Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc; có 54 thành phần dân tộc khác nhau, xét về lịch sử định cư có những dân tộc bản địa đã cư trú hàng ngàn năm, có dân tộc di cư đến Việt Nam cách đây mấy trăm năm. Ở Việt Nam, quá trình dân tộc (tộc người) cũng tuân theo quy luật khách quan, đan xen của cả hai xu hướng liên kết và phân tách; song, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, xu hướng chủ đạo là liên kết với đặc trưng nổi bật là cố kết và hòa hợp. Quá trình đồng hóa trong nội bộ dân tộc diễn ra mang tính tự nhiên là chủ yếu. Tuy nguồn gốc, lịch sử, nhân chủng, ngữ hệ, bản sắc văn hóa các dân tộc có sự khác nhau nhưng nhìn chung, các dân tộc ở Việt Nam có sự tương đồng về văn hóa của các dân tộc khu vực Đông Nam Á, gắn với sản xuất nông nghiệp trồng lúa và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Điều đặc biệt nổi trội là trong quan hệ dân tộc, các dân tộc đều đề cao tính cộng đồng, sự hòa đồng. Ở Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, không có chiến tranh giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo. Trái lại, các cuộc chiến tranh chủ yếu là chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước. Trong các cuộc chiến tranh đó, cũng như trong cuộc sống hòa bình, các dân tộc ở Việt Nam đều đoàn kết chặt chẽ, gắn bó với nhau cùng chống kẻ thù chung và chống thiên tai khắc nghiệt. Bởi vậy, trong tâm lý, ý thức dân tộc có sự hòa quyện, hài hòa giữa tâm lý, ý thức tộc người và tâm lý, ý thức quốc gia, dân tộc, trong đó tâm lý, ý thức quốc gia dân tộc giữ vai trò chi phối. Chính những yếu tố như hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế xã hội và đời sống, sự hình thành sớm lãnh thổ quốc gia thống nhất, vai trò quản lý của nhà nước phong kiến tập trung trong giải quyết các mối quan hệ dân tộc, cùng sự gắn bó đan xen lợi ích, vận mệnh các dân tộc trong lịch sử, đã tác động đến sự hình thành ý thức giữ gìn dân tộc nổi trội đó của các dân tộc ở Việt Nam. Cũng vì lẽ đó, ở Việt Nam xu hướng phân tách của quá trình dân tộc không nổi trội và trong xu hướng đó, chủ yếu là sự di cư của các tộc người đến các địa bàn thuận lợi hơn cho cuộc sống mưu sinh, còn các khuynh hướng ly khai nhìn chung là hết sức mờ nhạt. Mặt khác, với sự cư trú trên cùng địa bàn nên các dân tộc phải nương tựa vào nhau, đồng cam, cộng khổ, chia sẻ ngọt bùi, tương trợ lẫn nhau. Truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương thân, tương ái của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là giá trị tốt đẹp được kết tinh và bồi đắp trong lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, là điều kiện hết sức thuận lợi để kế thừa, phát huy trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

Đoàn kết dân tộc luôn là động lực to lớn quyết định đến thành công của sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Với một đất nước đa dân tộc và nhiều dân tộc thiểu số như Việt Nam, thì sự cố kết cộng đồng các dân tộc, đoàn kết dân tộc luôn luôn là vấn đề đặc biệt quan trọng. Trong vấn đề đoàn kết dân tộc, thì đoàn kết giữa dân tộc đa số (Kinh) với các dân tộc thiểu số; đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau trong đại gia đình dân tộc Việt Nam là nội dung cơ bản, chủ chốt và rộng rãi nhất. Sự gắn bó đoàn kết của các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam là cơ sở xây dựng một cộng đồng quốc gia thống nhất, bền vững.

Đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Sự hình thành và phát triển truyền thống đoàn kết toàn dân tộc bắt nguồn từ điều kiện hoàn cảnh tồn tại khách quan về tự nhiên và xã hội của dân tộc Việt Nam, đồng thời là kết quả của sự nuôi dưỡng, giáo dục kế thừa và phát huy của các thế hệ người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử dân tộc. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đại đoàn kết dân tộc ngày càng được phát huy cao độ, được nâng lên một tầm cao mới. Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong các giai đoạn cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chiến lược Đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được thực hiện nhất quán, đúng đắn và sáng tạo. Đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho thắng lợi bền vững của sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh dân tộc Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt, một phương thức cơ bản được các thế lực thù địch thực hiện trong chiến lược chống phá cách mạng Việt Nam. Các thế lực thù địch nhận rõ rằng, sức mạnh của Việt Nam là sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đoàn kết dân tộc chính là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam trong lịch sử đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Cũng chính vì lẽ đó, các thế lực thù địch luôn chọn tiến công phá hoại khối đoàn kết dân tộc Việt Nam là hướng quan trọng nhất, hiệu quả nhất để thực hiện mưu đồ chuyển hoá Việt Nam. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong lợi dụng vấn đề dân tộc, chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng nước ta có những biểu hiện cụ thể, nội dung, hình thức khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch gia tăng lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, sự khác biệt về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán; lợi dụng trình độ dân trí thấp, sự khó khăn về kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, reo dắt tâm trạng hoài nghi trong đồng bào thiểu số về chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng cường kích động chia rẽ các dân tộc thiểu số với người Kinh, giữa các dân tộc thiểu số với nhau, chia rẽ nhân dân các dân tộc thiểu số với Đảng, chính quyền, với các lực lượng vũ trang. Việc nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nói trên của các thế lực thù địch luôn là yêu cầu quan trọng trong quá trình đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng. Có thể nhận thấy rõ một số âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch đã và đang áp dụng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trên một số vấn đề sau.

1. Chia rẽ, kích động đồng bào dân tộc thiểu số chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thực chất đây là âm mưu nhằm tách đồng bào dân tộc thiểu số ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của chính quyền; thực hiện “chuyển biến” một số đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi thành lực lượng ly khai, chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước; làm mất hiệu lực hoạt động lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc thiểu số và các lĩnh vực đời sống xã hội vùng dân tộc thiểu số. Đây thực sự là hướng tiến công rất nguy hiểm của các thế lực thù địch. Với âm mưu này, các thế lực thù địch thực hiện đánh thẳng một cách trực diện, trực tiếp vào cơ sở xã hội rất quan trọng và rộng rãi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ cơ sở. Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã rất nỗ lực, thực hiện nhiều chính sách, chương trình mục tiêu ưu tiên phát triển vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm nghèo thu được nhiêu kết quả đáng ghi nhận. Bản sắc văn hóa, ngôn ngữ các dân tộc được tôn trọng, bảo tồn và phát huy. Giáo dục, y tế có bước phát triển mạnh mẽ. Hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số được củng cố. Tỷ lệ đại biểu người dân tộc thiểu số trong các cơ quan dân cử được đảm bảo. Tuy nhiên, đời sống của một phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn; thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo còn cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; môi trường tự nhiên bị suy thoái. Việc triển khai một số chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội còn chậm, hiệu quả thấp; một số công trình đầu tư cho vùng dân tộc, miền núi còn để thất thoát, lãng phí, làm giảm lòng tin của nhân dân. Nguyên nhân những hạn chế trên có cả chủ quan và khách quan, nhưng vấn đề mấu chốt là do còn thiếu cơ chế khơi dậy, phát huy ý chí tực lực, tự cường của các dân tộc; một số cơ chế chính sách chưa thật sự phù hợp và đáp ứng một cách kịp thời, thiết thực nguyện vọng người dân; những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống đồng bào chưa được giải quyết triệt để cùng với những tiêu cực trong bộ máy chính quyền cơ sở và trong xã hội đã tạo sự hoài nghi, thiếu tin tưởng của  đồng bào với Đảng, Nhà nước, chế độ và cấp uỷ, chính quyền các cấp. Lợi dụng vấn đề này các thế lực thù địch triệt để khoét sâu, công kích, chống phá, gây mâu thuẫn xã hội, kích động đồng bào khiếu kiện, chống đối chính quyền, gây rối trật tự xã hội kéo dài.

2. Chia rẽ các dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh, chia rẽ giữa các dân tộc thiếu số với nhau, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, thì đoàn kết giữa dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số; đoàn kết giữa các dân tộc thiếu số với nhau là vấn đề đặc biệt quan trọng, là nhân tố cơ bản cốt yếu đảm bảo sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ bị suy yếu, rệu rã, tình hình chính trị  - xã hội sẽ bị mất ổn định, thậm chí gây căng thẳng, khó kiểm soát, hình thành các điểm nóng, nếu có tình trạng dân tộc thiểu số này mâu thuẫn với dân tộc thiếu số khác, dân tộc thiểu số mâu thuẫn với dân tộc đa số; nếu các mâu thuẫn này không được xem xét và giải quyết đúng đắn, phù hợp và kịp thời.  Đây là mục tiêu trực tiếp, mục tiêu “đầu cầu” trong âm mưu chiến lược chống phá khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta của các thế lực thù địch. Xuyên tạc, nói xấu những hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của người Kinh ở vùng dân tộc thiểu số, cho rằng người Kinh đến đây để “cướp đất”, “cướp rừng” của đồng bào dân tộc thiểu số. Cố tình đổ lỗi sự nghèo khó của đồng bào các dân tộc thiểu số là do sự có mặt của người Kinh; kích động đồng bào dân tộc thiểu số chống lại người Kinh. Lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, sự khác biệt về văn hóa, phong tục, tập quán, các thế lực thù địch thường xuyên tập trung và tìm mọi cách để xuyên tạc, gây mâu thuẫn, tạo “làn sóng” “bài người Kinh” trong đồng bào các dân tộc thiểu số.

3. Hình thành lực lượng đối lập, tạo địa bàn, nuôi dưỡng một số tổ chức phản động trong đồng bào các dân tộc thiểu số để chống phá cách mạng nước ta

Thực hiện được điều này, các thế lực thù địch không những chia rẽ dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh, chống đối lại Đảng và Nhà nước, mà còn tạo ra những điều kiện chính trị - xã hội và địa lý thuận lợi cần thiết cho sự chống đối ấy được hiệu quả hơn, thúc đẩy “diễn biến hoàn bình” và “bạo loạn lật đổ”. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nhúng tay, can thiệp chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch từ bên ngoài, kể cả việc thực hiện bằng biện pháp quân sự. Để tăng cường hiệu quả chống đối, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động tài trợ vật chất, chỉ đạo đường hướng hoạt động, tập hợp lực lượng trong bọn phản động đội lốt tôn giáo, các phần tử cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua truyền đạo trái phép, các thế lực thù địch cố tìm mọi cách làm cho đồng bào thiểu số xa rời cách mạng, chỉ tin theo lời mua chuộc, dụ dỗ của chúng, phát triển tín đồ để tập hợp, phát triển lực lượng phản động. Ở Tây Bắc, các thế lực thù địch thực hiện chủ trương “Tin lành hóa người Mông”, chúng hình thành các đường dây, tổ chức đưa người dân tộc Mông xuất cảnh trái phép sang Lào, tham gia “Bộ đội Mông”, hoạt động phỉ, chờ thời cơ thành lập “Nhà nước Mông tự trị”. Ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn trong đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số để tăng cường truyền giáo, dùng vật chất để mua chuộc đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo. Chúng ra sức tuyên truyền phản động, làm cho đồng bào tin rằng chỉ có gia nhập và đi theo “Hội thánh Tin lành Đề ga” thì đồng bào mới được sung sướng. Dưới sự chỉ đạo và bảo trợ của các thế lực thù địch ở bên ngoài, nhiều tổ chức phản động trong người Thượng Tây Nguyên ở nước ngoài được thành lập, chúng cấu kết với lực lượng phản động Fulro gia tăng hoạt động tuyên truyền, kích động nhằm thành lập “nhà nước Đềga tự trị”. Một bộ phận đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên bị chúng mua chuộc, dụ dỗ, bị cuốn theo vào việc khiếu kiện, đấu tranh đòi quyền lợi, biểu tình, gây bạo loạn trên địa bàn, chúng phát tán tài liệu, hình ảnh, tuyên truyền về quyền của người dân bản địa. Âm mưu thủ đoạn của chúng không chỉ nhằm làm mất ổn định chính trị - xã hội ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên của nước ta mà còn nhằm làm tha hóa, biến chất, mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo đội ngũ cán bộ ở địa phương, vô hiệu hóa đội ngũ cán bộ, thúc đẩy đội ngũ cán bộ địa phương làm việc cho chúng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc từ đội ngũ cán bộ.

Hiện nay, vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc đang được các thế lực thù địch sử dụng như một ngón đòn hiệu quả nhất trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá Việt Nam. Đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống. Phải thường xuyên tuyên truyền, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, không mơ hồ, ảo tưởng, mất ý thức cảnh giác. Nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận, phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, có ý thức trách nhiệm công dân cao thì không những trực tiếp góp phần làm phá sản những âm mưu, thủ đoạn lôi kéo, chia rẽ, dụ dỗ, kích động của các thế lực thù địch, mà còn tạo ra sự “miễn dịch”, “sức đề kháng” cần thiết trước mọi thủ đoạn lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Tuyên truyền, vận động làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số thực sự là công dân tích cực của đất nước trong thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm an ninh, an toàn cuộc sống người dân, thực hiện công bằng xã hội, hướng đến mục tiêu bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng cùng phát triển. Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm: Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030”[1]. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiêm trị âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. 

Đoàn kết dân tộc là một vấn đề rất quan trọng đối với mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm cách phát huy tinh thần dân tộc, lòng yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, quy tụ mọi lực lượng có thể để chiến thắng xâm lược, chiến thắng đói nghèo lạc hậu, giành độc lập tự do cho dân tộc, ấm lo hạnh phúc cho nhân dân. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là chủ trương, quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước. Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy nhanh quá trình “chuyển hoá Việt Nam”, thông qua việc tuyên truyền, kích động, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc. Có thể thấy rằng, thủ đoạn của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Do đó, cần nhận diện chính xác âm mưu, thủ đoạn và tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn đó để có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục, góp phần củng cố, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời nâng cao nhận thức, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp; đấu tranh có hiệu quả âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch đối với Việt Nam.HT

 

 

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ 13, Tập 2. Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021, tr140.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét