán thành đề nghị của Bác. Như vậy Quốc hội khóa I gồm 333 đại biểu được nhân dân bầu ra và 70 đại biểu mở rộng thêm không qua bầu cử, tổng cộng là 403 đại biểu.
Phát huy những bài học của Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
1- Cuộc Tổng tuyển cử lập ra Quốc hội đầu tiên vừa là thành quả to lớn, vừa là yêu cầu cấp bách của việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước cách mạng. Quốc hội ra đời trong khói lửa đấu tranh gian khổ của toàn dân tộc với ý chí bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và đại đoàn kết toàn dân là một thành công, một thắng lợi vĩ đại, do đó và vì thế nó có ý nghĩa là một Quốc hội lập quốc (lập nên một Nhà nước Công-Nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á).
2- Cuộc Tổng tuyển cử diễn ra trong thời khắc nhân dân ta vừa thoát khỏi kiếp nô lệ của cả nghìn năm phong kiến và gần trăm năm thuộc địa, đế quốc Pháp lại đang gây chiến, hòng cướp nước ta, đô hộ dân ta một lần nữa. Trong điều kiện ấy mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hạ quyết tâm Tổng tuyển cử và Tổng tuyển cử đã thắng lợi to lớn, vang dội - một sự kiện hiếm có trong lịch sử cách mạng thế giới. Điều này khẳng định rằng, Đảng với dân là một (ý Đảng, lòng Dân). Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn tin tưởng vào ý chí, nguyện vọng độc lập dân tộc và sự đồng lòng nhất trí của toàn dân tộc ta tuyệt đối tin tưởng vào sự chèo lái, lãnh đạo tài trí của Đảng và Bác kính yêu, đặc biệt là trong những lúc tình thế hiểm nghèo, “ngàn cân treo sợi tóc” như bối cảnh của cuộc Tổng tuyển cử. Một sự kiện đã nói ở trên, khi Việt quốc và Việt cách gây căng thẳng và mưu đồ lật đổ Chính phủ cách mạng, Quốc hội đã chấp thuận cho 70 người (50 người của Việt quốc và 20 người của Việt cách) là đại biểu Quốc hội không qua bầu cử, nhưng như đã dự tính trước, chính họ đã tự đào thải họ, chỉ ít lâu sau số đông trong số họ đã chạy theo giặc hoặc đào nhiệm nên đã bị Quốc hội truất quyền đại biểu. Việt quốc chỉ còn duy nhất một người trong số 50 người đủ tư cách đại biểu. Những đại biểu do dân bầu ra, tuyệt đại bộ phận đã xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri, đã rất mẫn cán trong công tác và chiến đấu vô cùng dũng cảm. Một số đại biểu đã hy sinh anh dũng trước họng súng quân Pháp như: Lý Chính Thắng, đại biểu Sài Gòn - Chợ Lớn; Thái Văn Lung, đại biểu Gia Định; Nguyễn Văn Luyện, đại biểu Hà Nội; Nguyễn Văn Tố, đại biểu Nam Định (Trưởng ban đầu tiên của Ban thường trực Quốc hội, nay là Ủy ban thường vụ Quốc hội); Lê Thế Hiếu, đại biểu Quảng Trị; Trần Kim Xuyến, đại biểu Bắc Giang; Nguyễn Văn Triết, đại biểu Thủ Dầu Một; Huỳnh Bá Nhung, đại biểu Rạch Giá; Siểng, dân tộc Khơme, đại biểu Biên Hòa...
3- Quốc hội đầu tiên là Quốc hội độc lập dân tộc, Quốc hội thống nhất đất nước và là Quốc hội đoàn kết toàn dân. Quốc hội đã bao hàm khá đầy đủ các đại biểu cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đại diện cho hầu hết các thế hệ những người Việt Nam yêu nước từ già chí trẻ, các giai tầng xã hội; nam, nữ, công nhân, nông dân, nhân sĩ, trí thức, các doanh nhân, các nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ, các tôn giáo (Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao đài...), các dân tộc (Mường, Tày, Nùng, Thái, Mèo, Ba na, Cơ tu, Ra đê, Ê đê, Gia rai, Khơ me, Hán...). Quốc hội còn bao gồm những người không đảng phái và những người của các đảng phái chính trị, xã hội khác nhau, những người vốn là quan lại của chế độ cũ...Bài học đại đoàn kết có thể coi là bài học cơ bản, xuyên suốt từ khi Đảng ta ra đời, được phát huy cao độ trong Tổng tuyển cử và được nhân rộng cho đến tận bây giờ và chắc chắn còn mãi mai sau.
4- Cuộc Tổng tuyển cử thắng lợi là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cách mạng Việt Nam nói chung, của công tác tổ chức và cán bộ nói riêng. Điều đó đã mở ra một thời kỳ mới của đất nước ta - một thời kỳ có Quốc hội, có Chính phủ thống nhất, có một bản Hiến pháp tiến bộ và có cả một hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, có đầy đủ cơ sở pháp lý đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội cũng như đối ngoại. Nhà nước được quốc dân giao phó cho những nhiệm vụ cực kỳ nặng nề là điều hành đất nước, kháng chiến, kiến quốc và bang giao trên trường quốc tế.
5- Cũng như bài học đại đoàn kết, sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là bài học thực tế có tính nguyên tắc và vĩnh cửu. Đảng đã dựa hẳn vào dân, bắt rễ sâu trong lòng dân tộc, do đó đã đáp ứng được khát vọng độc lập dân tộc, tự do, dân chủ của nhân dân. Với lãnh tụ kiệt xuất Hồ Chí Minh và thông qua Mặt trận Việt Minh, một tổ chức rộng lớn do chính Đảng tổ chức và lãnh đạo, do đó Đảng vẫn giữ vững và phất cao ngọn cờ lãnh đạo toàn dân vượt qua mọi khó khăn, không quản ngại hy sinh gian khổ, thực hiện Tổng tuyển cử thành công. Từ đó đến nay, Đảng ta vẫn thường xuyên, liên tục phát huy, nâng cao ý nghĩa và giá trị tốt đẹp của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, vận dụng vào những cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội các khóa sau này. Gần đây nhất là Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Điểm 4 của Chỉ thị nhấn đậm việc chỉ đạo công tác nhân sự - công tác cán bộ: “Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải bảo đảm theo đúng quy trình luật định và hướng dẫn của các cơ quan Trung ương có thẩm quyền. Các cấp ủy đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác bầu cử, bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.
Sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ của Đảng trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là nhằm mục tiêu xây dựng các cơ quan dân cử đủ mạnh, đủ hiệu lực và hoạt động có hiệu quả cao trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
ST
HIỆP ĐỊNH PARIS MỞ ĐƯỜNG THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
CHIẾN THẮNG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM - BÀI HỌC CHO CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC
CÁN CÂN CÔNG LÝ
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định ''Uy tín của Tòa án chính là tín nhiệm của thể chế chính trị, của Nhà nước, bởi đây là niềm tin của người dân vào công lý, công bằng xã hội''.
Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2024 của Tòa án nhân dân Tối cao ngày 24/12/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cho rằng, cần tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm, bảo đảm thấu tình, đạt lý, nhân văn, thuyết phục. Mỗi bản án được tuyên phải thực sự làm cho mọi người "tâm phục, khẩu phục", khuất phục được tội phạm, thuyết phục được các bên, xã hội đồng tình; có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh, góp phần xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương.
Chủ tịch nước nhắn nhủ, khi phát hiện sai sót phải thành tâm nhận khuyết điểm, khẩn trương, kiên quyết khắc phục, sửa chữa để bảo vệ quyền và lợi ích tổ chức, cá nhân; đó cũng là cách để nâng cao uy tín của tòa án. Bởi mỗi sai sót trong thực thi công vụ của cán bộ tư pháp đều ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thậm chí là tính mạng của người dân.
Chủ tịch nước nhấn mạnh đến ưu tiên hàng đầu trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ thẩm phán thực sự "phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư", có đạo đức trong sáng, thanh liêm, chính trực, khát khao công lý, giàu lòng nhân ái, có phương pháp công tác khoa học, sâu sát, thận trọng, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông pháp luật.
Trong nhiều năm qua, ngành Tòa án đã chủ động, sáng tạo, có nhiều chủ trương, giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng công tác. Công tác xét xử có nhiều chuyển biến tích cực; tỷ lệ giải quyết các vụ án đạt cao; chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao; pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất; tranh tụng tại phiên tòa được mở rộng, thực chất, hiệu quả hơn...; góp phần kiềm chế gia tăng tội phạm, thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Đặc biệt, Tòa án các cấp đã tổ chức xét xử thành công nhiều vụ án tham nhũng lớn. Các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo, được xét xử đúng tiến độ, nghiêm minh theo pháp luật. Tòa án đã chủ động phối hợp với liên ngành tố tụng giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án lớn. Các vụ án đã xét xử được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, tin tưởng, đánh giá cao; thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, khẳng định quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.
Tuy nhiên, Chủ tịch nước cũng chỉ ra một số hạn chế, thiếu sót như tỷ lệ bản án, quyết định hành chính bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan chưa đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Vẫn còn một số vụ án giải quyết quá thời hạn luật định do nguyên nhân chủ quan; năng lực, trách nhiệm, phẩm chất của một số cán bộ còn yếu, cá biệt có cán bộ vi phạm pháp luật…
Con sâu làm rầu nồi canh
Những đánh giá của Chủ tịch nước tại hội nghị là rất đúng và trúng với nỗ lực cải cách tư pháp được thực hiện nhiều năm qua. Nếu năng lực, trách nhiệm, phẩm chất của một số cán bộ còn yếu, có cán bộ vi phạm pháp luật, dù là rất nhỏ, thì người dân có thể trông chờ vào đâu?
Nếu quan tòa không công minh, xét xử theo lối "nén bạc đâm toạc tờ giấy" hoặc có "Có ba trăm lạng việc này mới xong" thì làm sao đảm bảo cán cân công lý. Thẩm phán nhận hối lộ để làm sai lệch vừa bào mòn uy danh của quan tòa mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của nền tư pháp và pháp luật.
Trong những năm vừa qua, vì không chế ngự được lòng tham, bất chấp vai trò vị trí của người cầm cân nẩy mực trong trong duy trì pháp luật, có một số trường hợp thẩm phán đã làm hoen ố uy danh của các vị quan tòa.
Gần đây, cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao đã chuyển hồ sơ, kết luận điều tra vụ án tới Viện KSND Tối cao đề nghị truy tố ông Võ Đình Sớm, thẩm phán TAND tỉnh Gia Lai tội "Nhận hối lộ". Cơ quan điều tra của Viện KSND Tối cao bắt quả tang tại phòng làm việc khi ông Sớm nhận hối lộ 500 triệu đồng.
Ngày 3/10/2023, Viện KSND Tối cao bắt quả tang bà Nguyễn Thị Tuyết Sương Phó Chánh án, Thẩm phán TAND thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long nhận hối lộ 50 triệu đồng của đương sự trong một vụ án ngay tại phòng làm việc.
Ngày 22/8/2023, TAND tỉnh Bạc Liêu mở phiên xét xử sơ thẩm vụ án "nhận hối lộ" và tuyên phạt 4 năm tù đối với bị cáo Châu Văn Mỹ nguyên Phó chánh án Thường trực TAND tỉnh Bạc Liêu.
Ngày 24/8/2022, Cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao ra quyết định khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Hứa Công Nguyên - Thẩm phán TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về tội "Nhận hối lộ".
Những trường hợp bị phát hiện như trên cho thấy, những thẩm phán nhận hối lộ đã phá hoại quốc pháp. Nhưng những nỗ lực mang những người này ra tòa cho thấy, pháp luật phải được bảo vệ và cuộc đấu tranh chống tham nhũng thực sự "không có vùng cấm".
