Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2024
LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC LUÔN ĐẬP ĐẶT LÊN TRÊN HẾT: GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG!
VIỆT NAM KIÊN QUYẾT PHẢN ĐỐI MỌI HOẠT ĐỘNG VI PHẠM CHỦ QUYỀN Ở HOÀNG SA, TRƯỜNG SA!
CHA GIUSE MARIA NGUYỄN DUY TÂN BỊ MỜI LÀM VIỆC VÌ NGĂN CẢN GIÁO XỨ BẮC HÒA, GIÁO PHẬN ĐỒNG NAI TREO CỜ TỔ QUỐC!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỔ NHĨ KỲ MONG MUỐN THÚC ĐẨY HỢP TÁC VỚI VIỆT NAM TRONG CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÒNG TỰ TRỌNG CỦA CÁN BỘ - TỪ QUY ĐỊNH 41 ĐẾN QUY ĐỊNH 144-QĐ/TW!
THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: UKRAINE NÊN KÝ KẾT HÒA BÌNH VỚI NGA CÀNG SỚM CÀNG TỐT ĐỂ TRÁNH THẢM HỌA LỊCH SỬ VÀ VẪN CÒN GIỮ ĐƯỢC VỊ THẾ CỦA MỘT QUỐC GIA!
ĐẤT NƯỚC RẤT CẦN SỰ DẤN THÂN CỦA TUỔI TRẺ
Ngày 22/5, tại Học viện Hành chính Quốc gia, Ban Thường vụ Đoàn Khối các cơ quan T.Ư tổ chức Lễ ra quân chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2024. Tới dự chương trình có ông Lại Xuân Lâm, Phó bí thư thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan T.Ư; anh Nguyễn Minh Triết, Bí thư T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam.
Phát biểu tại lễ ra quân, ông Lại Xuân Lâm cho
rằng, những mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, việc làm, an
sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, gìn giữ văn hóa dân tộc, bảo
vệ môi trường... của đất nước hiện nay cũng như trong tương lai, rất cần có sự
tham gia xung kích, tinh thần dấn thân, góp sức của tuổi trẻ nói chung trong đó
có tuổi trẻ Khối các cơ quan T.Ư.
Để phong trào tình nguyện và chiến dịch tình nguyện
hè của tuổi trẻ Khối các cơ quan T.Ư tiếp tục thu hút đông đảo đoàn viên, thanh
niên tham gia, mang lại nhiều giá trị mới, sáng tạo, thay mặt Ban Thường vụ
Đảng ủy Khối, ông Lại Xuân Lâm đề nghị các cấp bộ đoàn trong Khối cần có chương
trình, kế hoạch phối hợp triển khai một cách hiệu quả, khoa học, cụ thể, gắn
kết chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương nơi triển khai các hoạt động
tình nguyện, hướng tới đáp ứng tối đa các nhu cầu, lợi ích chính đáng của đoàn
viên, thanh niên.
Tại lễ ra quân, anh Bùi Hoàng Tùng, Ủy viên Ban
Thường vụ T.Ư Đoàn, Bí thư Đoàn Khối các cơ quan T.Ư, tin rằng thời gian tham
gia chiến dịch sẽ là những ngày tháng trải nghiệm đáng nhớ cho mỗi bạn trẻ, sẽ
mang lại cho các bạn những giá trị để cuộc sống của mình tốt đẹp hơn và điều
quan trọng đó là các bạn sẽ để lại những đóng góp thiết thực cho người dân tại
địa bàn nơi các bạn đến./.
NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ, XUYÊN TẠC VỀ DI SẢN HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa song Người để lại cho hậu thế những di sản vô cùng quý giá. Di sản Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di sản ấy là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do chính Người sáng tạo, để lại cho Đảng, dân tộc Việt Nam.
Di sản Hồ Chí Minh mang tính phổ quát, bền vững,
vượt thời đại và vẹn nguyên tính thời sự. Chính vì thế, các thế lực thù địch
luôn xem di dản của Người là một mục tiêu, trọng tâm chống phá. Việc nhận diện
bản chất, bóc trần các âm mưu, thủ đoạn, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên
tạc về di sản Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố
địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội có vai
trò quan trọng.
Số tổ chức, cá nhân chống phá thường khoác áo
“khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội”, thậm chí họ mượn danh nghĩa
“nhà nghiên cứu lý luận” hay núp bóng “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền” để ngụy
biện tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong di
sản Hồ Chí Minh. Họ chống phá di sản Hồ Chí Minh cả về tư tưởng, đạo đức, phong
cách, thân thế, sự nghiệp cách mạng của Người. Về tư tưởng, họ coi những luận
điểm về chính trị, cách mạng của Người chỉ là bản sao của chủ nghĩa Mác - Lênin,
vay mượn, cộng gộp các tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn
Trung Sơn. Về đạo đức, số đối tượng xấu coi đạo đức của Người chỉ là “chủ nghĩa
khổ hạnh” không thể học tập, làm theo. Về phong cách, họ phớt lờ tác phong, lề
lối, phương pháp cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh.
Về thân thế, các đối tượng xấu bịa đặt, tung tin
sai lệch, thất thiệt, bôi nhọ đời tư của Người.
