Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 22/5
Phát triển kinh tế thị trường theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
Cần tập trung thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hội lớn đã được thông qua tại các kì đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng nhất là Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30-1-2008 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương khóa X “Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp tốt với việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường nhằm phát triển một cách bền vững. Thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong các dự án lớn, quy hoạch phát triển các vùng, các ngành kinh tế, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm, các địa bàn chiến lược, các ngành quan trọng. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp cơ bản tạo nền tảng cho công nghiệp quốc phòng, an ninh; một số ngành, lĩnh vực sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng, các mặt hàng chiến lược, thiết yếu để giảm dần nhập khẩu.
Song song với phát triển kinh tế cần coi trọng việc bảo vệ an ninh kinh tế vì đây là lĩnh vực mà chúng ta còn rất nhiều thiếu sót.HT
NÂNG CAO KHẢ NĂNG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI - TÌM KIẾM CỨU NẠN CỦA QUÂN ĐỘI
Do đặc điểm địa lý, khí hậu phức tạp, nên Việt Nam thường xuyên phải gánh chịu những thiệt hại do thiên tai. Để hạn chế thấp nhất những hậu quả về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam xác định công tác phòng, chống thiên tai - tìm kiếm, cứu nạn (PCTT-TKCN) là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, bằng tinh thần tích cực, chủ động, trách nhiệm cao, những năm qua, các đơn vị trong toàn quân đã lập nhiều chiến công xuất sắc trên mặt trận đầy cam go này.
Xây dựng và củng cố vững chắc trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
Nội dung cốt lõi trong việc xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng chính là xác lập trên thực tế ở Việt Nam vai trò thống soái nền tảng tư tưởng của Đảng và xã hội ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là “chất miễn dịch” trước những tác động phức tạp, đa dạng nhiều chiều của các thế lực thù địch.
Việc xây dựng và củng cố vững chắc trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa là công việc cần được làm thường xuyên, liên tục và có chiến lược lâu dài. Tăng cường hiệu quả công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu lý luận của Đảng đối với cán bộ đảng viên, các tầng lớp xã hội đặc biệt là đối với trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên; trong đó phải đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Phản kích một cách kịp thời, có hiệu quả các quan điểm tư tưởng sai trái, các luận điệu tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, của chế độ. Đầu tư thích đáng cho công tác tư tưởng hoạt động có hiệu quả. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng chuyên sâu có trình độ lý luận, hiểu biết rộng và thường xuyên được cập nhật với tình hình lý luận chính trị thế giới và trong nước.
Tiếp tục làm tốt những nhiệm vụ tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động "diễn biến hoà bình" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá theo tinh thần của Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư ngày 17/4/2009 về “tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa”; Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.HT
T
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CẢNH BÁO BỊ CHIẾM ĐOẠT THÔNG TIN CÁ NHÂN KHI NHỜ LÀM HỘ CHIẾU NHANH TRÊN MẠNG!
Nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh.
Xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là những vấn đề cốt lõi, điều kiện rất quan trọng bảo đảm phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ đạt kết quả.
Để làm tốt công tác này cần thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng như: Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 2/2/2008 Hội nghị lần thứ VI, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X: "Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên"; Nghị quyết số 12 của Hội nghị TW4, khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII, “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ”, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Quan tâm củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, đặc biệt ở các địa bàn, lĩnh vực trọng yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nội địa. Thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng kết hợp với việc đẩy mạnh công tác bảo vệ Đảng. Chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, trước hết là nội bộ Đảng, cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang… tăng cường các biện pháp phòng ngừa và chống địch móc nối, cài cắm cơ sở nội gián, tác động chuyển hóa từ trong nội bộ.
Trọng tâm trong giai đoạn hiện nay là phòng ngừa, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng. Khắc phục có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, khôi phục niềm tin của quần chúng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Phát hiệp sớm, kịp thời những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội trong nội bộ Đảng để đấu tranh, xử lý.HT
Giải pháp đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phòng, chống “diến biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ
Đây
là giải pháp rất quan trọng nhằm nâng cao hiểu biết của xã hội về âm mưu, hoạt
động “diễn biến hòa bình”,
bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với Việt Nam qua đó nâng cao cảnh
giác, ý thức trách nhiệm người dân đối với phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo
loạn lật đổ. Theo đó, phải đổi mới cả nội dung, hình thức tuyên truyền theo hướng
chủ động, kịp thời, nhạy bén, sâu sắc, toàn diện và hiệu quả, không ngừng nâng
cao tính chiến đấu trong đấu tranh bác bỏ các thông tin bịa đặt, quan điểm, tư
tưởng sai trái, thù địch. Nội dung tuyên truyền tập trung giúp cho toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành hiểu rõ âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và nguy
cơ “tự diễn Biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, khắc phục những khuynh hướng
sai lầm, chủ quan, coi nhẹ công tác đấu tranh phòng, chống. Tiếp tục thực hiện
tốt công tác tuyên truyền phục vụ thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII, “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng;
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những
biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ”, Kết luận số 21-KL/TW
ngày 25/10/2021, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về
đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn,
đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị
về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tổ chức thực hiện tốt Luật giáo dục quốc
phòng và an ninh nhằm thực hiện đúng quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, an ninh nhân dân.HT
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TẤN CÔNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI - CÁI NHÌN MÉO MÓ!
NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Việt
Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc; có 54 thành phần dân tộc khác nhau,
xét về lịch sử định cư có những dân tộc bản địa đã cư trú hàng ngàn năm, có dân
tộc di cư đến Việt Nam cách đây mấy trăm năm. Ở Việt Nam, quá trình dân tộc
(tộc người) cũng tuân theo quy luật khách quan, đan xen của cả hai xu hướng
liên kết và phân tách; song, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, xu hướng chủ
đạo là liên kết với đặc trưng nổi bật là cố kết và hòa hợp. Quá trình đồng hóa
trong nội bộ dân tộc diễn ra mang tính tự nhiên là chủ yếu. Tuy nguồn gốc, lịch
sử, nhân chủng, ngữ hệ, bản sắc văn hóa các dân tộc có sự khác nhau nhưng nhìn
chung, các dân tộc ở Việt Nam có sự tương đồng về văn hóa của các dân tộc khu
vực Đông Nam Á, gắn với sản xuất nông nghiệp trồng lúa và chăn nuôi gia súc,
gia cầm. Điều đặc biệt nổi trội là trong quan hệ dân tộc, các dân tộc đều đề
cao tính cộng đồng, sự hòa đồng. Ở Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử,
không có chiến tranh giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo. Trái lại, các cuộc
chiến tranh chủ yếu là chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước. Trong các
cuộc chiến tranh đó, cũng như trong cuộc sống hòa bình, các dân tộc ở Việt Nam
đều đoàn kết chặt chẽ, gắn bó với nhau cùng chống kẻ thù chung và chống thiên
tai khắc nghiệt. Bởi vậy, trong tâm lý, ý thức dân tộc có sự hòa quyện, hài hòa
giữa tâm lý, ý thức tộc người và tâm lý, ý thức quốc gia, dân tộc, trong đó tâm
lý, ý thức quốc gia dân tộc giữ vai trò chi phối. Chính những yếu tố như hoàn
cảnh tự nhiên, kinh tế xã hội và đời sống, sự hình thành sớm lãnh thổ quốc gia
thống nhất, vai trò quản lý của nhà nước phong kiến tập trung trong giải quyết
các mối quan hệ dân tộc, cùng sự gắn bó đan xen lợi ích, vận mệnh các dân tộc
trong lịch sử, đã tác động đến sự hình thành ý thức giữ gìn dân tộc nổi trội đó
của các dân tộc ở Việt Nam. Cũng vì lẽ đó, ở Việt Nam xu hướng phân tách của
quá trình dân tộc không nổi trội và trong xu hướng đó, chủ yếu là sự di cư của
các tộc người đến các địa bàn thuận lợi hơn cho cuộc sống mưu sinh, còn các
khuynh hướng ly khai nhìn chung là hết sức mờ nhạt. Mặt khác, với sự cư trú
trên cùng địa bàn nên các dân tộc phải nương tựa vào nhau, đồng cam, cộng khổ,
chia sẻ ngọt bùi, tương trợ lẫn nhau. Truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương
thân, tương ái của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là giá trị tốt đẹp được kết
tinh và bồi đắp trong lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam, là điều kiện hết sức thuận lợi để kế thừa, phát huy trong xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc.
Đoàn kết dân tộc luôn là động lực to lớn quyết định đến
thành công của sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ xưa đến
nay. Với một đất nước đa dân tộc và nhiều dân tộc thiểu số như Việt Nam, thì sự
cố kết cộng đồng các dân tộc, đoàn kết dân tộc luôn luôn là vấn đề đặc biệt
quan trọng. Trong vấn đề đoàn kết dân tộc, thì đoàn kết giữa dân tộc đa số
(Kinh) với các dân tộc thiểu số; đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau
trong đại gia đình dân tộc Việt Nam là nội dung cơ bản, chủ chốt và rộng rãi
nhất. Sự gắn bó đoàn kết của các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam là
cơ sở xây dựng một cộng đồng quốc gia thống nhất, bền vững.
Đoàn
kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam được hình thành
và phát triển trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Sự hình thành
và phát triển truyền thống đoàn kết toàn dân tộc bắt nguồn từ điều kiện hoàn
cảnh tồn tại khách quan về tự nhiên và xã hội của dân tộc Việt Nam, đồng thời
là kết quả của sự nuôi dưỡng, giáo dục kế thừa và phát huy của các thế hệ người
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử dân tộc. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đại đoàn kết dân tộc ngày càng được phát
huy cao độ, được nâng lên một tầm cao mới. Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường
lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong các giai đoạn cách mạng do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chiến lược Đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được thực
hiện nhất quán, đúng đắn và sáng tạo. Đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành
nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho thắng lợi bền vững của sự nghiệp giải
phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh dân tộc Việt Nam là mục tiêu
xuyên suốt, một phương thức cơ bản được các thế lực thù địch thực hiện trong
chiến lược chống phá cách mạng Việt Nam. Các thế lực thù địch nhận rõ rằng, sức
mạnh của Việt Nam là sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đoàn kết dân tộc chính là cội nguồn của sức
mạnh Việt Nam trong lịch sử đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay. Cũng chính vì lẽ đó, các thế lực thù địch luôn chọn tiến
công phá hoại khối đoàn kết dân tộc Việt Nam là hướng quan trọng nhất, hiệu quả
nhất để thực hiện mưu đồ chuyển hoá Việt Nam. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau,
thì âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong lợi dụng vấn đề dân tộc,
chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng nước ta có những
biểu hiện cụ thể, nội dung, hình thức khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, các
thế lực thù địch gia tăng lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, dân
chủ, nhân quyền, sự khác biệt về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán; lợi
dụng trình độ dân trí thấp, sự khó khăn về kinh tế - xã hội của các dân tộc
thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, reo
dắt tâm trạng hoài nghi trong đồng bào thiểu số về chế độ xã hội chủ nghĩa;
tăng cường kích động chia rẽ các dân tộc thiểu số với người Kinh, giữa các dân
tộc thiểu số với nhau, chia rẽ nhân dân các dân tộc thiểu số với Đảng, chính
quyền, với các lực lượng vũ trang. Việc nhận
rõ âm mưu, thủ đoạn nói trên của các thế lực thù địch luôn là yêu cầu quan trọng
trong quá trình đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng. Có
thể nhận thấy rõ một số âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch đã và đang áp
dụng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trên một số vấn đề sau.
