Việt
Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc; có 54 thành phần dân tộc khác nhau,
xét về lịch sử định cư có những dân tộc bản địa đã cư trú hàng ngàn năm, có dân
tộc di cư đến Việt Nam cách đây mấy trăm năm. Ở Việt Nam, quá trình dân tộc
(tộc người) cũng tuân theo quy luật khách quan, đan xen của cả hai xu hướng
liên kết và phân tách; song, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, xu hướng chủ
đạo là liên kết với đặc trưng nổi bật là cố kết và hòa hợp. Quá trình đồng hóa
trong nội bộ dân tộc diễn ra mang tính tự nhiên là chủ yếu. Tuy nguồn gốc, lịch
sử, nhân chủng, ngữ hệ, bản sắc văn hóa các dân tộc có sự khác nhau nhưng nhìn
chung, các dân tộc ở Việt Nam có sự tương đồng về văn hóa của các dân tộc khu
vực Đông Nam Á, gắn với sản xuất nông nghiệp trồng lúa và chăn nuôi gia súc,
gia cầm. Điều đặc biệt nổi trội là trong quan hệ dân tộc, các dân tộc đều đề
cao tính cộng đồng, sự hòa đồng. Ở Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử,
không có chiến tranh giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo. Trái lại, các cuộc
chiến tranh chủ yếu là chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước. Trong các
cuộc chiến tranh đó, cũng như trong cuộc sống hòa bình, các dân tộc ở Việt Nam
đều đoàn kết chặt chẽ, gắn bó với nhau cùng chống kẻ thù chung và chống thiên
tai khắc nghiệt. Bởi vậy, trong tâm lý, ý thức dân tộc có sự hòa quyện, hài hòa
giữa tâm lý, ý thức tộc người và tâm lý, ý thức quốc gia, dân tộc, trong đó tâm
lý, ý thức quốc gia dân tộc giữ vai trò chi phối. Chính những yếu tố như hoàn
cảnh tự nhiên, kinh tế xã hội và đời sống, sự hình thành sớm lãnh thổ quốc gia
thống nhất, vai trò quản lý của nhà nước phong kiến tập trung trong giải quyết
các mối quan hệ dân tộc, cùng sự gắn bó đan xen lợi ích, vận mệnh các dân tộc
trong lịch sử, đã tác động đến sự hình thành ý thức giữ gìn dân tộc nổi trội đó
của các dân tộc ở Việt Nam. Cũng vì lẽ đó, ở Việt Nam xu hướng phân tách của
quá trình dân tộc không nổi trội và trong xu hướng đó, chủ yếu là sự di cư của
các tộc người đến các địa bàn thuận lợi hơn cho cuộc sống mưu sinh, còn các
khuynh hướng ly khai nhìn chung là hết sức mờ nhạt. Mặt khác, với sự cư trú
trên cùng địa bàn nên các dân tộc phải nương tựa vào nhau, đồng cam, cộng khổ,
chia sẻ ngọt bùi, tương trợ lẫn nhau. Truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương
thân, tương ái của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là giá trị tốt đẹp được kết
tinh và bồi đắp trong lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam, là điều kiện hết sức thuận lợi để kế thừa, phát huy trong xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc.
Đoàn kết dân tộc luôn là động lực to lớn quyết định đến
thành công của sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ xưa đến
nay. Với một đất nước đa dân tộc và nhiều dân tộc thiểu số như Việt Nam, thì sự
cố kết cộng đồng các dân tộc, đoàn kết dân tộc luôn luôn là vấn đề đặc biệt
quan trọng. Trong vấn đề đoàn kết dân tộc, thì đoàn kết giữa dân tộc đa số
(Kinh) với các dân tộc thiểu số; đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau
trong đại gia đình dân tộc Việt Nam là nội dung cơ bản, chủ chốt và rộng rãi
nhất. Sự gắn bó đoàn kết của các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam là
cơ sở xây dựng một cộng đồng quốc gia thống nhất, bền vững.
