Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh “Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” của đội ngũ đảng viên

 “Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” - Một biểu hiện về bản lĩnh người đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa riêng về bản lĩnh “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”, mà tùy điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng, Người nêu những ý kiến cụ thể, những so sánh phù hợp để mọi người dễ hiểu, dễ hình dung thế nào là bản lĩnh ấy của người đảng viên.

Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh so sánh “... một người cách mệnh có gan, hơn một ngàn người vô chí”(1) để chỉ những người dân Pháp có thể đứng lên làm cách mạng tư sản Pháp thành công trong khi lương thực ít, súng ống thiếu, gầy guộc, bụng đói... chỉ bởi họ “có gan”, nghĩa là họ dám hy sinh, dám đấu tranh. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng từ “có gan”, “dám”, “dũng khí”, “dũng cảm”... để nói về bản lĩnh. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (tháng 10-1947), lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức phân tích, giải thích và chỉ ra cách xử lý công việc của một người cán bộ, đảng viên có bản lĩnh: “... cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra”(2). Nghĩa là, nếu thấy chính sách, cách làm không hợp thì người cán bộ, đảng viên phải “có gan” đề nghị sửa bỏ, còn khi thấy chính sách, cách làm đúng và cần thiết thì phải “có gan” đề nghị cấp trên ban hành để thực hiện; thậm chí, “Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc”(3). Để cho rõ hơn, Người còn so sánh họ với những người “chỉ biết khư khư giữ nếp cũ. Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ, cái cần thiết cũng không dám đặt mới./ Đó là vì thói không phụ trách “quá hữu”, gặp sao hay vậy”(4)nghĩa là có thái độ mặc kệ, đúng sai gì cũng không lên tiếng, miễn sao không ảnh hưởng đến mình.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng viên có bản lĩnh là những người dũng cảm, gan góc, “... gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa”(5), mạnh dạn, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những quyết định cũng như hành động của mình, nhằm đem lại lợi ích cho tập thể, tổ chức và cho nhân dân; bởi lẽ, người lãnh đạo có bản lĩnh thì mới dám xây dựng cái mới, xóa bỏ cái cũ lỗi thời, lạc hậu. Người cho rằng, những người đã “có gan” như vậy sẽ không e sợ bất kỳ việc gì, cho dù đó là việc khó, việc khổ hay trước áp lực thế lực cường quyền và “... việc gì là việc phải họ đều làm được”(6).

Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh, “có gan” không có nghĩa là làm vội, làm ẩu, làm liều; mà trước khi tiến hành, ta phải xem xét cho rõ ràng mọi mặt, mọi phương diện, trong mọi mối quan hệ, “... cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ”(7), tức là phải xem xét toàn diện rồi mới xác định phương pháp tiến hành công việc, cách thức đấu tranh với sai lầm, khuyết điểm sao cho phù hợp.

Vì sao thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê bình biểu hiện của một số cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, “... ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình”(8); những cán bộ “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”(9) miễn sao không ảnh hưởng đến mình. Những người này có chung đặc điểm là ngại va chạm, né đấu tranh, “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”, có tư tưởng cầu an, sợ trách nhiệm, sợ liên đới, sợ mất lòng... Nguy hại hơn là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên “Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích”(10), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liệt vào nhóm những biểu hiện của “bệnh cá nhân”. Cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này chỉ tôn thờ lối sống thực dụng, trong tiếp xúc, giải quyết công việc hằng ngày với nhân dân; bệnh này thể hiện qua hành vi, cử chỉ không thân thiện, không văn hóa, sự thờ ơ, dửng dưng trước khó khăn, mất mát của người dân.

Nói tóm lại, cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh sẽ có tác hại: Một mặt, ở phạm vi nhỏ, khi thấy sai không phê bình, không thẳng thắn góp ý, cứ để cho đồng chí mình sa vào sai lầm sẽ dẫn đến hỏng việc, như vậy chẳng “... khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ”(11)mặt khác, gây tác hại ở phạm vi lớn hơn đối với tổ chức đảng, đối với toàn Đảng, khi những cán bộ, đảng viên với biểu hiện “mũ ni che tai” sẽ “khiến cho Đảng xệch xoạc... Đảng xa rời dân chúng”(12), thậm chí những đảng viên này dần dần sẽ sinh ra thói “không nói trước mặt, hục hặc sau lưng”, dẫn đến “sự uất ức và không đoàn kết trong Đảng... để cho bọn vu vơ có thể chui vào hoạt động trong Đảng... để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra”(13), khiến cho quần chúng nhân dân mất lòng tin với Đảng, dẫn đến giảm sút uy tín, ảnh hưởng đến sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh trở thành tiêu chí phân loại thái độ của mỗi người đối với khuyết điểm và là thước đo đánh giá đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đứng trước những sự việc đúng, sai, tốt, xấu, thiện, ác..., sự lựa chọn, thể hiện thái độ, quan điểm, lập trường của cán bộ, đảng viên là đấu tranh, bảo vệ hay im lặng, né tránh sẽ cho thấy bản lĩnh và tư cách của mỗi người. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân thành năm loại thái độ:

1- Thái độ của bọn phản động, nghĩa là “... lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta”(14).

2- Thái độ của đảng viên và cán bộ đầu cơ, nghĩa là “Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của họ”(15), lợi mình hại người, “miễn sao mình béo mặc thiên hạ gầy”.

3- Thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt, nghĩa là “... sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình”(16).

4- Thái độ của những người máy móc quá, nghĩa là đối với những người mắc sai lầm, khuyết điểm, họ “... đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng”(17).

5- Thái độ đúng đắn của người cách mạng là: “a) Phân tách rõ ràng, cái gì đúng, cái gì là sai./ b) Không chịu nổi ảnh hưởng của những chủ trương sai lầm, những phần tử không tốt. Ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt./ c) Không để mặc kệ. Mà ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, không để nó phát triển ra, không để nó có hại cho Đảng./ d) Không làm cách máy móc. Nhưng khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ./ đ) Đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng”(18).

Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán nghiêm khắc những cán bộ và đảng viên có biểu hiện thấy sao cũng mặc kệ và gọi tên họ là “bọn thứ ba”. Những cán bộ, đảng viên này ứng xử theo lối “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, thái độ này khiến cho cái tốt không có điều kiện nảy nở, phát huy, cái sai không được phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời và đấu tranh loại bỏ...; suy cho cùng, đây cũng là một hình thức tự thủ tiêu tinh thần đấu tranh chân chính, một biểu hiện tinh vi của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Người khẳng định, nếu mỗi cán bộ, đảng viên đều có bản lĩnh và thái độ đúng “... thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”(19).

Về cách thức “bảo vệ” và “đấu tranh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, khi đối mặt với một vấn đề cần đưa ra cách giải quyết, người cán bộ, đảng viên phải xem xét một cách toàn diện, phải phân tích rõ ràng để nhận rõ cái gì đúng, cái gì sai, “... vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó”(20). Trong đấu tranh với cái sai, Người căn dặn, tuyệt đối “không làm cách máy móc” mà phải “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”, khéo phê bình sẽ góp phần tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, tăng cường sự giám sát của tập thể đối với đảng viên. Người khẳng định, đảng viên nào dù mắc khuyết điểm, nhưng nếu thật thà tự phê bình, có quyết tâm sửa chữa, dám đấu tranh với sai lầm, khuyết điểm thì mới trở nên đảng viên xứng đáng, chân chính. Người cũng chỉ rõ, tiến hành tự phê bình và phê bình là phải có lý, có tình, trên tinh thần thương yêu đồng chí, tôn trọng nhân cách của mỗi con người.

Rèn luyện bản lĩnh người đảng viên là một việc quan trọng và cần thiết.

