Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

TƯ TƯỞNG ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Nghiên cứu 60 bức điện, thư, bài nói chuyện của Bác với đồng bào các dân tộc thiểu số, có thể thấy bao trùm trong đó là tư tưởng của Người về đoàn kết các dân tộc.

Đoàn kết - nhiệm vụ số một của các dân tộc
Không lâu sau khi nước nhà giành được độc lập, ngày 3/12/1945, Bác chỉ đạo triệu tập Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam. Mở đầu bài phát biểu tại Hội nghị, Người nói: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các DTTS được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”.
Chỉ đạo 4 nhiệm vụ chính các DTTS phải thực hiện lúc bấy giờ, Người yêu cầu “Đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng” là nhiệm vụ số một.
Tiếp đó, trong thư gửi đồng bào các DTTS nhân Đại hội đại biểu các DTTS lần thứ I, Bác khẳng định: “Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc, nhờ sự hy sinh phấn đấu của tất cả đồng bào, mà chúng ta tranh được quyền tự do độc lập và xây nên nước Dân chủ Cộng hòa”.
Bác căn dặn: “Từ đây về sau, các dân tộc đã đoàn kết càng phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững vàng để xây dựng một nước Việt Nam mới. Khi khó nhọc chúng ta cùng gắng sức, lúc thái bình chúng ta cùng hưởng chung”.
Hơn 3 tháng sau, chiến tranh lan rộng khắp miền Nam. Ở địa bàn Tây Nguyên, quân đội Pháp tiến theo đường 14 đánh chiếm phần lớn Nam Tây Nguyên và đang tìm cách chọc thủng phòng tuyến Buôn Hồ để tiến ra Bắc Tây Nguyên. Trong bối cảnh chiến sự ác liệt như vậy, Trung ương và Bác Hồ vẫn quyết định tổ chức Đại hội các DTTS miền Nam tại Pleiku.
Ngày 19/4/1946, Bác viết thư gửi Đại hội. Trong thư, tư tưởng đoàn kết các dân tộc được Bác chỉ bảo hết sức giản dị nhưng sâu sắc: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.
Người viết tiếp: “Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”.
Cuối thư, Người khẳng định: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.
Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ đã viết rất nhiều thư gửi đồng bào. Trong thư gửi đồng bào Việt Bắc (gồm các tỉnh cũ: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên) nhân kỷ niệm ngày Cách mạng tháng Tám năm 1947, Bác khẳng định những thành tựu mà Khu I đạt được là nhờ sự đoàn kết. Người tiên đoán, nay mai, Khu I có thể trở thành mặt trận chính. Vì vậy, Người yêu cầu: “Đã đoàn kết phải đoàn kết thêm”.
Ngày 14/10/1950, nhân dịp chiến thắng trên chiến trường biên giới, Bác gửi thư cho đồng bào Cao - Bắc - Lạng. Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thắng lợi, Người khẳng định: “Vì quân, dân, chính của ta đoàn kết chặt chẽ”.
Ngày 27/11/1950, tỉnh Lào Cai được giải phóng. Bác gửi thư dặn đồng bào phải làm một số việc. Việc số một, Người chỉ đạo: “Phải thực hành đại đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau trong công việc”.
Cũng trong tháng 11/1950, gửi thư cho toàn thể phụ lão xã Vĩnh Đồng, Châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về nhiệm vụ trước mắt của đồng bào, quân đội, chính quyền, đoàn thể, Bác viết: “Toàn dân đoàn kết chặt chẽ”.
Ngày 12/12/1953, lời dặn đầu tiên trong mấy lời dặn đồng bào và cán bộ tỉnh Lai Châu cần ghi nhớ và làm cho đúng, Bác viết: “Đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau”.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, chiểu theo Nghị quyết của Quốc hội về chính sách lập khu tự trị của các dân tộc ở những vùng có điều kiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 229-SL ngày 29 tháng 4 năm 1955 thành lập khu Tự trị Thái - Mèo, với mục đích tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc ở Tây Bắc tiến bộ mau chóng về mọi mặt.
Trong thư gửi đồng bào (ngày 7/5/1955), Bác nhấn mạnh: “Khu tự trị Thái - Mèo là một bộ phận khăng khít trong đại gia đình Việt Nam, cùng với các dân tộc anh em khác đoàn kết thành một khối như ruột thịt. Nó sẽ luôn luôn được sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng và của Chính phủ và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em khác”.
Người nêu rõ: “Đồng bào Tây Bắc có cái vinh dự đặc biệt: là thành lập khu tự trị đầu tiên. Vì vậy, đồng bào Tây Bắc cũng có cái nhiệm vụ đặc biệt: là phải cố gắng làm gương mẫu cho những khu tự trị khác sẽ dần dần thành lập sau này.
Để xứng đáng với vinh dự to lớn ấy, và để làm trọn nhiệm vụ cao quý ấy, đồng bào Khu tự trị Thái - Mèo cần: Phải đoàn kết chặt chẽ giữa tất cả các dân tộc, phải thương yêu giúp đỡ nhau như anh em”.
Nhân kỷ niệm một năm thành lập Khu tự trị Việt Bắc, ngày 10/8/1956, Bác gửi thư cho đồng bào. Người chỉ đạo: “Đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, mọi người thương yêu giúp đỡ nhau như ruột thịt” và “Đoàn kết chặt chẽ với đồng bào cả nước”.
Tại sao phải đoàn kết dân tộc
Nhấn mạnh tầm quan trọng số một của vấn đề đoàn kết dân tộc, trong các điện, thư, bài nói chuyện, Bác lý giải tại sao phải đoàn kết các dân tộc.
Nói chuyện với nhân dân tỉnh Yên Bái (ngày 25/9/1958), Bác nêu rõ: “Trước kia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc, xúi giục dân tộc này hiềm khích với dân tộc khác để chúng áp bức bóc lột chúng ta. Nay chúng ta phải đoàn kết lại”.
Bác lấy ví dụ, tỉnh Yên Bái có 10 dân tộc anh em như 10 ngón tay. “Nếu xòe 10 ngón tay mà bẻ từng ngón, như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không? Nếu có kẻ nào chia rẽ thì phải làm thế nào? Thì phải đập vào đầu chúng nó. Đó là điểm thứ nhất tại sao phải đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc”.
Nói chuyện với Đoàn đại biểu các dân tộc ít người về dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 ở Thủ đô (ngày 2/5/1959), Bác ví von: “Như muốn nhấc một hòn đá nặng, một người, hai người không thể làm được, nhưng 20 - 30 người xúm xít nhau lại thì nhất định sẽ nhấc được hòn đá”.
Ngày 8/5/1959, Bác phân tích với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu, Sơn La: “Bây giờ chúng ta, tất cả các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mèo, Mán, Xá, Puộc,… đều là anh em ruột thịt một nhà chứ không phải Kinh ăn hiếp Thái, Thái ăn hiếp Xá, Puộc như trước nữa. Cũng ví như một bó que, đây là đồng bào Kinh, Thái, Mèo, Xá, Puộc, Mán, Mường. Từng cái một có thể bẻ gãy. Bây giờ đoàn kết lại thế này có ai bẻ gãy được không? Chẳng những không ai bẻ gãy được, mà ai bẻ chúng ta đánh vào cái đầu nó. Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này”.
Theo Bác: “Đoàn kết là sức mạnh; có sức mạnh đoàn kết thì làm việc gì cũng thành”.
Làm thế nào để đoàn kết dân tộc
Về cách thức đoàn kết các dân tộc, trong Thư gửi Đại hội dân tộc thiểu số miền Nam lần thứ I, Bác viết: “Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”.
Nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái, Bác nhấn mạnh: “Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà. Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người cần cố gắng làm ruộng. Hai bên phải giúp đỡ lẫn nhau. Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dân tộc ít người không nên ngồi chờ giúp. Một bên ra sức giúp, một bên ra sức làm. Giúp nhau thì việc gì cũng nhất định làm được”.
