Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Luận cứ phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác cao và nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ để khẳng định rằng, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta là đúng đắn, khoa học trên cơ sở nhận thức biện chứng tầm quan trọng của khát vọng phát triển đất nước; đánh giá khách quan cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước. Chủ trương đó đã được thảo luận rộng rãi, với sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận của toàn dân; có tính khả thi cao với những mục tiêu, tầm nhìn, kế hoạch và biện pháp thực hiện cụ thể. Những kết quả đạt được qua hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là minh chứng, hiện thực sống động, chứng minh chủ trương đó đang đi vào cuộc sống một cách vững chắc, đầy thuyết phục; cụ thể là:

Thứ nhất, khát vọng phát triển đất nước có vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người chứng minh, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sinh tồn và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Trong lúc thuận lợi, đặc biệt là khi gặp khó khăn, thách thức thì sức mạnh của tinh thần, của ý chí giữ vai trò hết sức quan trọng. Khát vọng phát triển của một dân tộc là nguồn năng lượng nội sinh to lớn và sức mạnh vô địch; là một trong những động lực trọng tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai.

Đối với Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước thật sự là sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Thời trung đại, Việt Nam đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc, giữ vững nền độc lập dân tộc, bắt nguồn từ khát vọng về độc lập, chủ quyền quốc gia. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đập tan ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến công oanh liệt đó khởi nguồn từ khát vọng mãnh liệt của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do(2). Hiện nay, khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường là một động lực quan trọng thúc đẩy dân tộc ta vươn lên, quyết tâm khắc phục đói nghèo, lạc hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nguy cơ tụt hậu về kinh tế... để phát triển trong giai đoạn mới.

Công nhân vận hành dây chuyền sản xuất sợi bằng công nghệ hiện đại _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Rõ ràng, Đảng ta không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định đây là một trong những động lực cho tiến trình đổi mới, phát triển; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất, kỹ thuật.

Thứ hai, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trên cơ sở đánh giá đúng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước.

Khát vọng phát triển đất nước bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ta sau hơn 35 năm đổi mới. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”(3).

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đất nước tiếp tục phát triển nhanh và khá toàn diện. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020(4). Lĩnh vực văn hóa, xã hội của đất nước đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Đến năm 2020, Việt Nam đã đứng thứ 49 về phát triển bền vững trên thế giới trong khi thu nhập bình quân đầu người còn ở hạng ngoài 100(5).

Một trong những dấu ấn nổi bật nhất là việc Việt Nam thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát dữ dội (từ cuối năm 2019): Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam được truyền thông quốc tế ca ngợi là “mảnh đất tiềm năng” (theo Forbes), “bình minh đang lên” (theo báo Nga), “ngôi sao sáng” (theo Asia Times), “phép màu châu Á” (theo New York Times),... 

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng là một thành công nổi bật trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào những khâu trọng yếu, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Công tác phòng, chống tham nhũng được tiến hành quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, tuyệt đại đa số người dân được hỏi ý kiến (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng(6).

Thứ ba, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”.

Trong quá trình chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII, các tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ở Trung ương và địa phương tổ chức gần 60 hội nghị, hội thảo, tọa đàm; thành lập 50 đoàn đi khảo sát thực tế; tổ chức tọa đàm với một số tổ chức quốc tế, 2 đoàn đi khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài. Các tiểu ban đã tiến hành 20 phiên họp để thảo luận, thông qua Đề cương và các dự thảo văn kiện. Bộ Chính trị đã họp nhiều lần để cho ý kiến hoàn thiện Đề cương và các dự thảo văn kiện trình xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương tại các Hội nghị Trung ương 10, 11, 14 và 15 khóa XII. Các dự thảo báo cáo đã được chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần và gửi xin ý kiến rộng rãi của các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều tổ chức, cơ quan, đoàn thể... Bộ Chính trị đã quyết định công bố công khai toàn văn các dự thảo Báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân; đã có hàng triệu lượt ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện; các ý kiến đóng góp được tổng hợp trong tài liệu dài 1.410 trang.

Văn kiện được đánh giá là có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”(7). Các ý kiến, đề xuất tâm huyết, trách nhiệm, kết tinh trí tuệ, ý chí và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện mong muốn đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh; nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc; dân tộc ta ngày càng cường thịnh, trường tồn. Tất cả điều đó chứng minh rõ tính khoa học, khách quan, dân chủ của các đánh giá, mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước được thể chế hóa thành mục tiêu, tầm nhìn và kế hoạch, chương trình cụ thể.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai”(8). Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa thành mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định “những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: - Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. - Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. - Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(9).