Số tiền họ nhận hối lộ không quá lớn, nhưng hậu quả vô cùng lớn vì thẩm phán nhận hối lộ để làm sai lệch, bẻ cong cán cân công lý không chỉ bào mòn uy danh của tòa án mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của nền tư pháp và pháp luật nước nhà.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân... Vì vậy, phán quyết của tòa án liên quan trực tiếp đến những quyền thiêng liêng, cơ bản; liên quan đến danh dự, nhân phẩm, lương tâm, sinh mệnh chính trị, tài sản của con người; lợi ích quốc gia. Có thể nói những thẩm phán nhận hối lộ để bẻ cong cán cân công lý.
Bởi vậy, không chỉ trừng phạt nghiêm khắc những thẩm phán nhận hội lộ khi thụ lý, xử án mà còn phải xử lý nghiêm minh những cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán sai phạm trong quá trình tố tụng, dẫn đến oan sai trong các vụ án.
Vì những vụ án an sai, nhất là các vụ án tử hình oan sai không chỉ là nỗi đau thương, tủi nhục của người bị oan cùng gia đình và dòng tộc của họ mà còn là nỗi nhức nhối của xã hội.
Để khắc phục những hạn chế của tòa án và nền tư pháp nói chung trước hết đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, cán bộ làm công tác điều tra phải có phẩm chất "Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư" và phải có tính chuyên nghiệp.
Nghị quyết số 27-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 6 Khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã nhấn mạnh việc tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động tư pháp bởi nó liên quan chặt chẽ đến mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Từ khi luật ra đời (cách đây hàng nghìn năm) tới nay, hình ảnh các vị quan tòa - người nắm cán cân công lý lạnh lùng, nghiêm khắc trong xử án đã tạo nên uy danh vô đối với các giai tầng trong xã hội. Thời nào và ở đâu cũng vậy, sự công minh và uy danh của các vị quan tòa là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho sự nghiêm minh của quốc pháp và bảo vệ quyền lợi, phẩm giá của con người và củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân với chính thể./.
ST
KHÔNG NGỪNG XÂY DỰNG VUN ĐẮP QUAN HỆ HỮU NGHỊ HỢP TÁC VIỆT NAM - CAMPUCHIA.
Cách đây 45 năm, ngày 7/1/1979 là ngày đất nước ta chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cũng là ngày kết thúc trang sử đau thương của nhân dân Campuchia dưới chế độ diệt chủng Pol Pot. Thắng lợi lịch sử đó đã khẳng định tình đoàn kết quốc tế trong sáng, chân thành giữa nhân dân hai nước Campuchia và Việt Nam, mở ra trang sử mới trong quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt đẹp giữa hai nước.
Tinh thần quốc tế cao cả
Việt Nam - Campuchia là hai nước láng giềng hữu nghị và thân thiện, nhân dân sớm có quan hệ đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhau trong lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam sẵn sàng đưa quân tình nguyện sang giúp nước bạn. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Campuchia ngày 17/4/1975 cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa ba nước Đông Dương.
Thế nhưng, ngay sau khi lên cầm quyền vào tháng 4/1975, tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary đã lợi dụng thành quả cách mạng, phản bội lại nhân dân Campuchia. Chúng lập nên cái gọi là “nhà nước Campuchia dân chủ”, thi hành chế độ diệt chủng, thanh trừng nội bộ, giết hại hàng triệu người dân vô tội, phá hủy hàng trăm nghìn trường học, bệnh viện, chùa chiền...
Đối với Việt Nam, tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary xuyên tạc lịch sử, khiêu khích, kích động hận thù dân tộc. Chỉ trong 2 năm (1975-1977), chúng đã điều động 41% quân số và trang thiết bị áp sát biên giới Việt Nam; gây ra những tội ác đẫm máu đối với nhân dân ta, xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp trong mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.
Ngày 5/2/1978, Chính phủ ta ra tuyên bố ba điểm: Hai bên chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; Thỏa thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế. Phớt lờ thiện chí đó, Pol Pot huy động lực lượng áp sát biên giới và tiến công, xâm nhập địa phận nước ta; lực lượng của ta kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.
Trước hành động xâm lược của Pol Pot và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23/12/1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công - tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 2/1/1979, ba cụm quân chủ lực của Pol Pot án ngữ các trục đường tiến về Phnom Penh cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Trên tất cả các hướng, Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia truy kích, tiến sát Thủ đô Phnom Penh. Đến ngày 7/1/1979, Thủ đô Phnom Penh hoàn toàn được giải phóng.
Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc là hành động tự vệ chính đáng và cần thiết của nhân dân Việt Nam nhằm chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary gây ra. Đồng thời, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt vong - đó là hành động phù hợp pháp lý và đạo lý, thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, chí nghĩa, chí tình, sẵn sàng hy sinh cả xương máu vì mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước; là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc.
Củng cố quan hệ thực chất và hiệu quả
Trong những năm qua, quan hệ Việt Nam - Campuchia đã không ngừng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác trong khu vực và trên thế giới.
Quan hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp, lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì các chuyến thăm tiếp xúc và trao đổi dưới nhiều hình thức. Hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương với các cơ chế hợp tác thiết thực được triển khai ngày càng hiệu quả, đưa quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực ngày càng đi vào chiều sâu. Các hoạt động của Mặt trận, nhóm nghị sĩ hữu nghị, hội hữu nghị, các tổ chức đoàn thể quần chúng hai nước, nhất là tại các tỉnh biên giới diễn ra sôi nổi và rộng khắp, góp phần nâng cao sự hiểu biết của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước, hai dân tộc.
Hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh không ngừng được tăng cường, ngày càng thực chất, hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Hai bên luôn khẳng định, không cho phép bất kỳ một thế lực thù địch nào sử dụng lãnh thổ của mình để gây phương hại cho an ninh của nước kia. Trên cơ sở các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, các cơ quan chính quyền và nhân dân địa phương biên giới hai bên đang phối hợp tích cực triển khai công tác phân giới cắm mốc trên đất liền. Hai bên đã ký 2 văn kiện pháp lý ghi nhận thành quả phân giới cắm mốc khoảng 84% đường biên giới trên đất liền Việt Nam-Campuchia và hiện nay đang nỗ lực đàm phán, giải quyết 16% còn lại để tiếp tục xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.
Đặc biệt, đối ngoại biên phòng giữa Việt Nam và Campuchia được lãnh đạo Bộ Quốc phòng hai nước đánh giá là tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả và tạo nhiều dấu ấn; góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị truyền thống, láng giềng tốt đẹp, hợp tác toàn diện giữa nhân dân và Quân đội hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới. Triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị định thư và Kế hoạch hợp tác giữa hai Bộ Quốc phòng Việt Nam - Campuchia, Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam và lực lượng bảo vệ biên giới Campuchia đã phối hợp chặt chẽ trong quản lý, bảo vệ biên giới và triển khai các biên bản hợp tác hiệu quả, thiết thực. Bộ Chỉ huy BĐBP 10 tỉnh biên giới của Việt Nam đã phối hợp tốt với lực lượng bảo vệ biên giới 9 tỉnh biên giới của Campuchia tổ chức gặp gỡ, trao đổi tình hình, cùng nhau đánh giá những vấn đề có liên quan đến chủ quyền, an ninh, trật tự biên giới trên tinh thần đoàn kết, hữu nghị đặc biệt, tin cậy và hiểu biết lẫn nhau. Công tác phối hợp tuần tra song phương giữa các đồn, trạm Biên phòng Việt Nam và các đơn vị bảo vệ biên giới của Campuchia luôn được duy trì, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Các hoạt động giao lưu hữu nghị, kết nghĩa ở khu vực biên giới; kết nghĩa giữa các đồn, trạm thuộc lực lượng bảo vệ biên giới hai nước, kết nghĩa cụm dân hai bên biên giới cũng được đẩy mạnh thực hiện.
Qua quá trình lịch sử lâu dài, trải qua nhiều thử thách, quan hệ Việt Nam-Campuchia vẫn không ngừng được xây dựng, vun đắp, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hòa bình, hợp tác, hữu nghị tại khu vực. Với phương châm "Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài", với những định hướng và khuôn khổ hợp tác trong thời kỳ mới, cùng quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Campuchia sẽ tiếp tục phát triển, vì sự phồn vinh của mỗi quốc gia, vì cuộc sống ấm no của nhân dân mỗi nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới./.
ST

