Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024
KHẲNG ĐỊNH THÀNH TỰU NHÂN QUYỀN, LAN TỎA VỚI THẾ GIỚI
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI
KẾ THỪA, BỔ SUNG VÀ PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ MANG TÍNH ĐỊNH HƯỚNG, SOI ĐƯỜNG VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KỲ MỚI
KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (6/1/1946 - 6/1/2024)
45 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM CỦA TỔ QUỐC (7/1/1979 - 7/1/2024)
NHỮNG SỰ KIỆN TRỌNG ĐẠI TRONG CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN
KHÔNG TỔ CHỨC RIÊNG LỄ TRAO TẶNG, ĐÓN NHẬN DANH HIỆU THI ĐUA, HÌNH THỨC KHEN THƯỞNG
45 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM CỦA TỔ QUỐC (7/1/1979 - 7/1/2024)
Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc là hành động tự vệ chính đáng và cần thiết của nhân dân Việt Nam, nhằm chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do Pol Pot-Ieng Sari gây ra. Chiến thắng một lần nữa khẳng định ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng của nhân dân Việt Nam, là nguồn sức mạnh to lớn, đập tan bất kỳ âm mưu và hành động chống phá nào của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đồng thời, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt vong…
Việt Nam - Campuchia là hai nước láng giềng hữu nghị và thân thiện, nhân dân sớm có quan hệ đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhau trong lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam sẵn sàng đưa quân tình nguyện sang giúp nước bạn. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Campuchia ngày 17-4-1975 cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa ba nước Đông Dương. Thế nhưng, ngay sau khi lên cầm quyền vào tháng 4-1975, quân Pol Pot-Ieng Sary lợi dụng thành quả cách mạng, phản bội lại nhân dân Campuchia. Chúng lập nên cái gọi là “nhà nước Campuchia dân chủ”, thi hành chế độ diệt chủng, thanh trừng nội bộ, gi.ế.t h.ạ.i hàng triệu người dân vô tội, phá hủy hàng trăm nghìn trường học, bệnh viện, chùa chiền...
Đối với Việt Nam, quân Pol Pot-Ieng Sari xuyên tạc lịch sử, khiêu khích, kích động hận thù dân tộc. Chỉ trong 2 năm (1975 - 1977), chúng điều động 41% quân số và trang thiết bị áp sát biên giới Việt Nam; gây ra những tội ác đẫm máu đối với nhân dân ta, xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp trong mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc…
Ngày 30-4-1977, chúng đánh vào 14/16 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, tàn phá các bản làng, trường học, cơ sở sản xuất, bắn pháo vào những nơi đông dân cư ở sát biên giới và vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Trước hành động xâm lược của quân Pol Pot, các lực lượng biên phòng và dân quân, du kích đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn. Quân đội ta sử dụng 1 trung đoàn (thuộc Sư đoàn 330), 1 trung đoàn tàu thuyền và 2 tiểu đoàn địa phương An Giang đánh trả, diệt 300 tên, buộc quân Pol Pot rút về bên kia biên giới.
Từ ngày 25-9-1977, quân Pol Pot tập trung 9 sư đoàn chủ lực cùng lực lượng địa phương mở cuộc tiến công lớn thứ 2 đánh sang địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp lên hướng Tây Ninh, gây nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Riêng ở 3 xã thuộc các huyện Tân Biên, Bến Cầu (Tây Ninh), quân Pol Pot tàn sát trên 1.000 người dân. Trước diễn biến mới của cuộc chiến tranh, Bộ Tổng Tham mưu quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động đánh lui các cuộc tiến công của quân Pol Pot ở nhiều khu vực trên biên giới, giành lại những khu vực bị lấn chiếm, sau đó lui về củng cố lực lượng. Phát hiện ta đã lui quân về phía sau, ngày 15-11-1977, quân Pol Pot lại mở cuộc tiến công mới nhằm đánh chiếm thị xã Tây Ninh. Trước tình hình đó, từ 5-12-1977 đến 5-1-1978, quân ta mở đợt phản công trên các hướng đường 7, đường 1, đường 2, truy kích quân Pol Pot làm thiệt hại 5 sư đoàn và thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của địch.
Tuy bị thiệt hại nặng nề trong giai đoạn 1, nhưng được hỗ trợ về vũ khí, trang bị và cố vấn quân sự từ bên ngoài, Pol Pot lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng, tập trung quân về biên giới Việt Nam. Tháng 1-1978, Pol Pot đưa thêm 2 sư đoàn ra biên giới, tiếp tục gây xung đột, liên tục tiến công lấn chiếm, bắn phá vào những nơi đông dân cư, gây nhiều tội ác với đồng bào ta. Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu điều động Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tăng cường cho Quân khu 9, sẵn sàng chiến đấu.
Đồng thời, ra lệnh cho các đơn vị trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước thực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao. Ngày 5-2-1978, Việt Nam ra tuyên bố ba điểm: Hai bên chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; Thỏa thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế. Phớt lờ thiện chí của ta, quân Pol Pot tiếp tục huy động lực lượng áp sát biên giới và cho quân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nước ta; lực lượng của ta kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.
Từ ngày 26-3-1978, các đơn vị quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân Pol Pot lùi xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động. Đồng thời, hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia phát triển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26-5-1978 ở Quân khu Đông, làm suy yếu một bộ phận lực lượng quân Pol Pot. Sau cuộc nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, quân Pol Pot vừa ráo riết thanh trừng nội bộ, vừa phải đối phó với lực lượng cách mạng Campuchia đang tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi. Để hỗ trợ cho lực lượng cách mạng Campuchia tồn tại và phát triển, tạo thế cho hoạt động của ta vào mùa khô 1979, từ ngày 14-6 đến 30-9-1978, ta sử dụng Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 7), 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 5) mở tiếp đợt tiến công lớn trên các hướng đường 1, đường 7, vùng giáp biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tiến tới làm suy yếu một bước lực lượng quân Pol Pot…
Cuộc tiến công của ta hỗ trợ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, buộc quân Pol Pot phải đối phó trên cả mặt trận biên giới và nội địa. Phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia trong đợt tiến công này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 sư đoàn, làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng chủ lực và đẩy lùi hầu hết quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Từ tháng 5 đến tháng 11-1978, Việt Nam giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phát triển được 15 tiểu đoàn, 5 khung tiểu đoàn, 24 đội công tác, xây dựng được các tổ chức đảng, chuẩn bị thành lập mặt trận và bộ máy lãnh đạo…
Trước ý định tập trung 5 sư đoàn và 4 trung đoàn tiến công đánh chiếm Tây Ninh, sau đó sẽ mở rộng địa bàn đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam của Pol Pot, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm tổng phản công - tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia giành chính quyền về tay nhân dân... Ngày 23-12-1978, chúng huy động 10 trong số 19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta. Trước hành động xâm lược của Pol Pot và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23-12-1978, quân tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công - tiến công trên toàn tuyến biên giới.
Ngày 26-12-1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pol Pot bị phá vỡ. Đến ngày 31-12-1978, quân và dân ta hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ. Ngày 2-1-1979, 3 cụm quân chủ lực của Pol Pot, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 5 và 6-1-1979, trên tất cả các hướng, quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia truy kích, tiến sát Thủ đô Phnôm Pênh. Ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng./.
ST
KHÔNG SỢ KHUYẾT ĐIỂM VÌ CÓ ĐỦ NGHỊ LỰC VÀ QUYẾT TÂM ĐỂ SỬA CHỮA
Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên yêu cầu Đảng Cộng sản Việt Nam phải chú ý rèn luyện cán bộ, đảng viên đức tính trung thực, không che giấu khuyết điểm, đồng thời cần tích cực sửa chữa, khắc phục để tiến bộ.
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một Đảng chân chính cách mạng. Vì theo Người: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa”. Người chỉ ra: Đảng và cách mạng muốn tiến bộ mãi thì chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”.
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng và cán bộ, đảng viên không sợ khuyết điểm vì có đủ cơ sở, điều kiện để sửa chữa khắc phục khuyết điểm: “Chúng ta không sợ khuyết điểm, vì chúng ta có đủ nghị lực và quyết tâm để sửa chữa khuyết điểm”.