Giai đoạn hiện nay, Việt Nam xác định chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt khoảng 7.500 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,74; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% - 40%(10)

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh các nhiệm vụ đột phá sau: 1- Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, cần huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bằng những kế hoạch, biện pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành trong từng giai đoạn.

Thứ năm, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước bước đầu được minh chứng với kết quả sinh động của đất nước từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay.

Hơn hai năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu, hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện.

Việt Nam đã nỗ lực duy trì, phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế với nhiều điểm sáng tích cực. Năm 2021, tăng trưởng kinh tế đạt 2,58%; thu ngân sách nhà nước tăng 16,4%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục 668,5 tỷ USD (đưa Việt Nam trở thành 1 trong 20 nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại). Nông nghiệp tiếp tục giữ được vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; xuất khẩu nông sản đạt 48,6 tỷ USD(11).

Năm 2022, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, mức cao nhất trong hơn 10 năm qua; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Thu ngân sách nhà nước vượt 26,4% dự toán, tăng 13,8% so với năm 2021. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD. Khu vực nông nghiệp phát triển ổn định; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục trên 53,2 tỷ USD. Sản xuất công nghiệp tăng 7,69%. Khu vực dịch vụ phục hồi mạnh mẽ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 19,8%(12).

Báo cáo triển vọng kinh tế năm 2023 của Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra 2 kịch bản: Ở kịch bản 1, tăng trưởng kinh tế năm 2023 có thể đạt mức 6,47%; xuất khẩu tăng 7,21% và thặng dư thương mại đạt 5,64 tỷ USD; lạm phát sẽ ở mức 4,08%. Ở kịch bản 2, tăng trưởng kinh tế năm 2023 sẽ tích cực hơn, lên mức 6,83%; xuất khẩu tăng 8,43% và thặng dư thương mại đạt 8,15 tỷ USD; lạm phát sẽ được kiểm soát ở mức 3,69%.

Một tín hiệu lạc quan nữa là mặc dù phải đối diện với những khó khăn, thách thức, nhưng Đảng, Nhà nước vẫn tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Việt Nam đã ứng phó, kiềm chế, kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”. Cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh đã được triển khai đồng bộ, góp phần tích cực tiếp tục bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân trong “trạng thái bình thường mới”.

Quốc phòng - an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định tiếp tục được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực, hiệu quả, trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

Diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 40 năm đổi mới _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được Đại hội XIII của Đảng đề ra thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta, với mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao(1). Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, bóp méo, hòng phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta. Chúng rêu rao thiếu căn cứ rằng, đó là một “khẩu hiệu trống rỗng”, “nặng tính duy tâm, siêu hình”, rằng “khát vọng” là yếu tố tinh thần; do vậy, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì có nghĩa là đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nên đây là một quan điểm “duy tâm, siêu hình, đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Chúng suy diễn rằng, chủ trương của Đảng ta là “phi thực tế, phản khoa học”; là biểu hiện “chủ quan, nóng vội, duy ý chí”; là “ảo vọng viển vông, hão huyền”, “không có tính khả thi”; rêu rao rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ “đánh trống bỏ dùi”, không có kế hoạch và biện pháp triển khai cụ thể, hữu hiệu....

Trong khi đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, tình hình thế giới biến động rất nhanh, phức tạp, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; lạm phát thế giới tăng cao, xu hướng tăng lãi suất, thắt chặt chính sách tiền tệ, tài khóa và hậu quả của đại dịch COVID-19 dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; rủi ro tài chính, tiền tệ, mất an ninh năng lượng, lương thực... đang hiện hữu. Ở trong nước, áp lực lạm phát tăng cao; nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài cần được giải quyết; dịch bệnh, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị kích động tâm lý bi quan, mơ hồ, chán chường, giảm niềm tin, thiếu quyết tâm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân trong hiện thực hóa chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng. Chúng thường dùng thủ đoạn thông qua “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào dịp Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương, kỳ họp Quốc hội, phiên họp Chính phủ...,  nhằm thổi phồng những yếu kém về kinh tế - xã hội, hạ thấp thành quả công cuộc đổi mới, khoét sâu vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chúng triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các báo, đài phản động nước ngoài, các hình thức truyền thông mới, nhằm tuyên truyền chống phá trong một “thế trận” có “kịch bản” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”; tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”; dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống một số báo, đài chính thống để đưa tin, giật tít, “câu view”, nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chúng sử dụng một số phát biểu hằn học, thiếu thiện chí của một số chính trị gia, học giả “diều hâu” phương Tây; những luận điệu sặc mùi phản động của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị và các nhân vật ở trong nước đã bị xử lý kỷ luật vì suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... để tuyên truyền chống phá, xuyên tạc chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân

 Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực cực đoan, thù địch luôn tìm cách chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng dưới nhiều hình thức khác nhau; tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để lôi kéo, kích động tín đồ các tôn giáo nhằm mục tiêu chống phá Việt Nam từ bên trong, phá hoại thành quả cách mạng của dân tộc. Trước thực trạng đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao đóng góp của tôn giáo cho cách mạng, nhưng kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo, lợi dụng lòng tin của tín đồ để phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người luôn giáo dục cán bộ rằng bản chất của tín đồ là tốt, nếu có ai đó thiếu kiên định không đi cùng dân tộc, thì chỉ là do người xấu lôi kéo nên phải có thái độ khoan hồng, độ lượng với những người lầm đường lạc lối. Phải làm cho quần chúng hiểu rõ thái độ của Đảng và Nhà nước ta không chống tôn giáo, mà chỉ chống lợi dụng tôn giáo, chống chế độ người bóc lột người. Tư tưởng của Người đã trở thành quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công tác tôn giáo được thể hiện trong Nghị quyết số 25: “Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”. Quan điểm trên tạo ra môi trường ổn định, lành mạnh cho các hoạt động tôn giáo thuần túy của người dân. Thực tế chứng minh Việt Nam chưa từng xẩy ra mâu thuẫn, xung đột, chiến tranh tôn giáo như các nước trong khu vực và trên thế giới và thành quả của công tác tôn giáo chính là điểm đến Việt Nam an toàn, hấp dẫn và thân thiện cho các hội nghị, hội thảo lớn về tôn giáo tầm quốc tế, khu vực trong nhiều năm qua.

Trong công tác đấu tranh với những biểu hiện sai trái của tín đồ các tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ phải kiên trì, sát dân, hiểu dân để vận động dân. Phải giải thích để đồng bào hiểu âm mưu thâm độc của kẻ thù lợi dụng tôn giáo, lợi dụng niềm tin của người dân để phản nước, hại dân, làm hại tôn giáo. Chỉ có cách mạng mới là con đường giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, trong công tác tôn giáo hiện nay Đảng ta yêu cầu “Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng” (Nghị quyết số 25). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ “Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xẩy ra các “điểm nóng”. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, gây bức xúc trong dự luận, củng cố niềm tin của nhân dân”(13) .

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng của Người về tôn giáo là giá trị chính trị lớn đã và đang được Đảng, Nhà nước vận dụng triệt để và sáng tạo trong công tác tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Tư tưởng ấy được nhân dân ta học tập nâng cao nhận thức và vận dụng để góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước./.

Phát huy giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo

 Trong ứng xử với tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận và phát huy những giá trị tích cực của các tôn giáo, lấy đó làm điểm chung để đoàn kết tôn giáo, dân tộc. Người luôn tìm những giá trị nhân văn của các tôn giáo để cổ vũ, khích lệ chức sắc và đồng bào theo tôn giáo phát huy giá trị đó vào xây dựng đạo đức xã hội. Người đánh giá cao lòng bác ái, đức hy sinh của những vị sáng lập ra tôn giáo, sáng lập giá trị chân - thiện - mỹ trong triết lý tôn giáo với mục đích chung là mưu cầu hạnh phúc cho con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của người Công giáo. Mười điều răn của Chúa quy lại thành hai điều “Kính Chúa - Yêu Người” được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa tinh thần yêu người thành yêu nước một cách tài tình, để người Công giáo gắn bó với quê hương, đất nước. Người coi các biểu tượng tôn giáo chính là văn hóa, là niềm tin của tín đồ cần giữ gìn. Trong kháng chiến Người căn dặn không nên vì tiêu thổ kháng chiến mà phá gác chuông nhà thờ, trừ khi giáo dân nhận rõ việc đó là bảo vệ địa phương và tán thành. Trước khi làm việc ấy phải làm lễ rước thánh giá đi nơi khác cho trọng thể(10). Tư tưởng của Người được Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo vệ và phát triển thành quan điểm trong Nghị quyết số 25, “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân”. Trong báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm lớn của Đảng về tôn giáo, đặc biệt là phát triển quan điểm mới là phát huy nguồn lực tôn giáo vào các hoạt động cụ thể của xã hội “Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”(11). Từ tư tưởng đó, trong công tác tôn giáo, các cấp, các ngành đã vận dụng và phát huy giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo trong việc sống hiếu thảo, trung thực, nhân ái, hướng tới điều lành, tránh xa điều ác góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Khơi dậy đóng góp tích cực của tôn giáo trong các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, nhân đạo. Hiện nay, cả nước có 300 trường, lớp mầm non, 2 nghìn lớp học tình thương, 12 cơ sở dạy nghề; 500 cơ sở khám, chữa bệnh do cá nhân, tổ chức tôn giáo thành lập và điều hành; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng 12 nghìn các đối tượng cần trợ giúp(12), góp phần cùng nhà nước chăm lo đời sống cho người dân còn khó khăn.

Đề cao vai trò của nhân sĩ, trí thức, chức sắc các tôn giáo

 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng đắn về vai trò xã hội và đạo đức của tôn giáo đối với một bộ phận người dân, đặt biệt Người luôn kính trọng và ca ngợi những vị chức sắc (Giáo chủ) các tôn giáo: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(7). “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(8). Với tư tưởng đó, trong lần gặp với đại biểu các tôn giáo năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của tôn giáo trong công cuộc giải phóng dân tộc, Người nói: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”(9) dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng, lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.

Vận dụng tư tưởng ấy của Người, Đảng ta đưa thành quan điểm trong Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo, trong đó nêu rõ: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Coi công tác vận động chức sắc, tín đồ là một công tác trọng yếu trong công tác dân vận. Trong công tác đối với chức sắc tôn giáo, người chỉ rõ cần tranh thủ sự ủng hộ của hàng giáo sĩ, đặc biệt là hàng ngũ giáo sĩ cao cấp bằng việc mời họ tham gia cách mạng với một thái độ thực sự cầu thị, chân tình, tin cậy lẫn nhau; tạo điều kiện để các giáo sĩ vừa hoàn thiện sứ mệnh với đạo, vừa hoàn thành nghĩa vụ của người công dân, khơi dạy tinh thần dân tộc của người theo đạo. Phải coi công tác vận động chức sắc tôn giáo là công tác trí thức, bởi đội ngũ chức sắc vừa là người có “thần quyền”, vừa có “phẩm cách và phương pháp” của một người trí thức.

Với tinh thần cầu thị, thái độ chân thành Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức theo tôn giáo, trong đó có các giáo sĩ Công giáo tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng. Sự có mặt của các vị nhân sĩ, trí thức, chức sắc Công giáo, như Nguyễn Mạnh Hà, Ngô Tử Hạ, Vũ Đình Tụng, Hồ Đắc Ghi, Nguyễn Thành Vĩnh, các linh mục Phạm Bá Trực, Nguyễn Bá Luật..., đặc biệt là các giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn có tác dụng to lớn trong việc động viên, khích lệ người Công giáo tham gia kháng chiến, kiến quốc và hạn chế việc lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.

Kế thừa và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đưa việc tranh thủ, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trở thành quan điểm và nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác tôn giáo qua các thời kỳ cách mạng và xây dựng đất nước. Đặc biệt vận động, tạo điều kiện để các vị chức sắc, tín đồ tham gia đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, thành viên các tổ chức chính trị - xã hội đại diện tiếng nói của khối tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến nay, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 15 nhiệm kỳ xây dựng và phát triển, từ khóa I đến khóa XV đều có chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia. Riêng khóa XV có 5 chức sắc trúng cử đại biểu Quốc hội. Được giáo hội giới thiệu, nhân dân lựa chọn bầu vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là những người ưu tú, có nhiều đóng góp trong công tác lập pháp và sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn thể hiện rõ trách nhiệm người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân nói chung, của đồng bào theo tôn giáo nói riêng. Trên tinh thần đấy, từ năm 2016 đến năm 2022, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã 3 lần gặp mặt, biểu dương các chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tổ chức tôn giáo tiêu biểu có đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương thường xuyên có những cuộc gặp gỡ, đối thoại, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo góp phần thúc đẩy tôn giáo ngày càng đồng hành, gắn bó với đất nước.

Đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết tôn giáo - dân tộc

 Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm và kiên trì thực hiện đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân theo tinh thần “Đoàn kết Lương - Giáo”. Người luôn xem đồng bào các tôn giáo là một phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc và một lực lượng quan trọng của cách mạng. Điều đó không chỉ có tác dụng khuyến khích đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia cách mạng, mà còn đập tan những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ người cộng sản với đồng bào theo tôn giáo của các thế lực phản động. Từ giá trị của tư tưởng ấy của Người, Đảng ta khẳng định và phát triển trong Nghị quyết số 25: “Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo” và được thực thi, lan tỏa trong đời sống tôn giáo ở khắp mọi miền Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các quan điểm trên trong công tác tôn giáo: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”(4).

Để thực hiện đoàn kết lương - giáo, Người luôn cố gắng làm cho đồng bào hiểu rằng, đức tin tôn giáo và lý tưởng cộng sản có nhiều điểm tương đồng. “Đường lối và mục đích của Chính phủ nhằm ba mục tiêu sau đây: (1) Giải phóng nhân dân khỏi đói, khỏi rét (khổ sở) và khỏi dốt; (2) Đem lại cho nhân dân sự tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng; (3) Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc”(5). Người luôn tìm và chỉ ra những giá trị đạo đức, văn hóa dân tộc với triết lý của tôn giáo để vận động, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo đi theo cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Học tập và làm theo tư tưởng của Người, Đảng ta lấy “Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(6). Làm cho đồng bào các tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, ủng hộ và đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng như ngày nay.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền căn bản của con người, nhưng quyền đó phải gắn chặt và đồng hành cùng với lợi ích của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Do vậy, quyền ấy chỉ có giá trị đích thực khi nó gắn với độc lập dân tộc, nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đấu tranh cho độc lập dân tộc chính là đấu tranh cho quyền độc lập, tự do của các tôn giáo, chính vì vậy, đấu tranh giành độc lập cho nước nhà cũng là trách nhiệm của cá nhân và tổ chức tôn giáo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân phải được tôn trọng và bảo đảm dựa trên cơ sở tôn trọng đức tin tôn giáo của mỗi người và không ai được xâm phạm, ép buộc, cản trở quyền đó. Dù thế giới quan khác nhau, niềm tin khác nhau, song không vì thế mà đối đầu, nghi kỵ, ngược lại phải tôn trọng niềm tin của mỗi người(1). Đấy chính là lý do mà ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) (ngày 3-9-1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về công tác tôn giáo” (Nghị quyết số 25), Đảng đưa quan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”. Quan điểm này được thể hiện cụ thể trong vấn đề theo đạo và truyền đạo “Mọi công dân đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong việc mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Từ nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng đến thực tiễn hiện nay cho thấy Việt Nam luôn quan tâm chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 95% người dân Việt Nam có tín ngưỡng, tôn giáo. Riêng tôn giáo có 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, hơn 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; khoảng 58 nghìn chức sắc; 148 nghìn chức việc hoạt động ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước(2). Hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội, như lễ Phật đản của Phật giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội; lễ Giáng sinh, Phục sinh của Công giáo, Tin lành; Tết Chôl Ch-nam Th-mây của đồng bào Khơ-mer; Tháng lễ Ra-ma-đan của cộng đồng Hồi giáo (Islam) và Ra-mư-oăn của cộng đồng Hồi giáo Bà-ni...

Tư tưởng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ tôn giáo. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên và chính quyền phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào theo đạo, làm cho họ “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”(3). Tinh thần của Người đã nâng cao sự nhận thức về đoàn kết dân tộc trong đồng bào theo tôn giáo khi đưa mối quan hệ biện chứng giữa “Kính Chúa, Yêu Nước” và chuyển tải tinh thần đó cho phù hợp với thời đại và niềm tin tôn giáo của tín đồ, chức sắc tôn giáo. Tư tưởng của Người đã được các ngành, các cấp liên quan cụ thể hóa trong công tác hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo đúng chính sách, pháp luật, ủng hộ tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó đồng hành cùng dân tộc, đậm chất nhân văn của các tôn giáo. Cụ thể Phật giáo xác định đường hướng hành đạo “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Công giáo “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Tin lành với đường hướng “Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; Cao đài với đường hướng “Nước Vinh Đạo Sáng”...

Có thể thấy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là cam kết chính trị của người đứng đầu nhà nước với người dân về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là quan điểm xuyên suốt mà Đảng ta đã bảo vệ và kế thừa trong công tác tôn giáo. Tư tưởng này luôn là định hướng cho cán bộ làm công tác tôn giáo nhận thức đúng, khách quan về giá trị tôn giáo, chấn chỉnh nhận thức sai lệch, tả khuynh của một số cán bộ đối với tôn giáo trong thời điểm lúc bấy giờ và trong thực hiện công tác tôn giáo hiện nay.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu, khách quan, từ mong muốn của nhân dân, đòi hỏi của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng nắm giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền bằng uy tín, năng lực mà không một đảng phái nào có thể thay thế được.

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và cai trị, trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Với truyền thống chống giặc ngoại xâm và tinh thần yêu nước nồng nàn, trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam xuất hiện các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sản và những cuộc đấu tranh tự phát của giai cấp công nhân. Mặc dù các phong trào đấu tranh diễn ra rất sôi nổi và liên tục ở khắp các địa phương, vùng, miền, nhưng cuối cùng đều thất bại.

Trước thực trạng khủng hoảng, bế tắc về con đường cứu nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có một tổ chức cách mạng tiên phong với đường lối đúng đắn để lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc đấu tranh giành độc lập. Trong quá trình bôn ba khắp năm châu, bốn bể tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cách mạng vô sản và khẳng định cách mạng muốn thành công, cần: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”(5). Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thông qua vai trò lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đã hội tụ đầy đủ những yếu tố cần thiết đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi khách quan của lịch sử đất nước.

Về tổ chức: Đảng “là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh”(6); có đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, sẵn sàng đấu tranh vì lý tưởng của Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lý luận cách mạng, khoa học, tiến bộ; là kim chỉ nam cho mọi hoạt động.

Về đường lối cách mạng: Ngay tại Hội nghị thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, trong đó vạch ra mục tiêu, nhiệm vụ và con đường phát triển cho cách mạng Việt Nam, đó là: Tiến hành cuộc cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - một chế độ tốt đẹp, ưu việt nhất dành cho tất cả người dân Việt Nam. Đây là con đường cách mạng đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.

Với ý nghĩa đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu, đã chấm dứt sự khủng hoảng về tổ chức lãnh đạo và đường lối cứu nước ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX. Trên thực tế, trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trở thành Đảng cầm quyền cho đến năm 1988(7), ở Việt Nam đã hình thành và tồn tại nhiều đảng chính trị với ý thức hệ, tôn chỉ, mục đích hoạt động khác nhau, song đều thất bại. Trong bối cảnh các lực lượng, tổ chức, đảng phái khác trong xã hội đã bị thất bại, không đảm đương được vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nên ngay khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trước sóng gió “chấn động chính trị” cuối thập niên 80 - đầu thập niên 90 (thế kỷ XX) làm hàng loạt các đảng cộng sản bị mất vai trò cầm quyền, dẫn đến sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững vai trò cầm quyền, bản lĩnh, sáng suốt đề ra đường lối đổi mới đúng đắn.

Với năng lực, bản lĩnh và uy tín của một đảng mác-xít chân chính, được rèn luyện qua muôn vàn khó khăn, thử thách, Đảng đã lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(8). Thực tiễn lịch sử cách mạng và những thành tựu vĩ đại đạt được đã chứng minh: “Ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có khả năng lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; lợi ích của nhân dân gắn liền với sự nghiệp của Đảng; mục đích, lý tưởng của Đảng cũng là ước mơ, nguyện vọng của nhân dân”(9).

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng với các già làng, trưởng bản và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên _Ảnh: TTXVN

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền, nghĩa là Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử về sự phát triển của đất nước, của dân tộc, bảo đảm cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho người dân. Đảng phải đề ra được quan điểm, chủ trương, đường lối, chiến lược, định hướng lớn đúng đắn để xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời, phải làm cho quan điểm, chủ trương của Đảng được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn. Muốn vậy, Đảng phải luôn nhất quán nguyên tắc “tập trung dân chủ”, mọi công việc trong Đảng đều phải được bàn bạc dân chủ theo quy định, nhưng khi quyết định thì thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuân theo Cương lĩnh, nghị quyết, Điều lệ Đảng. Đảng cầm quyền trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng càng phải khẳng định được năng lực lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; đồng thời, phải bảo đảm “các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(10), không được “đứng trên”, “đứng ngoài” pháp luật, cũng không “độc đoán, chuyên quyền” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đảng lãnh đạo Nhà nước, phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước, nhưng không làm thay Nhà nước. Đảng lãnh đạo “bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật”(11). Nhà nước thể chế hóa mọi đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật, qua đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Sau mỗi kỳ đại hội Đảng, nghị quyết của Đảng sẽ được Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước triển khai bằng việc thể chế hóa thành các văn bản, quy định, bảo đảm triển khai thực hiện trong xã hội.

Trong điều kiện cầm quyền duy nhất ở Việt Nam, việc Đảng hoạt động theo nguyên tắc, Điều lệ Đảng và trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật chính là cơ sở vững chắc bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng; phòng, chống mọi nguy cơ độc quyền, thoái hóa, biến chất có thể xảy ra.

Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đề cao dân chủ, tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Độc lập dân tộc, giải phóng con người, mang lại quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội cho tất cả người dân Việt Nam chính là mục tiêu, là lý tưởng phấn đấu của Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mặc dù trong điều kiện đất nước có chiến tranh, vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nhưng Đảng vẫn luôn quan tâm đến quyền dân chủ cho nhân dân, như thực hiện người cày có ruộng, phổ thông giáo dục, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần… Vấn đề quyền con người, thực thi dân chủ được Đảng gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, khẳng định chủ quyền của quốc gia - dân tộc.

Trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước, mối liên hệ gắn bó với nhân dân, vấn đề dân chủ tiếp tục được Đảng đặc biệt chú trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng nêu rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(12). Với nhận thức đúng đắn đó, Đảng luôn chú trọng lãnh đạo xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ phải được thực hiện trong toàn hệ thống chính trị thông qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Điểm cốt lõi của việc bảo đảm dân chủ là Đảng luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ”(13). Mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều bắt nguồn từ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(14).

Thày giáo mang quân hàm xanh _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ tư, Đảng luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(15). Việc Đảng cầm quyền duy nhất rất dễ dẫn đến tệ quan liêu, bảo thủ, trì trệ, do đó, đòi hỏi Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, kiểm soát quyền lực lãnh đạo để xứng đáng với vai trò lãnh đạo, cầm quyền được lịch sử ghi nhận và nhân dân tin tưởng giao trọng trách.

Đảng “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(16). Đây là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(17); đồng thời “không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(18).

Đảng không ngừng xây dựng, chỉnh đốn, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và giữ nghiêm kỷ luật đảng để giữ cho tổ chức đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cầm quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị và nhân dân; bảo đảm đủ năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu trong mọi hoàn cảnh, nhiệm vụ.

Đảng luôn coi trọng công tác tư tưởng, quan tâm phát triển đội ngũ đảng viên.  Không ngừng rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Đảng luôn đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng để tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn.../.

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được khẳng định rõ trong Hiến pháp - văn bản pháp luật cao nhất của đất nước: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(4). Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được Nhà nước, xã hội, nhân dân công nhận và được hiến định, là sự ghi nhận những cống hiến của Đảng và khẳng định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng trong mọi bước phát triển của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền đến nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chưa bao giờ ngừng chống phá, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Sự chống phá dưới mọi hình thức đó ngày càng tinh vi hơn, từ hình thức vũ trang, bán vũ trang nay chuyển sang núp dưới âm mưu "diễn biễn hòa bình”, nhất là sử dụng internet, các trang báo mạng phản động để đăng tải những nội dung chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 - mà thực chất, là xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng(?!). Họ cho rằng, Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã phủ nhận quyền lực của nhân dân trong việc lựa chọn đảng cầm quyền thông qua bầu cử, cũng như phủ nhận quyền lực của nhân dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, là trái với nguyên tắc của một thể chế nhà nước dân chủ(?!)

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn tập trung phê phán, thổi phồng các điểm tiêu cực, hạn chế trong đời sống kinh tế - xã hội, cố tình bôi đen, hạ thấp những thành tựu to lớn của đất nước đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng; đánh lạc hướng dư luận, gây tâm lý dao động, hoang mang trong nhân dân. Từ đó, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh việc kích động, lôi kéo, xúi giục việc chống phá Đảng, Nhà nước ta,...

Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới

 Việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng trong tổng thể công tác đấu tranh tư tưởng. Với lực lượng, phương thức, thủ đoạn, phương tiện, công nghệ chống phá liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tấn công trực tiếp vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đích cuối nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa các trào lưu tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống xã hội. Điều đó đòi hỏi công tác đấu tranh tư tưởng cần có những điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.

Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số)(1)những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.

Với vị trí, vai trò là cơ quan lý luận chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tạp chí Cộng sản là ngọn cờ đầu trên mặt trận tư tưởng của Đảng ta (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng và các đồng chí lãnh đạo tại lễ ra mắt Tạp chí Cộng sản điện tử phiên bản mới, năm 2019) _Ảnh: Tư liệu

Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

(1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.

(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.

(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa thăm, chúc mừng Thông tấn xã Việt Nam nhân kỷ niệm 96 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 - 21-6-2021) _Ảnh: TTXVN

Các thế lực thù địch phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu”, “tâm lý chiến” hết sức thâm độc. Mặt khác, chúng đan cài, trộn lẫn tinh vi thông tin thật - giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch; khoác áo “khách quan khoa học”, núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề lý luận chính trị, từ “giả khoa học” chuyển hóa thành “giả chính trị” hết sức phức tạp, tinh vi. Chọn thời điểm có những sự kiện chính trị lớn của Đảng, của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội trong nước; những biến động lớn của thế giới, nhất là những vấn đề tại các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, có đảng cánh tả cầm quyền để thực hiện các “chiến dịch” cao điểm công kích, chống phá ta ở quy mô lớn. Có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước phương Tây…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, “nội công ngoại kích”tạo thành nhiều mũi tấn công, trên nhiều lĩnh vực.

Các thế lực thù địch sử dụng, khuếch trương các phương tiện, kênh truyền thông phản động ngoài nước, đồng thời với công kích, phê phán hệ thống báo chí chính thống của ta. Hệ thống các phương tiện truyền thông phản động ngoài nước đa dạng, số lượng nhiều, một số là những tập đoàn truyền thông quy mô, có số lượng khán - thính - độc giả cao, diện bao phủ thông tin rộng, đa quốc gia, kết nối với các phương tiện truyền thông xã hội, nên sức chống phá lớn. Đa phần các kênh truyền thông phản động trên đều có máy chủ, trụ sở đặt ở nước ngoài nên công tác đấu tranh của ta gặp nhiều khó khăn. Cùng với việc phát triển các kênh truyền thông phản động, các thế lực thù địch ra sức đả kích, hạ thấp uy tín hệ thống báo chí chính thống trong nước của ta, với những luận điệu xuyên tạc về bản chất nền báo chí cách mạng Việt Nam, về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, các chức năng xã hội của báo chí, về tự do báo chí… Chúng cung cấp tiền, o bế một số “ngọn cờ”, “cây bút” có lượng người theo dõi lớn, ít nhiều có khả năng chi phối, dẫn dắt dư luận xã hội; sử dụng ngày càng nhiều các bài bình luận, chuyên luận phân tích sâu, luận điệu giả trá lắt léo, tinh vi…

Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đấu tranh tư tưởng và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, nên Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng, tập trung chỉ đạo và triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác đấu tranh được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu và đạt được những kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, nhìn nhận khách quan, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trên không gian mạng, vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế.

Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(2).

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn, quyết liệt, nên tuyêt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng là phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng chống phá ta của các thế lực thù địch, theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng chính những ưu thế của các phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, thay vì phiến diện chỉ thấy các yếu tố tiêu cực, mặt trái của nó.

Thứ hai, làm loãng thông tin xấu, độc bằng xây dựng tuyến, luồng bài viết có thông tin tích cực hoặc trực diện phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để liên tục phủ lên và tiến tới chiếm thế thượng phong trên không gian mạng, không gian các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội. Kết hợp hài hòa giữa lan tỏa phổ rộng thông tin với ngày càng coi trọng chiều sâu thông tin, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch bằng lý luận, có hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, tính thuyết phục cao, giúp độc giả hiểu sâu, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là phương thức đấu tranh có chiều sâu, căn cơ, kịp thời và chủ động ngăn chặn thủ đoạn chuyển hướng chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào những vấn đề cốt lõi thuộc hệ tư tưởng và nền tảng lý luận của Đảng ta.

Diễn tập giám sát và ứng phó sự cố an ninh mạng _Ảnh: ictnews.vietnamnet.vn

Thứ ba, giữ vững vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng, đồng thời mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng; xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng từ tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội; tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn; mở các kênh truyền thông xã hội riêng như “cánh tay” nối dài của các báo, tạp chí, nếu phù hợp…

Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới, tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát trúng, có tầm nhìn dài hạn, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài gỡ bỏ thông tin xấu độc; răn đe; xử lý hình sự…, để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận, xây dựng hệ thống luận cứ, luận chứng khoa học - thực tiễn nền tảng cho công tác đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch; gắn chặt nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận, nhất là việc tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới40 năm tiến hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) trong thời gian tới./.