1. Chia rẽ, kích
động đồng bào dân tộc thiểu số chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
Thực chất đây là âm mưu nhằm tách đồng bào dân tộc thiểu
số ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của chính quyền; thực hiện “chuyển
biến” một số đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi thành lực lượng ly khai,
chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước; làm mất hiệu lực hoạt động
lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc thiểu số và các
lĩnh vực đời sống xã hội vùng dân tộc thiểu số. Đây thực sự là hướng tiến công
rất nguy hiểm của các thế lực thù địch. Với âm mưu này, các thế lực thù địch
thực hiện đánh thẳng một cách trực diện, trực tiếp vào cơ sở xã hội rất quan
trọng và rộng rãi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta, phá hoại khối
đại đoàn kết toàn dân tộc từ cơ sở. Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã rất
nỗ lực, thực hiện nhiều chính sách, chương trình mục tiêu ưu tiên phát triển
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích
cực, giảm nghèo thu được nhiêu kết quả đáng ghi nhận. Bản sắc văn hóa, ngôn ngữ
các dân tộc được tôn trọng, bảo tồn và phát huy. Giáo dục, y tế có bước phát
triển mạnh mẽ. Hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số được củng cố.
Tỷ lệ đại biểu người dân tộc thiểu số trong các cơ quan dân cử được đảm bảo. Tuy
nhiên, đời sống của một phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn;
thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo còn cao hơn so với mặt bằng
chung của cả nước; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; môi trường tự nhiên
bị suy thoái. Việc triển khai một số chính sách, chương trình phát triển kinh
tế - xã hội còn chậm, hiệu quả thấp; một số công trình đầu tư cho vùng dân tộc,
miền núi còn để thất thoát, lãng phí, làm giảm lòng tin của nhân dân. Nguyên
nhân những hạn chế trên có cả chủ quan và khách quan, nhưng vấn đề mấu chốt là
do còn thiếu cơ chế khơi dậy, phát huy ý chí tực lực, tự cường của các dân tộc;
một số cơ chế chính sách chưa thật sự phù hợp và đáp ứng một cách kịp thời,
thiết thực nguyện vọng người dân; những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống đồng
bào chưa được giải quyết triệt để cùng với những tiêu cực trong bộ máy chính
quyền cơ sở và trong xã hội đã tạo sự hoài nghi, thiếu tin tưởng của đồng bào với Đảng, Nhà nước, chế độ và cấp uỷ,
chính quyền các cấp. Lợi dụng vấn đề này các thế lực thù địch triệt để khoét
sâu, công kích, chống phá, gây mâu thuẫn xã hội, kích động đồng bào khiếu kiện,
chống đối chính quyền, gây rối trật tự xã hội kéo dài.
2. Chia rẽ các dân
tộc thiểu số với dân tộc Kinh, chia rẽ giữa các dân tộc thiếu số với nhau, phá
hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong
khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, thì đoàn kết giữa dân tộc Kinh với các dân
tộc thiểu số; đoàn kết giữa các dân tộc thiếu số với nhau là vấn đề đặc biệt
quan trọng, là nhân tố cơ bản cốt yếu đảm bảo sự vững chắc của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ bị suy yếu, rệu rã, tình
hình chính trị - xã hội sẽ bị mất ổn
định, thậm chí gây căng thẳng, khó kiểm soát, hình thành các điểm nóng, nếu có
tình trạng dân tộc thiểu số này mâu thuẫn với dân tộc thiếu số khác, dân tộc
thiểu số mâu thuẫn với dân tộc đa số; nếu các mâu thuẫn này không được xem xét
và giải quyết đúng đắn, phù hợp và kịp thời.
Đây là mục tiêu trực tiếp, mục tiêu “đầu cầu” trong âm mưu chiến lược
chống phá khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta của các thế lực thù địch. Xuyên
tạc, nói xấu những hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của người Kinh ở vùng dân
tộc thiểu số, cho rằng người Kinh đến đây để “cướp đất”, “cướp rừng” của đồng
bào dân tộc thiểu số. Cố tình đổ lỗi sự nghèo khó của đồng bào các dân tộc
thiểu số là do sự có mặt của người Kinh; kích động đồng bào dân tộc thiểu số
chống lại người Kinh. Lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, sự khác biệt về
văn hóa, phong tục, tập quán, các thế lực thù địch thường xuyên tập trung và
tìm mọi cách để xuyên tạc, gây mâu thuẫn, tạo “làn sóng” “bài người Kinh” trong
đồng bào các dân tộc thiểu số.