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra trách nhiệm của tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên trong việc chỉ rõ khuyết điểm và tích cực sửa chữa, khắc phục. Tháng 10-1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người viết: “Mỗi khi trong Đảng có khuyết điểm thì chúng ta phải tìm cách chớ để cho ai lợi dụng. Đó là phận sự của mỗi một đảng viên chân chính”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lỗi lầm trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.
Trong những giải pháp thực hiện việc chỉ ra và sửa chữa khuyết điểm, Hồ Chí Minh coi trọng tính tự giác, kiên trì, kiên quyết của các tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, đồng thời yêu cầu nếu có sai phạm, khuyết điểm thì phải thật thà thừa nhận với nhân dân và phải dựa vào ý kiến của quần chúng nhân dân mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, tư tưởng, chỉ đạo trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quán triệt, triển khai thực hiện ngày càng tích cực, hiệu quả.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đánh giá: “Trong suốt quá trình phát triển và trưởng thành, Đảng ta đã luôn luôn tự đấu tranh, tự chỉnh đốn, loại bỏ những tiêu cực, khắc phục những khuyết điểm, sai lầm nhằm không ngừng làm trong sạch đội ngũ của mình”. Tổng Bí thư thẳng thắn chỉ rõ: với bản lĩnh, sự cầu thị, tính lành mạnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, có những lúc Đảng ta phải “tự chỉ trích”, “đóng cửa” để củng cố, chỉnh đốn Đảng” và cũng nhiều lúc đã công khai nhận sai lầm, khuyết điểm, công khai nói rõ những mặt yếu kém, tiêu cực trong Đảng. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng từng nêu rõ: “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn thấp. Công tác rèn luyện, quản lý đảng viên ở một số nơi còn chưa được quan tâm đúng mức, còn thiếu chặt chẽ; có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu. Một số tổ chức đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu”. Và: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp”.
Nhưng cùng với việc chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, Đảng luôn có các chủ trương, chính sách, giải pháp sửa chữa khắc phục tích cực, hiệu quả. Chỉ tính từ khi đổi mới, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, nhiều cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với quan điểm chỉ đạo là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện, thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở.
Đồng thời, chúng ta đã và đang còn phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống với những thông tin xấu, độc mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tung ra trên mạng về nội dung này. Các thế lực chống đối cho rằng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên chỉ: “Rất khoái họp hành, hội nghị, đại hội, ra nghị quyết... con mắt họ chỉ thích ngắm màu hồng” và “họ luôn khẳng định sự thành công. Sự tự tin thái quá ấy đã khiến họ không chấp nhận thất bại”. Chúng còn quy kết: “Nếu thất bại, họ có cách (nhất là bằng tuyên truyền) chuyển bại thành thắng. Để yên dân, để giữ sự ổn định xã hội, để lôi cuốn dân chúng vào sự nghiệp của mình, cách phổ biến nhất thường thấy ở người cộng sản và thể chế của họ là chỉ nhấn mạnh, ca ngợi, tung hô thành công, đồng thời lờ đi, im đi những thất bại”, hay: “Họ cố làm sai rồi lại cố tìm mọi cách để sửa cái sai và xem đó là thành tích họ đạt được”.
Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không lôi kéo, kích động hay làm nao núng ý chí quyết tâm, niềm tin, sự kiên định vào Đảng, vào chế độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam. Chúng ta đã và đang thực hiện ngày càng hiệu quả khẳng định của Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta không sợ nói ra khuyết điểm, tiêu cực; đồng thời, cũng không cho phép ai lợi dụng việc đấu tranh khắc phục khuyết điểm, tiêu cực để bôi nhọ, kích động chống phá Đảng ta, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”.
Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn xác định việc đấu tranh khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm trong Đảng, trong xã hội còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào ý chí quyết tâm đã được khẳng định: “Với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của toàn dân, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất định chúng ta sẽ làm chuyển biến được tình hình để không phụ lòng mong đợi của Nhân dân đối với Đảng; để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, thật sự “là đạo đức, là văn minh”./.
ST