Ngay từ năm 1925, trong tập bài giảng ở lớp huấn luyện chính trị cách mạng tại Quảng Châu, Trung Quốc cho những thanh niên Việt Nam ưu tú, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra 23 chuẩn mực đạo đức cần có của một người cách mạng chân chính; trong đó, có  các chuẩn mực thuộc về bản lĩnh của người cách mạng trên hai mối quan hệ: Mối quan hệ thứ nhất, đối với người, cần có bản lĩnh giúp đỡ, nâng đỡ đồng nghiệp, bạn bè; thấy cái hay, cái tốt, cái đẹp của người khác thì phải “bày vẽ” để họ phát huy, phát triển hoặc khi thấy cái dở, cái chưa tốt ở người khác thì nhất định phải cương trực, thẳng thắn góp ý, nhưng cần chú ý đến cách thức góp ý sao cho khéo léo. Mối quan hệ thứ hai, đối với công việc, phải dũng cảm, nghĩa là gặp việc khó phải “có gan” làm; gặp việc chưa đúng phải “có gan” sửa chữa, góp ý; thấy việc sai “có gan” đấu tranh, thấy việc đúng có gan bảo vệ... như vậy, mới đúng là người có bản lĩnh cách mạng, trở thành người đảng viên có nhân cách, đạo đức và phẩm hạnh, mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng đầy khó khăn, gian khổ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là một tổ chức rất tiến bộ, đã có những thành tích rất vẻ vang./ Trong Đảng ta, gồm có những người có tài, có đức. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta.../ Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”(21), “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu”(22). Từ đó, Người yêu cầu, mỗi cán bộ, đảng viên luôn có ý thức chăm lo, bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh cách mạng để có thể xây dựng đội ngũ đảng viên dám đứng ra đấu tranh, bảo vệ cái đúng, làm cho phần chính, phần thiện trong mỗi người ngày càng tăng thêm; để phần tà, phần ác, việc xấu được ngăn chặn và bớt dần

LHQ-ST

Không ngừng xây dựng, chỉnh đốn để Đảng gánh vác và thực hiện sứ mệnh lịch sử

 

Toàn bộ công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là công việc được tính toán chiến lược và tổng thể của toàn Đảng. Đó cũng là nhu cầu của lịch sử và khát vọng của Nhân dân đối với Đảng.

Trong lịch sử 94 năm hình thành và phát triển, Đảng ta đã trải qua không ít thăng trầm, vượt qua nhiều gian nan, thử thách để lãnh đạo đất nước, dẫn dắt dân tộc nhịp bước cùng thời đại. Xuyên suốt quá trình đó, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là Đảng không ngừng xây dựng, chỉnh đốn mình ngang tầm trọng trách lịch sử giao phó. Đó là vấn đề có tính quy luật.

Tuy nhiên, trong 40 năm nay, chưa khi nào và chưa bao giờ chúng ta chứng kiến một thời kỳ mà công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được cả xã hội quan tâm như ở thời kỳ này. Trả lời phỏng vấn phóng viên VOV nhân kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng, nhà báo, TS. Nhị Lê- nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản cho rằng: Mục tiêu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn là để Đảng gánh vác thành công sứ mệnh lịch sử và sự trao gửi của Nhân dân cho mình.

Ba tố chất làm nên vị thế, bản chất, sức mạnh và uy tín của Đảng

PV: Trong lịch sử 94 năm hình thành và phát triển, Đảng ta đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng. Trong mấy nhiệm kỳ gần đây, đặc biệt là từ khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ vai trò lãnh đạo cao nhất thì theo ông, dấu ấn nổi bật của Đảng là gì?

Nhà báo Nhị Lê: Từ khi đồng chí Nguyễn Phú Trọng giữ cương vị Tổng Bí thư, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã trở thành một mũi đột phá quan trọng ở tầm mức mới cả về quy mô, tính chất và chiều sâu. Trước kia, thường nói xây dựng Đảng nhưng từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VIII thì vấn đề xây dựng song hành với chỉnh đốn Đảng đã trở thành công việc kép. Chỉnh đốn chính là để xây dựng và xây dựng buộc phải thông qua chỉnh đốn. Xây dựng và chỉnh đốn là chỉnh thể công việc phát triển Đảng một cách toàn diện và thống nhất.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng toàn Đảng đã dụng công rất lớn thực hiện công việc to lớn, nặng nề và có ý nghĩa quyết định thành công này.

Mục tiêu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn là để Đảng gánh vác và thực hiện sứ mệnh lịch sử và sự trao gửi của Nhân dân một cách ngang tầm đất nước và thời đại, trong 3 tư cách căn bản: Đảng phải thực sự xứng đáng là người lãnh đạo; Đảng phải thực sự xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân; Đảng phải thực sự xứng đáng là đứa con nòi của nhân dân lao động.

Đó là 3 tố chất làm nên vị thế, bản chất, sức mạnh và như uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trải 94 năm lịch sử xây dựng và phát triển của đất nước, dưới ngọn cờ của Đảng.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng bắt đầu làm Tổng Bí thư từ năm 2011. Kế thừa rất nhiều thành tựu, kinh nghiệm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong lịch sử 94 năm, đặc biệt từ Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã trở thành một trọng sự có ý nghĩa thành bại, thậm chí sinh tử đối với vị thế, vai trò và trách nhiệm lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Nhìn lại gần 15 năm cho đến ngày hôm nay, điều đặc biệt, rất ấn tượng tôi lấy làm tâm đắc, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là trọng tâm của 3 Hội nghị lần thứ 4 của Đảng dọc 3 nhiệm kỳ liên tiếp: Hội nghị Trung ương 4 khóa XI bàn về trách nhiệm người đứng đầu; Hội nghị Trung ương 4 khóa XII bàn về những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng; Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII ra Kết luận 21 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục thực hiện hai Hội nghị lần thứ 4 của hai nhiệm kỳ XI và XII, trong bối cảnh mới.

Nhìn như thế để thấy toàn bộ công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là công việc được tính toán chiến lược và tổng thể của toàn Đảng. Đó cũng là nhu cầu của lịch sử và khát vọng của Nhân dân đối với Đảng.

Từ 3 Hội nghị Trung ương 4 mà đỉnh cao là các Đại hội thứ XII và XIII của Đảng, tỏa sáng một phát kiến rất lớn về phương diện lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển một chính Đảng Cộng sản nói chung và Đảng ta nói riêng, đó là cùng với xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức thì từ Đại hội XII của Đảng xác quyết xây dựng Đảng về mặt đạo đức.

Tới Đại hội XIII, cùng với xây dựng Đảng về các mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức, thì xây dựng Đảng về cán bộ là một bước tiến dài về mặt nhận thức lý luận và tổ chức thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta. Không có cán bộ xứng tầm thì mọi kế hoạch tốt đẹp nhất cũng chỉ dừng lại ở mơ ước

PV: Thưa ông, xây dựng Đảng về đạo đức và xây dựng Đảng về cán bộ có thể hiểu như thế nào?

Nhà báo Nhị Lê: Nhân nói về xây dựng Đảng về mặt đạo đức, tôi nhớ một nhà sử học danh tiếng của nước Nga nói rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt vấn đề đạo đức là một phương diện quan trọng của công tác xây dựng Đảng - điều này Đảng Cộng sản Liên Xô trước kia không có được. Nhưng kỳ thực, ta biết, đó chính là một trong những phát kiến sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào năm 1927. Nghĩa là 3 năm trước lúc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Ngày 5/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vấn đề này về mặt thực tiễn lãnh đạo của Đảng. Người nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đại hội thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác quyết đạo đức là một lĩnh vực xây dựng Đảng rất quan trọng.

Đó là một trong những thành tựu rất căn bản trên phương diện lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của chúng ta trong 15 năm qua, kể từ Đại hội XI đến nay.

