Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

Thi đua yêu nước, phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng

Nhắc tới Đại tướng Nguyễn Chí Thanh-một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ tới hình ảnh một vị tướng luôn lăn lộn với thực tế chiến trường, với cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân để tổng kết, khái quát và phát động các phong trào thi đua yêu nước, nhằm phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng.

Trên từng cương vị, chức trách, đồng chí đều chú trọng công tác xây dựng phong trào, chỉ đạo quá trình thực hiện. Rất nhiều phong trào đã ghi dấu ấn sâu đậm về khả năng tổ chức tài tình của Đại tướng.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người thực hiện xuất sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí được quân và dân ta gọi bằng các danh xưng rất gần gũi, thân thương, giản dị như: “Đại tướng của nông dân”, “Đại tướng của phong trào” hay “Đại tướng bám đội, lội đồng”... Trong giai đoạn cách mạng mới, việc đúc kết, làm rõ nghệ thuật về tổ chức các hoạt động thi đua yêu nước của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhằm phát huy cao độ nhân tố con người và khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; đồng thời, là cơ sở để tham khảo, tổ chức các phong trào thi đua đạt hiệu quả cao hơn. Nghệ thuật này được thể hiện sinh động trên một số phong trào tiêu biểu sau:

Người khởi xướng, dẫn dắt Phong trào thi đua “Ba nhất”

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã vận dụng một cách sáng tạo vào chỉ đạo tổ chức công tác thi đua thành hành động cách mạng của hàng triệu quần chúng, bộ đội. Ngay sau khi được Đảng, Chính phủ điều động vào Quân đội và giao trọng trách Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tại Hội nghị cán bộ chính trị chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới năm 1950, đồng chí đã căn dặn cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch phải làm thật tốt các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; đặc biệt, cần phải phát động một cuộc vận động lập công.

Trong những năm 1954-1958, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Tổng Quân ủy, Tổng cục Chính trị đề ra chủ trương và chỉ đạo toàn quân đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, góp phần củng cố, bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Quán triệt chủ trương này, Lữ đoàn 364 pháo binh mở phong trào học tập, rèn luyện trở thành “Pháo thủ toàn năng”. Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 305 bộ binh phát động phong trào “Vượt lên hàng đầu”. Quân khu Tả Ngạn phát động và lãnh đạo phong trào rèn luyện thể lực mang tên “Đại đội gió”, bắt đầu từ Đại đội 2, Trung đoàn 50... Trước những diễn biến này, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thường xuyên theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ các đơn vị, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tháng 11-1958, Tổng Quân ủy phát động Phong trào thi đua “Tiến nhanh hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng Quân đội”.

Để phong trào thi đua đạt được hiệu quả, thiết thực, cần phải tìm ra các nhân tố mới, phát hiện các điển hình tiên tiến; đồng thời, chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm để phát huy. Thấu triệt quan điểm đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn dành thời gian đến với các đơn vị cơ sở để phát hiện và tạo dựng phong trào. Ngay khi đến Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đoàn Vinh Quang (Sư đoàn 304), đồng chí đi sâu tìm hiểu tình hình và phát hiện, đơn vị đã dựa vào chi bộ, chi đoàn để phát động quần chúng và đề ra khẩu hiệu “Tiến công vào khoa học-kỹ thuật, làm chủ vũ khí, trang bị mới”. Với sự lan tỏa mạnh mẽ của phong trào và ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, ở hội thi bắn đạn thật toàn quân (tháng 6-1960), Sư đoàn 304 đạt đơn vị bắn giỏi nhất, đoàn có nhiều phân đội tham gia nhất, thành tích đều nhất. Tại lễ trao Huân chương tặng Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khái quát những thành tích của đơn vị là “Ba nhất”. Nội dung của “Ba nhất” (nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất) đã lôi cuốn các đơn vị trong toàn quân, mở rộng ra cả những đơn vị dân quân, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bộ đội thường trực và lực lượng hậu bị, củng cố khối đoàn kết công-nông-binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

“Ba nhất” được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phát động thành phong trào thi đua trong toàn quân. Đó là một phong trào thi đua, một hình tượng thi đua điển hình vừa cụ thể vừa sinh động, lấy huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu làm trung tâm, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình làm mục tiêu thi đua cụ thể. Với ý nghĩa đó, “Ba nhất” được nêu lên như một khẩu hiệu hành động có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hăng say thi đua sáng tạo, lập công.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh tư liệu: TTXVN 

Dấu ấn phong trào thi đua “Gió Đại Phong”

Những năm đầu thập niên 1960, miền Bắc bước vào thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đề ra. Do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Đảng điều động và phân công làm Trưởng ban Công tác nông thôn (sau đổi là Ban Nông nghiệp Trung ương). Từ một vị tướng cầm quân đánh giặc, Đại tướng được giao trọng trách người đứng đầu, là “Tư lệnh ngành” để chỉ đạo một lĩnh vực kinh tế trọng yếu của đất nước, trực tiếp liên quan đến sự đói no của hàng chục triệu con người, đến nguồn lương thực cung cấp cho miền Nam đánh Mỹ. Thời điểm này, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đưa nông dân vào làm ăn tập thể còn gặp không ít khó khăn, khi phần lớn nông dân Việt Nam đã quen với cách làm ăn manh mún, nhỏ lẻ và rất ngại thay đổi.