3. Hình thành lực lượng đối lập, tạo địa bàn, nuôi dưỡng một số tổ chức
phản động trong đồng bào các dân tộc thiểu số để chống phá cách mạng nước ta
Thực hiện được điều này, các thế lực thù địch không những
chia rẽ dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh, chống đối lại Đảng và Nhà nước, mà
còn tạo ra những điều kiện chính trị - xã hội và địa lý thuận lợi cần thiết cho
sự chống đối ấy được hiệu quả hơn, thúc đẩy “diễn biến hoàn bình” và “bạo loạn
lật đổ”. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nhúng tay, can thiệp chống
phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch từ bên ngoài, kể cả việc thực
hiện bằng biện pháp quân sự. Để tăng cường hiệu quả chống đối, phá hoại khối
đại đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động tài trợ vật
chất, chỉ đạo đường hướng hoạt động, tập hợp lực lượng trong bọn phản động đội
lốt tôn giáo, các phần tử cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua
truyền đạo trái phép, các thế lực thù địch cố tìm mọi cách làm cho đồng bào
thiểu số xa rời cách mạng, chỉ tin theo lời mua chuộc, dụ dỗ của chúng, phát
triển tín đồ để tập hợp, phát triển lực lượng phản động. Ở Tây Bắc, các thế lực
thù địch thực hiện chủ trương “Tin lành hóa người Mông”, chúng hình thành các
đường dây, tổ chức đưa người dân tộc Mông xuất cảnh trái phép sang Lào, tham
gia “Bộ đội Mông”, hoạt động phỉ, chờ thời cơ thành lập “Nhà nước Mông tự trị”.
Ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn trong đời
sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số để tăng cường truyền giáo, dùng vật
chất để mua chuộc đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo. Chúng ra sức tuyên truyền
phản động, làm cho đồng bào tin rằng chỉ có gia nhập và đi theo “Hội thánh Tin
lành Đề ga” thì đồng bào mới được sung sướng. Dưới sự chỉ đạo và bảo trợ của
các thế lực thù địch ở bên ngoài, nhiều tổ chức phản động trong người Thượng
Tây Nguyên ở nước ngoài được thành lập, chúng cấu kết với lực lượng phản động
Fulro gia tăng hoạt động tuyên truyền, kích động nhằm thành lập “nhà nước Đềga tự
trị”. Một bộ phận đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên bị chúng mua chuộc, dụ dỗ,
bị cuốn theo vào việc khiếu kiện, đấu tranh đòi quyền lợi, biểu tình, gây bạo
loạn trên địa bàn, chúng phát tán tài liệu, hình ảnh, tuyên truyền về quyền của
người dân bản địa. Âm mưu thủ đoạn của chúng không chỉ nhằm làm mất ổn định
chính trị - xã hội ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên của nước ta mà còn nhằm làm
tha hóa, biến chất, mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo đội ngũ cán bộ ở địa phương, vô
hiệu hóa đội ngũ cán bộ, thúc đẩy đội ngũ cán bộ địa phương làm việc cho chúng,
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc từ đội ngũ cán bộ.
Hiện
nay, vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết
dân tộc đang được các thế lực thù địch sử dụng như một ngón đòn hiệu quả nhất
trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá Việt Nam. Đấu tranh ngăn chặn,
làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động của các thế lực thù địch chống
phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa xây và
chống. Phải thường xuyên tuyên truyền, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân nhận thức đúng, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn
kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, không mơ hồ, ảo tưởng, mất ý thức
cảnh giác. Nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý
luận, phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Nâng cao trình
độ dân trí cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn
giáo ở vùng sâu, vùng xa có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, có ý thức trách nhiệm
công dân cao thì không những trực tiếp góp phần làm phá sản những âm mưu, thủ
đoạn lôi kéo, chia rẽ, dụ dỗ, kích động của các thế lực thù địch, mà còn tạo ra
sự “miễn dịch”, “sức đề kháng” cần thiết trước mọi thủ đoạn lợi dụng, mua
chuộc, lôi kéo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Tuyên truyền, vận động làm
cho đồng bào các dân tộc thiểu số thực sự là công dân tích cực của đất nước
trong thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm an ninh, an
toàn cuộc sống người dân, thực hiện công bằng xã hội, hướng đến mục tiêu bảo
đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng cùng phát triển.
Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm: Mọi hoạt động của hệ thống chính trị,
của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân.
Giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân. “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt
các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù
giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm,
định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu
quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
giai đoạn 2021 - 2030”[1]. Có
cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc
thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững,
chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Nghiêm trị âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân
tộc.
Đoàn kết dân tộc là một vấn đề rất quan trọng đối với mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm cách phát huy tinh thần dân tộc, lòng yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, quy tụ mọi lực lượng có thể để chiến thắng xâm lược, chiến thắng đói nghèo lạc hậu, giành độc lập tự do cho dân tộc, ấm lo hạnh phúc cho nhân dân. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là chủ trương, quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước. Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy nhanh quá trình “chuyển hoá Việt Nam”, thông qua việc tuyên truyền, kích động, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc. Có thể thấy rằng, thủ đoạn của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Do đó, cần nhận diện chính xác âm mưu, thủ đoạn và tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn đó để có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục, góp phần củng cố, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời nâng cao nhận thức, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp; đấu tranh có hiệu quả âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch đối với Việt Nam.HT
[1]
Đảng
Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ 13, Tập 2. Nxb
CTQGST, Hà Nội, 2021, tr140.