Thứ hai, về phương diện cán bộ. Đây là việc then chốt của then chốt. Lịch sử 94 năm của Đảng ta càng chứng minh rõ điều này. Sau khi có đường lối đúng thì nhân tố quyết định thành công của việc thực hiện quyết sách chính trị đó là cán bộ. Không có cán bộ xứng tầm thì mọi kế hoạch tốt đẹp nhất cũng chỉ dừng lại ở mơ ước.

Thực tiễn 3 nhiệm kỳ gần đây, trên lộ trình đổi mới, tái cấu trúc đội ngũ cán bộ các cấp, trước hết là cấp chiến lược, đã thanh lọc xử lý rất nhiều cán bộ ở tất cả các cấp, trong đó nhiều cán bộ là Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị. Cũng là vì điều căn bản đó. Điều đó càng cho thấy, nếu không chỉnh đốn công tác cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ nói riêng thì sức mạnh của Đảng sẽ khó có thể được giữ vững và phát triển.

Về đạo đức, thực tiễn cảnh báo nghiêm khắc, khi cán bộ hủ bại về đạo đức, hủ bại về lối sống thì tất yếu sẽ dẫn đến hủ bại về chính trị, thậm chí phản bội về chính trị. Cho nên, điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Ban Chấp hành Trung ương qua 3 nhiệm kỳ và Đảng ta đã đặt ra yêu cầu, mỗi đảng viên phải xứng đáng là một tấm gương đạo đức, một nhân cách văn hóa, khi “danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Đây cũng chính là yêu cầu của Nhân dân đối cán bộ là đảng viên và với Đảng - “đứa con nòi” của mình.

Không như thế thì không thể xây dựng Đảng ta thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của Nhân dân, thực sự là đứa con nòi của Nhân dân.

Nhân đây, xin nói thêm, để thực hiện tư tưởng đó. Ngoài những công việc về đạo đức, Đảng ta đã tổ chức lại hệ thống của mình về bộ máy, tức là cấu trúc lại từ bên trong đội ngũ bằng một tổ chức tương dung và tương hợp. Trong đó, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực và hệ thống 63 tỉnh, thành phố là một ví dụ, được bổ sung phát triển không chỉ về quy mô mà quyết định là tính chất và trọng trách, góp phần thực hiện toàn bộ công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trước hết trên phương diện cán bộ.

Không chỉnh đốn, không xây dựng một cách ngang tầm nhiệm vụ thì Đảng không thể dẫn dắt được dân tộc.

PV: Vì sao trong 3 nhiệm kỳ gần đây, Đảng thường chọn hội nghị Trung ương 4 để bàn về việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thưa ông?

Nhà báo Nhị Lê: Ta biết, Hội nghị Trung ương 4 của Đảng thường vào năm thứ 2 của nhiệm kỳ. Đây là tổng thể và lộ trình phù hợp bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống chính trị, rường cột là Quốc hội và Chính phủ. Như thế để thấy được tính hệ thống, tính liên tục, tính khả thi các quyết sách về chính trị, về tổ chức và về cán bộ của Đảng. Đó là tính hệ thống tự nhiên và tất yếu trong đời sống hoạt động của Đảng với tư cách là Người lãnh đạo, cầm quyền đất nước.

PV: Như vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng như một lời cam kết của Đảng đối với Nhân dân?

Nhà báo Nhị Lê: Xin được nhấn mạnh và khắc sâu, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên, chỉnh thể và không thể đứt đoạn. Vì thế, tất cả các Hội nghị Trung ương đều xem xét vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau, ngoài những Hội nghị chuyên đề về xây dựng dựng, chỉnh đốn Đảng, như đã thấy.

Đó cũng là yêu cầu của Nhân dân để Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Không chỉnh đốn, không xây dựng mình một cách ngang tầm nhiệm vụ thì Đảng rất khó dẫn dắt dân tộc phát triển, như đã xác quyết.

Đó không chỉ là sự cam kết chính trị đơn thuần mà đó là sự cam kết về lòng tin của Đảng đối với dân tộc; đồng thời, là sự cam kết của Đảng đối với bạn bè quốc tế với tư cách là người lãnh đạo, người cầm quyền cách mạng Việt Nam.

Rộng hơn và sâu hơn, đó là lời thề danh dự trước dân tộc, lời thề thiêng liêng trước các bậc tiên hiền về trọng trách lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam.

PV: Trong cuộc đấu tranh làm trong sạch Đảng, khó khăn nhất là gì thưa ông?

Nhà báo Nhị Lê: Đó là vấn đề mấu chốt: quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Tất cả các căn bệnh của Đảng cầm quyền đều bắt nguồn từ sự lệch lạc về tầm nhìn chính trị và xử lý quyền lực. Khi những chứng bệnh trên phương diện này lâm trọng, như: tha hóa quyền lực, thoái hoá quyền lực, sỉ nhục quyền lực, chiếm đoạt và sở hữu quyền lực (biến quyền lực công thành quyền lực tư), hủ bại quyền lực (mua bán quyền lực)… thì công việc này càng mệnh hệ tới vị thế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Có thể hình dung, quyền lực như con ngựa bất kham vậy. Không khắc chế và dẫn dụ được nó thì sẽ thất bại. Vì, nếu quyền lực được giao cho con người có đạo đức họ có thể kinh bang tế thế nhưng nếu không kiểm soát, nhất là những kẻ vô đạo đức nắm quyền lực, thì không những những người này hóa thành những con thú dữ hoành hành ngoài xã hội, mà đáng thương thay, quyền lực nhớp nhúa vô đạo đức, không nghi gờ gì, nhất định biến thành sợi dây để họ tự thắt cổ mình.

Mọi sự phát triển đúng hướng đều nằm ở việc sử dụng và kiểm soát quyền lực. Đối với Đảng, đó là quyền lực chính trị và quyền lực về công tác cán bộ… Tức là quyền hoạch định đường lối và kiến tạo bộ máy. Nếu đường lối chính trị của Đảng bị thao túng bởi lợi ích nhóm chẳng hạn, thì dứt khoát quyền lực sẽ lâm vào hủ bại và lệch lạc. Do đó, kiểm soát quyền lực đối với những cơ quan tổ chức cán bộ là sự kiểm soát của kiểm soát, rất quan trọng, thậm chí quyết định thành bại trong công tác cán bộ.

Nhân dân trao và ủy thác quyền lực của mình cho Nhà nước, ở từng tổ chức và mỗi cá nhân. Nếu ảo tưởng về quyền lực hoặc quyền lực không được kiểm soát bằng pháp luật và đạo đức, rốt cuộc sẽ chẳng có dân chủ và pháp quyền nào. Khi đó, lợi ích quốc gia bị băm nhỏ hoặc không thống nhất và quyền lực cá nhân và phường hội lên ngôi và ngự trị. Lợi ích của quốc gia và hạnh phúc của Nhân dân có cơ bị lâm nguy!

Nói gọn lại, quyền lực và cán bộ là hai phương diện căn bản, Đảng cần phải nắm lấy, quyết không buông!

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thanh Hà- Kim AnhVOV.VN

Nhà báo, TS. Nhị Lê- nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.

 

Hệ thống chính trị một đảng cầm quyền ở Việt Nam - sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử

 

Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân. Thực tiễn cũng cho thấy, chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hoàn toàn không phù hợp với bối cảnh lịch sử-xã hội ở Việt Nam.

Những nghịch lý và hệ lụy của chế độ đa đảng

Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là một khuynh hướng tổ chức đời sống chính trị-xã hội xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 với xu hướng tuyệt đối hóa sự đa dạng, đối kháng của các đảng chính trị. Chế độ đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.