Sau khi nhận nhiệm vụ Trưởng ban Công tác nông thôn, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn canh cánh trong lòng lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên, để đánh tan bầu không khí kém phấn khởi”(1). Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đi nhiều địa phương, xuống nhiều hợp tác xã, từ đồng bằng đến miền núi, từ những địa phương thuận lợi đến những địa phương còn khó khăn. Ngay sau khi được giao nhiệm vụ, đồng chí đã lên huyện Bằng Mạc, tỉnh Bắc Giang nghiên cứu Hợp tác xã Nà Cà, đi tiếp lên một bản huyện Lộc Bình, Lạng Sơn chưa lập hợp tác xã xem nguyên nhân do đâu..., đồng thời tranh thủ tìm hiểu tình hình về hợp tác hóa nông nghiệp ở một số nước bạn như Trung Quốc, Triều Tiên. Trên cơ sở thực tiễn, đồng chí đã phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm và xây dựng điển hình tiên tiến là Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình).

Hợp tác xã Đại Phong ban đầu chỉ có 24 hộ với 24 mẫu ruộng. Đây là quy mô khá khiêm tốn so với nhiều hợp tác xã ở miền Bắc lúc đó. Sau khi nắm bắt tình hình, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu “phá xiềng 3 sào”; đồng thời, giúp hợp tác xã quản lý tốt, phân công lao động hợp lý, vừa khuyến khích khai hoang, phục hóa, vừa tăng cường xen canh, gối vụ, tăng năng suất... Chỉ trong vòng 3 năm, Hợp tác xã Đại Phong đã phát triển thành hợp tác xã bậc cao với 455 hộ và 1.113 mẫu ruộng. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phát triển, đời sống xã viên ngang với mức trung nông.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã kịp thời chỉ đạo công tác tổng kết, rút kinh nghiệm và đề nghị với Trung ương Đảng phát động Phong trào thi đua “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong”. Sau gần hai tháng phát động, đã có hơn 1.000 hợp tác xã đăng ký thi đua với Đại Phong. Một trong những xã có phong trào thi đua sôi nổi và đạt nhiều thành tựu về mọi mặt, được ví như “Đại Phong của miền Bắc” đó là Hợp tác xã Tòng Bạt ở Ba Vì (Hà Nội). Điều đó chứng tỏ sức mạnh to lớn của nông dân nước ta trên con đường hợp tác hóa, xây dựng đời sống hạnh phúc, ấm no, đem lại những thành tựu quan trọng về phát triển hợp tác xã và sản xuất nông nghiệp; góp phần to lớn vào việc xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Khi đánh giá về phong trào này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đó là một phong trào rất tốt và rất mạnh mẽ, nó chứng tỏ tinh thần hăng hái, lực lượng to lớn và khả năng dồi dào của đồng bào nông dân ta"(2).

Kiến tạo các phong trào thi đua giết giặc, lập công

Từ năm 1964, đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh và chư hầu vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường Việt Nam. Đây là thời điểm có tính bước ngoặt chiến lược của cuộc chiến tranh. Cách mạng Việt Nam đứng trước thử thách mới. Tháng 10-1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương điều vào miền Nam cùng Trung ương Cục trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Bí thư Trung ương Cục, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phân tích: “Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược, Mỹ có cả một đống vũ khí nhưng lại vấp phải cả một đống mâu thuẫn, Mỹ là tỷ phú về đô la nhưng quân và dân ta lại tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có đường lối chiến tranh, chiến thuật đúng, bắt Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, chúng bị tréo giò như “ăn cháo bằng dĩa”, nên ta nhất định thắng”(3). Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh cùng Bộ tư lệnh Miền chỉ đạo đánh thắng Mỹ ngay từ những trận đầu. Cùng với đó, quân và dân ta tiếp tục thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công và sáng tạo nhiều cách đánh mới trên chiến trường. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo tổ chức Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua các LLVT giải phóng miền Nam lần thứ nhất từ ngày 2 đến 6-5-1965 tại Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí giải phóng quê hương miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu nổi tiếng “Cứ tìm Mỹ mà đánh sẽ tìm ra cách đánh thắng”.

Luôn sâu sát thực tiễn, nắm bắt nhanh nhạy thực tiễn chiến đấu của các đơn vị, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết nên các phương châm chỉ đạo tác chiến quan trọng, trở thành những khẩu hiệu hành động cách mạng, nhanh chóng đi vào lòng người và lan tỏa thành các phong trào thi đua giết giặc lập công trên toàn chiến trường miền Nam như: “Ở gần đánh gần”, “Không cho Mỹ, ngụy phân tuyến”, “Vành đai diệt Mỹ”, thi đua “Tìm Mỹ mà đánh, gặp ngụy là diệt”, phấn đấu trở thành “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe tăng”... Đặc biệt, chiến thuật đánh áp sát của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh” gắn liền với tên tuổi của Đại tướng. Với cách đánh này, vừa phát huy được nghệ thuật quân sự của quân ta, vừa hạn chế tối đa ưu thế vốn có của quân đội Mỹ.

Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, nếu như Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng Phong trào Thi đua yêu nước dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chính là người thực hiện xuất sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Người trong hai cuộc kháng chiến. Bất cứ ở đâu, trên các cương vị khác nhau, đồng chí đã kiến tạo nên các phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu, động viên sức mạnh của hàng triệu con người vào sự nghiệp cách mạng. “Ba nhất”, “Gió Đại Phong” hay “Nắm thắt lưng địch mà đánh”... đã, luôn và mãi được nhắc đến như những phong trào thi đua tiêu biểu gắn liền với vai trò to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Đó là những bài học còn nguyên giá trị để chúng ta vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào các phong trào thi đua hiện nay, nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

------

(1) Nguyễn Chí Thanh của chúng ta, NXB Thuận Hóa, Huế, 1987, tr.167.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 113.

(3) Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh-Nhà chính trị quân sự lỗi lạc, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.16.

Đại tá, TS NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

Chủ nhiệm khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị

BÁO QĐND

Nghệ thuật tác chiến phản công và tiến công bảo vệ biên giới Tây Nam

Điểm nhấn về nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam là nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Đảng ta từ thế bị động nhanh chóng chuyển sang chủ động phản công và tiến công sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả.

Từ tháng 5-1975 đến tháng 4-1977, quân Pol Pot xâm chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biên giới Tây Nam nước ta. Tháng 12-1978, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary tập trung nhiều sư đoàn mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, giết và làm bị thương nhiều dân thường, phá hủy nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân ta.

Trước hành động gây hấn và mở rộng chiến tranh xâm lược của quân Pol Pot, Đảng và Nhà nước ta đã kiềm chế và kiên trì chính sách hòa bình, hữu nghị với nhà nước Campuchia Dân chủ, nhưng càng kiềm chế thì kẻ địch càng lấn tới, buộc chúng ta phải đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công và tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch trên tuyến biên giới Tây Nam; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia nổi dậy. Thực hiện phương châm tác chiến từ thế bị động sang chủ động phản công và tiến công là quyết định đúng đắn, sáng tạo của Đảng, thể hiện tư tưởng tích cực tiến công, nghĩa là tiến hành phản công địch bằng tiến công, lấy tiến công làm loại hình tác chiến chủ yếu.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Pháo binh của ta bảo vệ biên giới Tây Nam, tháng 9-1977. Ảnh: TTXVN 

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định sử dụng 18 sư đoàn thuộc 3 quân đoàn (2, 3, 4); các Quân khu 5, 7, 9, các quân chủng và binh chủng cùng 600 xe tăng, bọc thép, 137 máy bay, 160 tàu chiến đấu và vận tải, tham gia cuộc phản công và tiến công lịch sử này (theo cuốn Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân). Quân ta vận dụng loại hình chiến dịch phản công và tiến công hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn, tiến hành đồng thời và kế tiếp nhau, giữa các chiến dịch không có khoảng cách.

Theo kế hoạch, từ ngày 23 đến 31-12-1978, ta mở cuộc tổng phản công và tiến công, mở đầu bằng một loạt chiến dịch quy mô cấp quân đoàn, từ 2 đến 3 sư đoàn của các quân đoàn 2, 3, 4; hoặc cụm sư đoàn của các Quân khu 5, 7, 9 được không quân chi viện, tiến công đồng thời từ 5 hướng (Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 và Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4), trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, dài hơn 1.200km. Trong các chiến dịch phản công và tiến công, ta vận dụng phương pháp tác chiến chủ yếu là luồn sâu, ém sẵn và thọc sâu bằng lực lượng mạnh (quy mô cấp sư đoàn), kết hợp đột phá chính diện, hình thành thế bao vây nhiều tầng, chia cắt địch ra nhiều khu vực để tiêu diệt chúng. Bằng cách đánh đó, trên hướng Quân đoàn 3, chỉ trong một ngày, ta phá vỡ tuyến phòng ngự của 4 sư đoàn địch; trên hướng Quân đoàn 2 và Quân khu 9, trong hai ngày đánh tan 2 sư đoàn địch...

Đến ngày 31-12-1978, quân ta trên các hướng tiến công đã đẩy quân Pol Pot ra khỏi biên giới, hoàn thành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Theo yêu cầu của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, các đơn vị bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia tiến hành chiến dịch tiến công kế tiếp, bằng phương pháp tiến công trong hành tiến, với các đòn tiến công hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng từ nhiều hướng, giải phóng thủ đô Phnom Penh ngày 7-1-1979.

BÁO QĐND

Bồi dưỡng, rèn luyện nguồn nhân lực chất lượng cao

Thực hiện chủ trương tuyển chọn những thanh niên ưu tú vào giáo dục, rèn luyện trong Quân đội, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần xây dựng, phát triển TP Hồ Chí Minh, năm 2024, Đảng ủy, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh đã tham mưu với Thành ủy, UBND thành phố triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, tập trung nâng cao chất lượng chính trị, sức khỏe, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thanh niên.

Vừa tốt nghiệp Trường Đại học Tài chính-Marketing TP Hồ Chí Minh năm 2023, Mai Nguyễn Ngọc Phách, ngụ tại phường 13, quận 3 tình nguyện nhập ngũ và đã trúng tuyển nghĩa vụ quân sự (NVQS) năm 2024. Lý giải về quyết định của mình, Phách cho hay: "Trong thời gian học tập tại nhà trường, nhất là được học môn Giáo dục quốc phòng, an ninh, qua trải nghiệm, tôi thấy mình trưởng thành hơn. Bên cạnh đó, tôi được biết nhiều công ty, đơn vị trên địa bàn thành phố ưu tiên tuyển người có bản lĩnh, kiến thức, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm. Vì vậy, tôi tình nguyện nhập ngũ để có điều kiện rèn luyện trưởng thành, cống hiến kiến thức, sức trẻ cho Tổ quốc".  

Trò chuyện với chúng tôi, Dương Anh Khoa, sinh năm 2002, ngụ tại phường 5, quận 3 cho biết đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ và trúng tuyển NVQS năm 2024. Khoa quả quyết: "Em quyết định chọn môi trường Quân đội làm trường học để vừa hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc, vừa có điều kiện học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành đảng viên để sau này học tập lên cao hơn, đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của các cơ quan, doanh nghiệp, hệ thống chính trị ở địa phương".

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Cán bộ Ban CHQS quận 3 phổ biến điều kiện trúng tuyển, tạm miễn, tạm hoãn nghĩa vụ quân sự cho thanh niên. 

Suy nghĩ của hai thanh niên trên cũng là tâm sự của nhiều thanh niên tại TP Hồ Chí Minh mà chúng tôi có dịp trao đổi. Theo Thiếu tướng Trần Văn Trai, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh, đây là kết quả triển khai nhiều biện pháp tham mưu hiệu quả của Đảng ủy, Bộ tư lệnh thành phố với Thành ủy, UBND thành phố trong nâng cao chất lượng tuyển quân năm 2024. Thành phố xác định bộ đội xuất ngũ là nguồn nhân lực chất lượng cao, có bản lĩnh, ý thức tổ chức kỷ luật cao, có trình độ chuyên môn tốt, nhằm phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong xây dựng, phát triển TP Hồ Chí Minh. Nhận thức được điều này, nhiều thanh niên đã tình nguyện nhập ngũ, chất lượng thanh niên thực hiện NVQS năm 2024 của TP Hồ Chí Minh có hơn 70% sức khỏe loại I, II; trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chiếm 39,4%; đảng viên có 2,5%...

Để đạt kết quả trên, thời gian qua, Thành ủy, UBND TP Hồ Chí Minh đã lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị, xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, công tác chung của cấp ủy, chính quyền địa phương, nòng cốt là cơ quan quân sự, công an. Thành phố cũng giao chỉ tiêu phù hợp với từng địa phương gắn với vùng động viên quân nhân dự bị và đặc thù phát triển kinh tế-xã hội cụ thể. Hội đồng NVQS các địa phương chủ động nắm chắc nguồn, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm đủ chỉ tiêu, chất lượng.  

Lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo Hội đồng NVQS tăng cường kiểm tra; phát huy vai trò các cơ quan, đơn vị phối hợp nắm chắc về chất lượng chính trị, địa chỉ, nơi tạm trú của thanh niên còn hộ khẩu thường trú nhưng thực tế cư trú tại địa phương khác để đưa vào nguồn quản lý thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ hoặc chuyển nguồn thanh niên nhập ngũ đến địa phương khác theo quy định. Các tổ chức, địa phương bảo đảm giữ vị trí việc làm cho thanh niên khi tham gia thực hiện NVQS; đồng thời quan tâm tiếp nhận, giải quyết việc làm, các chính sách cho bộ đội xuất ngũ, tạo điều kiện cho thanh niên khi hoàn thành NVQS ổn định công tác và cuộc sống.  

Quận 3 là một trong những địa phương phối hợp làm tốt công tác tuyển quân những năm qua. Chia sẻ kinh nghiệm về vấn đề này, Trung tá Phạm Văn Tú, Phó chỉ huy trưởng Động viên Ban CHQS quận 3 cho biết: "Căn cứ vào Luật NVQS và các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên, Ban CHQS quận đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng các kế hoạch, văn bản, quy chế hoạt động cụ thể của Hội đồng NVQS quận và các ban, ngành trong tuyển quân. Từ đây, các đơn vị, ban, ngành, đoàn thể đã chủ động thực hiện tốt vai trò, chức năng, trách nhiệm trong công tác xét duyệt, bình cử công khai tại cơ sở; kịp thời đóng góp ý kiến, giải quyết những vướng mắc, nâng cao chất lượng tuyển quân. Nhờ đó, năm 2024 và những năm trước, quận 3 luôn hoàn thành tốt các nội dung, chỉ tiêu tuyển quân, trong đó có nhiều thanh niên là trí thức trẻ tình nguyện nhập ngũ. Quân nhân sau khi hoàn thành NVQS trở về địa phương đều được quan tâm giới thiệu, giải quyết việc làm. Các trường hợp quân nhân xuất ngũ là trí thức trẻ đều được bố trí công việc phù hợp, góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống chính trị và doanh nghiệp".

Báo QĐND

Thanh niên Quân đội tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Kế thừaKế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, những năm qua, thanh niên Quân đội đã ra sức rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, vất vả, đầy gian khổ, hy sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Nhờ vậy, nhìn chung cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác, không dao động trước khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội đã chú trọng lựa chọn những đồng chí có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; năng lực công tác khá; thông thạo trong sử dụng các công cụ, phương tiện trên Internet để tham gia đấu tranh trên các trang mạng xã hội. Thanh niên Quân đội, nhất là cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, học viện, nhà trường đã chủ động lập tài khoản cá nhân, tham gia các trang, nhóm để đấu tranh có hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, đoàn viên còn chủ động viết bài đấu tranh đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, truyền thanh nội bộ để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp. Thông qua các hoạt động nói trên, thanh niên Quân đội đã góp phần vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, củng cố lòng tin của cán bộ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thanh niên Quân đội tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế nhất định: Các hình thức đấu tranh chưa thực sự phong phú, đa dạng; kết quả đấu tranh chưa tương xứng với tiềm năng, năng lực vốn có của cán bộ, đoàn viên thanh niên; số lượng bài viết chuyên sâu chưa nhiều; một số bài viết thiếu luận chứng, luận cứ khoa học nên chưa thực sự thuyết phục người đọc; việc tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng chủ yếu tập trung ở một số cán bộ, đoàn viên chủ chốt./. truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, những năm qua, thanh niên Quân đội đã ra sức rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, vất vả, đầy gian khổ, hy sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Nhờ vậy, nhìn chung cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác, không dao động trước khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội đã chú trọng lựa chọn những đồng chí có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; năng lực công tác khá; thông thạo trong sử dụng các công cụ, phương tiện trên Internet để tham gia đấu tranh trên các trang mạng xã hội. Thanh niên Quân đội, nhất là cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, học viện, nhà trường đã chủ động lập tài khoản cá nhân, tham gia các trang, nhóm để đấu tranh có hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, đoàn viên còn chủ động viết bài đấu tranh đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, truyền thanh nội bộ để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp. Thông qua các hoạt động nói trên, thanh niên Quân đội đã góp phần vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, củng cố lòng tin của cán bộ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thanh niên Quân đội tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế nhất định: Các hình thức đấu tranh chưa thực sự phong phú, đa dạng; kết quả đấu tranh chưa tương xứng với tiềm năng, năng lực vốn có của cán bộ, đoàn viên thanh niên; số lượng bài viết chuyên sâu chưa nhiều; một số bài viết thiếu luận chứng, luận cứ khoa học nên chưa thực sự thuyết phục người đọc; việc tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng chủ yếu tập trung ở một số cán bộ, đoàn viên chủ chốt./.

Sưu tầm

 

Quan điểm của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về tinh thần của quân đội là yếu tố quyết định mọi thắng lợi trên chiến trường, vận dụng trong xây dựng quân đội hiện nay

Từ năm 1950, trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng chính trị trong Quân đội. Đại tướng đã cùng Tổng Quân ủy tập trung nâng cao chất lượng toàn diện Quân đội, trước hết là chất lượng chính trị.

Đồng chí khẳng định: “Lãnh đạo chính trị là một vấn đề căn bản trong cuộc đấu tranh cách mạng giữa ta và địch, làm gốc cho mọi vấn đề khác, cho tất cả các mặt khác, các ngành khác của mọi hoạt động quân sự”(1).

Trong bài nói tại Hội nghị Tuyên huấn toàn quân năm 1951, đồng chí chỉ rõ: Tinh thần của Quân đội là yếu tố quyết định mọi thắng lợi trên chiến trường. Công tác tuyên huấn và những người làm công tác này phải gắn bó chặt chẽ với cuộc sống chiến đấu của bộ đội, phải “làm cho trong họ bùng cháy lên lòng căm thù sâu sắc kẻ địch, phát động mạnh mẽ tình cảm giai cấp trong quân đội, làm cho họ thiết tha yêu thương Tổ quốc, thương yêu chế độ; coi Tổ quốc, coi chế độ như thịt, như máu của mình”(2).

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng khó khăn gian khổ, nhưng Quân đội vẫn giành được nhiều thắng lợi, nhất là từ sau Chiến dịch Biên Giới 1950. Bên cạnh thắng lợi, ở một số đơn vị đã xuất hiện tư tưởng dao động, ngại khó khăn gian khổ, sợ hy sinh, giảm sút ý chí chiến đấu. Nhận thấy cần phải củng cố niềm tin của Quân đội vào Đảng, vào sự nghiệp cách mạng và sự đoàn kết chiến đấu của quân dân cả nước, năm 1952, Đại tướng đã trực tiếp chỉ đạo toàn quân tiến hành “chỉnh huấn chính trị”. Đây là cuộc vận động học tập chính trị tập trung và rộng lớn nhất kể từ ngày Quân đội ta được thành lập nhằm nâng cao giác ngộ giai cấp, nâng cao nhận thức chính trị để cán bộ, chiến sĩ hiểu sâu sắc mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội, phân biệt rõ bạn - thù, giáo dục bản chất, truyền thống của Quân đội, mối đoàn kết quân dân…

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thăm một đơn vị bộ đội Không quân. Ảnh tư liệu 

Do làm tốt công tác xây dựng chính trị cho Quân đội, nên Quân đội ta ngày càng trưởng thành vững mạnh. Từ lúc chỉ có 34 chiến sĩ trong ngày thành lập (22-12-1944), vũ khí trang bị hết sức thô sơ, nhưng đến cuối năm 1953, Quân đội ta có 6 đại đoàn(3), 12 trung đoàn và 17 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đoàn pháo mặt đất, nhiều trung đoàn thuộc các binh chủng với tổng quân số 252.031 người(4); còn quân Pháp ở Đông Dương, có 465.000 tên (146.000 quân Âu - Phi, 319.000 quân ngụy)(5), biên chế thành 84 tiểu đoàn, riêng Bắc Bộ có 44 tiểu đoàn(6), với nhiều vũ khí trang bị hiện đại như máy bay, xe tăng, đại bác… Nếu so sánh về quân số, vũ khí trang bị ta kém hơn địch rất nhiều, nhưng về tinh thần, Quân đội ta chiếm ưu thế tuyệt đối, sẵn sàng chiến đấu quên mình để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cuộc chỉnh huấn toàn quân năm 1952 đã xốc lại tinh thần chiến đấu cho bộ đội.

