Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ- BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY TINH THẦN QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG

 CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ- BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY TINH THẦN QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG

Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, khơi nguồn cho sự vùng dậy mạnh mẽ của các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh tự giải phóng, đánh dấu cho sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới.
Thắng lợi vĩ đại đó có giá trị lý luận, thực tiễn rất sâu sắc, để lại nhiều bài học quý giá đối với sự nghiệp đổi mới, hội nhập, phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là bài học về phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn dân tộc; thể hiện trên một số vấn đề sau đây:
Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc; giữ vững sự lãnh đạo của đảng; tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Trên cơ sở phân tích khoa học, chính xác tình hình, tháng 12-1953, Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Thấu triệt quyết tâm của Trung ương, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nêu cao tinh thần anh dũng chiến đấu và phục vụ chiến dịch, “đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”(1).
Chuẩn bị bước vào chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” và gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia trận quyết chiến chiến lược; Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”(2). Thực hiện huấn thị của Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã “Lệnh động viên toàn thể cán bộ và chiến sĩ các đơn vị, toàn thể các binh chủng, mở cuộc đại tiến công vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”... Lá cờ Bác trao và những lời căn dặn của Người đã trở thành lời hiệu triệu, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước ra sức thi đua phấn đấu lập công.
Trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến đấu, cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp luôn theo dõi diễn biến tình hình, chủ động nắm, giải quyết kịp thời vấn đề tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trên các hướng, mũi tiến công. Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy trên các mũi, hướng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thực tế chiến trường, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; trong đó tập trung quán triệt chỉ thị của Tổng cục Chính trị “về công tác chính trị trong Chiến dịch Điện Biên Phủ”; bộ đội được quan tâm động viên kịp thời, tích cực học tập theo phương pháp: Cán bộ trước, chiến sĩ sau; trong Đảng trước, ngoài Đảng sau. Đặc biệt, sau khi Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định thay đổi phương châm và kế hoạch tác chiến chiến dịch từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, cấp ủy và cơ quan chính trị các cấp đã kịp thời có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ làm cho mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các lực lượng thông suốt, tin tưởng ở phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, phát huy tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, liên tục chiến đấu dài ngày, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh, quyết chiến, quyết thắng. Các đoàn văn công biểu diễn ngay tại chiến hào, trong hầm pháo; hát cho bộ đội ở vị trí tiền tiêu qua máy điện thoại. Báo Quân đội nhân dân được cơ quan tuyên huấn mặt trận tổ chức khai thác thông tin và phát hành tại chiến trường, kịp thời phản ánh tình hình chiến sự, cổ vũ, động viên các lực lượng tham gia chiến dịch.
Chiến thắng Điện Biên Phủ-Bài học về phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng
Đại tướng Lương Cường động viên khối nữ luyện tập chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-2024). Ảnh: TUẤN HUY
Phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bài học có tính nguyên tắc, quyết định là phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, “giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”(3). Để thực hiện tốt mục tiêu đó, cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, cần quán triệt sâu sắc và vận dụng linh hoạt, sáng tạo, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chỉ thị, các chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang trong triển khai thực hiện có hiệu quả những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quân sự, quốc phòng; đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng; quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ.
Hai là, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích), nòng cốt là Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; huấn luyện sát thực tế chiến đấu.
Sự trưởng thành nhanh chóng về số lượng và nâng cao chất lượng, khả năng hiệp đồng tác chiến của bộ đội chủ lực là một trong những nhân tố quan trọng làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ. Để giữ vững thế chủ động chiến lược và chuẩn bị cho cuộc tiến công Đông Xuân 1953-1954, Bộ Tổng Tham mưu tập trung chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân vững mạnh. Biên chế từ đại đội tới đại đoàn được xây dựng lại theo hướng gọn, nhẹ, tăng cường hỏa lực và sức đột kích. Trải qua 8 năm vừa xây dựng vừa chiến đấu, vừa tác chiến vừa huấn luyện, qua các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, các cuộc vận động “luyện quân lập công”, “rèn cán chỉnh quân”, chấn chỉnh tổ chức biên chế... đã giúp bộ đội ta nâng cao bản lĩnh chính trị, nắm vững và sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị, nâng cao kỹ thuật, chiến thuật trong các loại hình tác chiến. Trong suốt quá trình chiến dịch, dưới mưa bom của không quân và lưới lửa pháo binh địch, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, bộ đội ta đã thực hiện triệt để phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, chiến đấu dũng cảm, thực hành xung phong đánh chiếm đồi Him Lam, đồi Độc Lập, phát triển trận địa, cắt đứt sân bay, đánh lui các trận phản kích, thắt chặt vòng vây tập đoàn cứ điểm... Đây là nhân tố quan trọng xây dựng bản lĩnh chiến đấu, niềm tin tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng và chỉ huy các cấp, xây dựng và phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng làm nên thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cần đặc biệt coi trọng công tác xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân cân đối và đồng bộ; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, trước hết phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 2-4-2022 của Quân ủy Trung ương “Về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”; Kế hoạch số 1228/KH-BQP của Bộ Quốc phòng “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”. Hoàn thành điều chỉnh tổ chức Quân đội, đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại(4).
Các cơ quan, đơn vị, nhà trường cần nghiên cứu, vận dụng xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp huấn luyện, đào tạo phù hợp với vai trò, chức năng của từng lực lượng, đối tượng, loại hình cơ quan, đơn vị và đặc điểm địa bàn. Tiếp tục đổi mới, đột phá nhiệm vụ huấn luyện theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương “Về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo”. Trong quá trình huấn luyện, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng công tác huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu; huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị, nhất là vũ khí, trang bị mới, hiện đại; tăng cường huấn luyện đêm, cơ động nhanh, huấn luyện hiệp đồng, xử lý các tình huống phức tạp trên biển, đảo và biên giới đất liền, trên không gian mạng, khu vực trọng điểm; kết hợp huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, dư luận và rèn luyện thể lực bộ đội, nâng cao bản lĩnh, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với thực hiện nền nếp chính quy, chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, pháp luật của Nhà nước.
Ba là, chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Nắm chắc tình hình là một trong những căn cứ rất quan trọng để xây dựng ý chí quyết đánh và quyết thắng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 nói riêng, Đảng ta luôn nắm chắc tình hình, chủ động xây dựng và thay đổi phương án tác chiến phù hợp với thực tiễn diễn biến trên chiến trường. Dựa vào thế trận toàn dân đánh giặc, ta vừa có điều kiện tập trung lực lượng đánh tiêu diệt lớn vừa chủ động buộc thực dân Pháp phải phân tán lực lượng, ngày càng lâm vào thế bị động và cuối cùng phải chịu thất bại.