Họ ra sức phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí
Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư
tưởng để hạ thấp di sản của Người. Một số đối tượng chống phá lại giả vờ “tôn
vinh”, “tuyệt đối hóa” di sản văn hóa Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư
tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin
đã lỗi thời, lạc hậu, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Từ đó,
đòi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực chất đây
chính là thủ đoạn vờ “đề cao” bên này để “hạ bệ” bên kia nhằm đả kích, chống
phá bởi chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ đạo làm nên bản chất
cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn cố tình cắt
xén những câu nói, phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi bối
cảnh lịch sử để làm sai lệch tư tưởng của Người. Họ đối lập giữa tư tưởng Hồ
Chí Minh với đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phần tử
chống phá cũng phủ nhận sự cần thiết, tính hiệu quả của việc học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngoài ra, họ còn đưa ra yêu
sách vô lý, trắng trợn đòi từ bỏ việc bảo tồn di tích, bảo tàng có liên quan đến
Người.
Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ
hội chính trị triệt để lợi dụng các tính năng ưu việt của Internet, mạng xã hội
với tốc độ chia sẻ nhanh, độ tương tác rộng hay sử dụng hệ thống phát thanh,
báo chí, xuất bản ở nước ngoài biến thành công cụ đắc lực phục vụ cho mưu đồ
chống phá. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn chống phá ở chỗ:
các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng chiêu bài “thao túng
tâm lý”; tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi về lãnh tụ của cách mạng
Việt Nam hòng gây hoang mang, dao động, làm lung lay niềm tin, giảm sút tình
cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; tìm cách
triệt tiêu động lực, khí thế, quyết tâm của hệ thống chính trị, toàn xã hội
trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Từ khi Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cũng là lúc các
thế lực thù địch tập trung chống phá di sản văn hóa Hồ Chí Minh quyết liệt.
Thấy rõ di sản văn hóa Hồ Chí Minh là linh hồn, là tài sản vô giá của Đảng, của
dân tộc và nhân dân Việt Nam nên các các thế lực thù địch, phản động, cơ hội
chính trị muốn phá hủy tận gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ biểu tượng
Hồ Chí Minh trong trái tim, khối óc của nhân dân Việt Nam. Nhưng dù có dùng mọi
chiêu trò chống phá vẫn không thể phủ nhận giá trị to lớn, sức sống trường tồn
của di sản Hồ Chí Minh.
THẾ GIỚI ĐỔI THAY NHƯNG DI SẢN HỒ CHÍ MINH SỐNG MÃI
Thực tế thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sự nghiệp đổi mới hiện nay là minh chứng sống động, rõ nét cho thấy những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về mặt thực tiễn và tư tưởng lý luận. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã cống hiến hết mình cho dân tộc, như Người từng chia sẻ: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho đời sau, Người đã tâm sự: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.
Trong suốt cuộc đời tận hiến cho cách mạng Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống
văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và cũng chính Người đã nâng tầm văn
hóa dân tộc, đóng góp quan trọng vào dòng chảy lịch sử văn hóa thế giới. Điều
này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Tiếp nhận những tinh hoa văn
hóa của nhân loại, ngăn chặn mặt tiêu cực thâm nhập, đồng thời phát huy được
những giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp mang bản sắc dân tộc mình, đó là
bản lĩnh, ý thức tự chủ, cốt cách và tinh thần độc lập của dân tộc Việt Nam mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển một cách sâu sắc”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân
tộc, là nhà văn hóa kiệt xuất bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát
triển của lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử,
văn hóa nhân loại. Người đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân
phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn truyền
cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân các dân tộc thuộc địa xóa đi sự nô dịch của
chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thực hiện mục
tiêu hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh cho đất nước của mình,
đồng thời cũng góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình,
độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do vậy, di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh
không chỉ có giá trị đối với dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với các dân
tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.
Không phải đến bây giờ mà cách cách đây hơn 100
năm, nhà báo người Nga Osip Emilyevich Mandelstam đã viết bài mang tên “Thăm
một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” đã đăng trên báo Ogoniok (Ngọn
lửa nhỏ) của Liên Xô xuất bản ngày 23/12/1923. Bài báo có đoạn: “Từ Nguyễn Ái
Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền
văn hóa tương lai”. Tuy hơn một thế kỷ đã trôi qua nhưng nhận định sâu sắc này
của O. Mandelstam vẫn vẹn nguyên giá trị, dự báo “Hồ Chí Minh là nền văn hóa
tương lai” xuất phát từ việc nhà báo người Nga đã cảm nhận được trong tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn cả tinh hoa văn hóa
phương Đông và phương Tây, cả giá trị truyền thống và giá trị tiến bộ của văn
minh nhân loại thời hiện đại.
Trong quá trình tiếp xúc cũng như nghiên cứu về Hồ
Chí Minh, rất nhiều chính khách, học giả quốc tế bày tỏ sự khâm phục, ngưỡng mộ
trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Trong đó, Chủ tịch Phiđen
Caxtơrô - lãnh tụ đất nước Cuba viết: “Vinh quang đời đời thuộc về Chủ tịch Hồ
Chí Minh - tấm gương lớn nhất của người cách mạng vĩ đại ngày càng được khâm
phục, ngưỡng mộ và luôn luôn được mến yêu không chỉ bởi nhân dân Việt Nam mà
còn bởi tất cả các dân tộc khác trên thế giới”.
Ông Miyamôtô Kêngi, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng
sản Nhật Bản đã nhận định: “Đồng chí Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ lỗi lạc
của nhân dân Việt Nam mà còn là một chiến sĩ lỗi lạc, một nhà hoạt động tài
năng của phong trào cộng sản quốc tế”.
Tiến sĩ M. Atmét, nguyên Giám đốc UNESCO khu vực
châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở
thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là
một trong số đó”. Những nhận xét trên hết sức khách quan, công tâm, dựa trên
những đóng góp thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt
Nam mà còn đối với nhân loại.
Tư tưởng, đạo đức, phong cách và cuộc đời cách mạng
vĩ đại, vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn, xuất sắc vào
sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Do đó,
tháng 11/1987, trong khuôn khổ Khóa họp lần thứ 24, Đại hội đồng Tổ chức Giáo
dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số
24C/18.65 về việc kỷ niệm 100 năm (vào năm 1990) ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, là “Nhà văn hoá kiệt
xuất”; đồng thời, vinh danh Người là một trong những nhân vật lỗi lạc đã để lại
dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại. Việc UNESCO ra nghị quyết tôn
vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất
là sự kiện rất có ý nghĩa, thể hiện sự trân trọng, đánh giá khách quan của nhân
loại tiến bộ đối với di sản Hồ Chí Minh; qua đó càng thấy rõ hơn tầm vóc, giá
trị di sản của Người, mọi quan điểm sai trái, thù địch vì thế mà lạc lõng, vô
nghĩa.
Di sản Hồ Chí Minh đã vượt qua thử thách của thời
gian, trở thành biểu tượng, mạch sống của dân tộc Việt Nam. Di sản ấy là một
tài nguyên văn hóa mà càng nghiên cứu, càng khai thác, càng mang lại cho toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân những giá trị bổ ích, mới mẻ. Sứ mệnh đặt ra cho mọi
cán bộ, đảng viên và quần chúng là kiên định, bảo vệ, vận dụng, phát triển di
sản Hồ Chí Minh; đồng thời, lan tỏa, phát huy giá trị để di sản đặc biệt này
trở thành một trong những động lực tư tưởng - tinh thần vô giá, giúp nâng tầm
vị thế văn hóa, con người Việt Nam trong dòng chảy văn hóa nhân loại.
“ĐÃ HỨA THÌ PHẢI LÀM, LÀM THÌ PHẢI ĐƯỢC”
Sáng ngày 23 tháng 5 năm 1958, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện với Đại hội chiến sĩ thi đua nông nghiệp toàn quốc lần thứ III. Phần cuối bài nói, Người khẳng định: “ Đã hứa thì phải làm, làm thì nhất định phải được” nhằm khẳng định quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, nói đi đôi với làm của hàng vạn chiến sĩ thi đua nông nghiệp và 12 triệu nông dân miền Bắc trong việc thi đua không ngừng tăng gia sản xuất, đẩy mạnh nông nghiệp nước nhà phát triển, để “ theo kịp anh em Trung Quốc, tiến kịp anh em Liên Xô”. Câu nói trên đã trở thành nguồn động lực tinh thần khích lệ nhân dân miền Bắc vượt qua khó khăn đưa nền nông nghiệp ngày càng phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân, và viện trợ cho miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
Lời dạy của Bác về tinh thần, trách nhiệm, nói đi
đôi với làm có ý nghĩa lớn đối với mọi người, nhất là đối với đội ngũ cán bộ,
đảng viên. Bởi lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được, làm tốt sẽ mang
lại những hiệu quả lớn, được quần chúng hưởng ứng và làm theo. Ngược lại, nói
nhiều làm ít hoặc hứa mà không làm, làm cho xong sẽ chỉ mang lại những kết quả
phản tác dụng.
Học tập và làm theo lời Bác dạy: “Đã hứa thì phải
làm, làm thì nhất định phải được”, đã được Quân đội ta cụ thể hóa trong mười
lời thề của quân nhân cách mạng; 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và
trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội, chức trách nhiệm vụ
của từng cán bộ, chiến sỹ…Đặc biệt, đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn phát huy tốt
tính tiền phong, gương mẫu, nêu gương trước bộ đội, là lực lượng nòng cốt, hạt
nhân lãnh đạo, đoàn kết ở đơn vị, góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện cuả
đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn đoàn kết, gắn bó, nêu cao tinh thần
chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mội nhiệm vụ
được giao, xứng đáng với danh hiệu cao quý “ Bộ đội Cụ Hồ” là chỗ dựa tin cậy,
vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn xã hội luôn vận động không ngừng và đang có những biến đổi có tính chất bước ngoạt, đòi hỏi phải bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của Người. Do đó, cùng với việc đẩy mạnh học tập, nghiên cứu, chúng ta cần phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới phù hợp với sự phát triển của thời đại, cần phải tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ những giá trị chân chính của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một quá trình thống nhất, không tách rời nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và
trong nước đều có những biến chuyển quan trọng. Toàn cầu hóa và hội nhập ngày
càng phát triển lên một bước mới cả về trình độ và tính chất. Đó là quá trình
không ngừng tăng cường và lan tỏa sự tương tác lẫn nhau, sự phụ thuộc vào nhau
của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, ở từng khu vực và trên phạm vi
toàn cầu. Đó cũng là một xu thế phát triển tất yếu của nhân loại, gắn với sự
phát triển của nền kinh tế thị trường, thúc đẩy sự kết nối và mối quan hệ trên
nhiều mặt giữa các nước, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Hội nhập quốc tế, vì vậy,
cũng trở thành một điều tất yếu, mà khó quốc gia nào có thể bỏ qua nhằm theo
đuổi lợi ích của mình, thông qua việc liên kết ngày càng sâu rộng với các quốc
gia và tổ chức khác trên thế giới.
Quá trình phát triển đồng thời cũng là quá trình
không ngừng giải quyết các mâu thuẫn, quá trình không ngừng nắm bắt thời cơ,
vượt qua thách thức và không ngừng hoàn thiện hệ lý luận, hệ quan điểm, hệ giá
trị và đường lối định hướng chung. Muốn vậy phải đứng vững trên nền tảng lý
luận cách mạng, soi chiếu vào bối cảnh mới, không ngừng tổng kết thực tiễn,
phát triển lý luận đã có để tiến cùng thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh với vai
trò là nền tảng tư tưởng, vẫn luôn là cơ sở lý luận, phương pháp luận cho Đảng
trong tiến trình hoạch định đường lối. Tuy nhiên, để đáp ứng được đòi hỏi của
sự phát triển, tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải được tiếp tục vận dụng sáng tạo và
phát triển hơn nữa.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động vẫn
không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề tư tưởng lý
luận. Trái lại, chúng lại thực hiện điều đó một cách tinh vi và xảo quyệt hơn,
với nhiều hình thức, phương pháp khác nhau và triệt để lợi dụng thành tựu khoa
học công nghệ để thực hiện. Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nội dung mà
chúng tập trung chống phá.
Sự vu khống, xuyên tạc đối với tư tưởng Hồ Chí Minh
không phải là vấn đề mới, nó đã diễn ra ngay khi Hồ Chí Minh còn sống, khi Việt
Nam còn bị chia cắt làm hai miền Nam, Bắc với hai chế độ chính trị khác nhau.
Nhưng trong thời gian gần đây, phương pháp và thủ đoạn của chúng ngày càng tinh
vi hơn. Nếu trước đây thường là sự phủ định sạch trơn, thậm chí xuyên tạc một
cách trắng trợn tính đúng đắn, sáng tạo, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh thì
nay chúng lại vừa thừa nhận vừa phủ nhận. Bởi vậy, đi đôi với phát triển, cần
phải tích cực bảo vệ tư tưởng của Người với những cách thức mạnh mẽ, quyết liệt
và sáng tạo hơn, phát huy tối đa những thế mạnh sẵn có.
Bên cạnh đó, bảo vệ, phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh trong tình hình mới cần phải có quan điểm toàn diện và hệ thống, vì tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm điểm toàn diện và sâu sắc.
Điều đó có nghĩa, khi nhấn mạnh một nội dung nào đó của tư tưởng Hồ Chí Minh
phải thấy được nó trong một chỉnh thể thống nhất, gắn với các quan điểm, nội
dung khác. Nếu những kẻ chống phá thường đi sâu xé lẻ, chi tiết hóa để siêu
hình hóa, thì chúng ta lại càng phải làm ngược lại để cung cấp một cái nhìn đúng
đắn cho người tiếp nhận, vận dụng và phát triển.
Đồng thời, nhóm chuyên gia cũng cần được hỗ trợ
thích đáng về tài chính để họ đủ điều kiện hoạt động. Về lâu dài, phải có kế
hoạch xây dựng đội ngũ chuyên gia không kiêm nhiệm, toàn tâm, toàn ý nghiên cứu
các loại luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh, tham mưu cho Đảng và các cơ quan
chức năng xây dựng chiến lược đấu tranh với những hình thức, biện pháp có hiệu
quả nhất, bảo vệ sự trong sáng của cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh
với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tài sản tinh thần
vô giá của Đảng và dân tộc ta.
Bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong
tình hình mới là một vấn đề vừa cấp bách vừa lâu lài, là một đòi hỏi của cuộc
sống và sự phát triển đất nước cũng như sự nghiệp cách mạng. Đây là một quá
trình cần phải được nghiên cứu công phu, kế hoạch bài bản và tiến hành nghiêm
túc, có chất lượng, thiết thực với những cách thức đa dạng, linh hoạt nhạy bén.
Đồng thời điều đó đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của tất cả các cấp, các ngành, các
địa phương, đơn vị dưới sự lãnh đạo của Đảng.
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NHỮNG QUYẾT SÁCH HƯỚNG VỀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng và ban hành nhiều chính sách, quy định pháp luật đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn, nhu cầu của người dân, trong đó chú trọng quyền tiếp cận thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Vậy nhưng với mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề này.
Nằm trong âm mưu chống phá về vấn đề dân tộc, thời
gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vu cáo rằng, ở Việt
Nam, quyền của người DTTS không được bảo đảm, trong đó có quyền tiếp cận thông
tin, từ đó họ xuyên tạc người DTTS “bị phân biệt đối xử”, “bị bịt tai, bịt
mắt”, “không có phản biện xã hội”, “chìm trong tăm tối”…
Một số bài viết vu cáo rằng, bà con vùng DTTS đã
khổ về vật chất, lại bị Đảng “bỏ rơi” về văn hoá, tinh thần, thực hiện “chính
sách ngu dân” để dễ dàng áp đặt, “cai trị”… Họ tìm những bức ảnh chụp cảnh trẻ
em vùng DTTS ăn mặc rách rưới rồi lắp ghép, chế tác thành “điển hình đời sống
người DTTS”, lấy cớ miệt thị, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước ta, nhất là
vấn đề văn hoá, giáo dục, tiếp cận thông tin.
Đây là những chiêu trò thâm độc, nguy hiểm của các
thế lực thù địch, mục đích nhằm làm suy giảm niềm tin của đồng bào DTTS đối với
Đảng, Nhà nước; gây chia rẽ đồng bào với cấp ủy, chính quyền địa phương, chia
rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ giữa đồng bào DTTS với người Kinh,
giữa DTTS này với DTTS khác.
Từ đó kích động chống đối trong nhân dân, dung
dưỡng những thành phần bất hảo, chống phá, gắn với việc truyền bá tà đạo,
truyền bá mê tín dị đoan, tạo các điểm nóng tập hợp lực lượng gây mất an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, kích động tư tưởng ly khai, tự trị ở vùng
DTTS.
Thực tế, cùng với việc chăm lo đời sống vật chất
thì đời sống tinh thần của bà con DTTS cũng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm,
trong đó có việc tiếp cận thông tin. Thấy rõ những khó khăn nên Đảng và Nhà
nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật nhằm tăng
cường, thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin của đồng bào. Theo đó, quyền tiếp cận
thông tin là một trong các quyền cơ bản, quan trọng của con người, được ghi
nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên và được quy định tại
Điều 25, Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này
do pháp luật quy định”.
Cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin năm
2016 cũng quy định nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân;
trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin, bảo
đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.
Để cụ thể hóa Luật tiếp cận thông tin, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018, quy định chi tiết các biện
pháp thi hành của luật, trong đó đề ra các biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi
cho người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều
kiện kinh tế-xã hội (KT-XH) đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông
tin. Nghị định cũng quy định việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng nhiều
hình thức phù hợp như: thông qua cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện
tử của cơ quan Nhà nước; qua hệ thống phát thanh, truyền hình Trung ương và địa
phương, đặc biệt là các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc và
các phương tiện thông tin đại chúng khác; xây dựng tài liệu chuyên đề, tờ rơi,
ấn phẩm, trong trường hợp cần thiết và khả thi thì có thể được chuyển tải bằng
ngôn ngữ dân tộc; tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cộng đồng để
chia sẻ thông tin…
BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ngày 25/4/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 467/QĐ-TTg về tích hợp các chính sách hỗ trợ thông tin, tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Quyết định này chỉ ra các chính sách cụ thể như: Hỗ trợ đào tạo kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thông tin và truyền thông tại cơ sở; Hỗ trợ phương tiện nghe, xem (radio, ti vi, đầu thu truyền hình kỹ thuật số) cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; thí điểm cấp rađio cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới.
Phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông về trợ
giúp pháp lý cho đồng bào DTTS; cấp miễn phí một số ấn phẩm báo, tạp chí cho
vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn;thiết lập, duy trì trang thông
tin điện tử tổng hợp song ngữ Việt - Khmer, Việt - Hoa để phục vụ độc giả trong
và ngoài nước. Cung cấp các sản phẩm thông tin có tính chất chuyên biệt, có đối
tượng phục vụ tập trung là nhân dân các DTTS như: Hệ phát thanh Tiếng Dân tộc
(VOV4) của Đài Tiếng nói Việt Nam, Kênh truyền hình Tiếng Dân tộc (VTV5) của
Đài Truyền hình Việt Nam; hỗ trợ tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động thông
tin cơ sở; chính sách hỗ trợ dịch vụ bưu chính và phát hành báo chí đến khu vực
miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo...
Ngoài ra, để tăng cường khả năng tiếp cận thông tin
cho đồng bào, nhiều chương trình, đề án, dự án có liên quan đã và đang được
triển khai tại vùng DTTS và miền núi. Thông qua những chương trình này cho thấy
Đảng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác thông tin, truyền
thông, giúp nâng cao nhận thức cho đồng bào, góp phần phát triển bền vững và
thực hiện có hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của người dân vùng DTTS.
Hiện nay có 26 thứ tiếng (bao gồm cả tiếng Kinh)
đang phát sóng trên kênh VTV5 Đài Truyền hình Việt Nam trên các nền tảng khác
nhau (qua ứng dụng VTVgo, website VTV5, kênh YouTube, trên Facebook...). Cùng
với đó, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng phát sóng 13 thứ tiếng trên hệ Phát thanh
Tiếng Dân tộc. Đài Tiếng nói Việt Nam thường xuyên cập nhật, tuyên truyền về
công tác dân tộc trên cả 4 loại hình báo chí của đài là phát thanh, truyền
hình, báo in, báo điện tử. Đặc biệt, trên hệ thống kênh sóng VOV4 của Đài Tiếng
nói Việt Nam phát sóng hàng ngày với 13 thứ tiếng DTTS với thời lượng gần
30h/ngày, tại 6 khu vực trong cả nước (Đông Bắc, Tây Bắc, Miền Trung, Tây
Nguyên, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ).
Riêng Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin
về cơ sở đến nay đã đầu tư, nâng cấp cho 682 đài truyền thanh xã, 67 đài truyền
thanh, truyền hình huyện và trạm phát lại phát thanh, truyền hình; cung cấp 66
bộ phương tiện tác nghiệp phục vụ hoạt động thông tin và truyền thông cơ sở;
cung cấp 370 bộ thiết bị thu tín hiệu, thiết bị nghe xem và thiết bị phụ trợ
cho các điểm sinh hoạt dân cư cộng đồng và các đồn biên phòng; thiết lập 10 cụm
thông tin đối ngoại tại khu vực cửa khẩu quốc tế, khu vực biên giới. Chương
trình truyền thanh, truyền hình của Trung ương và từng địa phương đã trở thành
những người bạn đồng hành, không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của đồng
bào. Trên cơ sở các chính sách được ban hành, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy
ban Dân tộc phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, định hướng các cơ
quan báo chí xuất bản ấn phẩm báo chí (có ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng DTTS) để
cấp kịp thời cho đồng bào DTTS. Giai đoạn từ năm 2016 đến 2021, đã chuyển phát
18 loại báo, tạp chí với số lượng 51,2 triệu tờ.
Các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương đã
chủ động mở các chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề, tăng cường tin, bài, ảnh
trên báo in, báo điện tử để tuyên truyền về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc,
chính sách dân tộc và truyền thống lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần
phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc và trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo
quốc phòng, an ninh vùng DTTS và miền núi.
Đối với thông tin liên lạc, hiện nay tỉ lệ xã có
điểm liên lạc điện thoại công cộng đạt trên 98%, có hơn 3.000 điểm truy cập
viễn thông công cộng cho người dân. Mạng điện thoại di động đã phủ sóng khắp
vùng DTTS, riêng tỉ lệ phủ sóng điện thoại di động băng rộng 4G của Việt Nam
hiện nay đã lên đến 99,8% xét trên dân số, tại nhiều tỉnh miền núi, cơ sở hạ
tầng viễn thông di động và Internet băng rộng đã phủ đến hầu hết các thôn, bản;
có hơn 16 nghìn điểm giao dịch bưu chính viễn thông, bảo đảm thông tin liên lạc
thông suốt trong mọi tình huống. Trong lĩnh vực xuất bản, đã xuất bản trên
1.200 đầu sách với khoảng 11,3 triệu bản phục vụ cho đồng bào DTTS, hoạt động
của tủ sách công cộng duy trì thường xuyên.
Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội diễn
ra sôi nổi, trong đó Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng đã xuất bản bộ sách nói
bằng tiếng DTTS gồm 7 câu chuyện về Bác Hồ với phụ nữ, Bác Hồ với đồng bào DTTS
và được dịch, thu âm từ tiếng phổ thông sang 6 ngôn ngữ DTTS: Tày, Mông, Thái,
Mường, Ê-đê, Khmer. Công tác xuất bản phim được quan tâm, đầu tư. Tổ chức sản
xuất về phim tài liệu, chuyên đề về phong tục tập quán, lễ hội, những bản sắc
đặc trưng của các dân tộc góp phần phổ biến, giới thiệu bản sắc văn hoá độc đáo
của các dân tộc, sự phát triển đi lên của các dân tộc trên nguyên tắc các dân
tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng
phát triển.
Hoạt động chiếu phim lưu động kết hợp với tuyên
truyền, phổ biến pháp luật ở vùng DTTS đã phát huy hiệu quả tích cực. Qua đó,
góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào và hỗ trợ tuyên
truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
nâng cao nhận thức của đồng bào. Việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng trong
lĩnh vực công nghệ thông tin liên lạc được đẩy mạnh. Hiện nay, đường truyền dẫn
cáp quang, dịch vụ thông tin di động đã đến 100% xã trong toàn quốc.
Đương nhiên, do điều kiện địa hình, địa lý khó
khăn, phức tạp, các yếu tố bất lợi về khí hậu, thiên tai, cùng với đó là một số
tập tục trong lối sống của bà con khiến việc thúc đẩy phát triển KT-XH, trong
đó có tiếp cận thông tin với bà con DTTS còn những thách thức. Dù vậy, những
khó khăn, thách thức đó là khách quan và không thể so sánh với vùng đồng bằng,
thành thị để tạo ra “bức tranh khác biệt”, lấy cớ chỉ trích Đảng, Nhà nước. So
sánh với chính đời sống của bà con DTTS hiện nay với trước đây để thấy sự thay
đổi từng ngày và hãy để họ tự lên tiếng, phản ánh chứ không phải là bôi đen
hiện thực để miệt thị, chống phá.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG “NGOẠI GIAO CÂY TRE VIỆT NAM” TRONG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG, GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA
Đối ngoại quốc phòng là bộ phận của đối ngoại quốc gia, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, nỗ lực ngăn ngừa không để xảy ra xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. Trong những năm qua, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, toàn diện công tác hội nghị quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đạt được nhiều kết quả nổi bật. Đó là: Đã chủ động, tích cực tham mưu với Đảng, Nhà nước giải quyết tốt các vấn đề chiến lược liên quan đến quốc phòng, an ninh, biên giới lãnh thổ của Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xử lý tốt quan hệ quốc phòng với các nước, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, tạo thế đan xen chiến lược, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; tích cực, chủ động củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng, tăng cường tiềm lực phục vụ nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc
phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn với nhiều lĩnh vực,
cơ chế hợp tác thực chất, hiệu quả như: Đào tạo, trao đổi đoàn quân sự, hợp tác
quân binh chủng, công nghiệp quốc phòng, đối thoại chính sách quốc phòng cũng
như các hoạt động giao lưu quốc phòng biên giới, biên cương thắm tình hữu nghị,
kết nghĩa đồn, trạm, cụm dân cư hai bên biên giới..., được cộng đồng quốc tế và
các đối tác ghi nhận, đánh giá cao; diễn tập phòng, chống các thách thức an
ninh truyền thống, phi truyền thống như: Diễn tập quân y, cứu hộ-cứu nạn, chống
cướp biển, tội phạm xuyên biên giới, tổ chức các hoạt động tuần tra chung biên
giới trên bộ, trên biển; tham gia Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games), Hội
thao Quân sự ASEAN; hợp tác trong khắc phục hậu quả chiến tranh; tham gia lực
lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Trên bình diện đa phương, Quân đội nhân dân Việt
Nam đã trở thành thành viên tích cực và trách nhiệm của các cơ chế, diễn đàn
hợp tác quốc phòng đa phương khu vực và quốc tế, như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở
rộng (ADMM+), Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La, Hội
nghị An ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh...; đồng thời chủ động
đóng góp xây dựng, đề xuất nhiều sáng kiến quan trọng tại các diễn đàn, cơ chế
hợp tác này. Qua đó, khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực hiện
các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên Hợp quốc, tích cực đóng góp vào công
cuộc gìn giữ và kiến tạo hòa bình thế giới.
Tuy nhiên, các thế lực luôn tìm mọi cách để xuyên
tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nói chung, hoạt
động đối ngoại quốc phòng nói riêng. Về đường lối, chủ trương đối ngoại chung
của Đảng và Nhà nước, các thế lực phản động lợi dụng thực hiện chủ trương thu
hút đầu tư nước ngoài, các tổ chức “xã hội dân sự” và nhiều nhà “hoạt động xã
hội” xuyên tạc: Một số dự án kinh tế lớn do nước này, nước kia đầu tư là phụ
thuộc, “nối giáo cho giặc”, câu kết lợi ích nhóm để “bán nước”. Hay trong thời
gian gần đây, lợi dụng tình hình phức tạp ở Biển Đông, các đối tượng xuyên tạc:
Thực hiện “chính sách ba không” là sai lầm, tự dâng đất nước cho nước này, nước
khác, đây là chính sách nhu nhược trong bảo vệ Tổ quốc. Họ suy diễn xuyên tạc
nội dung của “chính sách ba không” là một trong những điều khoản được ký kết
được Việt Nam và Trung Quốc thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô,… Về đối ngoại
quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực phản động thường xuyên sử dụng
hình ảnh và nội dung các buổi gặp mặt của lãnh đạo Bộ Quốc phòng nước ta với
các nước khác để xuyên tạc, bôi nhọ. Về hình ảnh, bọn chúng có thể cắt ghép
nhằm xuyên tạc các hoạt động hợp tác quốc phòng. Về nội dung, chúng bóp méo sự
thật, suy diễn để đánh lừa dư luận, hướng người đọc sang nhận thức lệch lạc,
không đúng với thực chất chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước
ta.
Để làm thất bại âm mưu và đập tan thủ đoạn xuyên
tạc hoạt động đối ngoại quốc phòng của kẻ thù; giải quyết, xử lý mối quan hệ
giữa độc lập, tự chủ và chủ động tích cực hội nhập quốc tế, quân đội cần tham
mưu cho Đảng và Nhà nước làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục; vận động quần
chúng nhân dân có nhận thức đúng một số vấn đề như sau:
Một là, độc lập, tự chủ về chính trị, xác định mục
tiêu, con đường phát triển đất nước; tự mình hoạch định đường lối, chủ trương,
chiến lược phát triển; tự mình xác lập và duy trì thể chế chính trị, không chấp
nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Độc lập, tự chủ về chính trị sẽ tự
chủ, chủ động trong đối nội và đối ngoại, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội và quốc phòng, an ninh.
Hai là, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước
hết là phát huy nội lực, phát triển triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiềm lực kinh tế, khoa
học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh, có hiệu quả và sức cạnh
tranh. Phát triển mạnh một số ngành, lĩnh vực và sản phẩm kinh tế chủ yếu có
vai trò quan trọng hàng đầu, có lợi thế so sánh, sức cạnh tranh. Đầu tư trực
tiếp của nước ngoài, mặc dù là rất cần thiết và quan trọng nhưng không để chiếm
lĩnh vai trò chi phối nền kinh tế quốc gia cũng như không thể được phép gây tổn
hại đến an ninh, quốc phòng của đất nước.
Ba là, chủ động nâng cao khả năng phân tích, dự báo
chính xác tình hình, có chiến lược, đối sách phù hợp, hiệu quả, trên cơ sở đó
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế về thương mại hàng hóa, dịch vụ và các cam
kết mang tính thể chế trong từng hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Từ đó
tạo ra những cơ hội cho việc thu hút đầu tư nước ngoài và hoạt động xuất khẩu,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo thêm việc làm; giảm thiểu những rủi ro,
giành thế chủ động trong đàm phán để có những thuận lợi nhất cho doanh nghiệp
và nền kinh tế khi hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu với những luật
chơi khắc nghiệt hơn, đòi hỏi cao hơn và phức tạp hơn.
Bốn là, thực hiện tốt các giải pháp để xây dựng,
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đảm bảo văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc, thống nhất, đa dạng, phát huy bản sắc với các đặc trưng văn hoá
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại trong quá trình hội nhập, phát
triển.
Năm là, làm tốt công tác phòng, chống, đấu tranh,
trấn áp các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, khủng bố, bạo loạt, lật
đổ, tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao, đảm bảo môi trường thông tin, cảnh
giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu diễn biến hòa bình, đảm bảo trật tự an toàn
xã hội. Tạo môi trường hoà bình, ổn định phát triển kinh tế, xã hội; tạo tiền
đề giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động trong
hội nhập quốc tế hiện nay./.
SỨ MỆNH CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Theo tinh thần nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí nước ta hiện nay là chủ động tiến công, kiên quyết và thường xuyên “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Trước các thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới
đất nước ta, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội ra sức xuyên
tạc, chống phá nhằm loại bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta - chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - ra khỏi đời sống tinh thần xã hội. Chúng công
kích những bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tập trung vào những nguyên
lý cơ bản và những luận điểm lý luận then chốt; lợi dụng cả những người hiểu và
vận dụng chưa đầy đủ chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thực tiễn để xuyên tạc, chống
phá. Chúng tấn công chủ nghĩa Mác - Lê-nin cả về lý luận và thực tiễn; đối lập
tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ
Chí Minh. Các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị thường xuyên
xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước và quá trình tổ chức thực hiện; triệt để lợi dụng những thiếu sót,
khuyết điểm của ta trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật
để chống phá; xuyên tạc sự thật, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà
nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên,…
Trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù
địch, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác luận điệu xuyên
tạc, sai trái của các phần tử cơ hội chính trị có vai trò quan trọng đặc biệt,
là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó,
có vai trò chủ công, tiên phong của các cơ quan báo chí. Thời gian qua, báo chí
nước ta đã thể hiện rõ vai trò xung kích trong đấu tranh chống các quan điểm
sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhiều tờ báo đấu tranh
kịp thời, sắc bén, vạch rõ và làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế
lực thù địch xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chủ
trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; củng cố lòng tin của nhân
dân đối với chế độ và sự lãnh đạo của Đảng.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng, hệ thống báo chí nước ta cũng như đội ngũ nhà báo đã không ngừng nâng
cao chất lượng thông tin, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước,
những thông tin tốt và tích cực, làm cho những nội dung thông tin này thực sự
là chủ đạo, chi phối đời sống tinh thần - thông tin xã hội, “Làm loãng” và đẩy
lùi các thông tin xấu, độc, tiêu cực, các quan điểm sai trái, thù địch. Cần mở
rộng và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục định kỳ, các tuyến bài
đấu tranh tư tưởng; liên kết thông tin với các nền tảng mạng xã hội và các
phương tiện truyền thông mới một cách phù hợp.
Cùng với nâng cao chất lượng thông tin, các cơ quan
báo chí còn tích cực tổ chức lực lượng trực tiếp đấu tranh phản bác các quan
điểm, tư tưởng sai trái, các thông tin xấu, độc bằng nhiều hình thức phong phú,
đa dạng trên báo chí, trên các phương tiện thông tin đại chúng khác (internet,
mạng xã hội,…) góp phần giữ vững trận địa tư tưởng. Tổ chức, củng cố và phát
huy tốt vai trò của các lực lượng trực tiếp viết bài đấu tranh, đội ngũ cộng
tác viên... đủ mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận và
năng lực đấu tranh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Chủ động phối kết hợp chặt chẽ,
đồng bộ giữa các “Binh chủng” thông tin từ Trung ương đến địa phương, các
ngành, các cấp trong hệ thống chính trị. Sự phối hợp này cần bám sát thực tiễn,
tích cực, chủ động, phát huy thế mạnh và vai trò của từng tờ báo, từng lực
lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh. Trên cơ sở đó, tạo nên “Thế
trận đấu tranh” rộng khắp, thống nhất, chặt chẽ trong phản bác các quan điểm
sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.
VIỆT NAM LÊN ÁN MẠNH MẼ TỘI DIỆT CHỦNG VÀ ĐÃ CÓ NHIỀU HÀNH ĐỘNG Ý NGHĨA CHẤM DỨT NẠN DIỆT CHỦNG
Ngày 23/5, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã họp phiên toàn thể tại Đề mục văn hóa hòa bình để thảo luận về vấn đề diệt chủng, phiên họp đã thu hút sự tham gia đông đảo của các nước thành viên và quan sát viên tại Liên hợp quốc.
Phát biểu tại phiên họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang,
Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc khẳng định Việt Nam lên án một
cách mạnh mẽ nhất tội ác diệt chủng, đã có nhiều nỗ lực cụ thể, hành động
có ý nghĩa để chấm dứt nạn diệt chủng và trừng trị tội phạm diệt
chủng. Những nỗ lực và hành động này khởi nguồn từ chính sách của
của Việt Nam luôn tôn trọng giá trị sinh mạng con người, cam kết bảo vệ
người dân và quan điểm nhất quán đề cao Hiến chương Liên hợp quốc và luật
pháp quốc tế.
Với tư cách là quốc gia thành viên Công ước về
ngăn ngừa và trừng phạt tội diệt chủng, Việt Nam nghiêm túc thực hiện nghĩa
vụ quốc gia của mình theo Công ước và các cam kết quốc tế trong lĩnh vực
này.
Việc Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch Nhóm công
tác của Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021) về các Tòa án quốc
tế, ủng hộ hoạt động của Cơ chế quốc tế về giải quyết các thủ
tục còn lại của các Tòa án hình sự và cùng các nước nhất trí thông
qua Nghị quyết của Đại hội đồng về “Ngày quốc tế tưởng niệm và tôn vinh các
nạn nhân của tội ác diệt chủng và phòng chống tội ác này” vào năm 2015 là một
số minh chứng cụ thể cho lập trường và đóng góp của Việt Nam thời
gian qua.
Việt Nam khẳng định hòa bình, ổn định và phát
triển là điều kiện tiên quyết để xóa bỏ tận gốc nạn diệt chủng, vì vậy tăng
cường đối thoại, hòa giải và đoàn kết dân tộc tại các nước liên quan nên
được đặt làm ưu tiên hàng đầu. Việt Nam tin tưởng rằng Đại hội đồng
Liên hợp quốc là diễn đàn phù hợp nhất để thúc đẩy đồng thuận và
đoàn kết giữa các nước trong đấu tranh phòng, chống tội diệt chủng
và các tội ác nghiêm trọng khác.