Trong hai ngày 23 - 24/9/1958, Bác cùng Đoàn cán bộ của Chính phủ đến thăm tỉnh Lào Cai. Nói chuyện với đại biểu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, Bác nêu rõ: “Đặc biệt, đối với đồng bào những dân tộc rất ít người như đồng bào Lô Lô thì các dân tộc đông người hơn càng phải giúp đỡ về mọi mặt”.
Tư tưởng này được Bác nhắc lại khi nói chuyện với cán bộ và học sinh Trường Sư phạm miền núi Nghệ An (ngày 9/12/1961): “Dân tộc nào đông hơn, tiến bộ hơn thì phải giúp đỡ các dân tộc khác để đều tiến bộ như nhau, đều đoàn kết như anh em một nhà”.
Người nhắc nhở: “Cán bộ địa phương, dân tộc, phải cố gắng học tập, đoàn kết chặt chẽ với cán bộ xuôi lên công tác, tránh tư tưởng dân tộc hẹp hòi. Tư tưởng dân tộc hẹp hòi là do bọn đế quốc phong kiến để lại. Bất kỳ dân tộc nào cũng đều là anh em một nhà, chia rẽ dân tộc là không tốt”.
Cách thức đoàn kết giữa các dân tộc được Bác chỉ dẫn trong bài nói chuyện của Người với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng (ngày 21/2/1961), dịp kỷ niệm 20 năm ngày Bác đặt chân về Cao Bằng sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bác nói: “Đồng bào các dân tộc, không phân biệt lớn, nhỏ, phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà”.
Tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi (ngày 8/10/1961), Bác nêu: “Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số” và “Muốn làm tốt công tác này, cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải gương mẫu”.
Tại Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi (ngày 19/3/1964), Bác nhắn nhủ: “Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau”.
Trong thư gửi Đại hội Hợp tác xã và Đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và trung du (ngày 11/4/1964), Bác yêu cầu: “Các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ muôn người như một, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau”.
“Đồng bào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi. Và đồng bào miền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi. Đó là hai phía, đó là chính sách dân tộc của Đảng” - Bác nhấn mạnh tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi (ngày 31/8/1963).
Tiếp tục xây dựng, củng cố đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Bác khẳng định tại Hội nghị cán bộ miền núi (ngày 01/9/1962): “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”.
Dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.
Để tiếp tục xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong các dân tộc thiểu số, cần quán triệt và thực hiện quan điểm nhất quán của Đảng: “Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số…” như Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới và Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới đã chỉ ra.
Trong thời kỳ cách mạng, đồng bào các DTTS đã đoàn kết, cần cù, dũng cảm lập nên nhiều công trạng vẻ vang. Ngày nay, đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu giữa thế kỷ XXI, trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.
Sự nghiệp vẻ vang đó đòi hỏi đồng bào các dân tộc thiểu số luôn ghi nhớ và làm theo tư tưởng đoàn kết giữa các dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để góp phần cùng nhân dân cả nước đạt được các mục tiêu: “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”./.
St

Mỗi doanh nhân phải luôn đề cao đạo đức, văn hoá kinh doanh


Ngày 10.52024, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương, Đảng đoàn Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10.10.2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa cho biết, những năm qua, đội ngũ doanh nhân Việt Nam không ngừng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, kế thừa truyền thống yêu nước, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, tinh thần cống hiến cho dân tộc.

Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp quy mô nhỏ, sức cạnh tranh còn thấp, hiệu quả hoạt động năng lực kinh doanh, kỹ năng quản lý còn hạn chế.

Sự phát triển của đội ngũ doanh nhân chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, đặc biệt là đạo đức, văn hóa kinh doanh, ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm xã hội, tinh thần dân tộc của một bộ phận doanh nhân chưa cao, thậm chí vi phạm pháp luật.

“Có tình trạng doanh nghiệp, doanh nhân cấu kết với cán bộ các cấp, nhất là cán bộ có chức có quyền thực hiện các hành vi tham nhũng, tiêu cực, chiếm đoạt tài sản, gây thất thoát, lãng phí ngân sách, tài sản, nguồn lực của Nhà nước và của nhân dân và thậm chí là tạo ra một môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh vẫn còn diễn ra hết sức phức tạp” – ông Nguyễn Trọng Nghĩa phân tích và cho rằng “đây là điều rất đau xót nhưng chúng ta phải kiên quyết khắc phục”.

Một số vụ án vụ việc tham nhũng tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, còn tồn đọng kéo dài xảy ra trong những lĩnh vực chuyên môn sâu khép kín, có tính hệ thống, có tổ chức cả trong khu vực Nhà nước và khu vực ngoài Nhà nước gây thiệt hại rất lớn về tài sản và ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế khiến dư luận nhân dân rất bức xúc.

Có thể đề cập đến một số vụ án xảy ra tại các tập đoàn Vạn Thịnh Phát, vụ án ở Công ty Cổ phần Xuyên Việt Oil, Tập đoàn Phúc Sơn.

Nhắc tới các mục tiêu và tầm nhìn mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, theo Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải xây dựng và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ông đề nghị chú trọng hoàn thiện chính sách, pháp luật, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, an toàn, bình đẳng cho doanh nhân, doanh nghiệp phát triển và cống hiến; đề nghị mỗi doanh nhân phải luôn đề cao đạo đức, văn hoá kinh doanh, tinh thần thượng tôn pháp luật, tinh thần vì cộng đồng, tinh thần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước; ngoại giao kinh tế, đối ngoại nhân dân, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hoá Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam ra thế giới./.

 

 

HỌC BÁC VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC KHOA HỌC, HIỆU QUẢ

 Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người đã để lại cho dân tộc và nhân loại. Trên cương vị Người đứng đầu Đảng và Nhà nước, lãnh tụ tối cao của cả dân tộc, Hồ Chí Minh đã có một phong cách làm việc khoa học, mẫu mực để tiến hành công tác và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng.

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước nguồn gốc nông dân, là con trai của cụ Phó bảng, ngay từ khi còn nhỏ, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận nền giáo dục nho học. Điều đó đã sớm định hình trong con Người Hồ Chí Minh sự nền nếp, ngăn nắp, cần mẫn, nghiêm túc trong suy nghĩ và hành động. Những năm tháng tìm đường cứu nước ở nước ngoài, lao động kiếm sống, hòa mình trong phong trào công nhân ở những nước công nghiệp phương Tây đã tạo ra và hình thành ở Người phong cách làm việc khoa học, biết quý trọng thời gian và sắp xếp công việc hằng ngày theo một kế hoạch cụ thể, hợp lý để hoàn thành công việc có hiệu quả cao nhất.
Trở thành Người đứng đầu Đảng và Nhà nước, phong cách làm việc của Hồ Chí Minh thể hiện đậm nét và sâu sắc trong cách giải quyết công việc hằng ngày, trong muôn vàn mối quan hệ với cán bộ, đảng viên, với đồng bào, đồng chí. Trước hết, đó là tác phong làm việc đi sâu, đi sát, điều tra nghiên cứu, nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là chìa khoá phát triển công việc và giúp cho cán bộ tiến tới”(1). Điều đó có nghĩa là, khi ra quyết định công tác, hay khi định ra cách tổ chức thực hiện, cán bộ không được ngồi trên bàn giấy, nghe người dân báo cáo rồi vẽ vời, do chủ quan tưởng tượng mà không đi sâu sát thực tế.
Phong cách làm việc khoa học đòi hỏi người cán bộ làm việc gì cũng phải có kế hoạch và mục đích. Theo Hồ Chí Minh, để vạch kế hoạch một cách thực sự khoa học, người cán bộ phải “phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”(2). Tính khoa học phải được thể hiện từ lúc ra quyết định, tới việc tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định.
Để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác, Hồ Chí Minh dạy phải biết lựa chọn cán bộ và sử dụng cán bộ một cách chí công vô tư, sâu sát với thực tiễn. Khi giao công tác cho cán bộ thì phải làm cho họ an tâm công tác, vui thú công tác. Quá trình người cán bộ thực hiện nhiệm vụ thì phải tổ chức kiểm tra, kiểm soát thường xuyên từ trên xuống và từ dưới lên một cách có hệ thống. Có như vậy mới đánh giá được hoạt động của cán bộ, đảng viên và còn đánh giá được những chủ trương, chính sách đề ra có đúng hay không?
Một trong những nét nổi bật trong phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là đúng giờ, tiết kiệm thời gian tối đa và phân bổ thời gian để giải quyết công việc một cách hợp lý. Người vừa làm việc vừa tự học hỏi để trau dồi và nâng cao kiến thức đáp ứng với những yêu cầu mới trong công việc hàng ngày đặt ra. Người thường nhắc nhở cán bộ: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(3).
Từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những chuẩn mực về phong cách làm việc, đây là những bài học thực tiễn sâu sắc đối với mỗi con người Việt Nam, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có một phong cách làm việc khoa học, hiện đại và hiệu quả để góp phần đưa đất nước phát triển./.
St

BỘ CHÍNH TRỊ BAN HÀNH QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN GIAI ĐOẠN MỚI

 Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW (ngày 9-5-2024) Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới (Quy định số 144). Trân trọng giới thiệu toàn văn Quy định số 144 như sau:

Điều 1. Yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc
1. Suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
2. Tôn trọng, tin tưởng, gần gũi và gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh.
3. Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.
Điều 2. Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập
1. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng và các nguyên tắc xây dựng Đảng. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.
3. Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân.
4. Chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng; năng lực công tác, làm việc trong môi trường quốc tế. Tích cực tham gia quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng theo đường lối đối ngoại của Đảng phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng vì hòa bình, ổn định, tiến bộ và phát triển.
Điều 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
1. Tâm huyết, trách nhiệm, dấn thân, nỗ lực hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, có ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
2. Quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, đúng quy định; tiết kiệm và hiệu quả; không xa hoa, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực vật chất khác của tập thể và cá nhân.
3. Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
4. Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật; thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh.
5. Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng. Thực hiện văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín.
Điều 4. Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm
1. Luôn luôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, cơ quan, tổ chức và trong nhân dân, trước hết là ở chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác, khu dân cư; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.
2. Nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương, nhất là kỷ luật phát ngôn. Nói và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành các quy định của cơ quan, đơn vị; phục tùng sự phân công của Đảng, của tổ chức.
3. Sống có nghĩa tình, chân thành, thương yêu, đối xử, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp và mọi người theo lẽ phải, phù hợp với đạo lý dân tộc, cùng nhau tiến bộ.
4. Nêu cao trách nhiệm trong công tác và sinh hoạt; sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi hành vi né tránh, đùn đẩy, hoặc có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm. Làm tốt trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ đối với gia đình, cộng đồng, xã hội.
Điều 5. Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời
1. Gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp ủy gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng.
2. Tích cực vận động, thuyết phục gia đình, người thân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
3. Khiêm tốn, cầu thị, giản dị; không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác. Nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm.
Điều 6. Tổ chức thực hiện
1. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị. Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần gương mẫu, thực hiện nghiêm Quy định này.
2. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt Quy định; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tổ chức thực hiện; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định (qua Ban Tuyên giáo Trung ương).
Quy định này có hiệu lực từ ngày ký và phổ biến đến chi bộ để thực hiện./.
ST

Nhận diện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong đảng viên nghỉ hưu

 Dù là người có chức, có quyền hay chỉ là nhân viên “thường”, thì “đến tuổi” cũng phải về hưu và theo quy định, họ chuyển sinh hoạt Đảng từ nơi làm việc về địa phương, làm nhiệm vụ của người đảng viên ở nơi họ cư trú. Cũng từ đây, nhiều diễn biến tư tưởng nảy sinh, nhiều đảng viên đã đi “chệch” hướng so với thời gian còn tại chức.

Một số người đã cầm sổ hưu nhưng vẫn muốn chi phối, gây áp lực với người kế nhiệm để được cung phụng, chia sẻ quyền lợi. Họ cho rằng, trước đây mình đã “tạo điều kiện”, “nâng đỡ”, “cất nhắc” đội ngũ lãnh đạo của đơn vị hiện nay nên phải được “đền đáp”. Trong thực tế, đã có người nghỉ hưu rồi vẫn không chịu trả phòng làm việc, ngày ngày vẫn đến cơ quan nhòm ngó, tham gia ý kiến, “mượn” tài sản, can dự vào nhiều quyết sách, gây phiền nhiễu, lãng phí cho đơn vị.

Lại có đảng viên khi còn tại chức thì phát ngôn chỉn chu thận trọng, nhưng khi nghỉ hưu thì lên mạng xã hội đăng bài hoặc bình luận soi mói, chê bai chỗ này chỗ khác, phủ nhận thành quả của thế hệ sau, nghi ngờ năng lực lớp trẻ, đề cao cá nhân mình là đúng, là nhất.

Lại có đảng viên nghỉ hưu lại muốn “phủi” hoàn toàn trách nhiệm bằng cách tự ý đứng ra ngoài hàng ngũ của Đảng. Họ “ém nhẹm” hồ sơ đảng viên, không chuyển sinh hoạt Đảng về nơi cư trú. Nếu ai đó thắc mắc thì họ bao biện rằng “đã chuyển sinh hoạt về quê”. Có người lấy lý do đi làm ăn xa, sức khỏe yếu để xin nghỉ sinh hoạt. Tóm lại, họ không còn mặn mà với tổ chức Đảng mà họ từng phấn đấu và ngưỡng vọng. Vì sao như vậy? Vì lúc này hai chữ đảng viên không còn tác dụng để họ “làm quan, phát tài”. Họ chỉ còn thấy phiền toái khi phải tham gia sinh hoạt, phải đóng đảng phí và thực hiện nhiệm vụ nơi cư trú. Việc đảng viên “nhạt” Đảng là hiện tượng tuy chưa phổ biến và chưa có con số thống kê nhưng cũng rất đáng lưu tâm...

Đảng ta đã nhận diện rõ hiện tượng này không chỉ với đảng viên nghỉ hưu. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đó là: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nói đến “căn bệnh” thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm và hiện tượng “nhạt Đảng”. Nói cách khác, đó là biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không giữ được bản chất cách mạng của người đảng viên.  

Ngoài những người tự rời Đảng, còn có một bộ phận đảng viên nghỉ hưu vẫn tham gia sinh hoạt, đóng đảng phí đầy đủ nhưng xác định “mũ ni che tai”, “thứ nhất ngồi lì, thứ nhì đồng ý”, họ truyền tai nhau quan điểm: Về hưu rồi thì không nói, không làm gì cả, giữ cái “mác” cho “oai” lý lịch và con cháu sau này dễ được kết nạp hoặc cất nhắc.

Xác định như thế nên không khí cuộc họp chi bộ tẻ nhạt và hình thức. Khi cần lấy biểu quyết, hầu hết giơ tay nhất trí. Các buổi học tập nghị quyết họ đến “đánh trống ghi tên”, làm việc riêng và ra về trước. Việc gì cần kêu gọi tinh thần đảng viên, họ đóng góp ở mức thấp nhất. Họ mờ nhạt trong đội ngũ và trong mắt quần chúng dù vẫn có tên trong danh sách đảng viên. Họ đã quên lời thề năm xưa “suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng” và “luôn gắn bó mật thiết với nhân dân”.

Nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện kể trên đã được phân tích trong các tài liệu của Đảng. Tuy nhiên, một nguyên nhân, theo tôi, ít được nhắc tới, đó là việc kết nạp đảng viên ở một số đơn vị, địa phương còn dễ dãi. Để đạt chỉ tiêu phát triển đảng viên, còn có hiện tượng tổ chức, đơn vị “vận động” quần chúng vào Đảng, cả khi người đó chưa mong muốn và chưa hiểu rõ về Đảng. Nghi lễ của nhiều buổi kết nạp Đảng kém trang trọng. Có quần chúng mặc váy ngắn, áo không cổ trong lễ kết nạp mình; đa số cầm giấy đọc lời tuyên thệ chứ không học thuộc lòng như trước kia. Trong thời gian dự bị, họ ít được giao nhiệm vụ thử thách, việc nhận xét chuyển Đảng chính thức đôi khi còn cả nể, “dĩ hòa vi quý”. “Đầu vào” như thế là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong đội ngũ đảng viên.

Thiết nghĩ, mỗi đảng viên khi đứng vào hàng ngũ của Đảng phải được xem xét nghiêm khắc từ bước đầu tiên đến khi họ nghỉ hưu. Tổ chức đảng nơi đảng viên về sinh hoạt cần có mối liên hệ với nơi đảng viên làm việc để chủ động đón nhận và giao nhiệm vụ. Tổ chức đảng cấp xã/phường cần tổ chức rà soát, đối chiếu để nắm lực lượng đảng viên về hưu. Tổ chức đảng cấp trên cần ban hành bộ tiêu chí đánh giá, chấm điểm, xếp loại đảng viên cho phù hợp với vị trí, vai trò, nhiệm vụ của đảng viên khi đã nghỉ hưu, tránh tình trạng dùng chung mẫu với đảng viên đương chức. Tổ chức đảng cấp trên cũng cần quy định nội dung các cuộc họp chi bộ sao cho thiết thực, tránh qua loa, hình thức.

Nhận diện thực tế để đảng viên phải/được phát huy khả năng, vai trò cả khi họ nghỉ hưu là việc cần làm. Bởi đảng viên nghỉ hưu chính là “tấm gương” gần nhất để quần chúng soi vào./.

 

 

BIỂU TƯỢNG CỦA Ý CHÍ THỐNG NHẤT TỔ QUỐC

 Trong 16 năm xây dựng và phát triển (1959 - 1975), hệ thống giao thông huyết mạch Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, tuyến vận tải quân sự, hậu cần chiến lược đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam, góp phần quyết định vào thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đi vào lịch sử dân tộc như một huyền thoại, biểu tượng của ý chí thống nhất Tổ quốc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Sáng tạo độc đáo trong chỉ đạo của Đảng
Sau Hội nghị Gènève, nhằm đáp ứng yêu cầu khẩn thiết vận chuyển chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương mở tuyến giao liên, vận tải quân sự dọc theo dãy Trường Sơn. Thực hiện chủ trương đó, ngày 19.5.1959, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chính thức giao “Đoàn công tác quân sự đặc biệt" (tiền thân của Đoàn 559) thực hiện nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón cán bộ, bộ đội, chuyển công văn, tài liệu từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc.
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự, Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên khẳng định, đây là một quyết định lịch sử, thể hiện tư duy sáng tạo chiến lược của Đảng, nhãn quan sắc bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn thể dân tộc ta. Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh ra đời đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, phù hợp nguyện vọng chân chính của nhân dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc.
Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên phân tích, trước âm mưu ngăn chặn, cắt đứt con đường chi viện từ hậu phương chiến lược miền Bắc vào các chiến trường hòng cô lập cách mạng miền Nam của đế quốc Mỹ, các lực lượng trên tuyến vận tải Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh với quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến", ngày càng vươn sâu đến các chiến trường, không chỉ vận chuyển người, hàng hóa, mà còn mang cả tâm tư, tình cảm của nhân dân miền Bắc đến với đồng bào miền Nam ruột thịt.
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh còn là minh chứng cho mối quan hệ, liên minh đoàn kết chiến đấu bền chặt của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Quân và dân ba nước đã nêu cao tinh thần quốc tế cao cả, phối hợp chiến đấu chống kẻ thù chung và chung sức đồng lòng xây dựng, bảo vệ vững chắc tuyến chi viện chiến lược. Nhờ đó, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh không ngừng được củng cố và mở rộng, vươn sâu đến các chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia, góp phần tạo thế và lực giúp giành thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Hoàn thành nhiệm vụ chi viện chiến lược
Với tổng chiều dài gần 20.000km, gồm hệ thống trục dọc men theo Đông - Tây Trường Sơn và hệ thống trục ngang nối với các địa bàn chiến lược, hệ thống đường vòng tránh, đường vượt khẩu, đường sông, đường ống dẫn xăng dầu, đường thông tin liên lạc, cùng hệ thống cung trạm, binh trạm, kho tàng, bến bãi, trạm bảo dưỡng sửa chữa xe máy..., được xây dựng ngày càng hoàn chỉnh, tạo nên hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, liên hoàn vững chắc, bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chi viện chiến lược. Trên cơ sở đó, tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã phát huy vai trò to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện của hậu phương miền Bắc cho cách mạng miền Nam, Lào và Campuchia.
Phó Chủ tịch Thường trực Hội truyền thống Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cho biết, từ năm 1959 - 1975, tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển 1.349.060 tấn vật chất và bảo đảm cho hơn hai triệu lượt người vào chiến trường hoặc ra miền Bắc, vận chuyển cơ động 10 lượt sư đoàn, ba quân đoàn, hộ tống 90 đoàn binh khí kỹ thuật vào các chiến trường; đáp ứng kịp thời nhu cầu về lực lượng, vũ khí và vật chất của các chiến trường trong các giai đoạn chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh còn là nơi “đứng chân”, bàn đạp xuất kích, vùng hậu phương trực tiếp của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng kỹ thuật để tiến công ra các hướng chiến dịch, chiến lược.
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh không chỉ là tuyến vận tải chi viện mà còn là chiến trường tổng hợp có tầm chiến lược quan trọng, thu hút một bộ phận lớn sinh lực địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác hoạt động và phát triển. Trên mặt trận Trường Sơn, các lực lượng, các quân, binh chủng, nòng cốt là bộ đội Trường Sơn đã trực tiếp tổ chức thế trận đánh địch tại chỗ. Cuộc chiến đấu chống ngăn chặn của bộ đội Trường Sơn diễn ra ác liệt, kéo dài, có quy mô và cường độ lớn. Bên cạnh đó, bộ đội Trường Sơn còn phối hợp với bộ đội chủ lực trên các chiến trường thực hành nhiều chiến dịch lớn làm thất bại kế hoạch “ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc" của đế quốc Mỹ, giữ vững tuyến vận tải huyết mạch, đáp ứng yêu cầu chi viện ngày càng tăng của tiền tuyến miền Nam, chiến trường Lào, Campuchia.
Tầm vóc và ý nghĩa to lớn của tuyến đường mang tên Hồ Chí Minh được ví như một huyền thoại, một kỳ tích về sức mạnh chiến đấu, chiến thắng, một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; như Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: “Con đường Trường Sơn, con đường Hồ Chí Minh là một công trình vĩ đại, nói lên ý chí nghị lực, tinh thần dũng cảm và sáng tạo phi thường của dân tộc Việt Nam, quyết đem sức người sức của của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn; là một trong những nhân tố chiến lược có ý nghĩa quyết định, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn"./.
St