Chấp nhận giao chiến và giành thắng lợi trên địa bàn mà đối phương có lực lượng mạnh nhất, vũ khí, trang bị hiện đại; đây là một quyết tâm thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Trên khắp các mặt trận, cả ở trong nước và ngoài nước, cả ở hậu phương và tiền tuyến, cấp ủy, chỉ huy, cán bộ các cấp luôn chủ động nắm bắt mọi diễn biến, đặc biệt là tình hình tư tưởng, kịp thời quán triệt, động viên, truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu, đồng thời đấu tranh khắc phục những tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực và những biểu hiện bi quan, vô kỷ luật, thiếu niềm tin vào thắng lợi. Qua đó, cán bộ, chiến sĩ và lực lượng tham gia chiến dịch đã xác định rõ quyết tâm, mục tiêu chiến đấu, từ đó luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, kiên cường chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến rất phức tạp, khó lường. Trong nước, sau gần 40 năm đổi mới, nước ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”(5). Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội, “dân sự hóa” quân sự. Do vậy, công tác dự báo chiến lược, nghiên cứu, đánh giá chính xác tình hình, nhận thức rõ đối tác-đối tượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để tham mưu đúng, trúng, kịp thời, hiệu quả, giải quyết tốt các mối quan hệ quốc tế, bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Vận dụng bài học từ lịch sử để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, cùng với các cấp, các ngành, Quân đội nhân dân Việt Nam cần “nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(6). Đây vừa là tư tưởng chỉ đạo vừa là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, ổn định đất nước, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, nhất là cơ quan cấp chiến lược, chiến dịch cần chủ động nâng cao năng lực nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình. Qua đó kịp thời tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước chủ trương, chính sách, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, tuyệt đối không để đất nước bị động, bất ngờ; nhất là khả năng địch tiến công từ trên không, trên biển bằng vũ khí công nghệ cao.
Bốn là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại; khơi dậy khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung và trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ nói riêng, bằng việc phát huy sức mạnh nội lực là chủ yếu, kết hợp với sức mạnh thời đại, Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa thời đại. Với quan điểm coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới và luôn kiên định thực hiện đường lối đoàn kết quốc tế trong sáng, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ to lớn của các lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp, đặc biệt là của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, góp phần đưa chiến dịch đến thắng lợi hoàn toàn.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sức mạnh dân tộc cần phải gắn kết chặt chẽ với sức mạnh thời đại, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được tiến hành tích cực, chủ động, khôn khéo, linh hoạt, thực chất, hiệu quả; tiếp tục là điểm sáng trong những trụ cột của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân. Toàn quân tiếp tục quán triệt nghiêm túc Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 53-KL/TW ngày 28-4-2023 của Bộ Chính trị và chủ trương, giải pháp của Quân ủy Trung ương lãnh đạo thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
Trên cơ sở những kết quả đạt được, các cơ quan, đơn vị tập trung quán triệt, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng với phương châm: Độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam(7). Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương và song phương; chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tận dụng các nguồn lực và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo môi trường hòa bình, điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quán triệt định hướng chiến lược, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy bằng biện pháp hòa bình, trong quá trình triển khai cần nhạy bén, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi các nguy cơ đối đầu, xung đột, chiến tranh. Thực hiện nhất quán phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định, kiên trì nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, làm cho đối ngoại quốc phòng trở thành công cụ hữu hiệu, kênh ngoại giao quan trọng của đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước. Phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, bạn bè truyền thống, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh xảy ra; mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước trên cơ sở kiên định chính sách quốc phòng “4 không”, tạo thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với các đối tác, đáp ứng mục tiêu chiến lược và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng; đa dạng hóa đối tác thúc đẩy hợp tác trong phát triển công nghiệp quốc phòng, kỹ thuật quân sự, kết hợp với mua sắm vũ khí, khí tài mới, hiện đại và gắn với chuyển giao công nghệ, nhất là các công nghệ mới, hiện đại. Chủ động tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; tăng cường trao đổi đoàn quân sự các cấp; đối thoại chính sách quốc phòng cấp cao; tham gia các diễn đàn quốc tế và khu vực... nhằm tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin chiến lược và ngăn ngừa xung đột, góp phần nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.
Năm là, xây dựng, phát huy nhân tố chính trị tinh thần, là cội nguồn của tinh thần quyết chiến, quyết thắng.
Trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến, do phải chiến đấu liên tục, dài ngày, trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt, cũng có thời điểm xuất hiện tư tưởng mệt mỏi, ngại khó, ngại khổ hoặc chủ quan khinh địch, tự mãn ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Sau đợt 2 của chiến dịch, bộ đội thương vong lớn, quân số các đơn vị chưa kịp bổ sung, đạn dược còn rất ít, lương thực thiếu hụt, trong lúc địch tăng cường đánh phá các tuyến vận tải... đã tác động đến tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ; trước tình hình đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch triển khai ngay tại mặt trận một cuộc đấu tranh sâu rộng chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực, phát huy tinh thần tích cực cách mạng và tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh nhằm bảo đảm cho chiến dịch toàn thắng.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chính trị, chỉ huy các cấp đã có những biện pháp tiến hành giáo dục, động viên tinh thần, tư tưởng, kết hợp với giải quyết khó khăn cho bộ đội. Thông qua quán triệt, học tập, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân kiên định mục tiêu độc lập dân tộc; nhận thức rõ tính khách quan, tất yếu của việc thay đổi phương châm tác chiến; những thuận lợi, khó khăn, qua đó xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu với nhiều biện pháp, cách làm sáng tạo, thiết thực. Ý thức chấp hành kỷ luật, tinh thần quyết chiến, quyết thắng được nâng cao, tạo nên ưu thế tuyệt đối về sức mạnh chính trị, tinh thần, tạo ra sức mạnh mới để quân ta tổng công kích tiêu diệt hoàn toàn Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bảo đảm cho Quân đội luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trước hết, cần lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 2423-CT/QUTW ngày 9-11-2023 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị trong giai đoạn mới”, tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ, làm cơ sở để xây dựng Quân đội vững mạnh, tinh nhuệ về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của Quân đội.
Cùng với đó phải chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; phòng, chống hiệu quả những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội, “dân sự hóa” quân sự, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; góp phần bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an và nhân dân của các thế lực thù địch.
Thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả; tiếp tục thực hiện Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị trở thành công việc thường xuyên, hằng ngày của mỗi tổ chức, cá nhân, đơn vị với nhiều nội dung phong phú và thiết thực, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên.
Tầm vóc, giá trị, ý nghĩa lịch sử và thời đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đặc biệt là tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân Việt Nam trong trận quyết chiến chiến lược vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Tinh thần đó cần tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Dấu ấn của Bộ đội Trường Sơn trong các chiến dịch giai đoạn 1971 - 1975

Thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng, ngày 19-5-1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) tổ chức “Ðoàn công tác đặc biệt” (sau là Ðoàn 559, đến tháng 7-1970 đổi tên thành Bộ tư lệnh Trường Sơn), có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng cho chiến trường miền Nam; đưa bộ đội, cán bộ cơ quan dân-chính-đảng từ miền Bắc vào miền Nam và từ miền Nam ra miền Bắc chiến đấu, công tác, thực hiện các nhiệm vụ khác.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhất là để lại dấu ấn đậm nét trong thắng lợi của các chiến dịch từ năm 1971 đến 1975.

Đơn vị binh chủng hợp thành có quy mô lớn nhất, hoạt động trên địa bàn rộng nhất với phương thức đa dạng nhất

Về tổ chức, biên chế, đầu năm 1974, Bộ tư lệnh Trường Sơn đã phát triển đến đỉnh cao về quy mô tổ chức binh chủng hợp thành, gồm 9 sư đoàn binh chủng, 12 trung đoàn binh chủng cơ động và 1 sư đoàn cao xạ, 1 trung đoàn tên lửa do Bộ phối thuộc; toàn tuyến có hơn 10.000 xe vận tải các loại và hơn 1.500 xe-máy phục vụ các binh chủng. Tổng quân số kể cả lực lượng phối thuộc và thanh niên xung phong là 120.000 người. 

Về địa bàn hoạt động, đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh trở thành mạng đường liên hoàn, vững chắc với 5 trục dọc, 21 trục ngang nối Đông và Tây Trường Sơn, tổng chiều dài hơn 17.000km; một tuyến đường kín dài 3.140km; hệ thống đường sông dài 500km; hệ thống đường ống xăng dầu gần 1.500km xuyên Đông và Tây Trường Sơn vào đến Bù Gia Mập (Bình Phước); hệ thống đường dây thông tin gồm 4.000km dây trần, 11.569km dây bọc, 384km dây cáp... từ miền Bắc đến các chiến trường miền Nam, Trung-Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, đi qua 20 tỉnh của 3 nước Đông Dương.

Hoạt động của Bộ đội Trường Sơn diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ sửa chữa, làm mới, ngụy trang, chiến đấu bảo vệ cầu, đường; tổ chức vận tải đường bộ, đường sông bằng phương tiện thô sơ, cơ giới, cả ngày lẫn đêm; tổ chức và bảo vệ hệ thống bến, kho, trạm, binh trạm; tiếp nhận, cất trữ, cấp phát vật chất, vũ khí, trang bị; đưa đón cán bộ, bộ đội vào Nam, ra Bắc; chiến đấu chống địch tiến công đường bộ, đường sông và đường không; phối hợp chiến đấu với các đơn vị chủ lực của Bộ và LLVT hai nước bạn; đào tạo cán bộ; tổ chức giao liên, văn hóa-văn nghệ; thu dung, điều trị thương binh, bệnh binh; sửa chữa, khôi phục xe-máy, khí tài, trang bị; phối hợp với cấp ủy, chính quyền, vận động nhân dân các địa phương trên tuyến vận tải chiến lược đi qua... hợp thành tổng thể thống nhất mang tính đa dạng, đặc thù riêng biệt.

Với tầm vóc của một đơn vị binh chủng hợp thành có quy mô lớn nhất, hoạt động trên địa bàn rộng nhất với phương thức đa dạng nhất, Bộ đội Trường Sơn là lực lượng chiến lược góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược, chiến dịch, trong đó có các chiến dịch từ năm 1971 đến 1975.

Lực lượng chi viện chiến lược, hậu phương chiến lược trực tiếp của các chiến trường, chiến dịch

Với thế trận đường vận tải, cơ động như “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm”, cùng với lực lượng hùng mạnh của Bộ đội Trường Sơn, Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh trở thành căn cứ chiến lược, nơi đứng chân của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật. Từ Trường Sơn, các binh đoàn chủ lực xuất phát tham gia nhiều chiến dịch lớn, như: Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào năm 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Chiến dịch Đường 14-Phước Long cuối năm 1974 đến đầu năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Bằng sự nỗ lực cao độ của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn, sức người, sức của chi viện các chiến trường ngày càng tăng. Suốt 16 năm dưới sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển hơn một triệu tấn vật chất, vũ khí giao cho các chiến trường; bảo đảm hành quân cho hơn hai triệu lượt người; vận chuyển 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, hộ tống 90 đoàn binh khí kỹ thuật tham gia các chiến dịch, tiếp sức cho các chiến trường đánh bại từng chiến lược chiến tranh của địch. Khi ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lượng hàng vận chuyển tới các mặt trận lên tới 66.500 tấn. Trong năm 1973 và 1974, lượng hàng giao cho các chiến trường là hơn 403.300 tấn, gấp 3,8 lần giai đoạn 1969-1972. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ đội Trường Sơn làm nên kỳ tích cơ động 3 quân đoàn chủ lực thần tốc từ miền Bắc vào tham gia giải phóng miền Nam.

Bộ đội Trường Sơn thực hiện tốt nhiệm vụ chăm lo sức khỏe cho các đơn vị trên tuyến vận tải chiến lược và các đơn vị hành quân vào Nam, ra Bắc. Từ năm 1966 đến 1975, quân y Bộ đội Trường Sơn đã thu dung gần 430.000 thương binh, bệnh binh; điều trị khỏi về đơn vị tiếp tục chiến đấu gần 325.000 đồng chí (hơn 75,5%), không cứu được 2.518 đồng chí (0,58%), số còn lại chuyển về tuyến sau. Trong các chiến dịch, nhất là Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào năm 1971, quân y Bộ đội Trường Sơn đã cứu chữa hàng nghìn tù binh, thực hiện tốt chính sách nhân đạo, chính sách tù, hàng binh của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta.

Lực lượng tác chiến tại chỗ, đạt hiệu quả cao

Đến giữa năm 1964, khi Bộ đội Trường Sơn phát triển phương thức vận tải cơ giới, đế quốc Mỹ tập trung lực lượng, sử dụng nhiều vũ khí, trang bị hiện đại nhất lúc bấy giờ để tiến hành cuộc “chiến tranh ngăn chặn” với cường độ ngày càng cao. Tính đến khi Hiệp định Paris được ký kết (ngày 27-1-1973), Mỹ và tay sai đã huy động 733.000 lần chiếc máy bay đánh phá 152.000 trận; ném xuống các tuyến đường của ta gần 4 triệu tấn bom đạn, vượt xa số bom đạn mà “khối trục” phát xít sử dụng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đồng thời, địch mở hàng trăm cuộc hành quân càn quét, đánh phá, nhằm cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta.

Phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, Bộ đội Trường Sơn đã chiến đấu 2.500 trận bộ binh, loại khỏi vòng chiến đấu 18.740 tên địch, bắt 1.190 tên; thu, phá hủy hơn 100 xe quân sự và hàng nghìn súng các loại; bắn rơi 2.455 máy bay các loại, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược. Riêng 6 tháng đầu năm 1972, lực lượng phòng không Bộ đội Trường Sơn bắn rơi 194 máy bay các loại, trong đó có 71 chiếc rơi tại chỗ; lực lượng bộ binh liên tục chiến đấu, diệt 1.924 tên địch, làm bị thương 1.515 tên, bắt 55 tên, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

Bộ đội Trường Sơn là lực lượng phối hợp tác chiến quan trọng với bộ đội chủ lực trong các chiến dịch. Trong Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào, Bộ đội Trường Sơn bắn rơi 346 máy bay, diệt 8.105 tên địch, bắt 1.160 tên, phá hủy 136 xe tăng, xe cơ giới và 86 khẩu pháo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là một hướng chính của chiến dịch. Cuối năm 1972, Bộ đội Trường Sơn phối hợp với Bộ đội Pathet Lào tiến công giải phóng một vùng rộng lớn từ ngã ba các đường 11, 13 đến Đồng Hến và từ Saravane, Bolaven đến Attapeu ở Hạ Lào. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, nhiều đơn vị của Bộ tư lệnh Trường Sơn trực tiếp tham gia các chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung. Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ đội Trường Sơn sử dụng 6 sư đoàn binh chủng tham gia chiến đấu. Trong đó, 2 sư đoàn ô tô chiến đấu của Bộ đội Trường Sơn đã trở thành lực lượng cơ động bộ binh đi cùng xe tăng, thiết giáp của các quân đoàn chủ lực đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa, Bộ Tổng Tham mưu ngụy và Dinh Độc Lập.

Lực lượng trực tiếp góp phần tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia

 Những năm 1970, 1971, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Ðông Dương. Ở Campuchia, Mỹ tiếp tay cho tập đoàn phản động Lonnon Xirich Matắc đảo chính lật đổ chính phủ trung lập Sihanouk, phong tỏa cảng Sihanoukville, cắt đứt tuyến chi viện đường biển của ta. Ở Lào, chúng sử dụng tay sai tiến công Cánh Đồng Chum, Sảm Thông, Loong Chẹng, Mường Phìn... Bộ đội Trường Sơn đã phối hợp với LLVT và nhân dân hai nước bạn đẩy mạnh tiến công địch ở Trung-Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, giải phóng các khu vực Attapeu, Saravane, Kengcốc, Pha Lan, mở rộng vùng giải phóng đến Tây Nguyên và miền Ðông Nam Bộ, tạo thế và lực mới cho cách mạng 3 nước. Sau cuộc đảo chính của Mỹ và ngụy Lonnon (năm 1970), đường vào cảng Sihanoukville bị cắt, toàn bộ vật chất chi viện cho LLVT Giải phóng Campuchia đều do Bộ đội Trường Sơn đảm nhiệm. Tháng 2-1973, Bộ đội Trường Sơn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt đưa Quốc trưởng Sihanouk và Hoàng hậu về thăm vùng giải phóng Campuchia theo Đường Trường Sơn.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Bộ đội Trường Sơn tích cực, tận tình giúp đỡ bạn xây dựng, củng cố cơ sở chính trị và LLVT, ổn định đời sống và sinh hoạt cho khoảng 250.000 bà con các dân tộc trên địa bàn hoạt động. Đáp lại tình cảm của Đảng, nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam mà Bộ đội Trường Sơn là đại diện tiêu biểu, trực tiếp, LLVT và nhân dân hai nước bạn đã góp công sức, máu xương xây dựng, chiến đấu bảo vệ tuyến vận tải chiến lược; chở che, giúp đỡ bộ đội và các lực lượng chiến đấu, công tác; tự nguyện dời bản, chuyển nhà để tuyến vận tải chiến lược ngày càng mở rộng, vươn xa...

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, sức mạnh của tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa 3 nước Đông Dương được phát huy cao độ, trở thành biểu tượng sáng ngời của tinh thần quốc tế vô sản vô tư, trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành xuất sắc vai trò là lực lượng trực tiếp hiện thực hóa thành công chủ trương của Đảng về xây dựng, củng cố, tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu của 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung.

Chiến tranh ngày càng lùi xa, nhưng dấu ấn Bộ đội Trường Sơn trong các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là từ năm 1971 đến 1975 sẽ không phai mờ trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử xây dựng, phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng.

MƯỜI NĂM TUỔI QUÂN, LÀM NÊN CHIẾN THẮNG MANG TẦM THỜI ĐẠ

 MƯỜI NĂM TUỔI QUÂN,

LÀM NÊN CHIẾN THẮNG MANG TẦM THỜI ĐẠI
1. Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vui mừng tổ chức diễu - duyệt binh chào mừng kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tại chiến trường này năm xưa - Thành phố Điện Biên. Đây là dịp để quân và dân ta nhớ về năm tháng hào hùng, vô cùng oanh liệt, vẻ vang ấy - năm 1954; lúc đó Quân đội ta mới gần 10 tuổi quân nhưng đã đi qua Chiến thắng Phay Khắt - Nà Ngần - Thu Đông năm 1947, chiến thắng Biên giới 1950 và Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 để làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mang tầm vóc thời đại. Quân đội của Cụ Hồ mới 10 năm tuổi đã đánh bại đội quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp hùng mạnh, ghi dấu ấn sâu đậm vào lịch sử thế giới hiện đại - thế kỷ XX - một mốc son chói lọi, khởi đầu sự sụp đổ và chấm dứt sự thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
Tầm vóc, giá trị và ý nghĩa vĩ đại của Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và uy danh Hồ Chí Minh - Võ Nguyên Giáp không chỉ làm nức lòng quân và dân ta, mà còn được chào đón hân hoan của bạn bè khắp năm châu bốn biển - những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Từ đây, mở ra một thời đại mới và khẳng định niềm tin, chân lý: Một dân tộc đất không rộng, người không đông; kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu; Quân đội nhân dân vừa mới ra đời chưa đầy 10 năm, vũ khí còn thô sơ, thiếu thốn phương tiện quân sự nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản, sự “chung sức đồng lòng” cùng vào cuộc của cả một dân tộc, quân và dân ta đã đánh bại đội quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp - một quân đội của một quốc gia phương Tây hùng mạnh, lắm tiền, nhiều của; khoa học kỹ thuật tiên tiến; quân nhân được trang bị hiện đại từ chân đến đầu. Thế nhưng, họ đã thất bại thảm hại ở trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, đã phải cuốn cờ về nước.
Rõ ràng, bằng Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 đầy mưu trí, sáng tạo, quyết chiến quyết thắng, quân và dân ta, đứng đầu là Trung ương Đảng, Bác Hồ và Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, biết mở đầu và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến kéo dài hơn 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ.
Với chiến thắng vĩ đại này, Quân đội của Cụ Hồ tuy mới 10 tuổi đời nhưng đã lập nên chiến công hiển hách, ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam mới một thiên anh hùng ca bất hủ, một chiến công chói lọi, đã viết tiếp trang sử chiến thắng của Đống Đa - Thăng Long Hà Nội thời đại Hồ Chí Minh.
Chiến thắng Điện Biên Phủ có giá trị, ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc; đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ; đã để lại nhiều bài học quý báu cần vận dụng vào sự nghiệp xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; được quân đội các nước trên thé giới đưa vào giáo trình để nghiên cứu, học tập, tiếp thu kinh nghiệm chống chiến tranh xâm lược của Việt Nam.
Đây là một trong những bài học thành công nhất của 80 năm xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng của Đảng, Bác Hồ về việc quy tụ, tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần, góp phần quyết định thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ của một đảng cách mạng chân chính mới tròn 34 tuổi xuân. Chiến thắng Điện Biên Phủ thể hiện đường lối chính trị - quân sự đúng đắn và sự chỉ đạo chiến lược tài tình, sắc sảo của Đảng ta, trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch và Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Một trong những nét nổi bật nhất trong 10 năm xây dựng Quân đội ta của Đảng và Bác Hồ là phát huy hiệu quả vai trò của công tác chính trị tư tưởng; đặc biệt là sự phối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với công tác tổ chức để xây dựng, củng cố ý chí, niềm tin, ý chí và quyết tâm chiến đấu cho bộ đội và nhân dân. Nhờ đó, Đảng ta đã tạo được động lực tinh thần to lớn, sự nỗ lực phi thường cũng như ý chí “gang thép” để quân và dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, dám chấp nhận gian khổ, thiếu thốn, sẵn sàng hy sinh xương máu để giành bằng được chiến thắng Điện Biên Phủ trước kẻ thù xâm lược hung hãn và hiếu chiến.
Một trong những bài học quý rút ra từ Chiến thắng Điện Biên Phủ đối với gần 10 năm xây dựng Quân đội ta là xây dựng và phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đây là nét đẹp của văn hóa quân sự Việt Nam, thể hiện tính độc đáo, đặc sắc và rõ nhất ở việc xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, lấy xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và tạo ra “thế trận lòng dân” vững chắc để tiến hành chiến tranh cách mạng; xây dựng và phát huy tối đa mọi tiềm năng, thế mạnh, ý chí quyết tâm đánh giặc và thắng giặc của quân và dân ta.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định tính đúng đắn học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào trạng thái tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” và quan điểm của Đảng, Bác Hồ: Không một quân đội nào, không có khí giới nào có thể đánh gục ngã được tinh thần hy sinh của cả dân tộc; nhất là ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của quân và dân ta.
2. Vận dụng bài học kinh nghiệm 10 năm xây dựng Quân đội, phát huy nhân tố chính trị - tinh thần và chuẩn bị cho Chiến thắng của Điện Biên Phủ vào thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới; quân và dân ta cần khơi dậy và phát huy mạnh mẽ giá trị và ý nghĩa sâu sắc, độc đáo của những bài học kinh nghiệm rút ra từ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ để áp dụng sáng tạo vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong bối cảnh tình hình mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; nhất là việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Đây là vấn đề mấu chốt, có tính nguyên tắc và cũng là mục tiêu, yêu cầu bức thiết của sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, là cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội; góp phần xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội.
3. Để hoàn thành trọng trách lớn lao trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cần thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” và Nghị quyết số 847/NQ-QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”; gắn “xây” với “chống”, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, “cái đẹp dẹp cái xấu”.
Cùng với đó, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, giữ vững trận địa tư tưởng - văn hóa của Đảng trong Quân đội trước mọi tình huống, không để bị động bất ngờ. Tập trung thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; giải quyết thấu đáo mối quan hệ về đối tượng và đối tác, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Với lòng biết ơn, niềm niềm tin yêu và lòng tự hào về Chiến thắng Điện Biên Phủ vẻ vang - những ký ức tốt đẹp về 10 năm xây dựng Quân đội, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; quân và dân ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy nhân tố chính trị - tinh thần trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vào thực tiễn xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng (22/12/1944-22/12/2024) và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2024) góp phần quan trọng vào sự nghijep xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới./.

Khẳng định vai trò của Bộ đội Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

 

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh-Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19-5-1959 / 19-5-2024), sáng 17-5, tại Hà Nội, Viện Lịch sử Quân sự chủ trì, phối hợp với Binh đoàn 12 và Hội Truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Vai trò của Bộ đội Trường Sơn trong các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1971 đến năm 1975”.

Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nhấn mạnh, thực hiện chủ trương chiến lược hết sức sáng tạo của Đảng, tháng 5-1959, Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh ra đời, đáp ứng yêu cầu chi viện cho cách mạng miền Nam nói riêng và cách mạng ba nước Đông Dương nói chung trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Theo Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, 16 năm thực hiện nhiệm vụ mở đường, vận tải, chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế trong điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, địch sử dụng các loại vũ khí, trang bị hiện đại, tối tân để phát hiện, đánh phá, ngăn chặn, Bộ đội Trường Sơn đã vượt lên mọi hy sinh, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của tuyến chi viện chiến lược cho cách mạng miền Nam, hoàn thành vai trò của một chiến trường tổng hợp, là căn cứ chiến lược vững chắc của 3 nước Đông Dương.

Bên cạnh đó, Bộ đội Trường Sơn còn là lực lượng trực tiếp phục vụ chiến đấu và chiến đấu, lực lượng dự bị chiến lược của Bộ Quốc phòng, tham gia và phối hợp tác chiến với các lực lượng khác trong các chiến dịch lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Ban tổ chức hội thảo nhận được 69 báo cáo tham luận của các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng; thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội... Các tham luận đã khẳng định những đóng góp, cống hiến to lớn của Bộ đội Trường Sơn trong các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1971 đến năm 1975; rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử vận dụng, phát huy trong tình hình mới.

Tại hội thảo, trình bày tham luận, các đại biểu luận giải, làm rõ vai trò của Bộ đội Trường Sơn đối với sự phát triển, hoàn thiện tuyến chi viện chiến lược và hoàn thành xuất sắc vai trò lực lượng chi viện chiến lược, hậu phương chiến lược trực tiếp của các chiến trường, nhất là các chiến dịch từ năm 1971 đến năm 1975.

Các tham luận cũng khẳng định, Bộ đội Trường Sơn là lực lượng chiến đấu tinh nhuệ và hiệu quả, đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng vẻ vang, đánh bại cuộc chiến tranh ngăn chặn của đế quốc Mỹ và tay sai trên tuyến vận tải chiến lược; là lực lượng trực tiếp hiện thực hóa thành công chủ trương của Đảng về đoàn kết, liên minh chiến đấu ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung.

Đổi thay trên tuyến đường Trường Sơn Đông

Sau 17 năm thi công, hơn 530km đường Trường Sơn Đông đã bàn giao, đưa vào khai thác. Đường Trường Sơn Đông có tầm quan trọng đặc biệt về chiến lược phòng thủ quốc gia, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn 7 tỉnh miền Trung-Tây Nguyên. Bên cạnh đó, tuyến đường thông đến đâu, mở ra cơ hội phát triển kinh tế-xã hội, thay đổi diện mạo nông thôn mới đến đó.

Giao thông thuận lợi, mở cơ hội thu hút đầu tư

Những ngày đầu năm mới 2024, đi trên tuyến đường chiến lược Trường Sơn Đông do Bộ Quốc phòng, mà trực tiếp là Ban Quản lý dự án 46 (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) làm đại diện chủ đầu tư, chúng tôi thấy gương mặt của cán bộ và nhân dân trên địa bàn hiện rõ niềm vui. Thượng tá Nguyễn Tuấn Anh, Trưởng phòng Hiện trường (Ban Quản lý dự án 46) thông tin: “Đường Trường Sơn Đông đoạn qua tỉnh Đắk Lắk có tổng chiều dài 126,2km, đi qua 10 xã của các huyện: M’Đrắk, Lắk và Krông Bông, được triển khai xây dựng từ năm 2007. Đến nay đã hoàn thành đưa vào sử dụng 51,6km, trong đó, hoàn thành 20,6/20,7km đi qua 6 xã đặc biệt khó khăn của huyện M’Đrắk, gồm: Cư Prao, Ea H’Mlay, Ea Lai, Krông Jing, Krông Á và Cư San”.

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Hòa Quang Trường, Chủ tịch UBND xã Krông Á cho hay: Đường Trường Sơn Đông đoạn qua xã Krông Á hoàn thành đưa vào khai thác từ năm 2012. Trong 12 năm qua, đường Trường Sơn Đông trở thành tuyến huyết mạch, bảo đảm việc đi lại, lưu thông hàng hóa, phát triển thương mại, dịch vụ cho hơn 4.000 người dân, nối liền 5/7 thôn của xã. Hiện nay, trụ sở làm việc của xã, các trường học, công ty đều được đầu tư dọc đường Trường Sơn Đông. Điều đặc biệt đối với xã Krông Á cũng như huyện M’Đrắk là sau khi đường Trường Sơn Đông thông tuyến, đấu nối với Quốc lộ 19C và cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột, sẽ nối thông với các tỉnh: Phú Yên, Lâm Đồng, Khánh Hòa, mở ra cơ hội rất lớn trong thu hút đầu tư, lưu thông hàng hóa, phát triển thương mại, dịch vụ. Nhờ có đường Trường Sơn Đông mà năm 2023, xã Krông Á đạt các tiêu chí về giao thông, thương mại, dịch vụ và hoàn thành 12/19 tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới.

Nói về hiệu quả của đường Trường Sơn Đông, anh Nguyễn Văn Vịnh, Trưởng ban công tác Mặt trận thôn 2, xã Krông Á, cho biết: “Trước đây, việc đi lại khó khăn, từ khi có đường Trường Sơn Đông, việc vận chuyển nông sản của bà con rất thuận lợi, xe tải, thương lái vào tận nương rẫy để thu mua nông sản”. Gia đình anh Vịnh có 3ha mía, mỗi năm cho sản lượng hơn 240 tấn, khi chưa có đường Trường Sơn Đông, việc tiêu thụ mía rất khó khăn, trừ chi phí vận chuyển, thu nhập còn lại của gia đình không đáng kể. Bây giờ, việc mua bán, vận chuyển thuận lợi, từ 3ha mía, gia đình anh thu được hơn 300 triệu đồng/năm. Anh Vịnh cùng nhiều hộ nông dân khác ở xã Krông Á đã thoát nghèo.

Đồng chí Ra Lan Von Ga, Bí thư Huyện ủy M’Đrắk khẳng định: Đường Trường Sơn Đông thực sự mở ra cơ hội cho huyện M’Đrắk phát triển, phá thế cô lập cho 6 xã nơi tuyến đường đi qua, thu hút đầu tư, tạo thuận tiện trong việc đi lại và tiêu thụ nông sản cho hàng chục nghìn hộ dân, phân bổ lại dân cư, mở ra cơ hội thu hút đầu tư, nhất là lĩnh vực thương mại và dịch vụ. 

Nỗ lực về đích đúng hẹn

Theo Đại tá Trịnh Quang Thái, Giám đốc Ban Quản lý dự án 46, đường Trường Sơn Đông là trục giao thông chiến lược quan trọng, chạy giữa Quốc lộ 1A và Đường Hồ Chí Minh, kết nối 10 quốc lộ trục ngang trong khu vực 7 tỉnh miền Trung-Tây Nguyên, gồm: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Phú Yên, Đắk Lắk và Lâm Đồng. Đường Trường Sơn Đông thuộc danh mục các quốc lộ chính yếu khu vực miền Trung-Tây Nguyên theo Quyết định số 1454/QĐ-TTg ngày 1-9-2021 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Dự án được Bộ Quốc phòng phê duyệt tại Quyết định số 131/QĐ-BQP ngày 23-1-2006 và hai lần phê duyệt bổ sung điều chỉnh vào các năm 2011, 2020, có tổng chiều dài 666,79km; trong đó xây mới 609,02km, tận dụng 57,77km đường hiện hữu, với tổng mức đầu tư hơn 10.015 tỷ đồng, từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, nay là ngân sách nhà nước. Đến nay, sau 17 năm kể từ thời điểm khởi công xây dựng, dự án đã hoàn thành được 90% khối lượng công việc; nghiệm thu, bàn giao cho Bộ Giao thông vận tải quản lý, bảo trì, khai thác 530,12km, nối thông liên tục từ Quảng Nam đến phía Bắc tỉnh Đắk Lắk và đoạn tuyến của tỉnh Lâm Đồng...

Hiện nay, việc thi công các gói thầu còn lại trên tuyến đường đang bị chậm tiến độ so với kế hoạch, một số gói thầu phải tạm dừng thi công do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng và giải quyết thủ tục chuyển mục đích sử dụng rừng. Đến nay, có 276 hộ bàn giao mặt bằng bảo đảm thi công 9,336km; còn 480 hộ dân chưa lập được phương án bồi thường giải phóng mặt bằng để thi công 21,264km, do những vướng mắc trong xác định nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất và phê duyệt đơn giá đất.

Trước những vướng mắc này, mới đây, đồng chí Nguyễn Ngọc Pháp, Phó chủ tịch UBND huyện Krông Bông cam kết với Ban Quản lý dự án 46: Chỉ đạo UBND các xã, trung tâm phát triển quỹ đất, phòng tài nguyên và môi trường hoàn thiện phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng. Lâu nay, hệ thống đường giao thông trên địa bàn các xã: Cư Pui, Cư Đrăm và Yang Mao nằm ở thế cô lập. Khi có đường Trường Sơn Đông, sau này kết nối với cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột sẽ thông thương sang các tỉnh: Lâm Đồng, Khánh Hòa, kết nối với khu vực Nam miền Trung, mở ra cơ hội rất lớn để Krông Bông bứt phá, phát triển toàn diện. Vì vậy, đường Trường Sơn Đông sớm thông tuyến thì địa phương và người dân trên địa bàn sẽ sớm được hưởng những nguồn lợi do tuyến đường mang lại. 

SỰ BỊA ĐẶT, XUYÊN TẠC LÁO XƯỢC VÀ XÚC PHẠM

 SỰ BỊA ĐẶT, XUYÊN TẠC LÁO XƯỢC VÀ XÚC PHẠM

Đúng ngày 7-5-2024, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang sôi nổi, xúc động, tự hào cùng bạn bè quốc tế kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ anh hung, thì trên không gian mạng xuất hiện một số thông tin bịa đặt, xuyên tạc mang tính chống phá liên quan đến ngày lễ trọng thể này. Cụ thể, đối tượng xấu tung tin: giữa lúc người Pháp không còn dính dáng gì đến Việt Nam nữa, thì lại chính Hồ Chí Minh cầu xin người Pháp quay trở lại Việt Nam và từ đó người Pháp lại tiếp tục đô hộ Việt Nam “cho đến cuộc chiến Điện Biên Phủ đẫm máu mới kết thúc”.
Có thể khẳng định ngay rằng, thông tin trên hoàn toàn là sai trái, bịa đặt, láo xược, xúc phạm đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta. Sau Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam phát triển. Nhưng thực dân Pháp với dã tâm quay trở lại đô hộ đất nước ta một lần nữa, đã từng bước gây hấn, rồi liều lĩnh và trắng trợn gây chiến tranh trở lại Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng, Chính phủ và nhân dân kiên trì đấu tranh với mong muốn hòa bình để có điều kiện xây dựng, phát triển đất nước non trẻ vừa mới ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng với mong muốn không để xảy ra chiến tranh, nhưng kẻ thù vẫn ngoan cố lấn tới. Vì vậy, trước dã tâm của kẻ thù, trước nguy cơ độc lập, tự do vừa mới giành được bị đe dọa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ và quân dân ta đã quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình.
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.
Đáp lại Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước Việt Nam anh dũng, kiên cường, bền bỉ chiến đấu hy sinh với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Và với ý chí quyết tâm sắt đá, với truyền thống yêu nước nồng nàn, với sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, kết hợp với sức mạnh thời đại, với nghệ thuật tác chiến tài tình, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh - Người lãnh đạo tối cao và cũng là linh hồn của Chiến dịch Điện Biên Phủ của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ gian khổ nhưng hào hùng và vinh quang - quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ làm nức lòng nhân dân Việt Nam, thế giới hết lời ca ngợi, còn kẻ thù thì run sợ, khâm phục. Tướng Navarre, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông dương đã thẳng thắn đánh giá về quân đội Pháp và cuộc chiến tranh mà họ tiến hành: “Cuộc chiến tranh Đông Dương không phải là một cuộc chiến tranh dân tộc. Đó là một cuộc viễn chinh thôn tính ở một nơi xa xôi, tiến hành với một quân đội đơn độc, trong đó chúng ta không hiểu được ý nghĩa của nó”. Cũng chính Navarre đã khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi công nhận: “Một lãnh tụ chính trị duy nhất: Hồ Chí Minh và một lãnh tụ quân sự duy nhất: Giáp…”.
Vậy mà những kẻ chống phá lại cố tình tung ra những thông tin sai trái, xúc phạm, xấu độc trên với âm mưu đen tối nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chắc chắn chúng sẽ thất bại nhục nhã, vì sự bịa đặt láo xược, xúc phạm đó chỉ làm cho nhân dân ta và dư luận quốc tế hiểu rõ về bản chất xấu xa của chúng mà thôi. Còn với chúng ta cũng như những người yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, thì Chiến thắng Điện Biên Phủ gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, dân tộc Việt Nam anh hùng, sẽ còn mãi mãi “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”!

Triển lãm 100 tài liệu, hình ảnh “Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”

 

Tối 17-4, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội thông báo về chương trình triển lãm “Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”. Đây là hoạt động kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975/30-4-2024); 65 năm ngày mở đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh (19-5-1959/19-5-2024).

Triển lãm “Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại” giới thiệu khoảng 100 tài liệu, hình ảnh là những nội dung cô đọng nhất về sự ra đời của “Tuyến lửa” đường Trường Sơn, sức sống mãnh liệt của con đường qua bom đạn chiến tranh, trở thành một kỳ tích về sức mạnh chiến đấu, chiến thắng, một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Đảng, một huyền thoại trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta.

Triển lãm gồm 2 chủ đề: “Tuyến chi viện chiến lược cho miền Nam” và “Con đường huyền thoại”.

Những câu chuyện về con đường huyền thoại được kể trong không gian khu di tích Cách mạng Nhà và Hầm D67 sẽ đem đến cho du khách những thông tin, tư liệu giá trị về vai trò của Tổng hành dinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ý nghĩa chiến lược của quyết định mở đường Trường Sơn từ Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

Trải qua 16 năm (1959-1975), từ những con đường mòn men theo dãy Trường Sơn hùng vĩ, tuyến đường không ngừng được mở rộng, vươn xa như một “trận đồ bát quái” phủ kín dãy Trường Sơn, với tổng chiều dài toàn tuyến lên tới 20.000km, xuyên Bắc - Nam và ba nước Đông Dương, vươn tới tất cả các chiến trường, vận chuyển hơn 1 triệu tấn vật chất, vũ khí; đưa hơn 2 triệu lượt người hành quân từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, góp phần đặc biệt quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

“Con đường Trường Sơn, con đường Hồ Chí Minh là một công trình vĩ đại, nói lên ý chí nghị lực, tinh thần dũng cảm và sáng tạo phi thường của dân tộc Việt Nam, quyết đem sức người, sức của của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn, là một trong những nhân tố chiến lược có ý nghĩa quyết định, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

Triển lãm mở cửa phục vụ khách tham quan từ ngày 26-4 đến ngày 31-5, tại Khu di sản Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội.

MUỐN BẢO VỆ HÒA BÌNH, PHẢI PHẢN ĐỐI CHIẾN TRANH

 MUỐN BẢO VỆ HÒA BÌNH,

PHẢI PHẢN ĐỐI CHIẾN TRANH
Quân và dân ta đang sống trong những ngày tháng 5 lịch sử hào hùng của dân tộc, được tiếp thêm sức mạnh của 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30/4/2024); 70 năm Ngày Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” (7-5-1954 - 7-5-2024) và 79 năm Ngày chiến thắng Phát xít” (9-5-1945 - 9-5-2024) của Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng Minh, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới... Đây là những sự kiện lịch sử không bao giờ quên đối với nhân dân Việt Nam. Nó luôn nhắc nhở quân và dân ta phải biết nâng niu giá trị của cuộc sống hòa bình, của độc lập, tự do, bởi bằng máu xương của các anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào; của cả một dân tộc và nhân loại yêu chuộng hòa bình đã xây đắp nên hạnh phúc thiêng liêng cao quý ấy. Và chính nó luôn nhắc nhở quân và dân ta phải làm hết sức mình để phòng, chống chiến tranh dưới mọi hình thức; tuyệt đối không được để đất nước rơi vào vòng xoáy của mâu thuẫn, xung đột, “cách mạng màu”, làm cho các thế hệ con cháu phải đối mặt với xung đột, chiến tranh. Hơn thế, không được để sự tái diễn tình cảnh hai miền Bắc - Nam bị chia cắt, các thế hệ con cháu phải đổ máu, hy sinh; các gia đình phải ly tán, vợ phải xa chồng, con phải xa bố mẹ, xa người thân… Đất nước rơi vào thảm cảnh binh đao, khói lửa; thành quả cách mạng bị tàn phá, hạnh phúc của nhân dân bị tước đoạt.
Bài học về giá trị của hòa bình, phản đối và chống chiến tranh xâm lược đã được nhắc đi nhắc lại trong dịp Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta chào mừng kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 70 năm Ngày Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vừa qua. Hôm nay, nhân dân Việt Nam và toàn thể nhân dân Nga (nhân dân Liên Xô trước đây) và toàn thể nhân dân yêu cuộng hòa bình trên thế giới chào mừng 79 năm Ngày chiến thắng Phát xít của Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng Minh...
Đây là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX với chiến thắng vẻ vang của Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng Minh trước chủ nghĩa phát xít - “kẻ thù chung” của nhân loại, chấm dứt sự đe dọa nền hòa bình thế giới, giúp loài người thoát khỏi thảm họa diệt vong, mở ra giai đoạn phát triển mới của lịch sử hiện đại với sự xuất hiện và giành thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng như sự ra đời của hệ thống 15 nước XHCN và Liên hợp quốc; xu thế phát triển theo định hướng XHCN được nhiều nước ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ - Latinh tiếp nhận, tin tưởng và đi theo. Từ đây, giá trị của hòa bình, quyền bình đẳng, quyền tự quyết giữa các quốc gia - dân tộc được tôn trọng; việc giải quyết mâu thuẫn đối đầu, tranh chấp được tiến hành bằng biện pháp hòa bình từng bước được khẳng định như một tất yếu khách quan...
Chiến thắng chủ nghĩa phát xít và kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II - Tầm vóc, giá trị và ý nghĩa lịch sử và thời đại của chiến thắng vĩ đại ấy thật sâu sắc. Nó đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới tôn vinh, khẳng định ngày 9-5 hằng năm là Ngày Chiến thắng kẻ thù chung của nhân dân Liên Xô (nhân dân Nga ngày nay) và nhân dân các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới - Ngày tưởng nhớ, tri ân hơn 80 triệu người đã hy sinh vì độc lập, tự do, vì công lý và lẽ phải trong Chiến tranh thế giới lần thứ II để bảo vệ những giá trị của hòa bình, ý nghĩa cuộc sống làm người; kêu gọi nhân loại phải chủ động, tích cực đấu tranh phản đối chiến tranh, chống chiến tranh. Điều thiêng liêng ấy càng thêm thấm thía đối với nhân dân Việt Nam - một dân tộc đã phải “nếm mật, nằm gai”, chiến đấu dũng cảm, kiên cường suốt gần 100 năm chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1954) và 21 năm chống cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai gây ra (1954-1975) để giành lấy độc lập, tự do; để chứng minh chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cũng như các thế hệ con cháu của chúng ta mãi mãi không bao giờ quên cha ông mình đã dũng cảm chiến đấu, làm nên những chiến thắng vĩ đại của dân tộc và sẽ luôn nhắc đến cuộc chiến tranh tàn khốc, đẫm máu đã gây ra tại chiến trường châu Âu, chiến trường Việt Nam, nhất là ở chiến trường Điện Biên Phủ, Tây Nguyên, thành phố Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) vì những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của chiến tranh đến cuộc sống của người dân; đã cướp đi sinh mạng của gần 100 triệu người; trong đó có gần 3 triệu người dân Việt Nam.
Kỷ niệm 79 năm Ngày Chiến thắng Phát xít của Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng Minh, quân và dân ta ôn lại sự kiện ngày 2-/6-1941, phát xít Đức đánh chiếm hàng loạt nước châu Âu; ào ạt tiến công Liên Xô, gây ra cuộc chiến tranh Xô - Đức kéo dài 5 năm (1941-1945) vô cùng khốc liệt và đẫm máu. Hítle chủ trương tiêu diệt Liên Xô bằng cách “giết tất cả và hủy diệt tất cả”.
Hồng quân và nhân dân Liên Xô đã chống trả quyết liệt quân phát xít; từ phòng ngự đã chuyển sang phản công, tấn công quân Đức trên các mặt trận. Sau thắng lợi của Chiến dịch Matxcơva, Hồng quân Liên Xô đã giành thắng lợi lớn tại mặt trận Stalingrad, chấm dứt sự bao vây kéo dài 200 ngày đêm và đánh tan hơn 1,2 triệu quân phát xít. Đầu tháng 1-1944, Hồng quân Liên Xô phản công quân Đức ở mặt trận Leningrad, giải vây thành phố sau 900 ngày đêm bị bao vây, phong tỏa. Ngày 27-1-1944, Leningrad được giải phóng; chấm dứt chiến dịch bao vây kéo dài nhất trong lịch sử chiến tranh.
Toàn thắng, tiến lên, Hồng quân Liên Xô đã nhanh chóng giải phóng toàn bộ lãnh thổ Liên Xô và giải phóng các nước Đông Âu. Trong trận quyết chiến, chiến lược Berlin (Đức), Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt gần một triệu quân địch.
Trong khi Hồng quân Liên Xô tấn công quân Đức trên mặt trận phía Đông, quân đội Anh, Mỹ đã mở mặt trận phía Tây Âu. Ngày 9-5-1945, phát xít Đức buộc phải đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh đã kết thúc ở chính nơi mà nó bắt đầu; buộc đại diện Đức quốc xã đã phải ký biên bản xác nhận đầu hàng vô điều kiện Liên Xô và các nước Đồng Minh vào lúc 0 giờ 43 phút ngày 9-5-1945 (theo giờ Matxcơva).
Phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện Liên Xô và các nước Đồng Minh đã tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ - Latinh vùng lên giành độc lập dân tộc. Trong đó, có nhân dân Việt Nam. Nắm chắc tình hình và chớp thời cơ từ chiến thắng vĩ đại của Hồng quân Liên Xô, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lãnh đạo quân và dân ta tiến hành Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên tự do, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; mở ra một chặng đường lịch sử mới đầy tự hào và vẻ vang.
Chiến thắng phát xít Đức và kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II đã qua 79 năm nhưng bài học về chống phát xít - kẻ thù của chiến tranh thì vẫn còn nguyên giá trị, ý nghĩa thiết thực đối với thế giới và nhân dân Việt Nam. Nó luôn luôn nhắc nhở chúng ta về sự cần thiết phải bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh, phản đối chạy đua vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố; kiên quyết, kiên trì chống giặc ngoại xâm và “giặc nội xâm”… Cuộc xung đột quân sự Nga - Ucraina và cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là biểu hiện cụ thể sinh động, cần thiết để bảo vệ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.
Lúc này, bảo vệ thành quả cách mạng và đường lối đổi mới của Đảng là niềm vinh dự, tự hào và lẽ sống cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, là góp phần quan trọng vào bảo vệ hòa bình, bảo vệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân ta./.

Hà Nội: Trưng bày gần 100 tài liệu, hình ảnh về đường Trường Sơn

 

Sáng 26-4, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội tổ chức khai mạc triển lãm “Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”.

Triển lãm giới thiệu khoảng 100 tài liệu, hình ảnh là những nội dung cô đọng nhất về sự ra đời của “tuyến lửa” đường Trường Sơn; sức sống mãnh liệt của con đường qua bom đạn chiến tranh, trở thành một kỳ tích về sức mạnh chiến đấu, chiến thắng, một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Đảng, một huyền thoại trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Triển lãm gồm 2 chủ đề: Tuyến chi viện chiến lược cho miền Nam, Con đường huyền thoại.

Những câu chuyện về con đường huyền thoại được kể trong không gian khu di tích cách mạng Nhà và Hầm D67 đem đến cho du khách những thông tin, tư liệu giá trị về vai trò của Tổng hành dinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ý nghĩa chiến lược của quyết định mở đường Trường Sơn từ Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

Phát biểu tại buổi khai mạc triển lãm, ông Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội khẳng định: Triển lãm góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, trân trọng và biết ơn các thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh xương máu cho độc lập dân tộc; phát huy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, đẩy mạnh công tác “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”, tri ân các anh hùng liệt sĩ và những người có công với đất nước.

Triển lãm mở cửa phục vụ du khách tham quan đến ngày 31-5.