Không để các luận điệu xuyên tạc làm ảnh hưởng đến công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Sự nham hiểm của những luận điệu xuyên tạc
Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.
Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.
Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo... Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.
Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình
Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.
Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.
Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương...).
Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển... để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.
Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.
Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.
Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay.
Quân đội nhân dân Việt Nam mãi là lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân
Gần 80 năm qua, nhân tố làm nên những chiến thắng lẫy lừng của Quân đội ta là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội cũng chính là mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Bất luận trong hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Với mưu đồ xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện thủ đoạn chống phá, chuyển hóa trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, trong đó chúng xác định mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội, thông qua các chiêu bài như hô hào xây dựng “quân đội trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”; chúng kêu gọi xóa bỏ công tác Đảng trong Quân đội, cắt ghép hình ảnh để bôi nhọ danh dự, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”... làm cho cán bộ, chiến sĩ dễ dao động tư tưởng, giảm sút niềm tin và ý thức trách nhiệm, hòng làm cho Quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng.
Cần nhận thức rằng, các luận điệu trên là sai trái. Bởi vì quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng mang bản chất giai cấp. Bài học để mất chế độ do xa rời đảng, xa rời bản chất giai cấp công nhân của quân đội một số nước là minh chứng thực tiễn. Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân-giai cấp tiên tiến và cách mạng. Vì vậy, Đảng lãnh đạo quân đội là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh-người sáng lập và rèn luyện Quân đội ta đã khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, phát huy trí tuệ, mục tiêu “Vì nhân dân mà chiến đấu” đã trở thành động lực to lớn thôi thúc lớp lớp cán bộ, chiến sĩ khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt chức năng “đội quân chiến đấu”. Những chiến công của Quân đội mang tầm thời đại đã đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ ra khỏi bờ cõi, non sông thu về một mối, cả nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cùng với việc hoàn thành chức năng “đội quân chiến đấu”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta cũng là “đội quân sản xuất” và “đội quân công tác”, hết lòng “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Khi có thiên tai, bão lũ, Quân đội là lực lượng tuyến đầu trong việc di dân đến vùng an toàn, tìm kiếm người mất tích, chi viện lương thực, thực phẩm để ổn định đời sống nhân dân cho dù khó khăn gian khổ, kể cả mất mát, hy sinh.
Quân đội hiện có mặt ở các binh đoàn làm kinh tế, các đơn vị kinh tế-quốc phòng trên mọi miền Tổ quốc, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo, giúp dân an cư, phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội. Quân đội còn làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân; vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; góp phần quan trọng vào công tác xóa đói giảm nghèo, tham gia xây dựng cơ sở chính trị-xã hội vùng biên giới, biển đảo, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, tăng cường đoàn kết quân dân. Đó cũng là việc hiện thực hóa đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên từng địa bàn.
Nhìn lại năm 2021 khi đại dịch Covid-19 bùng phát, quan điểm của Đảng, Nhà nước là phải kiểm soát dịch bệnh, không để ai bị bỏ lại phía sau. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả hệ thống chính trị vào cuộc, Quân đội lại là lực lượng xung kích với phương châm “chống dịch như chống giặc”, đặt lợi ích, sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết. Bất cứ ở đâu có điểm nóng về dịch Covid-19 là quân đội xông pha trên tuyến đầu chống dịch, không quản ngại khó khăn, gian khổ; triển khai các nhiệm vụ kiểm soát biên giới; thành lập các khu cách ly tập trung, bệnh viện dã chiến; vận chuyển vaccine; thiết lập hệ thống đảm bảo hậu cần, an sinh cho nhân dân... Những điều đó đã lan tỏa hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ mới, Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế cao cả, luôn kề vai, sát cánh cùng nhân dân, quân đội các nước giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống, phòng, chống, thiên tai, dịch bệnh... Hình ảnh hàng trăm cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, gian khổ, theo mệnh lệnh từ trái tim lên đường làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, tham gia hỗ trợ nhân đạo, khám chữa bệnh cho nhân dân tại Cộng hòa Nam Sudan hoặc tham gia cứu nạn, khắc phục hậu quả thảm họa động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thời gian gần đây đã góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, góp phần nâng cao vị thế đất nước, khẳng định vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ trước yêu cầu hội nhập, phát triển.
Nghị quyết số 44-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” của Đảng khẳng định: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Vì vậy, bất kỳ trong hoàn cảnh nào cũng không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, hết lòng vì nước, vì dân sẽ là vũ khí không cần lời, chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động.
Cảnh giác với hiện tượng lợi dụng, xuyên tạc hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ
Gần đây, trên không gian mạng xuất hiện ngày càng nhiều tài khoản TikTok, Facebook, YouTube... với những tên gọi “rất kêu”, chẳng hạn như: “Yêu bộ đội”; “Yêu lính”; “Màu xanh biên cương”; “Bộ đội của dân”...
Thoạt nhìn, không ít người lầm tưởng đó là tài khoản chính thức của một cơ quan, đơn vị nào đó trong Quân đội, song kỳ thực không phải như vậy. Đây là những trang cá nhân đang lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để "câu view", "câu like", đánh bóng tên tuổi, bán hàng, xuyên tạc... nhằm thu hút và “thao túng tâm lý” người xem. Đáng lo ngại hơn là một số cán bộ, đảng viên chưa nhìn nhận một cách thấu đáo hiện tượng này, đã vội vàng ủng hộ bằng cách nhấn yêu thích, thả tim và có những bình luận tỏ ra a dua, đồng lõa.