Lịch sử chính trị thế giới cho chúng ta một số bài học để thấy rằng hệ thống đa đảng đối lập nhiều khi không dẫn các quốc gia theo con đường này đến hòa bình, ổn định và phồn vinh, mà ngược lại nó dẫn đến sự bất hòa, phân lập, thậm chí là tê liệt của bộ máy công quyền. Trở lại bối cảnh lịch sử của nước Đức cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Nước Đức thời kỳ này tồn tại nhiều đảng phái chính trị, mỗi đảng đại diện cho những lợi ích xã hội được xác định rõ ràng, tranh giành quyền lực và lợi lộc từ quyền lực, thỏa hiệp và ký kết thỏa hiệp với nhau khi nào có thể. Sự chia rẽ trong đời sống chính trị không chỉ dẫn đến hậu quả đau đớn cho Đức vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà hiện vẫn còn dẫn tới sự bất ổn chính trị, làm gia tăng nghèo đói và bạo loạn ở nhiều nước trên thế giới.

Nhìn lại cuộc cách mạng “mùa xuân Ả Rập” diễn ra năm 2011 cho thấy điều đó. Phân hóa giàu nghèo, tham nhũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự nổi dậy lật đổ chính quyền tại một loạt quốc gia ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông. Nhưng sau khi lật đổ chính quyền, điều mà người dân trông chờ là một nền chính trị ổn định, ít tham nhũng, quan tâm đến đời sống của đại đa số người dân, những gì mà các thế lực bên ngoài rao giảng đã không được thực thi trên thực tế. Thay vào đó là sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái và thế lực chính trị. Cho đến hiện tại, ở các quốc gia này, không có một đảng chính trị hay một lực lượng chính trị nào đủ mạnh để có thể thống nhất, lãnh đạo đất nước khiến xã hội vẫn chưa đi vào ổn định và phát triển.

Thể chế đa đảng với cách thức tổ chức cho phép các đảng đối lập phản đối chính sách của đảng cầm quyền nhằm thực hiện dân chủ, nhưng nghịch lý của nó là khiến chính phủ trở nên phân rã và chia rẽ. Sự phân cực chính trị làm phân tán nguồn lực và các chính sách đem lại lợi ích cho đa số người dân thường sẽ khó được thực thi. Bởi khi không nắm chính quyền, các đảng chính trị sẽ có nhiệm vụ là tìm mọi cách phê phán chính sách của đảng đối lập; mục đích chính của việc làm này không phải là để có tiếng nói phản biện nhằm làm cho chính sách được thực thi một cách tốt hơn mà là để giành giữ lá phiếu cho đảng mình trong các lần bầu cử tiếp theo.

Nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia tổ chức theo chế độ đa đảng đối lập, chúng ta sẽ thấy các đảng chính trị để tranh giành quyền lực, họ không dựa trên lợi ích của đông đảo người dân nhằm giải quyết các vấn đề mà xuất phát từ lợi ích của đảng phái, thậm chí là lợi ích cá nhân hẹp hòi. 

Sự lựa chọn cho ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam

Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân.

Tại Việt Nam, vào cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, các tổ chức cộng sản đảng đã ra đời mà tiêu biểu là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Tân Việt Cách mạng Đảng. Sau khi ra đời 3 tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên sự xuất hiện và tồn tại 3 tổ chức cộng sản đảng cùng hoạt động cách mạng đã dẫn đến sự chia rẽ nguồn lực, các đảng công kích lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng. Sự chia rẽ, công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thời kỳ này đã gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng.

Để chấm dứt sự chia rẽ và công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản, đầu tháng giêng năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là minh chứng lịch sử cho chúng ta thấy cách thức tổ chức một đảng duy nhất cầm quyền, đây là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với đặc trưng văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta.

So với thể chế đa đảng đối lập, nhiều quan điểm cho rằng các quốc gia có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước đó là “chế độ độc đảng toàn trị”. Hằng năm, các báo cáo về chỉ số tự do dân chủ (Democracy Index) vẫn dựa vào tiêu chí đa đảng đối lập để đánh giá mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Dựa vào các báo cáo này, họ rao giảng rằng các quốc gia như Việt Nam có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước thì xu hướng chung “đảng đó sẽ độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các chức năng của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung, của cá nhân nói riêng”. Họ "khuyến cáo" rằng, "Việt Nam cần phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để thực hiện dân chủ"(!).

Tuy nhiên phải hiểu rằng, dù đề cập đến dân chủ như một giá trị tốt đẹp, dân chủ như một hình thức cai trị, một cách thức ra các quyết định chung hay dân chủ như một chế độ chính trị thì tất cả các ngữ nghĩa này đều không bắt nguồn từ cách thức tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Dù là chế độ một đảng nhưng chúng ta đã, đang thực hiện dân chủ theo những cách riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán, lối sống và năng lực thực hành dân chủ của người dân Việt Nam.

Lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo đất nước, đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với phong tục, tập quán, năng lực thực hành dân chủ của người Việt. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng Việt Nam cần phải học hỏi các quốc gia trên thế giới, phải xóa bỏ chế độ độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam để tổ chức đời sống chính trị theo chế độ đa đảng, nhất là đa đảng đối lập giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì chúng ta đừng hoang mang, dao động, mà hãy nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia theo chế độ đa đảng, đặc biệt là hệ thống đa đảng đối lập đã được phân tích cụ thể ở phần trên. Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của người dân ở các quốc gia đã trải qua "mùa xuân Ả Rập" hay trải qua "cách mạng sắc màu", những người đã tin theo những lời xúi giục đó, họ đang khát khao như thế nào về một cuộc sống yên bình, ổn định, không có xung đột, đói nghèo và tội phạm gia tăng để cân nhắc quan điểm và lựa chọn hành động cho đúng.

Cho đến hiện nay, chế độ đa đảng, đặc biệt là đa đảng đối lập với đại diện theo tỷ lệ vẫn được các quốc gia phương Tây sử dụng như một “tiêu chuẩn của các nền dân chủ tiên tiến”. Lịch sử tổ chức đời sống chính trị trên thế giới lại cho chúng ta thấy rằng, dân chủ không bắt nguồn từ cách thức chúng ta tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Nếu bạn đọc ở đâu đó hay nghe ai đó thuyết giảng rằng Việt Nam cần phải xây dựng chế độ đa đảng giống như mô hình của nhiều quốc gia phương Tây, thì bạn hãy nhớ rằng: Hiện nay, trên thế giới đang có hàng chục quốc gia lựa chọn thể chế "đa nguyên, đa đảng" nhưng đang chìm trong đói nghèo, khủng hoảng chính trị triền miên. Chúng ta có lợi thế hơn họ bởi chúng ta có những tấm gương trước mắt để học hỏi và lựa chọn. Sự lựa chọn đúng đắn nhất của chúng ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đây là sự lựa chọn cho sự ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam.

Sưu tầm

Cảnh giác trước các âm mưu lôi kéo, kích động

 

Xem thông tin kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; khủng bố; tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; che giấu tội phạm” xảy ra tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk), nhiều bác nghỉ hưu ở khu phố 7, phường Xuân Khanh (Sơn Tây, Hà Nội) không khỏi bất ngờ. Trong giờ uống trà buổi tối, chuyện này được bàn luận sôi nổi.

- Tôi nghĩ với tính chất, hành vi khủng bố dã man, tàn bạo, nguy hiểm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án các bị cáo phải chịu nặng hơn. Thực tế, không chỉ người dân nước ta mà cả thế giới đều lên án mạnh mẽ hành vi khủng bố. Các nước đều đấu tranh kiên quyết và triệt để, không khoan nhượng với tội phạm khủng bố...

Cựu chiến binh Sơn vừa dứt lời, bác Mẫn cũng bày tỏ bức xúc:

- Đúng thế! Đó là chưa kể, những kẻ khủng bố hoạt động có tổ chức nhằm thực hiện mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân, chống phá đất nước, làm xáo trộn cuộc sống bình yên của cả huyện, cả tỉnh. Tại phiên tòa, tất cả bị cáo và luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đều đồng ý với bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Ngay một số trang mạng phản động lần này cũng không thể có ý kiến phản đối tội danh của các bị cáo, bởi những hành vi nguy hiểm và tội lỗi các bị cáo gây ra đã quá rõ ràng. Đáng lẽ tòa phải tuyên phạt thích đáng hơn. 

Thấy các “bạn hưu” đều không đồng tình với mức án “nhẹ” mà tòa sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk vào đêm 10-6, rạng sáng 11-6-2023, bác Hòa, nguyên là cán bộ ngành tư pháp, giải thích:

- Các bác nói cũng hợp lý, vì với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội khủng bố gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án pháp luật quy định rất nặng. Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình đối với 2 bị cáo, tù chung thân đối với 11 bị cáo, các bị cáo khác đề nghị mức án từ 12 tháng đến 20 năm tù giam. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều bày tỏ đã nhận rõ hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, xin được Đảng, Nhà nước, pháp luật, nhân dân và Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình, làm lại cuộc đời. Đồng thời, các bị cáo cũng xin lỗi những gia đình người bị hại và mong được tha thứ; mong mọi người không nghe theo kẻ xấu, không làm những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật. Nhận thấy hầu hết bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết còn hạn chế, dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, kích động làm những việc trái pháp luật; sau khi xem xét khách quan, toàn diện vụ án, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo mức án thấp hơn Viện Kiểm sát nhân dân đề nghị. Cụ thể là tuyên phạt 10 bị cáo mức án tù chung thân, các bị cáo khác bị phạt từ 9 tháng đến 20 năm tù. Như vậy, mức án này thể hiện rõ chính sách nhân văn của Đảng, Nhà nước ta, hợp lý và hợp tình. Nếu các bị cáo có trình độ hiểu biết mà phạm tội thì chắc sẽ bị xử phạt nặng hơn, các bác ạ!

Nghe ông Hòa phân tích thấu đáo, mọi người đều gật gù bày tỏ sự đồng tình. Cựu chiến binh Thắng tiếp lời:

- Tôi thấy bài học rút ra là mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác để không bị lôi kéo, kích động. Các cấp chính quyền cần tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu biết pháp luật, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước. Mỗi gia đình, từng khu dân cư cũng phải thường xuyên quan tâm làm tốt việc này để chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Kẻ xấu sẽ không dụ dỗ, lôi kéo được người dân làm những việc trái pháp luật nếu cán bộ, đảng viên từ cấp cơ sở sâu sát bám nắm, làm cho nhân dân hiểu và có tinh thần cảnh giác, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, các ông nhỉ?

Tà đạo “Bà cô Dợ”, tự xưng sinh ra Chúa đã bị triệt xóa như thế nào?

 

Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân vùng cao, đối tượng Vừ Thị Dợ (SN 1977) đã lập ra tà đạo “Bà cô Dợ”, tuyên truyền rằng con trai mình là Chúa nhằm lôi kéo người dân.

Theo Công an tỉnh Điện Biên, thời gian qua, cùng với sự phát triển của mạng xã hội, các tổ chức mang tính chất tà giáo, dị giáo như “Ân điển cứu rỗi”, “Tia chớp phương Đông”, “Đức chúa trời mẹ”, “Giê sùa”, “Bà cô Dợ”… đã xâm nhập vào địa bàn và gây ra nhiều tác động, hệ lụy đến tình hình an ninh trật tự. Trong đó nổi bật lên là tà đạo “Bà cô Dợ” với việc tuyên truyền, xuyên tạc Kinh thánh để lôi kéo người dân tham gia các hoạt động bất hợp pháp.

Trao đổi với VOV.VN, Đại úy Giàng A De, Phó đội trưởng An ninh tôn giáo PA02 – Công an tỉnh Điện Biên cho biết: “Bà cô Dợ tên thật là Vừ Thị Dợ, sinh năm 1977 hiện đang sống ở Mỹ. Về các hình thức tuyên truyền của bà này, đầu tiên là bà tự xưng mình là người đẻ ra Chúa, tuyên truyền trên các trang Youtube. Bà Dợ có 4 đứa con và tự nhận con thứ tư của mình là Chúa. Vừ Thị Dợ cho rằng, mình đã lên thiên đàng, được gặp 12 Thiên sứ và được Thiên sứ giao nhiệm vụ đưa tin cho khắp thế gian. Bà Dợ tuyên truyền con trai bà ấy là Chúa và sẽ cai trị thế gian trong 1000 năm. Những giấc mơ và câu chuyện của bà Dợ là bịa đặt, ảo tưởng, không đúng với bản chất của Kinh thánh.”

Cũng theo Đại úy Giàng A De, nhóm tà đạo này sinh hoạt trên mạng. Họ có những phòng Zoom (phòng họp online trên mạng) để họp, trao đổi với nhau hoặc những nhóm kín trên Messenger (ứng dụng chat của Facebook). Những hoạt động này, lực lượng chức năng đều nắm được.

Ngoài các thủ đoạn trên, nhóm tà đạo này còn lợi dụng tâm lý của người dân tộc và hoàn cảnh khó khăn của họ nhằm tài trợ tiền, lợi ích vật chất để lôi kéo người dân đi theo. Do đó đã thu hút được nhiều người, đặc biệt là người dân tộc Mông.

Từ năm 2017, Công an tỉnh Điện Biên đã nắm được các hoạt động của tà đạo “Bà cô Dợ”, nhờ đó kịp thời có các biện pháp rà soát, tuyên truyền, vận động người dân để triệt xóa. Lực lượng chức năng đã phối hợp tổ chức hơn 300 buổi họp dân với hơn 26.000 người tham gia để tuyên truyền về bản chất mê tín, phản động của các tà đạo và vận động quần chúng nhân dân không tin theo. Đồng thời tổ chức đối thoại với 100% các hộ theo tà đạo để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng; tiếp xúc, răn đe, vận động cá biệt 247 lượt đối tượng cầm đầu; xử lý 2 đối tượng về hành vi tuyên truyền thông tin sai sự thật…

Về thu giữ vật chứng, lực lượng chức năng đã thu giữ 17 quyển tài liệu tuyên truyền “Bà cô Dợ” do các đối tượng tự soạn thảo, in ấn, tạm giữ 11 điện thoại, 1 máy tính xách tay là các phương tiện đối tượng dùng để sinh hoạt tà đạo trực tuyến; vận động cá biệt 864 trường hợp là chủ hộ theo tà đạo. Kết quả, đã tuyên truyền vận động để xóa bỏ hoàn toàn tà đạo “Bà cô Dợ” trên địa bàn.

Trung tá Giàng A Minh, phó trưởng phòng An ninh nội địa PA02 – Công an tỉnh Điện Biên cho biết: “Về phương thức thủ đoạn của tà đạo “Bà cô Dợ”, họ lợi dụng không gian mạng. Thứ hai là lợi dụng tâm lý người dân tộc, hoàn cảnh khó khăn của các hộ dân trên địa bàn, họ tài trợ tiền và vật chất để lôi kéo đi theo. Bản chất của họ là lợi dụng kinh Thánh chính thống, lợi dụng các vấn đề dân tộc để lồng ghép, lôi kéo mang tính chất phản động.”

Cũng theo Trung tá Giàng A Minh, hiện nay internet trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã về từng xã, từng bản. Số bản không có mạng là rất ít. Do đó những tà đạo như “Bà cô Dợ” có điều kiện để lan tỏa nhanh trên không gian mạng.

“Từ sau khi phát hiện, chúng tôi đã tiến hành rà soát, thống kê lại toàn bộ các hộ, đánh giá tính chất mức độ bị ảnh hưởng bởi tà đạo này. Rồi sau đó báo cáo tham mưu cho Thường trực tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh ban hành nhiều văn bản chỉ đạo UBND các huyện và các sở ban ngành liên quan. Các huyện thành lập ban chỉ đạo, phân công cán bộ chiến sĩ, trực tiếp xuống địa bàn tuyên truyền vận động. Phần lớn người đi theo tà đạo là người dân tộc thiểu số nên trình độ hiểu biết của họ còn hạn chế. Họ chưa phân biệt được đâu là Kinh thánh chính thống, đâu là Kinh thánh bị bóp méo. Quá trình tuyên truyền, vận động cũng gặp rất nhiều khó khăn.” – Trung tá Giàng A Minh cho biết.

Qua tuyên truyền nhiều năm, bằng các biện pháp như trực tiếp xuống bản để tuyên truyền, vận động, dần dần lực lượng chức năng cũng giúp các hộ hiểu rằng, đâu là Kinh thánh chính thống, đâu là xuyên tạc, phản động. Sau khi nhận thức được, họ đã cam kết từ bỏ. Hiện nay, phần lớn các hộ đã trở về sinh hoạt theo các tôn giáo chính thống được Nhà nước công nhận.

Đảng lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước

 

Qua gần 40 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống.

Gần 40 năm qua, Đảng đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Kinh tế đất nước phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao, tăng bình quân gần 7%/năm.

Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Việt Nam đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 quốc gia, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 6 nước Đối tác Chiến lược Toàn diện, 12 nước Đối tác Chiến lược và 12 nước Đối tác Toàn diện; trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm của hầu hết các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin giả - sự nguy hại và phương cách ngăn chặn

 

Tin giả đang nổi lên thành vấn nạn tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn nạn tin giả diễn ra tràn lan, gây thiệt hại lớn trên nhiều lĩnh vực, phương diện, nhất là các thế lực thù địch sử dụng tin giả để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Do vậy, ngăn chặn, triệt phá tin giả, thông tin xấu độc là nhiệm vụ cấp thiết trong kỷ nguyên số.

Tin giả - hậu quả thật

Tin giả còn được gọi là tin rác hoặc tin tức giả mạo, là thông tin cố ý bịa đặt hoặc dùng thủ thuật lừa bịp bằng cách lan truyền qua phương tiện truyền thông hay mạng xã hội (MXH). Tin giả thường được tạo ra để tác động đến tư tưởng, quan điểm, tình cảm, cảm xúc, thái độ, hành vi của người dân, gây ảnh hưởng tiêu cực đến diễn biến thực tiễn, nhằm thực hiện các mục đích chính trị, lợi ích kinh tế hay ý đồ xấu xa của chủ thể tiến hành.

Trong điều kiện mới với xu thế phát triển nhanh của MXH và các nền tảng MXH xuyên biên giới, kéo theo việc các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng, tung tin giả ngày càng phổ biến với nhiều chiêu trò, cách thức, thậm chí rất khó nhận diện, đấu tranh, đẩy lùi.

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng internet rất cao. Bởi vậy, khi tin giả xuất hiện thì cường độ, tốc độ lan truyền nhanh, tác động rất lớn đến đời sống trên không gian mạng và cộng đồng xã hội. Ví như, khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4-2022, loạt tin đồn thất thiệt trên MXH về việc một số doanh nghiệp ngoài nhà nước niêm yết trên sàn chứng khoán bị thanh tra chuyên đề (hoạt động phát hành trái phiếu và việc thực hiện pháp luật về kế toán, thuế, chứng khoán) gây hoang mang cho nhà đầu tư và gây thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp. Ngay sau đó, dù có thông tin chính thống để đính chính, trấn an cổ đông, nhà đầu tư nhưng cổ phiếu của các doanh nghiệp này vẫn liên tục giảm mạnh. Điều đó cho thấy, chỉ vì tin giả mà kinh tế đất nước bị ảnh hưởng, chi phối rất nghiêm trọng.

Tương tự, tin giả xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là những vấn đề, lĩnh vực "nóng", "nhạy cảm" liên quan đến công tác nhân sự, bầu cử, bỏ phiếu tín nhiệm, xử lý kỷ luật cán bộ cấp cao... Tin giả cũng thường xuất hiện trước những sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, đất nước, Quân đội với tần suất ngày càng nhiều và mức độ nguy hiểm, phức tạp khó lường. Đặc biệt, thời gian gần đây xuất hiện nhiều tin giả về tình hình sức khỏe của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, gây xáo trộn đến tư tưởng, tình cảm và niềm tin của quần chúng; thậm chí còn tạo ra sự hoang mang, tâm lý tiêu cực trong đời sống xã hội.

Rõ ràng, tin giả là một loại thông tin không có thật, nhưng hệ quả và tác hại của nó thì có thật; ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh. Chẳng hạn, vào những năm 80, 90 của thế kỷ 20, trên địa bàn Tây Nguyên, các thế lực phản động ở nước ngoài cấu kết với FULRO tung tin giả về việc người Kinh đang chiếm đất của người Thượng, rồi kích động, lôi kéo một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình, gây rối chính trị ở nhiều địa bàn Tây Nguyên vào các năm 2001, 2004. Tương tự, những sự vụ, sự việc diễn ra ở Thái Bình (năm 1997), Mường Nhé, Điện Biên (năm 2011) và các "điểm nóng" ở Tây Bắc, Tây Nghệ An, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ... đều bắt đầu từ những tin tức giả mạo, bịa đặt một cách trắng trợn. Hay sự kiện diễn ra ở Bình Thuận và hàng chục địa phương trong nước năm 2018 là bài học đau lòng, khi kẻ thù bịa ra tin giả về việc cán bộ Trung ương “tự quyết” cho nước ngoài thuê đất đặc khu trong 99 năm là nhằm hiện thực lợi ích nhóm của một bộ phận cán bộ... Tin giả ấy đã tạo ra sự bức xúc trên MXH, rồi lan ra đời sống, gây nhiều tổn thất cả về vật chất lẫn tinh thần.

Làm gì để khống chế, đẩy lùi tin giả?

Là quốc gia có nhiều nỗ lực và đạt kết quả quan trọng trong phòng, chống, xử lý tin giả, đến nay, Việt Nam đã hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường biện pháp quản lý thông tin trên MXH; ban hành các quy định, quy trình xử lý tin sai sự thật; tăng cường hợp tác để yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới loại bỏ thông tin sai lệch, vi phạm pháp luật; thiết lập Trung tâm an ninh mạng quốc gia... Thế nhưng, những nỗ lực nêu trên vẫn chưa đủ sức hạn chế, khống chế một cách hiệu quả tình trạng tin giả đang có xu hướng gia tăng trên MXH.

MXH với đặc tính dễ ẩn danh, lan truyền nhanh, khó xác minh, truy vết... đã và đang trở thành môi trường thuận lợi cho việc tán phát tin giả. Hơn thế, trong điều kiện mới, các lực lượng thù địch đang ra sức chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó, việc tung tin giả được sử dụng như một mũi công kích chủ yếu.

Để khắc chế, đẩy lùi vấn nạn tin giả, với trách nhiệm rất cao, Việt Nam đã đề xuất thành lập đội phản ứng của ASEAN về tin giả và được các quan chức cao cấp ASEAN đồng thuận, ủng hộ. Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, cách thức vận hành đội phản ứng nhanh để đi vào hoạt động hiệu quả vẫn còn là bài toán nan giải. Cùng với đó, việc phát huy vai trò của Trung tâm an ninh mạng quốc gia và Trung tâm phòng, chống tin giả tuy đạt kết quả bước đầu khả quan nhưng vẫn thụ động; chủ yếu là ứng phó, xử lý sự cố, sự việc khi có tình huống mà chưa đề cao đúng mức tính chủ động trong dự báo, ngăn chặn, đẩy lùi tin giả từ sớm, từ xa...

Cùng với đó, để khống chế, đẩy lùi tin giả thì công tác cung cấp, định hướng thông tin chính thống phải được xem là giải pháp trọng yếu, ưu tiên hàng đầu. Theo đó, cơ quan chức năng phải thực sự “đi trước, đón đầu” trong việc cung cấp thông tin chính xác, đồng bộ, rộng khắp; biến thông tin chính thống thành dòng chủ lưu trong đời sống thông tin xã hội để ngăn chặn, phòng ngừa, đẩy lùi tin giả. Khi xuất hiện tình huống tin giả, cơ quan chức năng cần có ngay các giải pháp quản lý, khống chế cả về số lượng, phạm vi, mức độ, cường độ lây lan của tin giả trên không gian mạng. Phải nỗ lực khắc chế, đẩy lùi tin giả từ khi chúng vừa manh nha hình thành, hay chí ít là khi chúng xuất hiện nhỏ lẻ, chứ không thể để tin giả lây lan rộng khắp, trở thành "điểm nóng" trên MXH rồi mới “theo đuôi”, đi tìm cách khắc phục, xử lý...

Vấn đề đáng bàn ở đây là vì sao những tin tức giả mạo, bịa đặt trắng trợn vẫn có thể xuất hiện kéo dài trên MXH, gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng chưa có cơ quan chức năng kịp thời đứng ra nhận trách nhiệm hoặc chủ động đấu tranh, cung cấp thông tin chính thống nhằm điều chỉnh, uốn nắn, định hướng dư luận ở những thời điểm nhạy cảm? Phải chăng vẫn còn vướng mắc nào đó về mặt cơ chế, hay là do chi phối bởi căn bệnh sợ trách nhiệm? Đây là vấn đề cần nhìn nhận thấu đáo để nghiêm khắc rút kinh nghiệm và có giải pháp khắc phục.

Trên tinh thần đó, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống, đẩy lùi vấn nạn tin giả, Việt Nam cần có những quy định chặt chẽ hơn trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông; hoàn thiện quy định, quy chế phát ngôn định hướng dư luận; quy rõ trách nhiệm đối với người đứng đầu và cơ quan chức năng trong việc quản lý, đấu tranh với vấn nạn tin giả. Đó là những vấn đề cần lưu tâm, ưu tiên thực hiện.

Một giải pháp quan trọng nữa là cần đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ quan quản lý truyền thông Việt Nam và các quốc gia trên thế giới trong việc phát hiện, khống chế, đẩy lùi tin giả; tăng cường phối hợp giữa các tổ chức nghiên cứu độc lập, tổ chức xác minh và nhà cung cấp MXH để đối phó với vấn nạn tin giả trong khu vực và trên thế giới; tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cấp, ngành, cơ quan, địa phương trong cả nước nhằm chủ động ngăn chặn, phát hiện, đấu tranh và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi tán phát, ủng hộ, cổ xúy tin giả nhằm những mục đích tiêu cực, phản động, vi phạm pháp luật.

Sưu tầm

Sao lại suy diễn, phát ngôn tùy tiện?

 

Nhận tin nhắn người bạn thân khoe được tặng giấy khen dịp tổng kết năm của cơ quan, Hải vừa làm việc vừa thỉnh thoảng ngó màn hình điện thoại vì tài khoản Facebook của bạn đang phát trực tiếp phần trao thưởng tại buổi lễ.

Hải rất ngạc nhiên và vui mừng vì vừa mới chuyển về cơ quan một năm mà Minh đã phấn đấu tốt, được khen thưởng. Sân khấu buổi tổng kết, trao thưởng của cơ quan Minh hoành tráng, nhiều phần thưởng lần lượt được trao đến tập thể, cá nhân xuất sắc. Nhưng chờ mãi chưa thấy đến lượt Minh lên nhận thưởng. Rồi người dẫn chương trình tuyên bố chuyển sang tiết mục văn nghệ và kết thúc chương trình, thông báo những cá nhân chưa được nhận thưởng sẽ ủy quyền cho các phòng, ban tổ chức trao sau.

Cuối tuần, Hải gặp Minh, chưa kịp chúc mừng đã thấy Minh bức xúc:

- Đúng là của cho không bằng cách cho. Được khen thưởng mà như nhận đồ ban phát. Thật chán cái cơ chế xin-cho này.

Hỏi ra mới biết, do chương trình buổi tổng kết năm có nhiều nội dung nên phần trao thưởng được rút gọn. Điều đáng nói là Minh vẫn hào hứng chờ đợi một buổi trao thưởng trang trọng ở phòng. Vì lý do bận nhiều việc cuối năm nên trưởng phòng gọi Minh vào phòng riêng trao trực tiếp, không có ai chứng kiến nên cũng chẳng có những tràng vỗ tay, lời chúc mừng của đồng nghiệp.

- Vì cuối năm bận rộn nên việc trao thưởng chưa được trang trọng, chu đáo. Nhưng cái quan trọng là sự nỗ lực của cậu đã được tổ chức ghi nhận-Hải lựa lời động viên.

- Chắc vì mấy tay làm công tác tổ chức ghét tôi nên mới đẻ ra cái kịch bản trao thưởng bất công như thế!-Minh bực dọc.

- Cậu nói thế là không đúng rồi. Cậu được khen thưởng không do một cá nhân quyết định, mà tập thể, ban lãnh đạo cân nhắc, lựa chọn, đề nghị, thẩm định. Cậu quy kết khen thưởng như ban phát làm người nghe hiểu sai mục đích, ý nghĩa của công tác thi đua-khen thưởng. Nguy hiểm hơn là cậu lại đổ lỗi cho cơ chế xin-cho. Việc nhỏ này chẳng liên quan gì đến cơ chế xin-cho cả. Cậu bức xúc việc cá nhân mà phát ngôn không đúng khiến người khác hiểu sai, đối tượng xấu biết chuyện sẽ lợi dụng chuyện này để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vậy là cậu đang mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có những phát ngôn đả kích, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đấy! Chưa kể mọi người thấy cậu có thái độ hằn học, nặng ích kỷ cá nhân sẽ dần xa lánh cậu...

Nghe Hải nói, Minh bỗng chột dạ. Đúng là trong lúc nóng giận, Minh đã suy diễn, hiểu sai và có những phát ngôn không đúng, thiếu chuẩn mực. Minh hạ giọng, nói chân thành:

- Cảm ơn cậu đã phân tích cho tôi thật thấu đáo. Tôi sẽ giải thích ngay với những người mà tôi đã tâm sự chuyện này, đồng thời cũng mạnh dạn góp ý với chỉ huy đơn vị về cách trao thưởng sao cho trang trọng, phù hợp. 

Sưu tầm

Cán bộ Quân đội “7 dám” là phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong giai đoạn hiện nay

 

Phương châm xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội “7 dám” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương (QUTƯ) là sự tiếp nối và cụ thể hóa những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong giai đoạn hiện nay. Đây là sự phát triển tư duy lý luận với nội hàm mới, yêu cầu mới, đòi hỏi ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ Quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Vì thế, mọi sự rêu rao, xuyên tạc về vấn đề này cần kiên quyết vạch trần, bác bỏ.

Sự xuyên tạc trơ trẽn

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, tại Hội nghị QUTƯ lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ có bài phát biểu quan trọng, mang tầm chiến lược, định hướng căn bản để QUTƯ, Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Quân đội thực hiện tốt mọi nhiệm vụ đề ra trong những năm tới, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ đã nhấn mạnh về công tác cán bộ và chú trọng xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”. Đây là sự đúc kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, thể hiện nét đặc sắc trong tư duy lý luận của người đứng đầu Đảng ta và QUTƯ về công tác cán bộ Quân đội trong giai đoạn cách mạng mới.

Thế nhưng, thời gian qua, trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã cố ý tung tin sai trái, xuyên tạc ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ. Chúng rêu rao rằng, “xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội "7 dám" chỉ là khẩu hiệu suông”; “làm gì có cán bộ nào thực hiện được "7 dám”, “cán bộ "7 dám" chỉ là lý luận hão huyền”. Chúng còn lợi dụng một số hạn chế trong công tác cán bộ và một vài cán bộ trong Quân đội vi phạm pháp luật đã bị xử lý hình sự rồi tung hỏa mù thật giả lẫn lộn, đánh đồng hiện tượng với bản chất, cố tình lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực nhằm gây mất lòng tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ nói riêng và đối với Đảng, Nhà nước ta nói chung.

Sự đúc kết sâu sắc về xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Cách đây 62 năm, trong “Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên” ngày 13-2-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm”. Người đã cổ vũ tinh thần đổi mới, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm trong phát triển sản xuất và xây dựng hợp tác xã. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải nêu gương cho quần chúng trong việc chủ động, kiên quyết khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, đường mòn lối cũ, chậm đổi mới.

Suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và khẳng định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do vậy, công tác cán bộ luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán xác định bảo vệ cán bộ là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Quán triệt tinh thần đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, trong đó yêu cầu “cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung”.

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 của Chính phủ “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” đã quy định: “Cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ”.

Để việc bảo vệ cán bộ bằng thể chế ngày càng thiết thực và hiệu quả, Đảng ta và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: Thể chế bảo vệ cán bộ không trái với các khuôn khổ, nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị, đặc biệt là Hiến pháp và Điều lệ Đảng; thể chế bảo vệ cán bộ phải xác định được các chủ thể tham gia với những quy định chi tiết về quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ; thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được các tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp; thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được cơ chế kiểm soát cán bộ và phương pháp thực hiện đúng đắn.

Nhờ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng đội ngũ cán bộ nên công tác cán bộ ở nước ta ngày càng đạt nhiều kết quả quan trọng. Quy trình thực hiện công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch. Điều đó minh chứng việc xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội “7 dám” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ là một chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược; tình cảm, niềm tin và yêu cầu cao của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đó cũng là kim chỉ nam, phương châm hành động trong xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tinh thần cán bộ Quân đội “7 dám” được khẳng định trong gian khó

Với tinh thần nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là người đứng đầu ở nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị chưa tạo sự lan tỏa sâu rộng... Những hạn chế này có nguyên nhân từ một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm...

Thời gian qua, một số cán bộ Quân đội mắc sai phạm, bị xử lý hình sự và kỷ luật chủ yếu do không chịu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về đạo đức, lối sống, làm tổn hại đến danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Một vài cá nhân đó sai phạm xuất phát từ lý do chủ quan, chứ tuyệt nhiên không phải do sai lầm từ chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ; đồng thời cũng không phải là hệ quả của chủ trương “xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội "7 dám" vì đó là khẩu hiệu suông” như các thế lực thù địch rêu rao.

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cho thấy đại đa số cán bộ, đảng viên trong Quân đội vẫn tuyệt đối trung thành và một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Điều đó được thể hiện sinh động trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19” đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên, các y sĩ, bác sĩ, chiến sĩ Quân đội tự nguyện gác lại việc riêng, tình nguyện xung phong đến tuyến đầu chống dịch, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, thậm chí hy sinh tính mạng để hết lòng hết sức cứu chữa bệnh nhân, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sự xuất hiện đúng lúc, kịp thời của đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp trong Quân đội ở những “điểm nóng” đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương... và nhiều tỉnh, thành phố trong năm 2021 là biểu hiện rõ nét của tinh thần cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tiên phong đương đầu, dám hành động vì lợi ích chung ngay cả đối với những việc khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ và trong những tình huống nóng bỏng nhất. Đó là bằng chứng về “lòng son dạ sắt” của những cán bộ hội tụ phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ thời bình.

Phương châm xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội “7 dám” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ là sự tiếp nối và cụ thể hóa những đặc trưng, truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Đây là sự phát triển tư duy lý luận với nội hàm mới, yêu cầu mới, đòi hỏi ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ Quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Khi cán bộ các cấp trong Quân đội hội tụ đầy đủ tâm-tầm-tài, uy tín và luôn thấm nhuần, thể hiện tinh thần “7 dám”, Quân đội ta sẽ có nền tảng vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có sức mạnh tổng hợp và sức chiến đấu cao, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống.

Sưu tầm

QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

Xuyên suốt lịch sử công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, có thể thấy việc phòng, chống và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng trong toàn Đảng luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm; luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng triển khai sâu rộng từ Trung ương tới địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, cùng với việc đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, vấn đề phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân cũng như những biểu hiện suy thoái đã trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền và trong mỗi cán bộ, đảng viên.

Thực tế, việc triển khai gắn thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” với Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””... đã góp phần ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đồng thời, việc thực hiện các Quy định về nêu gương như Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương”… gắn với đẩy mạnh phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong toàn Đảng, hệ thống chính trị cũng đã góp phần thiết thực vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kịp thời loại trừ những con sâu mọt ra khỏi Đảng.

Tuy nhiên, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, của lối sống “sủng vật chất”, bị cám dỗ bởi vật chất, trong Đảng vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên được trao trọng trách tại các cơ quan công quyền đã lợi dụng, lạm dụng quyền lực được ủy thác để mưu cầu lợi ích riêng cho mình và nhóm lợi ích. Những hành động vụ lợi của họ là biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa cá nhân, của sự suy thoái về đạo đức, lối sống; là minh chứng cho những biểu hiện kinh niên của căn bệnh cá nhân chủ nghĩa đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Những hành động vụ lợi của họ không màng đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, không màng đến uy tín và danh dự của Đảng, của người đảng viên cộng sản, không chỉ gây thất thoát lớn tiền của của Nhà nước và nhân dân, mà còn đe dọa vị thế tiền phong của một Đảng cầm quyền.

Vì thế, đón Xuân mới Giáp Thìn 2024 và đọc lại những trăn trở, tâm huyết, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng là việc làm vừa cần thiết vừa ý nghĩa. Từ những chỉ dẫn của Người, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ cần thấm nhuần sâu sắc hơn nữa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, mà còn cần phải quán triệt thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng và nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên.

Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm thì xây dựng Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt và phòng, đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân luôn là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục của Đảng cầm quyền. Vì thế, để Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và luôn gương mẫu về đạo đức, bảo đảm đường lối, chủ trương được chấp hành nghiêm chỉnh thì không thể sao nhãng việc phòng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân từ sớm, từ xa; không thể sao nhãng việc nhận diện và chỉ ra các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đấu tranh ngăn chặn và phòng ngừa. Đi liền với đó là mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng đều phải tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát nghiêm túc để kịp thời phát hiện những cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm; kịp thời đưa ra biện pháp sửa chữa nghiêm túc và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để Đảng trong sạch, vững mạnh.

Mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ phải nhận thức sâu sắc hơn nữa tác hại của chủ nghĩa cá nhân; hiểu rõ đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”, mà còn phải chú trọng thực hiện phòng, chống chủ nghĩa cá nhân đi liền với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu trên tinh thần nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức, tính kỷ luật, tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đặc biệt, một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân chính là mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng phải luôn thấu triệt: lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể, nên “nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể” để phát huy tính tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm. Đồng thời luôn đi sâu, đi sát, gần gũi với nhân dân; tôn trọng, lắng nghe nhân dân; tận tụy phụng sự nhân dân với tinh thần liêm, chính, chí công vô tư để tạo “hệ miễn dịch” với những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa./.

TS. TRẦN THỊ KIM NINH

Học viện Chính trị khu vực II