Đoàn
kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam được hình thành
và phát triển trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Sự hình thành
và phát triển truyền thống đoàn kết toàn dân tộc bắt nguồn từ điều kiện hoàn
cảnh tồn tại khách quan về tự nhiên và xã hội của dân tộc Việt Nam, đồng thời
là kết quả của sự nuôi dưỡng, giáo dục kế thừa và phát huy của các thế hệ người
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử dân tộc. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đại đoàn kết dân tộc ngày càng được phát
huy cao độ, được nâng lên một tầm cao mới. Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường
lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong các giai đoạn cách mạng do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chiến lược Đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được thực
hiện nhất quán, đúng đắn và sáng tạo. Đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành
nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho thắng lợi bền vững của sự nghiệp giải
phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh dân tộc Việt Nam là mục tiêu
xuyên suốt, một phương thức cơ bản được các thế lực thù địch thực hiện trong
chiến lược chống phá cách mạng Việt Nam. Các thế lực thù địch nhận rõ rằng, sức
mạnh của Việt Nam là sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đoàn kết dân tộc chính là cội nguồn của sức
mạnh Việt Nam trong lịch sử đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay. Cũng chính vì lẽ đó, các thế lực thù địch luôn chọn tiến
công phá hoại khối đoàn kết dân tộc Việt Nam là hướng quan trọng nhất, hiệu quả
nhất để thực hiện mưu đồ chuyển hoá Việt Nam. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau,
thì âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong lợi dụng vấn đề dân tộc,
chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng nước ta có những
biểu hiện cụ thể, nội dung, hình thức khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, các
thế lực thù địch gia tăng lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, dân
chủ, nhân quyền, sự khác biệt về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán; lợi
dụng trình độ dân trí thấp, sự khó khăn về kinh tế - xã hội của các dân tộc
thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, reo
dắt tâm trạng hoài nghi trong đồng bào thiểu số về chế độ xã hội chủ nghĩa;
tăng cường kích động chia rẽ các dân tộc thiểu số với người Kinh, giữa các dân
tộc thiểu số với nhau, chia rẽ nhân dân các dân tộc thiểu số với Đảng, chính
quyền, với các lực lượng vũ trang. Việc nhận
rõ âm mưu, thủ đoạn nói trên của các thế lực thù địch luôn là yêu cầu quan trọng
trong quá trình đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng. Có
thể nhận thấy rõ một số âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch đã và đang áp
dụng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trên một số vấn đề sau.
1. Chia rẽ, kích
động đồng bào dân tộc thiểu số chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
Thực chất đây là âm mưu nhằm tách đồng bào dân tộc thiểu
số ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của chính quyền; thực hiện “chuyển
biến” một số đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi thành lực lượng ly khai,
chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước; làm mất hiệu lực hoạt động
lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc thiểu số và các
lĩnh vực đời sống xã hội vùng dân tộc thiểu số. Đây thực sự là hướng tiến công
rất nguy hiểm của các thế lực thù địch. Với âm mưu này, các thế lực thù địch
thực hiện đánh thẳng một cách trực diện, trực tiếp vào cơ sở xã hội rất quan
trọng và rộng rãi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta, phá hoại khối
đại đoàn kết toàn dân tộc từ cơ sở. Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã rất
nỗ lực, thực hiện nhiều chính sách, chương trình mục tiêu ưu tiên phát triển
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích
cực, giảm nghèo thu được nhiêu kết quả đáng ghi nhận. Bản sắc văn hóa, ngôn ngữ
các dân tộc được tôn trọng, bảo tồn và phát huy. Giáo dục, y tế có bước phát
triển mạnh mẽ. Hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số được củng cố.