Vì vậy, trong trận quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ, Quân đội ta đã dồn toàn lực quyết tâm giành thắng lợi. Khi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã huy động 4 đại đoàn bộ binh: 308, 312, 316, 304 (tổng số 9 trung đoàn), Đại đoàn công pháo 351 (3 trung đoàn), Trung đoàn 367 cao xạ và các đơn vị bảo đảm với tổng quân số khoảng 55.000 người. Phương tiện vận tải có 628 ô tô, 11.800 thuyền, 20.000 xe đạp thồ, hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men(7)… trong đó, quân Pháp có hơn 16.000 tên. Cuộc chiến đấu 56 ngày đêm trong hoàn cảnh “máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn”, Quân đội ta chỉ có súng bộ binh, pháo binh nhưng đã đè bẹp máy bay, xe tăng, đại bác cỡ lớn và bắt sống hơn một vạn tên địch.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh chỉ có tinh thần chiến đấu vững vàng của Quân đội trên chiến trường mới giành thắng lợi. Mặc dù kẻ địch lắm tiền, nhiều của, có vũ khí trang bị tối tân hiện đại nhưng vẫn bị thất bại trước Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự thất bại của Quân đội thực dân lại một lần nữa minh chứng cho lý luận Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng Quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản hoàn toàn đúng đắn. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Tổng Quân ủy, trong đó Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã trực tiếp chăm lo xây dựng Quân đội toàn diện, trong đó tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm trung tâm đã trở thành cơ sở cho sự trưởng thành, vững mạnh của Quân đội. Do làm tốt công tác giáo dục chính trị, nên tinh thần chiến đấu của Quân đội ta kiên cường, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh quên mình vì Tổ quốc. Còn quân đội của thực dân Pháp là công cụ bạo lực của kẻ xâm lược, là đội quân đánh thuê nên không có tinh thần chiến đấu dũng cảm, không vượt qua được khó khăn gian khổ nên cho dù có vũ khí tối tân hiện đại thì vẫn bị thất bại.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thăm đơn vị thuộc Quân khu Việt Bắc (năm 1958).

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn, việc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ của ta ngày càng tỏ ra không hiệu quả do địch cố tình phá hoại. Nắm chắc tình hình đất nước, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho rằng phải xây dựng Quân đội vững mạnh: “Quân đội ta luôn luôn là đội vũ trang chiến đấu, quân đội có mạnh mới chủ động trong việc ứng phó được với mọi tình huống và mọi khả năng phát triển của tình hình. Quân đội có mạnh mới tiến hành đấu tranh chính trị thắng lợi”(8). Việc xây dựng Quân đội vững mạnh theo Đại tướng phải xây dựng Quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho Quân đội giác ngộ sâu sắc về lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Từ cuối năm 1964, theo sự phân công của Đảng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường miền Nam. Năm 1965, Mỹ trực tiếp đưa quân vào tham chiến trên chiến trường miền Nam ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ đã xuất hiện tư tưởng sợ đánh Mỹ, sợ hy sinh ác liệt… Trên cơ sở phân tích những mặt mạnh, yếu của quân Mỹ cả về quân sự, chính trị, kinh tế, kỹ thuật và con người; phân tích thế và lực của ta, Đại tướng đã tập trung chỉ đạo xây dựng những “quả đấm” chủ lực để kiên quyết đánh Mỹ. Kết luận tại Hội nghị công tác chính trị của lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (8-1966), đồng chí khẳng định: “Phải giáo dục sâu sắc tinh thần dân tộc thống nhất, niềm tự hào dân tộc, lòng tin tưởng vững chắc vào thắng lợi, giáo dục sâu sắc nhiệm vụ cách mạng hai miền, xây dựng tình cảm, ý chí, quyết tâm chiến đấu, quyết đánh, quyết thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”(9).

Khi đương đầu với quân chiến đấu Mỹ đòi hỏi Quân đội phải có sự phát triển vượt bậc về tổ chức lực lượng, trình độ chỉ huy. Để thực hiện yêu cầu đó, Đại tướng cho rằng cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội một cách trực tiếp, toàn diện, làm cho Quân đội phải tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Trong xây dựng Quân đội phải toàn diện, trong đó lấy xây dựng chính trị làm cơ sở… Do chỉ đạo sâu sát việc xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam và kịp thời chấn chỉnh những tư tưởng sợ Mỹ nên quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của Quân và dân ta ngày càng được củng cố vững chắc. Với vai trò là “đòn xeo”, Quân đội đã trở thành lực lượng nòng cốt vừa cổ vũ nhân dân, vừa trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ, ngụy, tạo nên Chiến thắng Núi Thành (5-1965), Ba Gia (7-1965), Vạn Tường (8-1965), Plei Me (11-1965), Đồng Dương (12-1965).

Sau những chiến thắng này, tâm lý sợ Mỹ bị đẩy lùi và tư tưởng “Bám thắt lưng địch mà đánh”, đã trở thành phổ biến trên chiến trường miền Nam, tạo thành động lực thúc đẩy các phong trào “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”… Từ đây, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta có thêm nguồn động lực tinh thần được hình thành sau những thắng lợi với quân chủ lực Mỹ trên chiến trường. Chiến thắng nối tiếp chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã buộc Mỹ phải rút quân và chính quyền tay sai Sài Gòn sụp đổ hoàn toàn vào trưa ngày 30-4-1975.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam dự Hội nghị Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (năm 1964). Ảnh tư liệu 

Xuyên suốt bước trưởng thành, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã cho thấy đường lối, chủ trương của Đảng ta trong xây dựng Quân đội là đúng đắn. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, đã vận dụng thành công lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin và những chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, hiện đại, trong đó xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm nòng cốt. Do Quân đội được xây dựng vững mạnh về chính trị, với tinh thần “người trước, súng sau”, nên đã chiến thắng trước quân đội Pháp, Mỹ với vũ khí tối tân, hiện đại. Và đúng như vậy, chỉ có tinh thần của quân đội mới chiến thắng được kẻ thù, đúng như V.I.Lênin đã nói: lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bởi một lực lượng vật chất khác; nhưng ý thức tư tưởng khoa học một khi đã thâm nhập vào quần chúng thì nó có sức mạnh vô biên. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Đảng ta đã truyền mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng cho Quân đội, nên Quân đội nhân dân Việt Nam có sức mạnh tinh thần vô biên, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

Từ lý luận và thực tiễn về xây dựng nhân tố tinh thần của Quân đội trước đây, vận dụng vào trong giai đoạn cách mạng hiện nay cần tập trung giải quyết tốt những vấn đề sau:

Một là, giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với Quân đội. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng trong xây dựng Quân đội cách mạng nhằm bảo vệ thành quả cách mạng. Trong bất luận tình huống nào, Đảng cũng phải lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Để thực hiện tốt vấn đề này, Đảng phải xây dựng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho Quân đội. Các cơ quan lãnh đạo, đội ngũ chính ủy, chính trị viên là người trực tiếp tiến hành công tác xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức cần nâng cao chất lượng tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị, bám sát với yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và đặc thù từng đơn vị.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam cùng các đồng chí đang nghiên cứu bản đồ tác chiến tại Trảng Lớn, khu vực Kà Tum (năm 1964). Ảnh tư liệu 

 Hai là, quan tâm, đầu tư vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại cho Quân đội. Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, trong đó lĩnh vực quân sự đã xuất hiện loại hình chiến tranh mới - chiến tranh công nghệ cao. Vì vậy, việc đầu tư vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự cho Quân đội là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay. Quân đội ta không chạy đua vũ khí trang bị với các nước lớn, song cần có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại để bảo vệ Tổ quốc trong trường hợp cần thiết. Một số đơn vị cần đầu tư vũ khí hiện đại như Quân chủng Hải quân, Phòng không - Không quân, Binh chủng Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử… Đây là những đơn vị đi đầu trong quá trình xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu phát triển kỹ thuật quân sự, nghệ thuật quân sự, nâng cao chất lượng huấn luyện kỹ, chiến thuật của bộ đội. Đây là vấn đề đang đặt ra một cách trực tiếp đối với xây dựng Quân đội hiện nay. Cùng với việc mua sắm các loại vũ khí, trang bị hiện đại, ta cần đẩy mạnh nghiên cứu phát triển kỹ thuật quân sự, tự sản xuất được vũ khí bộ binh, các phụ tùng thay thế, nâng cấp các loại vũ khí, trang bị hiện có trong biên chế, đáp ứng yêu cầu của Quân đội, phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước. 

Bốn là, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội. Trước yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đòi hỏi phải có những người đủ khả năng và trình độ để tiếp cận. Tình hình đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần quan tâm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cho Quân đội. Đó là những người có sức khỏe, có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, ý chí quyết tâm cao, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống mẫu mực sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, hằng năm cần tiến hành tốt công tác tuyển sinh quân sự và gọi thanh niên nhập ngũ. Có cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút những người có trình độ chuyên môn cao vào công tác trong Quân đội. 

Năm là, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sau khi các cơ quan, đơn vị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam đã đánh giá thực trạng đời sống cán bộ, chiến sĩ hiện nay. Những vấn đề chưa phù hợp về thu nhập, đời sống đã không thu hút thanh niên gia nhập Quân đội, thậm chí có cả sĩ quan xin phục viên sớm… Từ thực tiễn đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành cần quan tâm hơn nữa đến đời sống cán bộ, chiến sĩ Quân đội cho tương xứng với ngành lao động đặc biệt. Nếu không có chính sách quan tâm hợp lý đời sống bộ đội và gia đình hậu phương quân đội e rằng chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị bị sa sút và động lực của mỗi cán bộ, chiến sĩ sẽ mai một…

Kế thừa quan điểm của Đại tướng về xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần của Quân đội, chúng ta cần khơi sâu những đóng góp của Đại tướng cũng như của Đảng ta về xây dựng Quân đội cách mạng, có nhiều bài viết, bài nói đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội, để Quân đội mãi mãi là lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

CĐ,VS (st)

-----------------

(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nhà chính trị quân sự lỗi lạc, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 198.

(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nhà chính trị quân sự lỗi lạc, Sđd, tr.313.

(3) 6 Đại đoàn: 304, 308, 312, 316, 320, 325; 12 trung đoàn: 246, 238, 42, 137, 46, 148, 270, 52, 108, 803.

(4) Bộ Tổng Tham mưu, Ban tổng kết - biên soạn lịch sử, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1954-1954), 1991, tr. 708.

(5) Nguyễn Huy Toàn, 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 71.

(6) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, Tập IV (từ năm 1954 đến năm 1975), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 55, 62.

(7) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 143.

(8) Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nhà chính trị quân sự lỗi lạc, Sđd, tr. 201.

(9) Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nhà chính trị quân sự lỗi lạc, Sđd, tr.316.

CẢNH GIÁC NHỮNG CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở TÂY NGUYÊN

 Tây nguyên là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước ta. Đồng thời, đây cũng là địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung hoạt động chống phá trên nhiều mặt, nổi lên gần đây là hoạt động xuyên tạc về tôn giáo do các đối tượng FULRO lưu vong thực hiện…

Từ thực tiễn đời sống xã hội cho thấy sinh hoạt tôn giáo hiện nay ở Việt Nam nói chung và các tỉnh Tây Nguyên nói riêng được tôn trọng và bảo vệ theo quy định pháp luật. Tôn giáo đã được Đảng, Nhà nước ta tạo mọi điều kiện hoạt động tốt nhất, thế nhưng thời gian gần đây, các đối tượng FULRO lưu vong vẫn không ngừng xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Tây Nguyên bằng những luận điệu hết sức lố bịch nhằm vu khống, chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Để thực hiện mưu đồ này, bọn chúng tìm cách tiếp xúc với những cá nhân, nhân vật bất mãn trong các tôn giáo để phỏng vấn, ghi hình… sau đó tung lên mạng với luận điệu vu khống: “Chính quyền vẫn hạn chế tôn giáo”, “Chính quyền áp đặt tôn giáo”… nhằm mục đích vu cáo chính quyền Việt Nam không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Điển hình như trang “Người Thượng vì công lý” đã đăng tải nhiều bài viết xoay quanh nội dung “Chính quyền tấn công Đạo Tin lành người Thượng ở Tây Nguyên” nhân vụ khủng bố ở huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 11/6 vừa qua trên Facebook với lời lẽ xuyên tạc chính sách, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Cụ thể, cuối tháng 12/2023, trang này đã liên tục “rêu rao” với những lời lẽ hết sức lố bịch như: “Chính phủ Việt Nam chấm dứt chính sách đàn áp tôn giáo đối với người Thượng. Như hôm nay, chính quyền đang giữ người không thông báo đối với thầy Y Cung Niê, Y Nuêr Buondap, Y Thinh Niê, Y Phúc Niê… hiện nay Công an đang giữ điều tra về vấn đề yêu cầu chính quyền hướng dẫn cách đăng ký sinh hoạt tôn giáo tại nhà, chính quyền gọi mời làm việc với nội dung hướng dẫn về việc sinh hoạt nhưng từ hôm qua chưa có thông tin hay thông báo gì về cho gia đình và đã giữ người tùy tiện…”.
Hay như trước đó vào ngày 22/11/2023, trang này từng viết “Chính quyền Đắk Lắk gia tăng đàn áp “Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên””. Chúng cho rằng, chính quyền một số địa phương của tỉnh Đắk Lắk tăng cường sách nhiễu và đàn áp các thành viên thuộc “Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên”, buộc họ không được tụ tập cầu nguyện và phải rời bỏ nhóm tôn giáo này. Trang này rao giảng: “Khi hàng chục tín đồ đang tập trung tại nhà của bà H Ik Kbuôr, là vợ của “thầy truyền đạo” Y Krec Byă ở xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn vào ngày 15/11 thì Công an và cán bộ địa phương xông vào yêu cầu giải tán và lập biên bản về việc tụ tập sinh hoạt tôn giáo trái phép. Đến ngày 17/11, Công an huyện Buôn Đôn đã triệu tập nhiều người tham gia “buổi sinh hoạt tôn giáo” tại nhà bà H Ik Kbuôr để “tra khảo” và “ép” ký cam kết không tái phạm…”.
Theo Công an tỉnh Đắk Lắk, đây chính là những đối tượng tham gia sinh hoạt tôn giáo trái phép, tập trung đông người, không xin phép cũng như chưa được cơ quan chức năng đồng ý, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hay như trên trang Facebook cá nhân của đối tượng Y Quynh Buon Dap, kẻ cầm đầu cái gọi là “Nhóm người Thượng vì công lý” đang sống lưu vong tại Thái Lan và đang bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk ra lệnh truy nã đặc biệt về tội: “Khủng bố” liên quan đến vụ việc ngày 11/6 tại Đắk Lắk.
Trên trang cá nhân của mình, đối tượng Y Quynh Buon Dap rêu rao: “Những hoạt động của tôi là về lĩnh vực tôn giáo và đòi nhân quyền cho người Thượng bản địa tại Việt Nam. Mọi hoạt động của “Nhóm Người Thượng vì công lý” với mục đích là đấu tranh cho công lý và đấu tranh ôn hòa. Tôi biết rằng nhà nước Việt Nam đã lợi dụng vụ này và vu khống cho “Nhóm Người Thượng vì công lý” của chúng tôi…”.
Trên thực tế, cái gọi là “Nhóm Người Thượng vì công lý” do đối tượng Y Quynh Buon Dap cầm đầu, với các hoạt động chống phá, như: Chỉ đạo cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk, Kon Tum, Phú Yên lợi dụng, núp bóng tôn giáo để lôi kéo người dân, tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”; liên hệ, vận động các cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam can thiệp, giúp đỡ để “Nhóm Người Thượng vì công lý” được hoạt động công khai trong nước.
Ngoài ra, đối tượng Y Quynh Buon Dap cũng đã liên tục liên kết với một số tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài như: “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS”, nhóm “Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”… sử dụng không gian mạng, tổ chức tập huấn nhân quyền, tự do tôn giáo nhằm đào tạo, huấn luyện, tạo dựng “ngọn cờ” trong nước và thu thập thông tin, tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo, chống phá.
Thượng tá Lữ Thị Anh Đào, Phó trưởng Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết, trước tình hình trên, các lực lượng của Công an tỉnh đã đấu tranh quyết liệt, không để các đối tượng đội lốt tôn giáo hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. “Đến nay, qua công tác cảm hóa giáo dục, đấu tranh xử lý của lực lượng Công an tỉnh, đã có nhiều trường hợp bị các đối tượng phản động dụ dỗ, lôi kéo, tin theo đã nhận thức rõ sai phạm, từ bỏ và quay trở lại sinh hoạt tôn giáo thuần túy, ổn định trong các tổ chức, nhóm phái Tin lành hợp pháp”, Thượng tá Đào thông tin./.
ST