Chiếc áo không làm nên thầy tu
Qua theo dõi và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng các trang này phần lớn là của những người thiếu hiểu biết về Quân đội, trong đó có không ít bạn trẻ đã lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để kiếm tiền một cách bất chính. Đáng nói là mặc dù họ muốn làm giàu nhưng năng lực tư duy lại hạn chế, không có khả năng sáng tạo nội dung mà thường xuyên cóp nhặt, cắt ghép, dàn dựng, đăng tải những thông tin, hình ảnh làm sai lệch bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Việc một số cá nhân lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để trục lợi ngày càng nhiều trên không gian mạng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín, danh dự của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Còn nhớ, đầu tháng 7-2023, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xuất hiện một đối tượng tự xưng là Phan Quốc Khải, công tác tại Ban CHQS huyện Xuân Lộc, gọi điện cho ông Nguyễn Duy Sáu, chủ cửa hàng dụng cụ nông nghiệp tại huyện Cẩm Mỹ để chèo kéo, môi giới nhằm thực hiện hành vi lừa đảo nhưng bất thành. Ông Sáu cho biết: Họ thường đặt một số mặt hàng giá trị lớn mà cửa hàng không có, sau đó cung cấp một đơn vị khác có những loại hàng hóa trên để chúng tôi đặt mua qua mạng cho kịp thời gian giao hàng và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản.
Tiếp đó, trên cổng thông tin chính thức của một số bệnh viện uy tín như: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 175, Bệnh viện Quân y 103 cũng đã đưa ra cảnh báo về việc gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều trang, nhóm mạo danh các cơ sở y tế quân sự để thực hiện hành vi chào bán thuốc, thực phẩm chức năng, dịch vụ y tế kém chất lượng, làm tổn hại sức khỏe của người dân, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của ngành y học Quân đội. Tất nhiên, các đối tượng này đã bị vạch trần và xử lý theo pháp luật.
Nguy hại hơn, lợi dụng sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều đối tượng đã giả mạo một số chức danh lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của các cơ quan, đơn vị Quân đội để gọi video trực tuyến, nhắn tin qua Messenger, Zalo... “thông báo” đến các gia đình có quân nhân tại ngũ về một số vấn đề liên quan đến pháp luật, kỷ luật như: Làm hư hỏng, thất thoát tài sản chung, phải bồi thường; tham gia cá độ, chơi lô đề, cờ bạc, vay nặng lãi quá khả năng chi trả; mất đoàn kết, gây thương tích... Từ đó đe dọa, buộc gia đình phải chuyển tiền vào tài khoản để “chạy án”, nếu không sẽ bị “xử lý nghiêm khắc”...
Có thể thấy rằng, trong những vụ việc nêu trên, mặc dù thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo rất đa dạng, tinh vi, xảo quyệt nhưng đều có chung một phương thức, đó là lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để “mua chuộc” lòng tin của nhân dân nhằm phục vụ hành vi lừa đảo. Nếu không tỉnh táo, không chủ động xác minh thông tin kỹ lưỡng, chúng ta sẽ bị đánh lừa bởi những “vở kịch” mà kẻ gian đã công phu dàn dựng, để rồi... “tiền mất tật mang”.
Không dừng lại ở đó, một số tài khoản vốn đã núp bóng Bộ đội Cụ Hồ nhưng lại thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc về hình ảnh người quân nhân cách mạng theo kiểu “ăn không nói có”, “chuyện bé xé ra to”, “vơ đũa cả nắm”... Đặc biệt, các đối tượng xấu còn thường xuyên giật tít “rất kêu” nhằm kích thích sự tò mò của cộng đồng mạng, dạng như: “Thông tin mật”, “góc khuất của lính”, “ma cũ bắt nạt ma mới”, “sự thật về bộ đội”... Thời điểm đăng tải, tán phát thông tin cũng rất nhạy cảm, nhất là những lúc đơn vị thực hiện nhiệm vụ khó khăn, đột xuất; trước mỗi mùa tuyển quân; trong các kỳ huấn luyện chiến sĩ mới; khi quân nhân chuẩn bị hoàn thành nghĩa vụ quân sự... Từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào môi trường quân ngũ.
Ví dụ như vụ việc xảy ra tại Trường Quân sự Quân khu 7 hồi tháng 1-2023. Chỉ vỏn vẹn vài giờ sau khi bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài đăng tải nội dung bịa đặt, sai sự thật về việc một nữ sinh viên bị hiếp dâm tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh trên fanpage UFH Confession, bài viết đã tạo ra “làn sóng” tương tác dữ dội với hàng trăm nghìn lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ. Trong đó có rất nhiều người phản ứng một cách thái quá, mặc dù chưa rõ bản chất của vấn đề. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá. Hậu quả là Tòa án Quân sự Quân khu 7 đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa trái phép thông tin mạng máy tính” theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Quân đội là trường học lớn của tuổi trẻ. Bên cạnh hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm ra sức thi đua huấn luyện giỏi, rèn luyện tốt, kỷ luật nghiêm, vẫn còn đó những quân nhân, những cán bộ, đảng viên chưa thực sự gương mẫu, tự giác trong chấp hành điều lệnh, điều lệ, dẫn tới vi phạm các chế độ quy định. Tuy nhiên, cấp ủy, chỉ huy các cấp tuyệt đối không bao che, giấu giếm khuyết điểm mà đã xem xét, xử lý nghiêm minh; đồng thời thông báo rộng rãi để rút kinh nghiệm trong toàn đơn vị nói riêng, toàn quân nói chung. Điều đó lại càng khẳng định bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; đúng với tư tưởng: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngọc càng mài càng sáng...
Trong bom đạn, giữa tâm bão hay trên tuyến đầu chống dịch... không có bất cứ nơi nào trên đất nước này vắng bóng Bộ đội Cụ Hồ. Chính bởi gần dân, trọng dân, sẵn sàng hy sinh vì dân mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã được nhân dân gửi trọn niềm tin. Do đó, không thể vì một vài sự việc đơn thuần, cộng thêm hành động “hà hơi thổi ngạt” của những đối tượng xấu mà dễ dàng làm lay chuyển tình cảm, phai nhạt truyền thống gắn bó keo sơn, máu thịt giữa quân với dân.
Không chỉ sáng trong lòng nhân dân mà Bộ đội Cụ Hồ còn đẹp trong lòng bạn bè quốc tế. Tinh thần "tương thân tương ái", “lá lành đùm lá rách”, giúp bạn như giúp mình, trong hoạn nạn vẫn dốc lòng, dốc sức giúp đỡ về tài chính, thiết bị, vật tư y tế để nước bạn Lào, Campuchia, Myanmar... chống dịch Covid-19; hay gần đây, trước thảm họa động đất kinh hoàng tại Thổ Nhĩ Kỳ, đoàn cứu hộ của Quân đội ta đã không quản khó khăn, gian khổ, ngày đêm tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai... là minh chứng sống cho những nỗ lực, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ hôm nay trong việc gìn giữ, phát huy truyền thống ông cha.
Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn: “Quân đội đã làm tốt rồi, nay cần làm tốt hơn nữa”; đã là Bộ đội Cụ Hồ thì phải luôn “chủ động đến với nhân dân, giúp nhân dân những thứ nhân dân cần, hỗ trợ nhân dân những thứ nhân dân thiếu”. Bên cạnh đó, người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần đề cao trách nhiệm, quyết tâm thực hiện “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung”, để có đủ phẩm chất, năng lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Có thể thấy rằng, từ lịch sử đến hiện tại; từ chức năng, nhiệm vụ đến thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác... của Quân đội nhân dân Việt Nam đều hoàn toàn khác xa với những gì mà các TikToker, Facebooker, YouTuber vì bị “đồng tiền làm mờ con mắt” nên đã thường xuyên thêu dệt, đăng đàn một cách phiến diện, làm méo mó cách nhìn của một bộ phận công chúng, nhất là trong cộng đồng mạng về hình ảnh và phẩm chất cao đẹp trong nhân cách người quân nhân cách mạng. Và những hành động đáng xấu hổ, đáng lên án ấy cũng tựa như tư duy tầm gửi, mặc dù đã mang “phận ký sinh”, sống nhờ dinh dưỡng từ “cây mẹ” nhưng chẳng những không làm cho “vật chủ” tốt lên mà còn làm phương hại đến chính “nguồn sống” của bản thân mình.
Để góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tác động tiêu cực của những thông tin xấu độc, sai sự thật đến đời sống tinh thần của bộ đội và nhân dân, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ cần đề cao trách nhiệm trong đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh liên quan đến cá nhân, đơn vị và Quân đội lên các nền tảng mạng xã hội; hay nói cách khác là phải “cắt nguồn cung”, không “tự tạo cớ”, không a dua, cổ xúy, tiếp tay... để đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Bởi lẽ, Quân đội là môi trường đặc thù nên không phải ai cũng có thể dễ dàng tự do, tự tiện quay phim, ghi hình, chụp ảnh để đăng đàn. Hơn nữa, nếu mỗi người mỗi ngày đều lan tỏa những hình ảnh đẹp, đúng với bản chất người quân nhân cách mạng và thực tiễn những gì diễn ra trong môi trường quân ngũ thì đâu có “tài nguyên” để cho những kẻ trục lợi “chế biến”, nhào nặn?
Hơn ai hết, mỗi quân nhân đều nhận thức sâu sắc được những thông tin, hình ảnh nào là sai sự thật về bản chất Bộ đội Cụ Hồ. Do đó, bên cạnh việc “cắt cung”, chúng ta cũng cần “giảm cầu” đối với những sản phẩm do các đối tượng lợi dụng tán phát trên nền tảng mạng. Phải tự nâng cao “sức đề kháng” cho chính bản thân, tuyệt đối không tiếp cận, tương tác với những nội dung xấu độc để tránh “nối dài cánh tay” kiếm tiền bất chính của kẻ xấu và âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch.
Thay cán bộ nhưng không thay đổi đường lối lãnh đạo
Những năm vừa qua, khi công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo và thực hiện quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, có nhiều cán bộ cao cấp của Đảng là ủy viên Trung ương, ủy viên Bộ Chính trị bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý hình sự theo các các quy định của pháp luật.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xử lý cán bộ cấp chiến lược đang giữ trọng trách đứng đầu Nhà nước, Quốc hội khi có dấu hiệu sai phạm, hoặc cấp dưới sai phạm (theo Quy định 41) bằng hình thức cho thôi đảm nhiệm các chức vụ và nghỉ công tác. Điều này cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng là loại bỏ, xử lý những cán bộ suy thoái, tham nhũng, tiêu cực ra khỏi hệ thống, làm trong sạch bộ máy và làm trong sạch tổ chức để Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng vừa là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân.
Với tệ tham nhũng, tiêu cực được ví như “giặc nội xâm”, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ thì kết quả xử lý các vụ việc trên được ví như những trận quyết chiến chiến lược trước giặc nội xâm.
Tuy nhiên, lợi dụng các vụ việc trên, các thế lực thù địch đang sử dụng mạng xã hội xuyên tạc, thổi phồng với luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đang có sự thanh trừng, đấu đá nội bộ”, “Việt Nam đang mất ổn định chính trị”…
Không tránh khỏi những băn khoăn, trăn trở trong tâm trạng của cử tri, của người dân, của đảng viên vì sự kỳ vọng khi bỏ lá phiếu, gửi gắm niềm tin vào những vị cán bộ lãnh đạo đó. Nhưng có thể khẳng định chắc chắn rằng tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, cán bộ đảng viên và kiều bào ta ở nước ngoài đang đặt một niềm tin tuyệt đối vào quyết tâm chính trị, vào đường lối cách mạng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Với đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, đất nước ta đang phát triển, vững vàng hội nhập quốc tế. Chúng ta đã phải đánh đổi biết bao xương máu của đồng bào, chiến sĩ người con đất Việt trong các cuộc chiến tranh vệ quốc để có được hoà bình, thống nhất, độc lập và cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam hôm nay.
Mỗi người dân Việt Nam đang vững một niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng bởi lẽ đó cũng là vận mệnh của Tổ quốc, đất nước mình. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, trải qua hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng không có lợi ích nào khác là vì đất nước phồn thịnh, vì hạnh phúc nhân dân. Lợi ích của quốc gia, dân tộc luôn được đặt lên trên hết, trước hết.
Việc xử lý cán bộ cấp cao, thay đổi cán bộ nhưng không ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của đất nước bởi lẽ đường lối cách mạng của Đảng ta đã được xác định trong cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là sự công khai, minh bạch, đúng đắn, ổn định, kế thừa qua các giai đoạn cách mạng.
Đặc biệt là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 40 năm đổi mới đất nước được Nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, ghi nhận Việt Nam là một đất nước hoà bình, phát triển, ổn định về chính trị; là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trên toàn cầu; vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt là toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm trọng thể 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, triệu triệu người con đất Việt hướng trái tim mình về Điện Biên Phủ để tôn vinh và tri ân những anh hùng, những đồng bào, chiến sĩ đã chiến đấu bảo vệ Tổ quốc để dân tộc thoát khỏi ách xâm lược, thực dân, bảo vệ nền độc lập nước nhà với niềm tự hào về bản lĩnh, khí phách, trí tuệ Việt Nam.
Triệu triệu trái tim ấy cũng đang hướng về Thủ đô Hà Nội, hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, đoàn kết một lòng, đặt trọn niềm tin vào Ban Chấp hành Trung ương do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu lãnh đạo đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Thực tiễn sẽ được đúc kết thành nguyên tắc và nhận thức: Thay thế cán bộ vi phạm nhưng không thay đổi đường lối - Đó là quan điểm và nguyên tắc nhất quán của Đảng trong xử lý cán bộ cấp cao vi phạm. Điều đó phản bác lại các luận điệu và các âm mưu của các thế lực thù địch đang lợi dụng việc xử lý kỷ luật cán bộ cấp cao của Đảng do suy thoái, tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc hòng gây mất ổn định về chính trị, làm giảm uy tín của Đảng, của đất nước ta trước cộng đồng quốc tế.
Lữ đoàn 162 kiểm tra kết thúc huấn luyện K2 tại bến
Ngày 21/5, tại Quân cảng Cam Ranh (tỉnh Khánh Hoà) Lữ đoàn 162, Vùng 4 Hải quân thành lập 3 đoàn công tác kiểm tra kết thúc huấn luyện K2 tại bến năm 2024 đối với các hải đội, tàu chiến đấu trực thuộc.
Nội dung kiểm tra tập trung vào nhận thức của cán bộ, chiến sĩ trên các mặt công tác Tham mưu, Chính trị, Hậu cần – Kỹ thuật; thực hành các bảng bố trí chiến đấu; khả năng thao tác, vận hành trang bị kỹ thuật, hiệp đồng giữa các vị trí chiến đấu và toàn tàu; các dạng phòng thủ, phương án đấu tranh bảo vệ sức sống tàu khi neo đậu và khi hành quân trên biển; xây dựng tàu chính quy mẫu mực, nội vụ vệ sinh toàn tàu…
Các đoàn công tác ghi nhận và đánh giá cao chất lượng huấn luyện K2 tại bến năm 2024 của các hải đội tàu chiến đấu trực thuộc. Cán bộ, chiến sĩ các tàu đã nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nội dung, kế hoạch huấn luyện; duy trì tốt xây dựng tàu chính quy mẫu mực, bảo đảm an toàn tuyệt đối về mọi mặt đồng thời nêu rõ những điểm còn tồn tại để các hải đội, tàu nhanh chóng tổ chức rút kinh nghiệm, có kế hoạch khắc phục làm cơ sở nâng cao hơn nữa chất lượng huấn luyện, trình độ, khả năng SSCĐ trong thời gian tới.





