Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là di sản tinh thần vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai thắng lợi, hiệu quả đường lối, chiến lược và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng. Hiện nay, đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế khi tình hình trong nước và quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là việc làm cấp thiết để mở rộng quan hệ đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và là người sáng lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, nền ngoại giao hiện đại Việt Nam đã trưởng thành và lớn mạnh cùng với những bước đường cách mạng của cả dân tộc, đóng góp xứng đáng vào những thành quả cách mạng của đất nước. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với những nguyên lý và nội dung cơ bản, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao, là bộ phận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay cũng như mai sau tiếp tục xuất phát từ nền tảng tư tưởng đó và theo hướng kim chỉ nam ấy. Vì thế, việc không ngừng nghiên cứu, học tập, quán triệt và thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh sẽ góp phần rất quan trọng vào việc xây dựng và triển khai thành công đường lối đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Có như vậy, ngoại giao Việt Nam mới có thể vươn lên ngang tầm với thời đại, trở thành nền ngoại giao cách mạng, chính quy và hiện đại, có đủ khả năng để xử lý linh hoạt, kịp thời và hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.
Vai trò của ngoại giao trong lịch sử dân tộc và trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng, bền bỉ và kiên cường chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược để tồn tại và phát triển. Hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước. Từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau thường xuyên phải cầm vũ khí chống trả các thế lực xâm lược, bảo vệ non sông, nòi giống và bản sắc văn hóa dân tộc. Hiếm có một dân tộc nào trên thế giới mà sự nghiệp giữ nước lại thường xuyên gặp phải tình thế cam go như dân tộc Việt Nam: kẻ thù xâm lược luôn mạnh hơn rất nhiều lần. Do có vị trí địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, nên từ khi dựng nước, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam luôn bị các thế lực đế quốc thực dân hùng mạnh nhất nhòm ngó, xâm lược. Nhưng cuối cùng, chiến thắng luôn thuộc về Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn luôn trường tồn và phát triển. Có thể nói, trong lịch sử, Việt Nam là dân tộc luôn có khả năng vượt qua những trở ngại lớn vì có sức sống mạnh mẽ. Đó là một dân tộc anh hùng, không chịu khuất phục trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào.
Lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam đã khẳng định: Mặc dù kẻ xâm lược thường lớn hơn và mạnh hơn Việt Nam rất nhiều lần, nhưng do đoàn kết được các tầng lớp xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cho nên dân tộc Việt Nam thường lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, và cuối cùng đã đánh bại được mọi kẻ thù. Trong tất cả các thời kỳ lịch sử, bảo vệ độc lập luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam. Để bảo vệ được độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam thường phải đấu tranh trên nhiều mặt trận, trong đó mặt trận quân sự có tầm quan trọng hàng đầu. Nhưng để làm cho cuộc đấu tranh quân sự có được nhiều thuận lợi, dân tộc Việt Nam còn đấu tranh tài giỏi trên mặt trận ngoại giao.
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã biết đến vai trò quan trọng của ngoại giao như là một công cụ đấu tranh hòa bình với các quốc gia khác nhằm đạt mục đích “quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”. Bậc minh quân và hiền tài các triều đại phong kiến đều thể hiện quan điểm: đấu tranh ngoại giao luôn luôn hỗ trợ cho đấu tranh quân sự chống ngoại xâm. Đấu tranh ngoại giao có thể diễn ra sau hoặc đi trước đấu tranh quân sự. Có nhiều trường hợp, đấu tranh ngoại giao đi trước và diễn ra song song với đấu tranh quân sự, nhằm kết thúc đấu tranh quân sự với những điều kiện có lợi cho dân tộc, đất nước.
Lịch sử ngoại giao của Việt Nam được biết đến từ thời đại Hùng Vương. Từ thời kỳ Ngô, Đinh, Lê trở về sau, các hoạt động ngoại giao của ông cha ta ngày càng trở nên tài tình, khôn khéo, lúc cương, lúc nhu, luôn luôn thích hợp với tình hình cụ thể. Thế kỷ XV, những cuộc vận động ngoại giao do Lê Lợi và Nguyễn Trãi tiến hành với quân Minh đã tạo điều kiện cho nghĩa quân Lam Sơn đi từ thắng lợi quân sự này đến thắng lợi quân sự khác. Những thắng lợi này là tiền đề buộc Vương Thông ở Đông Quan phải chấp nhận các điều kiện đầu hàng do nghĩa quân Lê Lợi đề ra.
Trong tất cả các thời kỳ lịch sử, mục tiêu của ngoại giao Việt Nam bao giờ cũng là độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Vì mục tiêu đó, nhân dân Việt Nam phải hy sinh cả xương máu để đấu tranh chống ngoại xâm. Nhưng khi chiến tranh nổ ra, cụ thể là khi đã giành được những thắng lợi quyết định trên chiến trường bằng sức mạnh quân sự thì Việt Nam chủ động tiến hành các biện pháp ngoại giao để chấm dứt chiến tranh, kể cả mở cơ hội cho kẻ địch rút quân khỏi nước ta trong danh dự.
Đầu năm 1077, Lý Thường Kiệt đã làm cho quân Tống của Quách Quỳ khổ sở, mỏi mệt ở bờ bắc sông Cầu (Như Nguyệt). Ông biết nếu cứ để chiến tranh tiếp tục thì quân Tống có thể bị tiêu diệt. Nhưng chờ đến ngày đó, quân và dân Việt Nam phải mất nhiều xương máu, đất nước Việt Nam còn bị tàn phá. Lý Thường Kiệt thấy rằng mở một lối thoát cho Quách Quỳ để kéo quân về nước, trả đất Việt Nam cho người Việt Nam, thì có lợi hơn là để cho chiến tranh tiếp tục. Do đó, ông đã cho biện sĩ sang doanh trại Quách Quỳ mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Chấp nhận các điều kiện của Lý Thường Kiệt, Quách Quỳ đã mang tàn quân về nước. Chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại trong những điều kiện có lợi cho Việt Nam.
Trong trường hợp quân thù quá mạnh mà quân và dân chưa sẵn sàng chiến đấu hoặc nếu chiến đấu ngay khó có thể giành thắng lợi thì ông cha ta đã dùng biện pháp ngoại giao nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn để có cơ hội tăng cường và củng cố lực lượng. Khi lực lượng ta đã lớn mạnh, nếu quân thù vẫn cứ cố tình gây chiến tranh để thực hiện âm mưu xâm lược, thì dân tộc Việt Nam quyết đem lực lượng ra đánh trả để tiêu diệt chúng. Những năm 1258, 1285, 1288, vua Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông và Trần Quốc Tuấn đã làm như thế,...
Có thể nói, lịch sử ngoại giao của Việt Nam là một kho tàng về kinh nghiệm xử thế vô cùng quý báu cho những người làm công tác ngoại giao cũng như làm công tác quân sự. Trong kho tàng kinh nghiệm này, ông cha ta tỏ ra mưu trí, “biết mình”, “biết người” đến cao độ, biết dồn đối phương đến chỗ phải chấp nhận các điều kiện của mình và trong mọi thời kỳ đã luôn luôn bám sát mục tiêu chủ yếu là: độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc, ấm no của nhân dân.
Phát huy truyền thống ngoại giao của dân tộc, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về ngoại giao chiếm một vị trí quan trọng. Tư tưởng về ngoại giao của Người được hình thành trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, từ sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, thông qua quá trình khảo sát thực tiễn trong nước và thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Ngoại giao là cuộc đấu tranh bằng biện pháp hòa bình để bảo vệ lợi ích dân tộc, là một lĩnh vực hoạt động rất quan trọng của sự nghiệp cách mạng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn đánh giá cao vai trò của ngoại giao: “... dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh” và “Ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng”. Đánh giá cao vai trò của ngoại giao, Nghị quyết của Hội nghị Tân Trào diễn ra trước Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945 đã đặt “Vấn đề ngoại giao” thành mục riêng, ngang với mục “Chủ trương của Đảng” và mục “Nhiệm vụ quân sự”.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”; từ đó, kiên quyết đấu tranh giữ vững chủ quyền ngoại giao và coi đó là biểu hiện quan trọng của nền độc lập. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, cụm từ “mặt trận ngoại giao” chính thức ra đời trong Văn kiện của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 13 khóa III năm 1967: Đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết định sự thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Đến tháng 4-1969, Nghị quyết Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định: Ngoại giao trở thành một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Việc thay đổi các cụm từ khi nói về ngoại giao, như từ “cuộc đấu tranh ngoại giao”, “vấn đề ngoại giao” thành “mặt trận ngoại giao”, “ngoại giao trở thành mặt trận quan trọng”... đã thể hiện sự đánh giá ngày càng cao của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của công tác ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng.
Đứng trên quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng vị trí, vai trò của công tác ngoại giao và mối liên hệ biện chứng giữa ngoại giao với các lĩnh vực khác của cách mạng. Ngoại giao là một trong ba mặt trận đấu tranh cơ bản, các hoạt động ngoại giao, chính trị, quân sự luôn bổ trợ mạnh mẽ cho nhau; thắng lợi về quân sự là điều kiện quan trọng quyết định thắng lợi về ngoại giao, vì người ta chỉ nhận được những gì trên bàn đàm phán tương đương với những gì đạt được trên chiến trường. Nói về tác động của quân sự, chính trị tới đàm phán ngoại giao, Người chỉ rõ: “Những thắng lợi của ta làm cho nhân dân ta và nhân dân thế giới phấn khởi, làm cho địa vị ngoại giao của ta ở Giơ-ne-vơ vững chắc, những thắng lợi của ta buộc địch phải nói chuyện với ta”. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người nói: “Bây giờ nội trong nước ta cứ đánh cho thắng, thì ngoại giao dễ làm ăn”. Sự liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao dẫn đến yêu cầu phải phối hợp nhịp nhàng các hoạt động đó trong một cuộc đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng, ngoại giao chỉ phát huy vai trò và công dụng trên cơ sở thực lực dân tộc, trên nền tảng sức mạnh tổng hợp của đất nước từ mọi phương diện: kinh tế, chính trị, quân sự... Người viết: “Nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao”. Người còn ví dụ: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Có nghĩa là, thắng lợi ngoại giao lớn hay nhỏ, hoạt động ngoại giao thuận lợi hay khó khăn tùy thuộc vào thực lực của dân tộc, đất nước. Thực tế đã chứng minh quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn. Rõ ràng, nếu không có những chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thì không thể có Hội nghị và Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, năm 1954. Nếu không có thắng lợi của quân và dân hai miền Nam - Bắc, nhất là thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972, thì không có thắng lợi của Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, năm 1973. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Ngoại giao ở Hội nghị Giơnevơ thắng lợi là vì Điện Biên Phủ đánh thắng lớn. Bây giờ cũng thế, đánh thắng lợi thì ngoại giao thắng nhiều. Không cứ gì ở ta mà ở nước nào cũng vậy. Cố nhiên ngoại giao là rất quan trọng, nhưng cái vốn chính là mình phải đánh thắng và mình phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng”. Mặt khác, thắng lợi trên mặt trận ngoại giao sẽ tạo tiền đề để tăng cường thực lực cách mạng, tạo “thế” cho đất nước trong quan hệ chính trị quốc tế.
Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là hòa bình và chống chiến tranh xâm lược, là hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới với Việt Nam, là xây dựng quan hệ hữu hảo với các nước lớn, là xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định cách mạng Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với các trào lưu và lực lượng tiến bộ của thế giới, việc tăng cường các mối liên hệ và hợp tác quốc tế là một trong những điều giúp ta kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Tuy vậy, Người cũng chỉ rõ, muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã; và tự lực cánh sinh là một truyền thống quý báu của cách mạng nước ta. Sức mạnh của Việt Nam là ở sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, là ở việc phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế. Đó cũng chính là cơ sở để phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tính chất thời đại và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế. Người nêu rõ: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà”. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân ta giữ được lòng yêu mến, biết ơn các nước bạn anh em, phấn đấu tăng cường đoàn kết quốc tế. Người rất chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn, phấn đấu mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa - “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”.
Cùng với những nội dung cơ bản về ngoại giao, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nổi bật ở nghệ thuật, phong cách ngoại giao xuất chúng. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét qua việc vận dụng những phương pháp, phong cách ứng xử nhạy bén, sáng tạo, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động đối ngoại. Nghệ thuật đó còn thể hiện trong việc thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, am hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (ngũ tri) của triết lý phương Đông: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người biết mình muốn gì và đi đến đâu, biết tránh thác ghềnh, biết thắng quân địch..., nắm vững nghệ thuật của điều có thể và không ngừng mở rộng giới hạn của điều có thể.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, tức là lấy cái không thể thay đổi (bất biến) để ứng phó với muôn sự thay đổi (vạn biến). Theo đó, cái “bất biến” là lợi ích của quốc gia, dân tộc, mà độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,... là cốt lõi. Cái “vạn biến” là cách ứng phó tài tình, khéo léo, linh hoạt; kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo trong những tình huống cụ thể, mà dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến đâu cũng phải giữ vững nguyên tắc để đạt cho được cái “bất biến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”. Để thực hiện được “ứng vạn biến”, điều quan trọng là phải đánh giá đúng tình hình quốc tế và sự tác động đối với nước ta, cả mặt thuận lợi và mặt bất lợi. Đặc biệt, về sách lược, phải xác định được giới hạn của sự nhân nhượng để đề ra chính sách, phương pháp, cách thức tiến hành phù hợp, hiệu quả, bảo đảm giữ vững nguyên tắc chiến lược: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm thực tiễn trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, bảo vệ Tổ quốc đã chỉ ra rằng, chỉ có thể đạt được thắng lợi trên bàn đàm phán khi giành thắng lợi trên chiến trường. Bởi vậy, về lâu dài, ta phải mạnh lên cả về mặt chính trị và kinh tế, có vị thế quan trọng trên trường quốc tế thì tiếng nói trong ngoại giao mới có trọng lượng.
Là nhà hoạt động cách mạng đấu tranh vì quyền lợi của các tầng lớp nhân dân, ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc. Người thực hiện chính sách ngoại giao “tâm công” (đánh vào lòng người), phân biệt rất rõ đâu là thù, đâu là bạn để có những ứng xử phù hợp nhằm khơi dậy những tình cảm tốt đẹp của nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, kêu gọi sự ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Người từng nói: Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa. Với hiểu biết sâu rộng về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cử chỉ ngoại giao tinh tế, mẫu mực, để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bè bạn quốc tế. Đó là khi Người cởi khăn của mình quàng vào cổ một bạn người Đức bị ho khi thăm Việt Nam. Có khi là hành động nghĩa tình cởi áo khoác cho một tù binh Pháp đang lạnh run giữa thời tiết mùa đông Việt Nam. Khi sang thăm Ấn Độ vào năm 1958, Người đã gửi vòng hoa và một cây đào để kỷ niệm cụ thân sinh ra đương kim Thủ tướng Ấn Độ G. Nê-ru (Người đã gặp ông cụ ở Thủ đô nước Bỉ từ năm 1927 trong Hội nghị quốc tế chống chủ nghĩa thực dân, một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và đã lâu năm), điều đó đã khiến Thủ tướng Ấn Độ xúc động: “Đó tuy là một việc bình thường nhưng nó chứng tỏ một cách rõ rệt phẩm chất vĩ đại của Hồ Chủ tịch”. Nhiều nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng những lời thuyết phục có lý, có tình của Người, thông qua báo chí, những thiện chí của nhân dân Việt Nam đã đến được với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, qua đó, họ hiểu và đấu tranh ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Tấm lòng chân thành cùng sự mẫn cảm chính trị đề cao chính nghĩa, đạo lý và khả năng xử thế tinh tế trong giao tiếp đối ngoại đã tạo ra sự cảm hóa và trở thành nét đặc trưng của ngoại giao “tâm công” Hồ Chí Minh.
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
Đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng được đánh dấu từ Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (năm 1986) và Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 20-5-1988, của Bộ Chính trị khóa VI, “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”. Kể từ đó, quá trình đổi mới tư duy và thực hành ngoại giao diễn ra liên tục và từng bước dần hoàn thiện. Trên nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đánh giá tình hình thế giới một cách khách quan, khoa học, từ đó xây dựng chính sách đối ngoại ngày càng có hiệu quả. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” được hình thành và phát triển từ trong lý luận và thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới. Đó là nền ngoại giao sử dụng sức mạnh tổng hợp, phối hợp hiệu quả hoạt động của mọi lực lượng đối ngoại, được triển khai trên nhiều lĩnh vực và hướng đến nhiều đối tượng, tạo tiền đề và động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hội nhập và phát triển.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, khó lường; các nước lớn có sự điều chỉnh về chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau. Việc nghiên cứu, quán triệt, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Sự vận động của quan hệ quốc tế trong tiến trình tác động của toàn cầu hóa làm thay đổi tương quan lực lượng, dẫn đến những đổi thay về địa - chính trị trên thế giới. Lôi cuốn vào sự thay đổi có tính toàn cầu đó với sự đấu tranh giữa các nước lớn hiện nay là sự tập hợp của các liên minh, lợi ích đã buộc các nước phải lựa chọn chiến lược cho phù hợp với những biến đổi, thế giới đang đối mặt với nguy cơ của một cuộc chiến tranh lạnh mới trong tương lai, theo đó, tính chất của cuộc chiến tranh này phụ thuộc vào thực lực của cuộc đấu cân sức giữa các nước lớn. Bởi vậy, Việt Nam phải có sự lựa chọn và xây dựng đường lối ngoại giao phù hợp, để bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trong sự vận động của tình hình quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay, vận dụng tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lựa chọn chiến lược hàng đầu của Việt Nam là: Không ngừng tăng cường nội lực về kinh tế, quốc phòng; xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong và ngoài nước; chủ động ứng phó các diễn biến địa - chính trị quốc tế để nâng cao vị thế chiến lược của Việt Nam; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chiến lược của đất nước; chăm lo bảo vệ các quyền tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia trên thế giới, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với 30 nước; có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khi vẫn duy trì chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ; không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Việt Nam tiếp tục thắt chặt quan hệ chiến lược an ninh với các nước lớn và các quốc gia trong khu vực một cách linh hoạt, hiệu quả để nâng cao vị thế chiến lược của mình. Đó chính là sự vận dụng đúng đắn quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tăng cường thế và lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chiến lược của đất nước. Tư tưởng đó bao gồm cả việc liên kết và ràng buộc, cộng đồng lợi ích với những quốc gia ủng hộ lợi ích dân tộc chính đáng của Việt Nam. Bởi vậy, Việt Nam tiếp tục duy trì chính sách ngoại giao đa phương, đa dạng, nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực do cạnh tranh giữa các nước lớn. Để làm được điều này, với chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam phải chủ động tham gia và góp phần định hình các diễn biến địa - chính trị khu vực, để không bị động, trở thành kẻ ngoài lề và là nạn nhân bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn.
Hoàn thiện và thực thi đường lối ngoại giao đề cao hòa bình, độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc là mục tiêu, đồng thời chính là mẫu số chung để đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở thống nhất tư tưởng, xây dựng niềm tin của toàn dân, tạo ra một hiệu ứng tích cực, phát huy lòng tự tôn dân tộc, làm gia tăng tối đa sức mạnh dân tộc để vượt qua mọi khó khăn khi phải đối diện trước bất kỳ thử thách cam go nào trong xây dựng, bảo vệ đất nước và chấn hưng dân tộc. Khẳng định Nhà nước Việt Nam phấn đấu vì quyền của dân tộc và quyền con người - những giá trị mà toàn thể loài người đã, đang và sẽ tiếp tục đấu tranh để hoàn thiện, bởi vậy, “hòa bình - độc lập - tự do - hạnh phúc” thể hiện văn minh chính trị của dân tộc Việt Nam trước sự tiến hóa chung của nhân loại, đồng thời cũng là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và sức mạnh thời đại. “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân”. Như vậy, mẫu số chung đó không chỉ phản ánh giá trị chung của nhân loại, mà còn là cơ sở cho Việt Nam hội nhập quốc tế, tạo ra lợi thế cho ngoại giao Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa. Đó cũng chính là cơ sở cho sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và quốc tế trong hoạt động ngoại giao của nước ta.
Ngoại giao Việt Nam cần xác định một cách rõ ràng mục tiêu vì lợi ích của dân tộc, trên cơ sở thực tiễn của sự vận động địa - chính trị hiện nay, giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc - giai cấp là cơ sở khoa học vững chắc cho nhận thức để xây dựng chính sách ngoại giao đúng đắn, nhất quán và lâu dài cho đất nước. Đồng thời, đặt cơ sở lý luận cho ngoại giao có thể uyển chuyển trong xác định và thực hiện sách lược với những phương pháp đa dạng, không bị trói buộc hoặc chi phối bởi những yếu tố chủ quan, cứng nhắc tạo ra trước sự vận động phức tạp và rất nhanh chóng trong quan hệ quốc tế hiện nay và trong tương lai. Hơn nữa, trên thế giới ngày nay, dưới mọi danh nghĩa, các nước lớn, nhỏ đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam trên cơ sở luật pháp quốc tế, thuận theo quy luật tiến hóa và xu hướng phát triển chung vì sự tiến bộ của nhân loại phải là định hướng của ngoại giao nước ta. Khi Việt Nam tuyên bố “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, thì đó cũng là thông điệp của Việt Nam về sự hợp tác quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, dựa trên cơ sở tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Lấy mục tiêu xây dựng đất nước là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và tiến hành chính sách đối ngoại trên cơ sở luật pháp quốc tế để hội nhập và phát triển, đó là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, dân tộc và thời đại. Quan điểm đó vừa là cơ sở để thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong ngoại giao, vừa là điều kiện để thực hiện chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tạo ra sự cân bằng để giữ vững hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng hòa bình dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới”; “Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”; đứng trước yêu cầu mới của tình hình trong nước và quốc tế, Việt Nam tiếp tục xây dựng chiến lược ngoại giao toàn diện, phục vụ hiệu quả hơn nữa cho các mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Nguyên tắc cao nhất của hoạt động ngoại giao là: “Vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”. Hai mục tiêu này thống nhất với nhau; trong đó, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; và xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là điều kiện cần để đạt được các lợi ích đó. Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại và chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhiệm vụ của công tác đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Đó là chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới./.
St

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI "LÀM RẠNG RỠ DÂN TỘC TA, NHÂN DÂN TA VÀ NON SÔNG ĐẤT NƯỚC TA"

 Với tất cả lòng thành kính và xiết bao thương nhớ, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta, Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới - người "làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta".

Cuộc đời 79 mùa Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại.
Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam
Với lòng yêu nước thiết tha và ý chí, khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh rời Cảng Sài Gòn, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Bằng nhãn quan chính trị đặc biệt, Người quyết định sang Phương Tây, nơi khởi nguồn của chủ nghĩa thực dân, quê hương của các cuộc cách mạng tư sản, để tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ "Tự do", "Bình đẳng", "Bác ái"; xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào.
Bôn ba khắp năm châu, bốn biển để nghiên cứu, tìm hiểu về các cuộc cách mạng điển hình, kiểm nghiệm nhiều học thuyết, nhiều con đường đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước thuộc địa, cuối cùng Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy ở đó ánh sáng chân lý của thời đại, con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đó là: "muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã dần dần xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp với thực tiễn Việt Nam, xác định đúng mục tiêu, con đường, lực lượng tham gia, lực lượng lãnh đạo, cũng như phương pháp cách mạng và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Để rồi, mùa Xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đây là bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc thành lập một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Và sau gần 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/01/1941, Người trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng phù hợp với sự thay đổi mau lẹ của tình hình quốc tế và trong nước, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tổ chức vận động, tập hợp lực lượng toàn dân tộc; thành lập Mặt trận Việt Minh; tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa, tạo nên các cao trào cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ trên phạm vi cả nước.
Tháng 8/1945, với tư duy chính trị nhạy cảm và sắc bén, dự báo chính xác, phân tích kịp thời và thấu đáo tình hình trong nước và quốc tế, nhận rõ thời cơ cách mạng đã chín muồi, Người nêu quyết tâm "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho kỳ được độc lập dân tộc", "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã vùng lên phá tan gông xiềng nô lệ hơn 80 năm của chế độ thực dân, xóa bỏ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một thời đại mới rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong bối cảnh thù trong, giặc ngoài cấu kết với nhau mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, hòng áp đặt ách cai trị nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân cùng một lúc chống cả 3 thứ giặc: "giặc đói", "giặc dốt" và "giặc ngoại xâm". Với sách lược khôn khéo, linh hoạt, Người đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, hiểm nguy, trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", vừa tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng về mọi mặt, vừa ra sức bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng mới được xác lập, còn rất non trẻ.
Trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, hiệu triệu toàn dân tộc đồng lòng, chung sức tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, với ý chí sắt đá: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, theo ngọn cờ "kháng chiến, kiến quốc" Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các kế hoạch quân sự của kẻ thù mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, cùng Đảng ta hoạch định đường lối và lãnh đạo nhân dân ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường xây dựng Đảng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa… làm cho miền Bắc ngày càng vững mạnh về mọi mặt, trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là tâm nguyện cháy bỏng, là nỗi trăn trở khôn nguôi của Người. Người từng nói: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi!"; "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi". Trước lúc đi xa, Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử trong đó khẳng định một ý chí mãnh liệt, một quyết tâm sắt đá và một niềm tin tất thắng: "Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà".
Thực hiện Di huấn của Người, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, làm nên thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, hòa bình, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vĩnh biệt chúng ta, Bác không có gì dành cho riêng mình, ngoài những điều sâu sắc nhất, lớn lao nhất, vĩ đại nhất dành cho Nhân dân, cho đất nước và Người chỉ tiếc là tiếc rằng "không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa". Đó là lý tưởng chính trị, là văn hoá đạo đức và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.
Người mở ra nền văn hóa mới cho dân tộc Việt Nam
Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nhà văn hóa” trùm lên tất cả các danh vị khác. Thực tiễn cho thấy, có người được coi là anh hùng dân tộc nhưng không phải là nhà văn hóa và ngược lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh có cả “hai trong một”. Người đem văn hóa phổ vào mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nó: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã minh chứng, văn hóa Hồ Chí Minh có trong chiến lược, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta; trong chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Đồng thời, văn hóa đó có cả trong tiếng “gầm đại bác” tiêu diệt quân thù ở Điện Biên Phủ; điệu hò của các chị, các anh dân công lội suối, băng rừng tiếp tế cho chiến trường; trong trận tiến công chiến lược làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975; trong tiếng học i, tờ của trẻ em khi cắp sách đến trường và cả trong cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại nghèo nàn và lạc hậu…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở ra một nền văn hóa mới cho dân tộc Việt Nam, huy động các tiềm năng vào việc xây dựng chế độ mới, làm rạng rỡ dân tộc Việt Nam. Nhân loại đã, đang và sẽ phấn đấu cho một tương lai tươi sáng, trong đó có việc phát huy những giá trị tốt đẹp, đấu tranh chống lại những gì phản động, lạc hậu - sự nghiệp đó chính là sự nghiệp của văn hóa, mà lực lượng nòng cốt là những danh nhân văn hóa. Điều đó cắt nghĩa vì sao những danh nhân văn hóa thế giới đều là những vĩ nhân “đi trước thời đại”, có tầm nhìn xa trông rộng, nhãn quan của họ có thể nhìn xuyên thế kỷ, với tư chất một nhà văn hóa kiệt xuất. Hồ Chí Minh là một người như vậy.
Biểu tượng sáng ngời về đạo đức
Đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa nói và làm, hướng tới tiến bộ xã hội. Đạo đức mà Người đề cập là đạo đức mới - đạo đức cách mạng.
Theo Người, đạo đức cách mạng được biểu hiện ở các phẩm chất, như: lòng nhân ái, tính nhân văn cao cả, trung với nước, hiếu với dân, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tinh thần quốc tế trong sáng… Đây là lĩnh vực nhạy cảm của văn hóa và là cái gốc của sự phát triển.
Trong xã hội hiện đại, luật pháp ngày càng đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn, nhưng ngoài luật pháp thì đạo đức giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng chú ý cả “đức trị” và “pháp trị”, xử lý mọi công việc vừa có lý, vừa có tình. Với mỗi con người cụ thể, Người coi trọng cả đức và tài, nhưng xét về thứ tự ưu tiên thì Người vẫn cho đức là cơ bản hơn cả. Đạo đức đối với người cách mạng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.
Có thể nói, cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh như “pho sách” lớn, biểu tượng sáng ngời về đạo đức, đã lan toả, thẩm thấu, trở thành giá trị văn hóa vĩnh hằng trong các thế hệ người Việt Nam và nhân dân tiến bộ toàn thế giới.
Với tất cả niềm tin yêu và lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - soi sáng con đường chúng ta đi, chúng ta nguyện đoàn kết một lòng, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường - Đó là cách học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thiết thực nhất, cụ thể nhất và hiệu quả nhất. /.
ST

THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI THEO CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”, mà còn đặc biệt quan tâm vấn đề thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ - nội dung căn cốt nhất của công cuộc giải phóng phụ nữ phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồng thời gắn công cuộc này với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Quyền bình đẳng của phụ nữ và điều kiện để thực hiện
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì “đàn bà con gái cũng nằm trong Nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại, nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi”, cho nên Người không chỉ nhấn mạnh phụ nữ là “phần nửa xã hội”, mà còn khẳng định “nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng nửa loài người”. Vì thế, Người không chỉ cùng Đảng lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, tự do, mà còn đặc biệt quan tâm vấn đề giải phóng người phụ nữ khỏi những quan niệm cổ hủ “trọng nam khinh nữ”, để phụ nữ được bình đẳng với nam giới về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là được đảm nhiệm trọng trách tại các cơ quan của Đảng và hệ thống chính trị theo đúng Hiến pháp, pháp luật...
Thực tế là, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” (Đường Kách mệnh, 1927) và “Nam nữ bình quyền” (Chánh cương, Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, 2/1930), mà khi nước nhà giành được độc lập, tự do thì Hiến pháp năm 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo cũng “tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”. Với Hiến pháp năm 1946, phụ nữ Việt Nam không chỉ bước vào một hành trình mới - hành trình phụ nữ làm chủ cuộc sống của mình, mà còn được tham gia, góp sức vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước. Đó chính là quyền lợi và nghĩa vụ mà người phụ nữ Việt Nam chưa từng được thụ hưởng trong các chế độ xã hội trước khi có Đảng lãnh đạo. Song song với việc ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Hiến pháp năm 1959, 1982, 1992, 2013 không chỉ hiến định các điều kiện cần, đủ để thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ, mà còn tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm những quyền bình đẳng này trong đời sống xã hội. Đó chính là ý nghĩa lớn lao của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; là tinh thần nhân văn cao cả, vì con người/lấy con người làm điểm xuất phát và coi con người là mục tiêu của tư tưởng, hành động.
Vì thế, những năm sau khi nước nhà giành được độc lập, cùng với việc chú trọng xây dựng nền dân chủ cộng hòa, tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực hiện khát vọng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và ngày càng giàu mạnh, là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng và Chính phủ quan tâm, thực hiện, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trở thành hiện thực. Về vấn đề này, Người không chỉ khẳng định “ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, mà còn đồng thời chỉ rõ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa phụ nữ đã được giải phóng. Quyền bình đẳng của phụ nữ không chỉ được hiến định tại Hiến pháp, mà còn được chú trọng khi xây dựng Luật hôn nhân và gia đình. Theo Người, đạo luật này có quan hệ mật thiết đến mọi người dân, đến nòi giống của Việt Nam, cho nên nội dung của luật phải thể hiện rõ sự bình đẳng, hạnh phúc của người phụ nữ, của từng gia đình - đó chính là “làm cho gái trai thật sự bình quyền, gia đình thật sự hạnh phúc”…
Từ những điều Người nghĩ đến những việc Người làm đều hiển hiện tấm lòng và sự quan tâm dành cho phụ nữ; cổ vũ, động viên phụ nữ vươn lên về mọi mặt. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy rằng, bình đẳng giới không chỉ được ghi trong Hiến pháp, pháp luật; không phải chỉ là lời nói, là hiểu đơn giản về sự bình quyền giữa nam và nữ một cách máy móc, cứng nhắc (trong gia đình và ngoài xã hội); không chỉ dừng ở việc phân công cho hai giới những công việc như nhau, khối lượng bằng nhau, mà chính là thực hiện công tác cán bộ/công tác liên quan đến vấn đề con người; là sự thấu hiểu, sẻ chia để sắp xếp công việc cho phụ nữ một cách khoa học, hợp tình hợp lý, phù hợp với sức khỏe, thể chất và chức năng của giới. Đồng thời, đó còn là cùng với việc xây dựng chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp để giải phóng phụ nữ, phát huy mọi khả năng, tiềm năng của người phụ nữ, thì bản thân mỗi phụ nữ cũng phải tự vượt lên những suy nghĩ tự ti, bảo thủ, ỷ lại của bản thân để không ngừng học hỏi/nâng cao tinh thần làm chủ/phấn đấu/tự cường, tự lập/giúp đỡ lẫn nhau và phải tự mình “giữ gìn quyền bình đẳng” khi tích cực tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và góp sức tạo dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc từ trong mỗi gia đình.
Để hiểu sâu sắc quyền lợi và nghĩa vụ của mình và thực sự được giải phóng hoàn toàn, thì: Một mặt, tự bản thân mỗi người phải nỗ lực phấn đấu về mọi mặt để làm giàu tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp cho mình; mặt khác còn phải đấu tranh để xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi, mọi hủ tục, tệ nạn xã hội, tàn dư phong kiến, sự coi thường phụ nữ trên tinh thần “vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công”. Giải phóng phụ nữ nói chung, thực hiện bình đẳng nam nữ nói riêng chính là một cuộc cách mạng, song kết quả đạt được không phải chỉ là một sớm một chiều, bởi trọng nam khinh nữ đã in sâu trong tư tưởng của nhiều người, nhiều gia đình và ở mọi tầng lớp xã hội. Do đó “công cuộc giải phóng” này phải có sự vào cuộc của cả xã hội; phải được tiến hành thường xuyên, triệt để, vì “phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng sự quan tâm của Người đối với phụ nữ; sự tuyên truyền, giác ngộ cùng những chỉ dẫn, căn dặn của Người để phụ nữ nói riêng và cộng đồng nói chung nhận thức sâu sắc hơn vai trò của phụ nữ, vận động mọi người cùng thấu hiểu, chia sẻ, tạo điều kiện, giúp đỡ để phụ nữ vươn lên khẳng định mình, tạo cơ sở cho việc thực hiện bình đẳng giới trong xã hội vẫn luôn được thực hiện sinh động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Để có “bình đẳng giới” thực sự
Thực tế cho thấy, quyền bình đẳng của phụ nữ không chỉ được khẳng định trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; trong Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/1/2018 của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; trong các bản Hiến pháp, các đạo luật như Luật Bình đẳng giới (2006), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007), Luật Hôn nhân và Gia đình (2000, 2014); trong việc Việt Nam đã ký kết tham gia Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Công ước CEDAW) và từng bước luật hóa trong các văn bản pháp luật, các chính sách có liên quan đến bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ… mà còn được các cấp, các ngành triển khai thực hiện đồng bộ để mỗi người phụ nữ đều được giải phóng và phát triển bản thân. Theo đó, việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới, Chương trình phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, Chương trình truyền thông về bình đẳng giới… đã góp phần đưa “bình đẳng giới” đi vào thực tiễn. Đây chính là hiện thực hóa những quan điểm, tư tưởng và chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc giải phóng phụ nữ nói chung, thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ nói riêng.
Minh chứng cho việc bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ ngày càng đi vào thực tiễn cuộc sống, đó chính là các cấp uỷ đảng, các chính quyền, ban, ngành đã không chỉ quan tâm xây dựng chương trình, kế hoạch lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, cơ cấu và bố trí việc làm cho phụ nữ ở các cấp, các ngành, mà còn căn cứ vào trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của từng người để bố trí công tác phù hợp với sức khỏe, phẩm chất, khả năng của mình. Thực tế cho thấy, số lượng cán bộ nữ tham gia các chức danh chủ chốt các cấp ngày càng cao; nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, gia đình trong vấn đề xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, định kiến giới cũng ngày một được nâng lên, hướng tới sự bình đẳng giới thực chất. Hơn nữa, dường như trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đều có sự tham gia của phụ nữ; trong đó có tỷ lệ lao động nữ tham gia vào thị trường lao động, vào hoạt động quản lý trong hệ thống chính trị ngày càng tăng…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận thì Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức trong việc thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ, nhất là ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Tại những địa bàn đó, tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia các vị trí lãnh đạo các cấp còn ít; vấn đề việc làm, dạy nghề để phụ nữ tiếp cận với lao động chất lượng cao còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến sự thiếu hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ của nhiều phụ nữ cũng như sự mù chữ, tái mù chữ, bị xâm hại, tảo hôn, bị buôn bán… ảnh hưởng đến tính mạng, danh dự, nhân phẩm gắn liền với những tệ nạn xã hội, những hủ tục lạc hậu tái diễn ở nhiều nơi luôn là nỗi xót xa, gây bất bình trong dư luận. Trong khi đó, bản thân nhiều phụ nữ không chỉ tự ti, an phận, mà còn thiếu ý chí vươn lên. Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến sự phát triển, thực hiện bình đẳng mà còn tác động không tốt đến việc hoàn thành các mục tiêu tiến bộ xã hội của quốc gia.
Vì thế, thấm nhuần và thực hiện những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc tất yếu phải giải phóng “một nửa thế giới”, nhất là để thực hiện thành công mục tiêu 5 (trong 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Việt Nam) là “đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái phát triển bền vững nguồn lực phụ nữ” cũng như hoàn thành các chỉ tiêu: “Tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030; giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030; tỷ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030” và “đến năm 2025 đạt 80% và đến 2030 đạt 90% người bị bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện được tiếp cận ít nhất một trong các dịch vụ hỗ trợ cơ bản”… như Nghị quyết “Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030” của Chính phủ đã nêu thì đòi hỏi sự quyết tâm cao cũng như những giải pháp hữu hiệu của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương.
Theo đó, cùng với việc nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành về vấn đề thực hiện bình đẳng giới, là việc các cấp Hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) cần phải phát huy vai trò nòng cốt của mình trong công tác vận động phụ nữ, cổ vũ, động viên và tạo thuận lợi để phụ nữ từng bước vươn lên, ngày càng khẳng định vị thế của mình, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua những việc làm thiết thực như tăng cường tuyên truyền, giáo dục, đào tạo để nâng cao nhận thức về mọi mặt cho phụ nữ; nâng cao trình độ nghề nghiệp và năng lực quản lý kinh tế, xã hội cũng như hỗ trợ làm kinh tế, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh các chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, cải thiện môi trường sinh hoạt tại địa phương,v.v.. là giám sát có hiệu quả việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức Hội với các cơ quan hữu quan để tranh thủ các nguồn lực cần thiết gắn với thực hiện các giải pháp hữu hiệu, để thu hẹp dần khoảng cách về giới; tạo điều kiện để phụ nữ và trẻ em được tiếp cận tốt nhất các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm... và cổ vũ phụ nữ góp sức vào sự phát triển bền vững của từng gia đình, cộng đồng, xã hội và giảm dần sự bất bình đẳng giới.
Một trong những điều kiện quan trọng nữa để thực hiện được bình đẳng giới như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn, đó là dù phải đối mặt với rất nhiều thách thức, với những định kiến khắt khe theo quan niệm truyền thống, song “chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”[8]. Đó chính là, mỗi người đều phải tự mình khắc phục khó khăn, nỗ lực học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để không chỉ tham gia các hoạt động xã hội, việc làm… mà còn phải nhận thức đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình để có điều kiện/đảm bảo điều kiện thực hiện tốt nhất vai trò người công dân, người lao động, người vợ, người mẹ và xứng đáng với 8 chữ vàng “Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao tặng./.
ST

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - SỰ KẾT TINH TRÍ TUỆ CỦA MỘT NHÀ TƯ TƯỞNG LỖI LẠC

 55 năm đã trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta về với “thế giới người hiền”, cùng với thời gian, Đảng và Nhân dân ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và sự kết tinh trí tuệ của một nhà tư tưởng lỗi lạc được thể hiện trong bản Di chúc của Người.

MỘT TÁC PHẨM BẤT HỦ
Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử vô giá, được viết từ trái tim, trí tuệ và tư tưởng của một vĩ nhân. Di chúc của Người là sự hội tụ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, hòa quyện, chắt lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại; đã đi vào lịch sử và trở thành một tài sản vô giá của dân tộc ta.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh trí tuệ của một nhà tư tưởng lỗi lạc, bởi trong đó thể hiện tâm huyết của một con người “đại nhân, đại trí, đại dũng”; là tầm cao của một con người đã dành cả cuộc đời phấn đấu hy sinh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, vì hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.
Sự kết tinh trí tuệ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết trong ngôn từ diễn đạt. Là người mácxít phương Đông, hơn ai hết Hồ Chí Minh am hiểu mục đích, giá trị của thể loại “di chúc” theo truyền thống văn hóa phương Đông. Đồng thời, Người hiểu rõ cuộc đời của mỗi con người, ai cũng phải tuân theo quy luật của tạo hóa: “sinh, lão, bệnh, tử”. Tuy nhiên, trong Di chúc, người ta không thấy có chỗ nào “lâm ly, tử biệt”, mà được diễn đạt, thể hiện một cách tự nhiên, thanh cao, cô đọng và giản dị về ngôn từ, như cách nói của Người, “tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”.
Sự kết tinh trí tuệ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt được thể hiện rõ qua mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng và cách mạng Việt Nam.
NỘI DUNG CỐT LÕI VỀ ĐẢNG VÀ LỰC LƯỢNG KẾ CẬN
Trước hết là về Đảng cầm quyền: Với tư cách là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trước lúc đi xa, điều đầu tiên Người di huấn với Đảng rằng phải luôn quán triệt nguyên tắc: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Đảng là người lãnh đạo, là “trí khôn”, “là bàn chỉ nam” dẫn dắt cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chính vì vậy, phải thường xuyên chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng vững mạnh về mọi mặt. Muốn làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, thì vấn đề đoàn kết trong Đảng phải đặt lên hàng đầu. Trong Di chúc, Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Sự đoàn kết của Đảng chỉ có được khi Ban Chấp hành Trung ương và mỗi đảng viên của Đảng kiên quyết một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ Nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Phải nhận thức sâu sắc rằng, đoàn kết, thống nhất trong Đảng là vấn đề quan trọng nhất, phải làm cho các cấp ủy và hàng triệu đảng viên cùng một ý chí hành động, tạo ra sức mạnh; phải làm cho Đảng thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạo xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Người nhấn mạnh, đoàn kết là truyền thống quý báu của Nhân dân ta, để tập hợp được rộng rãi và đông đảo các lực lượng tham gia khối đại đoàn kết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết. Ngay sau phần nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng”, vừa “chuyên””. Bởi vì theo quan điểm của Người, muốn thức tỉnh dân tộc, trước hết phải thức tỉnh thanh niên - một bộ phận quan trọng của dân tộc. Để hiện thực hóa tiềm năng đó, thì trước hết cần phải tập hợp thanh niên trong một tổ chức cách mạng. Người cho rằng: “Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết họp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”.
Nhìn nhận thanh niên là một lực lượng to lớn và mạnh mẽ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”. Người nhắc nhở các cấp bộ đảng, chính quyền, đoàn thể, phải chú ý chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Để họ xứng đáng là những người chủ tương lai của đất nước, là những cán bộ kế cận của Đảng, phải giáo dục, bồi dưỡng cho thanh niên có phẩm chất đạo đức và năng lực: có tài, có đức, “vừa hồng, vừa chuyên”. Đối với lực lượng thanh niên, Người yêu cầu phải tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu học tập để nắm lấy tri thức, bồi dưỡng ý chí nghị lực và tinh thần cách mạng, phục vụ Tổ quốc. Người nói: “Nói chung thanh niên phải chuẩn bị làm người chủ nước nhà. Muốn thế phải ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa, trước hết phải rèn luyện và thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gột rửa cá nhân chủ nghĩa”... Phải luôn nhắc nhở, dìu dắt họ, đề phòng rơi vào “chủ nghĩa cá nhân”. Thanh niên là những người đang trong quá trình tích lũy tri thức và hình thành nhân cách, việc giáo dục phẩm chất đạo đức, việc tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người phải thường xuyên như đánh răng, rửa mặt hằng ngày.
Trong việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của thanh niên, Hồ Chí Minh chỉ ra cụ thể, đó là lý tưởng sống vì Tổ quốc, vì Nhân dân; kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, luôn xung phong, gương mẫu trong mọi công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ: “Thực hiện khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, đâu khó thanh niên làm”; và “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm”. Hồ Chí Minh căn dặn, mỗi người thanh niên phải luôn suy nghĩ về nhiệm vụ của mình trước Tổ quốc, trước nhân dân: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà! Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào”. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, để thanh niên có phẩm chất “vừa hồng, vừa chuyên”, trước hết là trách nhiệm của Đảng, của tổ chức Đoàn Thanh niên và các thế hệ đi trước, phải thường xuyên quan tâm tới thanh niên.
CHĂM LO CHO CON NGƯỜI, VÌ CON NGƯỜI
Xuất phát từ quan điểm: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong bản Di chúc là phần nói về con người: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải xác định chiến lược con người là một mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là Nhân dân, là tất cả những con dân nước Việt; là đồng bào, đồng chí và những người có lòng yêu nước, hướng về dân tộc.
Tiếp thu tư tưởng của các bậc tiền nhân khi nhìn nhận về vai trò, sức mạnh của Nhân dân: Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; học tập tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi: Ý chí của Nhân dân là thành lũy vững chắc (chúng chí thành thành), sức dân như nước, chở thuyền hay lật thuyền cũng do dân: “Phúc chu thủy tín dân do thủy/Thị hiểm nan bằng, mệnh tại thiên” (“Lật thuyền mới rõ dân như nước/Cậy hiểm khôn xoay, mệnh ở trời”). Hồ Chí Minh khẳng định, dân là gốc của nước, là lực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông, mọi lực lượng đều ở nơi dân. Dân cũng là những người làm ra mọi của cải vật chất và giá trị văn hóa, nuôi sống bộ máy nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho xã hội tồn tại và phát triển: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”. Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đã hy sinh phấn đấu vì hạnh phúc của Nhân dân, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi sắp phải từ biệt thế giới này, nghĩ về Nhân dân, Người viết: “NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng”. Người căn dặn, sau khi hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”; phải “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, để đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện cả về vật chất và tinh thần. Trong công cuộc cải tạo, xây dựng lại đất nước sau một thời gian dài bị chế độ thực dân, phong kiến cai trị và bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Hồ Chí Minh đã tiên lượng: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”; cho nên cần phải xác định sự nghiệp đổi mới là “cuộc chiến đấu khổng lồ”, phải kiên trì, bền bỉ, sáng tạo mới có thể giành thắng lợi. Tư tưởng của Người không chỉ là sự kết tinh trí tuệ mà còn thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc.
GÓP PHẦN CỦNG CỐ TÌNH ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
Trong Di chúc của Hồ Chí Minh, vấn đề đoàn kết quốc tế là một nội dung thể hiện tư tưởng truyền thống dân tộc “Ăn quả nhớ người trồng cây”; “có trước, có sau”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, bởi vậy, sự đoàn kết và ủng hộ của cộng đồng quốc tế có vai trò to lớn đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực cho phong trào cách mạng thế giới, vì hòa bình và phát triển. Trước lúc đi xa, nhận thấy sự bất hòa, chia rẽ giữa các nước anh em, Người rất đau lòng. Người căn dặn: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động góp phần đắc lực vào việc khôi phục khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.
Thực hiện Di chúc của Người, trên tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước dân chủ, tiến bộ và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những kết quả đó là sự ghi nhận, khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại của Đảng và giá trị định hướng của bản Di chúc mà Người đã để lại cho Đảng và Nhân dân ta.
55 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vĩnh biệt chúng ta. Cả cuộc đời của Người thuộc về Tổ quốc, phụng sự cách mạng và Nhân dân, vì vậy, Người sống mãi trong tâm hồn Nhân dân ta và bè bạn trên thế giới. Cuộc đời, sự nghiệp, trí tuệ và tư tưởng đạo đức vô song của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi mãi trở thành tấm gương tỏa sáng cho toàn Đảng, toàn dân ta học tập, noi theo./.
ST

ĐAM MÊ DẤN THÂN NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ MÔ PHỎNG

 Đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu công nghệ mô phỏng, những công trình của Trung tá Lê Anh, Trợ lý Phòng thực tại ảo và kỹ xảo 3D, Viện Công nghệ mô phỏng, Học viện Kỹ thuật Quân sự (KTQS) được ứng dụng vào thực tế góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện của các đơn vị.

“Cháy” hết mình với đam mê khoa học.
Chiều muộn, cả trục đường Hoàng Quốc Việt (Cầu Giấy, Hà Nội) đã rạng ánh đèn, người, xe tấp nập trở về tổ ấm. Ngược lại sự ồn ào ngoài phố xá, căn phòng làm việc của Trung tá Lê Anh tĩnh lặng, thi thoảng vang lên tiếng gõ bàn phím lạch cạch. Dưới ánh đèn bàn, gương mặt anh đăm chiêu, suy tư, chăm chú nhìn vào màn hình với những hình ảnh mô phỏng chuyển động. Mới trông cứ ngỡ anh đang chơi game sau giờ làm việc, nhưng đó không phải trò chơi giải trí mà là nội dung nghiên cứu công nghệ mô phỏng để tạo ra sản phẩm sát với thực tế, được áp dụng trong hoạt động quân sự.
Nói đến công nghệ mô phỏng (hay thực tế ảo) nhiều người sẽ hình dung đó chỉ là mô hình phác thảo trên máy tính. Đơn giản như vẽ một bức tranh sắp đặt các khối hình với những chuyển động phù hợp. Ban đầu tôi cũng nghĩ như vậy, thế nhưng khi nhìn lại gương mặt người nghiên cứu viên căng thẳng, đôi khi thiếu vắng nụ cười cùng lời chia sẻ thì mới hiểu những đóng góp âm thầm của anh. Có lẽ do đặc thù công việc, những tính toán kỹ thuật đã khiến anh lặng lẽ hơn, điềm tĩnh hơn và cũng chắc chắn hơn. Anh chia sẻ: “Nghiên cứu khoa học ngấm vào mình như một lẽ tự nhiên, để rồi cứ thế đam mê và theo đuổi suốt bao năm qua. Tôi phải cảm ơn môi trường Học viện đã chắp cánh cho những ý tưởng khoa học của tôi thành hiện thực”.
Nhớ về tuổi thơ là nhớ về mái trường Học viện KTQS. Nơi đó bố anh là Đại tá Lê Nho Thiết đã có những năm tháng giảng dạy, gắn bó và truyền tình yêu khoa học-kỹ thuật cho cậu con trai Lê Anh. Những năm học tiểu học, trung học cơ sở, Lê Anh đều đạt học sinh giỏi và được về Học viện gặp mặt biểu dương. Thích nhất là mỗi dịp hè, cậu cùng bố vui bước giữa thênh thang giảng đường có hàng bằng lăng tím. Bao niềm vui nhân lên cùng hình ảnh bộ quân phục thân thuộc đã gieo vào tâm trí cậu học trò nhỏ những mơ ước giản dị.
Đến năm cuối trung học phổ thông, đứng trước ngã rẽ cuộc đời, bố mẹ để cậu con trai duy nhất được lựa chọn trường thi. Không đắn đo, do dự, Lê Anh đã đăng ký thi vào Học viện KTQS và đạt 29 điểm. Một ưu tiên đối với học viên đạt điểm thi đầu vào cao đó là được đi du học Liên bang Nga theo ngành thiết kế. Nhưng Lê Anh lại không đăng ký tiêu chuẩn đó mà lựa chọn ở lại Học viện. Trả lời câu hỏi vì sao lại từ chối cơ hội du học, Lê Anh chia sẻ: “Vì ở lại Học viện, tôi được đề xuất nguyện vọng học ngành tin học mình yêu thích, có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo”.
Được học chuyên ngành tin học, Lê Anh bắt đầu tiếp cận với những nghiên cứu đầu tiên. Hành trình khởi đầu tất nhiên là rất gian nan vì chưa có nhiều kiến thức, thiếu kỹ năng kinh nghiệm. Lê Anh vừa học tập vừa tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học. Những đề tài, sáng kiến ban đầu chưa có tính ứng dụng cao nhưng đã trang bị cho anh phương pháp nghiên cứu, khả năng giải quyết các vấn đề đặt ra. Thêm vào đó, anh tích cực tham gia cuộc thi Olympic các cấp và đoạt giải ba khối chuyên tin tại Kỳ thi Olympic Tin học Sinh viên Việt Nam lần thứ 17 (năm 2008).
Khi còn là học viên, đề tài Lê Anh tâm huyết đó là: “Nhận dạng khuôn mặt sử dụng mạng nơ-ron”. Hồi đó khái niệm về mạng nơ-ron còn mới, các nghiên cứu về mạng nơ-ron chưa phát triển mạnh mẽ như bây giờ. Ý tưởng thì nhiều nhưng học viên Lê Anh chưa có những kinh nghiệm nghiên cứu để giải quyết vấn đề. Một buổi chiều, anh ngập ngừng đứng trước phòng của Đại tá Nguyễn Đức Hiếu, Trưởng khoa Công nghệ thông tin (nay là Viện Công nghệ thông tin và truyền thông), lúc sau mới bước vào trình bày ý kiến. Nhìn người học viên có kết quả học tập xuất sắc, thầy Hiếu động viên: “Nếu em thực sự muốn nghiên cứu nội dung này, thầy sẽ giúp đỡ”.
Lời thầy đã tiếp thêm động lực để rồi những ngày sau đó, học viên trẻ Lê Anh “cháy” hết mình với đam mê khoa học. Nhìn thấy sự nỗ lực của Lê Anh, thầy Hiếu đã hỗ trợ tài chính mua một webcam để chụp hình khuôn mặt. Sản phẩm nghiên cứu được ứng dụng vào hoạt động giám sát an ninh trong một khu vực kiểm soát quân số, chấm công, điểm danh. Với nội dung này, đồ án tốt nghiệp cuối khóa được đánh giá xuất sắc, Lê Anh trở thành học viên tốt nghiệp thủ khoa.
Sáng tỏ nghiên cứu trong hoạt động quân sự.
Trong khoa học quân sự, quốc phòng, việc triển khai và ứng dụng các nghiên cứu mô phỏng có vai trò rất quan trọng. Trước khi thực hành ngoài thực địa, bộ đội được tập luyện với vũ khí, trang bị ảo, với nhiều phân đoạn từ đơn giản đến phức tạp. Là nghiên cứu viên lĩnh vực công nghệ mô phỏng, anh trăn trở làm thế nào để có thể tạo ra được sản phẩm ứng dụng vào thực tế hoạt động quân sự giúp nâng cao chất lượng huấn luyện và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị trong Quân đội.
Thử thách đầu tiên khi được Viện Công nghệ mô phỏng phân công làm hệ thống trường bắn ảo. Hệ thống gồm phần mềm quản lý bài bắn của giáo viên, phần mềm mô phỏng môi trường 3D khu vực trường bắn và bộ điều khiển trung tâm xử lý các tín hiệu bắn. Hệ thống giúp cho giáo viên thiết lập các thông số bài bắn, chọn bài bắn, mô phỏng các bài bắn trong không gian ảo, bộ đội thực hành bắn và các kết quả bắn được phần mềm tổng hợp báo cáo về giáo viên. Một loạt thách thức đặt ra khiến anh phải tập trung trí lực để giải quyết. Nhiều đêm anh thức trắng, trăn trở. Những hình ảnh, đồ họa, số liệu cứ chập chờn như nhảy múa trong đầu. Trong lúc tưởng như đi vào “ngõ cụt” thì đồng đội đã đến “chỉ đường”. Khi ấy, đồng chí Cao Hữu Tình là Xưởng trưởng Xưởng sản xuất phầm mềm và các hệ thống mô phỏng đã gợi mở ý tưởng của đề tài cần thực hiện, xây dựng phần mềm mô phỏng trên cơ sở những giao thức đã quy ước. Được gợi mở, anh lao vào nghiên cứu và lập trình. Sau hai tháng miệt mài, sản phẩm hoàn thành theo đúng kế hoạch. Sau khi nghiệm thu, sản phẩm được triển khai vào huấn luyện ở nhiều đơn vị trong toàn quân.
Thực tế huấn luyện chiến đấu của các lực lượng diễn ra rất phức tạp, đa dạng trong những điều kiện khác nhau. Với Bộ đội Không quân, một nội dung quan trọng là huấn luyện nhảy dù. Quá trình nhảy dù chịu tác động lớn của điều kiện ngoại cảnh. Ở trên cao, nếu thao tác sai, dù không bung sẽ dẫn đến mất an toàn. Do vậy, anh đề xuất nghiên cứu thiết bị mô phỏng huấn luyện nhảy dù giúp bộ đội có cảm giác về độ cao, độ rung lắc của trực thăng... từ đó rèn luyện bản lĩnh tâm lý vững vàng và thực hành các động tác nhảy dù, điều khiển dù chuẩn xác.
Ban đầu, anh khảo sát các hệ thống của nước ngoài xem có ưu điểm và hạn chế gì. Sau đó là những tháng ngày vượt nắng, thắng mưa đến các sân bay, trung tâm huấn luyện có nội dung huấn luyện nhảy dù để tìm hiểu thực tế, viết hồ sơ thuyết minh đề tài. Vừa làm vừa rút kinh nghiệm, anh cùng đồng đội dần hoàn thiện sản phẩm. Khi đưa vào thử nghiệm, anh trực ở Trung tâm Quốc gia Huấn luyện và tìm kiếm cứu nạn đường không (Bộ Tham mưu, Quân chủng Phòng không-Không quân) suốt 3 tháng ròng rã. Tại đây, bộ đội được thực hành treo trên thiết bị, trải nghiệm thực tế ảo cảm giác trên không và thực hành các thao tác: Rời cửa máy bay, mở dù, lái dù và tiếp đất. Mỗi lần thử nghiệm là một lần đợi chờ các ý kiến phản hồi từ giáo viên và người tập để tiếp tục chỉnh sửa. Sau đó, anh tổ chức các hội thảo chuyên đề lấy đánh giá của các chuyên gia để hoàn thiện sản phẩm. Kết quả sản phẩm được Hội đồng khoa học cấp Bộ Quốc phòng nghiệm thu. Đề tài “Hợp tác nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ chế tạo hệ thống huấn luyện nhảy dù ứng dụng công nghệ thực tại ảo 3 chiều” được trao giải nhất Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội lần thứ 23 năm 2023.
Thành công nối tiếp, anh là chủ nhiệm và tham gia hàng chục công trình nghiên cứu công nghệ mô phỏng trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Thượng tá Nguyễn Trung Kiên, Phó viện trưởng Viện Công nghệ mô phỏng đánh giá: “Người làm nghiên cứu để lại dấu ấn qua những công trình, sản phẩm được ứng dụng vào thực tiễn. Bằng niềm đam mê sáng tạo, Trung tá Lê Anh đã có những sản phẩm hữu dụng, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện của các đơn vị trong toàn quân”.
Với những nỗ lực trong quá trình học tập, công tác, nghiên cứu khoa học, Trung tá Lê Anh 6 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở (các năm: 2006, 2007, 2008, 2009, 2015, 2017); Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2008), Bằng khen của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (năm 2009); Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (năm 2010); Bằng khen của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội (năm 2010); Giải ba Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội lần thứ 21 (năm 2021); Giải nhất Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội lần thứ 23 (năm 2023)./.
St

TIẾP DIỄN CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA

 


 Nếu như trước đây, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, “là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam” một cách chung chung thì nay chúng cố tình sâu chuỗi các vụ việc trong xử lý cán bộ tham ô, tham nhũng, nhận hối lộ một cách vô căn cứ để xuyên tạc, bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng và đặc biệt là bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay.

Trên trang Facebook của Việt Tân, chúng đưa lên các bài viết xuyên tạc trắng trợn cho rằng: Đại tướng Tô Lâm đang mượn lò củi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để diệt những đối thủ chống đối mình; phương châm “đốt lò” của Nguyễn Phú Trọng là triệt hạ đối thủ, để lại đàn em và cho đó là chống tham nhũng theo định hướng XHCN. Đây là những quan điểm sai trái, phản động, đi ngược lại với đường lối quan điểm của Đảng ta, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây hoài nghi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Đảng ta đã xác định: Tham nhũng, tiêu cực vẫn là một trong những "kẻ thù hung ác", nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Vì vậy, qua các nhiệm kỳ, Đảng không ngừng tăng cường sự lãnh đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định và bổ sung một số định hướng lớn cho công tác phòng, chống tham nhũng thời gian tới đó là: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, tiêu cực; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.

Thực hiện định hướng đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng vi phạm theo đúng tư tưởng chỉ đạo và quan điểm: "Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, và không chịu sự tác động, sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào". (từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự nhiều cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, nguyên bộ trưởng và cả sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang...). Qua đó góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, uy tín của Đảng được nâng cao. Phòng chống tham nhũng được nhân dân, cán bộ, đảng viên đồng tình, đánh giá cao, đây cũng là nhân tố quan trọng làm tăng niềm tin của nhân dân với Đảng, chế độ.

Chúng ta đã thấy chưa bao giờ quyết tâm của Đảng ta trong phòng, chống tham nhũng và xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, làm trong sạch Đảng, bộ máy Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên lại được thể hiện rõ, quyết liệt và mạnh mẽ như thời gian qua; qua đó đã cảnh báo, chủ động răn đe, phòng ngừa vi phạm, sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng; tăng cường sức mạnh, uy tín của Đảng; củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay; luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mạnh mẽ hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, trải rộng các lĩnh vực, các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị./.