Tỷ lệ đại biểu người dân tộc thiểu số trong các cơ quan dân cử được đảm bảo. Tuy
nhiên, đời sống của một phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn;
thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo còn cao hơn so với mặt bằng
chung của cả nước; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; môi trường tự nhiên
bị suy thoái. Việc triển khai một số chính sách, chương trình phát triển kinh
tế - xã hội còn chậm, hiệu quả thấp; một số công trình đầu tư cho vùng dân tộc,
miền núi còn để thất thoát, lãng phí, làm giảm lòng tin của nhân dân. Nguyên
nhân những hạn chế trên có cả chủ quan và khách quan, nhưng vấn đề mấu chốt là
do còn thiếu cơ chế khơi dậy, phát huy ý chí tực lực, tự cường của các dân tộc;
một số cơ chế chính sách chưa thật sự phù hợp và đáp ứng một cách kịp thời,
thiết thực nguyện vọng người dân; những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống đồng
bào chưa được giải quyết triệt để cùng với những tiêu cực trong bộ máy chính
quyền cơ sở và trong xã hội đã tạo sự hoài nghi, thiếu tin tưởng của đồng bào với Đảng, Nhà nước, chế độ và cấp uỷ,
chính quyền các cấp. Lợi dụng vấn đề này các thế lực thù địch triệt để khoét
sâu, công kích, chống phá, gây mâu thuẫn xã hội, kích động đồng bào khiếu kiện,
chống đối chính quyền, gây rối trật tự xã hội kéo dài.
2. Chia rẽ các dân
tộc thiểu số với dân tộc Kinh, chia rẽ giữa các dân tộc thiếu số với nhau, phá
hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong
khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, thì đoàn kết giữa dân tộc Kinh với các dân
tộc thiểu số; đoàn kết giữa các dân tộc thiếu số với nhau là vấn đề đặc biệt
quan trọng, là nhân tố cơ bản cốt yếu đảm bảo sự vững chắc của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ bị suy yếu, rệu rã, tình
hình chính trị - xã hội sẽ bị mất ổn
định, thậm chí gây căng thẳng, khó kiểm soát, hình thành các điểm nóng, nếu có
tình trạng dân tộc thiểu số này mâu thuẫn với dân tộc thiếu số khác, dân tộc
thiểu số mâu thuẫn với dân tộc đa số; nếu các mâu thuẫn này không được xem xét
và giải quyết đúng đắn, phù hợp và kịp thời.
Đây là mục tiêu trực tiếp, mục tiêu “đầu cầu” trong âm mưu chiến lược
chống phá khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta của các thế lực thù địch. Xuyên
tạc, nói xấu những hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của người Kinh ở vùng dân
tộc thiểu số, cho rằng người Kinh đến đây để “cướp đất”, “cướp rừng” của đồng
bào dân tộc thiểu số. Cố tình đổ lỗi sự nghèo khó của đồng bào các dân tộc
thiểu số là do sự có mặt của người Kinh; kích động đồng bào dân tộc thiểu số
chống lại người Kinh. Lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, sự khác biệt về
văn hóa, phong tục, tập quán, các thế lực thù địch thường xuyên tập trung và
tìm mọi cách để xuyên tạc, gây mâu thuẫn, tạo “làn sóng” “bài người Kinh” trong
đồng bào các dân tộc thiểu số.
3. Hình thành lực lượng đối lập, tạo địa bàn, nuôi dưỡng một số tổ chức
phản động trong đồng bào các dân tộc thiểu số để chống phá cách mạng nước ta
Thực hiện được điều này, các thế lực thù địch không những
chia rẽ dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh, chống đối lại Đảng và Nhà nước, mà
còn tạo ra những điều kiện chính trị - xã hội và địa lý thuận lợi cần thiết cho
sự chống đối ấy được hiệu quả hơn, thúc đẩy “diễn biến hoàn bình” và “bạo loạn
lật đổ”. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nhúng tay, can thiệp chống
phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch từ bên ngoài, kể cả việc thực
hiện bằng biện pháp quân sự. Để tăng cường hiệu quả chống đối, phá hoại khối
đại đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động tài trợ vật
chất, chỉ đạo đường hướng hoạt động, tập hợp lực lượng trong bọn phản động đội
lốt tôn giáo, các phần tử cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua
truyền đạo trái phép, các thế lực thù địch cố tìm mọi cách làm cho đồng bào
thiểu số xa rời cách mạng, chỉ tin theo lời mua chuộc, dụ dỗ của chúng, phát
triển tín đồ để tập hợp, phát triển lực lượng phản động. Ở Tây Bắc, các thế lực
thù địch thực hiện chủ trương “Tin lành hóa người Mông”, chúng hình thành các
đường dây, tổ chức đưa người dân tộc Mông xuất cảnh trái phép sang Lào, tham
gia “Bộ đội Mông”, hoạt động phỉ, chờ thời cơ thành lập “Nhà nước Mông tự trị”.
Ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn trong đời
sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số để tăng cường truyền giáo, dùng vật
chất để mua chuộc đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo. Chúng ra sức tuyên truyền
phản động, làm cho đồng bào tin rằng chỉ có gia nhập và đi theo “Hội thánh Tin
lành Đề ga” thì đồng bào mới được sung sướng. Dưới sự chỉ đạo và bảo trợ của
các thế lực thù địch ở bên ngoài, nhiều tổ chức phản động trong người Thượng
Tây Nguyên ở nước ngoài được thành lập, chúng cấu kết với lực lượng phản động
Fulro gia tăng hoạt động tuyên truyền, kích động nhằm thành lập “nhà nước Đềga tự
trị”. Một bộ phận đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên bị chúng mua chuộc, dụ dỗ,
bị cuốn theo vào việc khiếu kiện, đấu tranh đòi quyền lợi, biểu tình, gây bạo
loạn trên địa bàn, chúng phát tán tài liệu, hình ảnh, tuyên truyền về quyền của
người dân bản địa. Âm mưu thủ đoạn của chúng không chỉ nhằm làm mất ổn định
chính trị - xã hội ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên của nước ta mà còn nhằm làm
tha hóa, biến chất, mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo đội ngũ cán bộ ở địa phương, vô
hiệu hóa đội ngũ cán bộ, thúc đẩy đội ngũ cán bộ địa phương làm việc cho chúng,
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc từ đội ngũ cán bộ.
Hiện
nay, vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết
dân tộc đang được các thế lực thù địch sử dụng như một ngón đòn hiệu quả nhất
trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá Việt Nam. Đấu tranh ngăn chặn,
làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động của các thế lực thù địch chống
phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa xây và
chống. Phải thường xuyên tuyên truyền, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân nhận thức đúng, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn
kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, không mơ hồ, ảo tưởng, mất ý thức
cảnh giác. Nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý
luận, phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Nâng cao trình
độ dân trí cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn
giáo ở vùng sâu, vùng xa có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, có ý thức trách nhiệm
công dân cao thì không những trực tiếp góp phần làm phá sản những âm mưu, thủ
đoạn lôi kéo, chia rẽ, dụ dỗ, kích động của các thế lực thù địch, mà còn tạo ra
sự “miễn dịch”, “sức đề kháng” cần thiết trước mọi thủ đoạn lợi dụng, mua
chuộc, lôi kéo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Tuyên truyền, vận động làm
cho đồng bào các dân tộc thiểu số thực sự là công dân tích cực của đất nước
trong thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm an ninh, an
toàn cuộc sống người dân, thực hiện công bằng xã hội, hướng đến mục tiêu bảo
đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng cùng phát triển.
Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm: Mọi hoạt động của hệ thống chính trị,
của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân.
Giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân. “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt
các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù
giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm,
định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu
quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
giai đoạn 2021 - 2030”[1]. Có
cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc
thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững,
chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Nghiêm trị âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân
tộc.
Đoàn kết dân tộc là một vấn đề rất quan trọng đối với mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm cách phát huy tinh thần dân tộc, lòng yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, quy tụ mọi lực lượng có thể để chiến thắng xâm lược, chiến thắng đói nghèo lạc hậu, giành độc lập tự do cho dân tộc, ấm lo hạnh phúc cho nhân dân. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là chủ trương, quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước. Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy nhanh quá trình “chuyển hoá Việt Nam”, thông qua việc tuyên truyền, kích động, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc. Có thể thấy rằng, thủ đoạn của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Do đó, cần nhận diện chính xác âm mưu, thủ đoạn và tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn đó để có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục, góp phần củng cố, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời nâng cao nhận thức, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp; đấu tranh có hiệu quả âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch đối với Việt Nam.HT
[1]
Đảng
Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội biểu toàn quốc lần thứ 13, Tập 2. Nxb
CTQGST, Hà Nội, 2021, tr140.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét