Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

Nghiên cứu vận dụng quan điểm “kháng chiến toàn dân, toàn diện” trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Quan điểm “Kháng chiến toàn dân, toàn diện” là nội dung cốt lõi trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm trên vào thực tiễn là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn tới thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), quan điểm trên vẫn còn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả trong thực tiễn.

Quan điểm “Kháng chiến toàn dân, toàn diện” trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự phát triển lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác – Lênin; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa quân sự thế giới; kết hợp với kinh nghiệm của Đảng ta và nhân dân ta trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, am hiểu sâu sắc truyền thống, kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc: “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, “trăm họ là binh”, “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đúng vai trò quyết định của nhân dân trong đấu tranh giành chính quyền cũng như trong chiến tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “chiến tranh giải phóng hay chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam đều là chiến tranh nhân dân, một cuộc chiến tranh cách mạng thực sự “của dân, do dân và vì dân””. Người cũng chỉ ra rằng, chiến tranh nhân dân toàn dân phải gắn với chiến tranh nhân dân toàn diện: “Trước kia, chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia, chỉ đánh nhau về một mặt quân sự nhưng ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh”. “…Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể thắng lợi được”.

Việc vận dụng quan điểm “Kháng chiến toàn dân, toàn diện” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc được thể hiện rõ trong phương châm chỉ đạo chiến tranh của Đảng về quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện; đánh địch trên các môi trường, tập trung nỗ lực đánh địch trên chiến trường (hướng chiến lược), địa bàn, khu vực trọng điểm; thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian chiến tranh; vừa chiến đấu vừa xây dựng, dựa vào sức mình là chính, ra sức tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi trong hoàn cảnh mới, tạo sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của địch, kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cũng khẳng định: kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; bởi lẽ, một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, một cuộc chiến tranh nhân dân đích thực thì không một thế lực nào có thể đánh bại được.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), phần nhiều chúng ta phải chống lại kẻ thù xâm lược có tiềm lực quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ lớn hơn gấp nhiều lần; sử dụng nhiều phương thức, biện pháp chiến tranh tinh vi, hiện đại trên tất cả các lĩnh vực, v.v. Vì vậy, để có sức mạnh tổng hợp vượt lên trên sức mạnh của đối phương, giành thắng lợi cuối cùng, chúng ta phải dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân. Kháng chiến toàn dân, toàn diện phản ánh quy luật cơ bản nhất, bao trùm nhất để giành thắng lợi; là nội dung thể hiện tập trung nhất nghệ thuật tổ chức, động viên, phối hợp các lực lượng, các hình thức và phương pháp đấu tranh, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch, dám đánh và quyết thắng địch. Kháng chiến toàn dân, toàn diện là sự kế thừa và phát huy truyền thống toàn dân đánh giặc của dân tộc Việt Nam “toàn dân chung sức, cả nước chung lòng”, là nghệ thuật tạo nên sức mạnh tổng hợp trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Vận dụng quan điểm “Kháng chiến toàn dân”

Từ thực tiễn cho thấy, hiện nay và trong thời gian tới, cho dù đất nước ta có sự phát triển hơn trước nhiều lần, đời sống của nhân dân được nâng cao, thế và lực của đất nước được tăng cường hơn bao giờ hết, thì so với các nước phát triển, nhất là các nước lớn vẫn còn khoảng cách khá xa, thậm chí có mặt còn tụt hậu so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới. Trong bối cảnh ấy, nếu đất nước phải đối mặt với một cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù, chúng ta vẫn phải “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”, phải dựa vào sức mạnh của toàn dân để đánh thắng những đội quân xâm lược mạnh hơn ta gấp nhiều lần.

Đó là cuộc kháng chiến toàn dân trong điều kiện mới của đất nước với nhiều yếu tố rất thuận lợi. Lực lượng tiến hành kháng chiến là lực lượng toàn dân, thực hiện toàn dân đánh giặc với tất cả các phương thức, trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn, diễn ra ở mọi không gian, thời gian. Toàn dân đánh giặc khiến quân địch không thể tạo ra một mặt trận cố định để đối phó với quân và dân ta, ở đâu có người Việt Nam giác ngộ cách mạng, dù là trong nước hay ngoài nước, thì ở đó có mặt trận đánh địch, với sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân, có tính tổ chức khoa học, trình độ và năng lực mọi mặt của quần chúng ngày càng cao.

Kháng chiến toàn dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay có sự phát triển mới. Trước hết, ta đánh địch bằng sức mạnh của một dân tộc đã giành được độc lập, đất nước thống nhất, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sức mạnh của toàn dân làm chủ đất nước, có lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân lớn mạnh làm nòng cốt; trong điều kiện thế và lực của đất nước ngày càng được nâng cao; nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng,… sẽ tạo ra nhiều thuận lợi trong phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế để động viên nhân tài, vật lực cho chiến tranh.

Tuy nhiên, kháng chiến toàn dân bảo vệ Tổ quốc sẽ phải đối đầu với chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến sự sẽ diễn biến hết sức quyết liệt, phức tạp, với cường độ và sức sát thương, hủy diệt lớn,… tác động mạnh đến tư tưởng, tâm lý của quân và dân ta. Vì vậy, chúng ta phải có sự chuẩn bị một cách chủ động, đầy đủ và toàn diện cho mọi lực lượng để có đủ sức mạnh đánh thắng địch trong mọi tình huống.

Vận dụng quan điểm “Kháng chiến toàn diện”

Chiến tranh là cuộc thử thách toàn diện đối với toàn bộ sức mạnh vật chất và tinh thần của đất nước. Chỉ có tiến hành kháng chiến toàn diện, chúng ta mới phát huy được chỗ mạnh, sở trường của ta là chiến tranh chính nghĩa; đánh giặc về mọi mặt ngay trên đất nước ta và cả nơi xuất phát tiến công xâm lược của địch. Kháng chiến toàn diện được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, bao gồm: đấu tranh vũ trang; đấu tranh chính trị; đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; đấu tranh kinh tế; đấu tranh ngoại giao;... trong đó, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị giữ vai trò quyết định đến thắng lợi của cuộc chiến tranh.

Đấu tranh vũ trang là hình thức cơ bản, giữ vai trò trực tiếp quyết định trong việc tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch. Đấu tranh vũ trang trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc phải kế thừa, phát huy truyền thống và kinh nghiệm của dân tộc, tinh hoa quân sự thế giới; đặc biệt là truyền thống, kinh nghiệm trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc vừa qua để vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới. Vì vậy, phải chọn đúng hình thức và phương pháp tác chiến; xác định quy mô, cách tổ chức và sử dụng lực lượng thích hợp. Đấu tranh vũ trang phối hợp cùng các mặt trận khác giành thắng lợi trong chiến tranh nhưng phải có lợi nhất về mặt chính trị để ổn định, xây dựng đất nước sau chiến tranh. Cùng với nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng quân sự của địch từ ngoài vào, dập tắt bạo loạn ly khai từ bên trong, đấu tranh vũ trang còn có nhiệm vụ bảo vệ vững chắc các mục tiêu chiến lược, làm chỗ dựa cho các mặt trận đấu tranh khác và làm chỗ dựa cho quần chúng nhân dân đấu tranh chính trị. Phải kết hợp chặt chẽ tác chiến phòng thủ, phòng ngự với tiến công, phản công, lấy phản công, tiến công làm chính, phòng thủ, phòng ngự là rất quan trọng; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa với tạo thời cơ đánh lớn bằng nhiều hình thức, biện pháp và loại hình tác chiến; kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh. Các lực lượng vũ trang phải tinh, gọn, mạnh, cơ động nhanh, có sức chiến đấu cao, khi thực hành tác chiến phải chọn đúng hướng tiến công, nhất là hướng tiến công chiến lược.

Đấu tranh chính trị là hình thức đấu tranh cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, là phương pháp đấu tranh của đông đảo quần chúng nhân dân không vũ trang. Đấu tranh chính trị giữ vị trí hết sức quan trọng, là sở trường của ta và là chỗ yếu chí mạng của địch, vì cuộc chiến tranh ta tiến hành là chính nghĩa. Đây cũng là một phương thức tiến công địch và là cơ sở phát triển của đấu tranh vũ trang. Đấu tranh chính trị nêu cao giá trị nhân bản, nhân văn và chính nghĩa của ta, vạch trần bản chất xâm lược phi nghĩa và tội ác của địch. Đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận chính trị thì mới đập tan được mọi luận điệu xuyên tạc, kích động, lừa gạt và chia rẽ của kẻ thù; mở rộng và củng cố được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho địch ngày càng bị cô lập, phân hóa và suy yếu về chính trị, tạo thuận lợi cho đấu tranh vũ trang và các mặt đấu tranh khác giành thắng lợi.

Chiến tranh ngày nay càng gắn bó chặt chẽ với chính trị, do vũ khí công nghệ cao có thể tạo ra “siêu sát thương”, gây sức ép về chính trị, ngoại giao, kinh tế, tài chính, răn đe quân sự hoặc chiến tranh thông tin, v.v. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay, cần phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn dân hiểu rõ bản chất chiến tranh xâm lược của kẻ thù, vạch trần bộ mặt “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” giả hiệu, cùng những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của chúng. Đồng thời, khơi dậy trong nhân dân truyền thống quật cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm, ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, lòng căm thù giặc sâu sắc, v.v. Muốn vậy phải đẩy mạnh xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch vững mạnh, không ngừng củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, làm cho toàn dân tin Đảng, yêu nước, gắn bó với chế độ.

Quan điểm “Kháng chiến toàn dân, toàn diện” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa xuất sắc truyền thống quân sự của dân tộc, tinh hoa quân sự của nhân loại và đã trở thành nền tảng tư tưởng cho đường lối quân sự của Đảng và là ngọn đuốc soi đường cho hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang của nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang. Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng đó vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là vấn đề quan trọng, cấp thiết./.

ST.

Một số vấn đề về xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần trên địa bàn Tây Bắc trong tình hình mới

Xây dựng tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân nói chung, tiềm lực chính trị - tinh thần nói riêng vững mạnh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đối với địa bàn chiến lược, trọng điểm Tây Bắc thì nhiệm vụ này càng có ý nghĩa quan trọng. Vì thế, nội dung này cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa bàn với quyết tâm chính trị cao và giải pháp đồng bộ, khoa học.

Tây Bắc là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và môi trường sinh thái của cả nước. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cùng sự nỗ lực, cố gắng của cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân, Tây Bắc có sự khởi sắc về mọi mặt: kinh tế - xã hội ngày càng phát triển; quốc phòng - an ninh được tăng cường; tình hình chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; đời sống của nhân dân không ngừng được nâng lên. Nhờ đó, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các địa phương được củng cố, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nơi đây thực sự trở thành “phên giậu” vững chắc nơi cửa ngõ phía Tây và phía Bắc của Tổ quốc. Tuy vậy, một số địa phương trên địa bàn kinh tế còn chậm phát triển, trình độ dân trí không đồng đều. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng các vấn đề về “dân tộc”, “tôn giáo”, “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để đẩy mạnh hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ đồng bào giữa các dân tộc, giữa nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương, giữa nhân dân với Quân đội và Công an, hòng gây mất ổn định về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, v.v. Cùng với đó, việc điều chỉnh tổ chức, biên chế lực lượng các đơn vị Quân đội trên địa bàn có nhiều tác động đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, v.v.

Trước thực tế trên, để hiện thực hóa chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, xây dựng Tây Bắc “xanh, bền vững, toàn diện”, đưa các tỉnh Tây Bắc bứt phá vươn lên thoát khỏi “vùng trũng” trong phát triển và “lõi nghèo” của cả nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương và lực lượng vũ trang trên địa bàn cần coi trọng xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, khu vực phòng thủ tỉnh, huyện ngày càng vững chắc cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận. Trong đó, đặc biệt chăm lo xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc và luôn xem đó là nội dung quan trọng hàng đầu, cơ sở để xây dựng, huy động, nhân lên sức mạnh các tiềm lực khác trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phạm vi bài viết, đề cập một số nghiên cứu về vấn đề này ở địa bàn Tây Bắc để cùng nghiên cứu, trao đổi.

Xuất phát từ đặc thù của địa bàn nên Tây Bắc luôn là một trong những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch, hòng kích động tư tưởng ly khai, tự trị; gieo rắc nghi ngờ, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, hiện nay, để xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần trên địa bàn quan trọng này, trước hết phải quan tâm xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò, nội dung xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Thực hiện tốt nội dung này sẽ tạo cơ sở, nền tảng vững chắc để xây dựng, huy động và nhân lên sức mạnh các tiềm lực khác của nền quốc phòng toàn dân. Theo đó, nội dung tuyên truyền, giáo dục phải bảo đảm toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, như: chủ trương, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của các cấp ủy đảng về phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; lòng yêu nước, tự hào về truyền thống và con người của quê hương Tây Bắc anh hùng. Đồng thời, giáo dục nâng cao ý thức quốc phòng, tinh thần cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị mua chuộc lôi kéo, chủ động đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ. Trong thực hiện, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp tuyên truyền và sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực, phù hợp. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho từng đối tượng, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở và thế hệ trẻ, chức sắc, chức việc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Các đơn vị Quân đội cần nâng cao hiệu quả thực hiện Đề án “Phát huy vai trò của lực lượng Quân đội nhân dân tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật tại cơ sở giai đoạn 2021 - 2027” theo Quyết định số 1371/QĐ-TTg, ngày 30/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Qua đó, thống nhất nhận thức, tạo đồng thuận, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các tầng lớp nhân dân địa phương và lực lượng vũ trang trên địa bàn để xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần ngày càng vững chắc.

Thực tiễn cho thấy, xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần của nền quốc phòng toàn dân muốn đạt hiệu quả cao, cần được tiến hành ngay trong chính quá trình xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, quan tâm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đủ năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nội dung có tính quyết định trong xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Hệ thống chính trị ở cơ sở là nơi cụ thể hóa và đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, trực tiếp triển khai thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của địa phương. Để làm tốt nội dung này, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng (nhất là chi bộ cơ sở, trong đó có chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn), vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các đơn vị Quân đội, Công an, nhất là cơ quan quân sự địa phương cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cùng cấp sắp xếp, tổ chức bộ máy các cơ quan trong hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo đảm tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, cần tập trung xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao của các tổ chức cơ sở đảng; xây dựng hệ thống chính quyền các cấp vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở địa phương. Đồng thời, xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở, mở rộng dân chủ theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đối với lực lượng vũ trang trên địa bàn, cần thường xuyên làm tốt công tác dân vận, nắm vững tình hình, luôn có mặt ở nơi khó khăn, phức tạp để giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, “xóa đói, giảm nghèo”; chủ động cử cán bộ, đảng viên tham gia cấp ủy các xã, sinh hoạt tại các chi bộ, tổ đảng. Thực hiện tốt công tác tạo nguồn phát triển Đảng, xóa tình trạng “trắng” đảng viên ở các thôn, bản; trên cơ sở đó, lựa chọn, bồi dưỡng nguồn cán bộ cho cơ sở. Qua đó, không ngừng củng cố, xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự phát triển bền vững để củng cố, nâng cao tiềm lực chính trị - tinh thần trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đời sống của nhân dân trên địa bàn, nhất là đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, biên giới,... là một nhân tố quan trọng, quyết định đến sự bền vững của tiềm lực chính trị - tinh thần. Vì vậy, thường xuyên quan tâm chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân là cơ sở, nền tảng để xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần ngày càng vững chắc. Để thực hiện tốt nội dung này, cấp ủy, chính quyền, đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành của địa phương cần bám sát thực tiễn, phát hiện những vấn đề nảy sinh về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... kịp thời có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo tập trung phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, bảo đảm mỗi bước phát triển kinh tế của địa phương là bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trên địa bàn; coi trọng gắn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng thế trận phòng thủ của từng tỉnh và toàn địa bàn.

Phát huy chức năng của đội quân lao động, sản xuất, các đơn vị Quân đội trên địa bàn cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tích cực thực hiện tốt đề án quy hoạch, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, nhất là ở địa bàn chiến lược, như: biên giới, địa hình hiểm trở, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, nơi có nguy cơ sạt lở đất, lũ quét cao, khu vực triển khai dự án thủy điện và nơi có mật độ dân số thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, v.v. Tích cực tham gia phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, tập trung xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, như: điện, giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh xá, nhà văn hóa, các trạm xá quân - dân y kết hợp, v.v. Vận động nhân dân định canh, định cư, hướng dẫn sản xuất, kinh doanh, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển chăn nuôi đại gia súc, trang trại gia đình; hỗ trợ vốn sản xuất, trồng và chăm sóc bảo vệ rừng,... để giúp nhân dân “xóa đói, giảm nghèo”. Qua đó, góp phần xây dựng Tây Bắc luôn ổn định về chính trị, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, tạo điều kiện vật chất quan trọng để xây dựng khu vực phòng thủ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

ST.

Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, đáp ứng yêu cầu tinh, gọn, mạnh

Xây dựng đội ngũ cán bộ - nhân tố quyết định sức mạnh chiến đấu của toàn quân, cũng như tạo tiền đề vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Hiện nay, để có đội ngũ cán bộ vững mạnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, cần nghiên cứu, đề xuất những giải pháp đồng bộ, khoa học, sát hợp với thực tiễn.

Xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh là khâu “then chốt” của nhiệm vụ “then chốt” trong xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, là vấn đề vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp thiết hiện nay. Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, những năm qua, cấp ủy các cấp đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ với nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ, quyết liệt, thiết thực, hiệu quả. Do vậy, “Tuyệt đại đa số cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, có phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, lối sống lành mạnh, tinh thần trách nhiệm cao, đoàn kết khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống, thực sự là lực lượng nòng cốt trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.



Tổ chức kiểm tra chi bộ và các đồng chí chi ủy viên theo kế hoạch ở Đảng bộ Cục Chính trị, Binh chủng Tăng Thiết giáp. Ảnh: tapchicongsan.org.vn

Bên cạnh kết quả quan trọng đạt được, ở một số đơn vị, công tác cán bộ còn có những khuyết điểm, hạn chế, như: quy trình thực hiện chưa đồng bộ, khoa học; nhận xét, đánh giá cán bộ có mặt chưa khách quan, thiếu chính xác; quy hoạch chưa mang tính tổng thể và tầm nhìn dài hạn; lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, đề bạt có trường hợp còn chưa đúng đối tượng, v.v. Vì vậy, đội ngũ cán bộ ở những đơn vị đó còn những hạn chế, bất cập, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, chưa thật sự gương mẫu, uy tín thấp; thậm chí còn “Một số cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, học tập vươn lên, làm việc cầm chừng, cơ hội, thực dụng, gia trưởng, độc đoán, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội”. Để khắc phục những tồn tại đó, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại trong tình hình mới, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cần được tiếp tục đổi mới, mạnh mẽ và toàn diện; trong đó, chú trọng vào thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao chất lượng khâu lựa chọn cán bộ các cấp. Đây là mắt xích quan trọng, liên quan chặt chẽ đến tất cả các khâu của công tác cán bộ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc lựa chọn cán bộ và luôn căn dặn phải trọng dụng nhân tài, trọng cán bộ, trọng người có ích cho công việc chung và phải chọn được những người thực sự có tài năng, làm được việc, lấy thước đo là tinh thần vì dân, vì nước. Thực tiễn đã chứng minh, lựa chọn cán bộ vừa là vấn đề khoa học, vừa là nghệ thuật, tạo sự phát triển vững chắc và chất lượng của cả đội ngũ cán bộ, bảo đảm tính kế thừa, chuyển tiếp liên tục, tránh được sự hẫng hụt nguồn nhân lực cán bộ. Vì vậy, cấp ủy các cấp cần căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và yêu cầu cụ thể xây dựng đơn vị tinh, gọn, mạnh; thực trạng đội ngũ cán bộ, hướng phát triển của từng cán bộ để xây dựng kế hoạch và đề nghị cấp có thẩm quyền tuyển chọn, tuyển dụng cán bộ. Trong tiến hành, cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương về thu hút những người có phẩm chất, năng lực, những cán bộ có đức, có tài vào nguồn tuyển chọn, tuyển dụng, lựa chọn vào đội ngũ cán bộ trong Quân đội. Ưu tiên tuyển dụng, tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có chuyên ngành đào tạo phù hợp với các ngành nghề Quân đội chưa đào tạo hoặc đào tạo nhưng chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng. Cần thực hiện nghiêm các quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ trong lựa chọn, đề nghị bổ sung, bổ nhiệm vào đội ngũ. Đặc biệt, cần coi trọng việc lựa chọn bổ nhiệm cán bộ chỉ huy, quản lý có số dư; người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, đề xuất người thay thế mình và chịu trách nhiệm về đề xuất của mình. Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện tiêu cực, nể nang, hạ thấp tiêu chuẩn khi lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ.

Hai làđẩy mạnh đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu của Quân đội trong gần 80 năm qua cho thấy, chất lượng đội ngũ cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố; trong đó, đào tạo của các nhà trường và bồi dưỡng, rèn luyện tại đơn vị luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trên thực tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Quân đội hiện nay, tuy có chuyển biến tích cực, song vẫn còn những bất cập, như: việc xác định mục tiêu, nội dung, chương trình, hình thức, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng chưa theo kịp thực tiễn yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; còn có biểu hiện tiêu cực, như: chạy chỉ tiêu, chạy thành tích, chạy điểm, làm triệt tiêu động lực “thực học” phấn đấu vươn lên của một bộ phận cán bộ. Vì vậy, cần tập trung nâng cao chất lượng nguồn đào tạo, bồi dưỡng, nhất là đối với cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược; đào tạo sau đại học và đào tạo ở nước ngoài. Đồng thời, thực hiện có hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ, có trình độ học vấn, lý luận chính trị tương ứng, theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu, lấy đào tạo cơ bản, dài hạn, chính quy theo các chương trình đào tạo tiên tiến làm chủ yếu, kết hợp với đào tạo các trình độ khác để đáp ứng cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ, từng bước hạn chế đào tạo ngắn hạn tại các học viện, nhà trường Quân đội. Các cơ sở đào tạo cần đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, nhận thức và hành động sát thực tiễn, học tập trang bị kiến thức và bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, kiên quyết khắc phục tình trạng lười học tập lý luận, chạy theo bằng cấp. Bên cạnh đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo tại trường với bồi dưỡng, rèn luyện tại đơn vị, coi trọng bồi dưỡng, rèn luyện tư duy chính trị, tư duy lãnh đạo, kiến thức quản lý, chỉ huy, khoa học, lý luận, ngoại ngữ, cập nhật thông tin mới, kiến thức mới. Qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung.

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, đánh giá, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội. Trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ phải thực hiện đồng bộ các khâu: quy hoạch, nhận xét, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển; trong đó, quản lý, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ là những khâu quan trọng nhất. Quản lý chặt chẽ, đánh giá cán bộ đúng thì mới quy hoạch, sử dụng đúng; trách nhiệm này thuộc về cấp ủy, tổ chức đảng nơi cán bộ sinh hoạt, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cán bộ và bản thân cán bộ tự đánh giá. Quá trình nhận xét, đánh giá cán bộ, cấp ủy các cấp phải bám sát Quy định số 89-NQ/TW, ngày 04/8/2017 của Bộ Chính trị (khóa XII) về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, uy tín để làm thước đo chủ yếu, đảm bảo thực chất, khách quan, minh bạch, công khai kết quả; chống chủ quan, cảm tính, phiến diện. Trên cơ sở nhận xét, đánh giá đúng cán bộ, cấp ủy các cấp chủ động rà soát, lựa chọn đưa vào quy hoạch, chuẩn bị nguồn đưa đi đào tạo tại các học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội; tập trung nguồn trong quy hoạch, nguồn cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, nguồn sau đại học và nguồn đào tạo ở nước ngoài; kiên quyết đưa ra khỏi nguồn những cán bộ không còn đủ tiêu chuẩn. Việc bố trí, sử dụng cán bộ phải theo quy hoạch và hướng sử dụng; gắn kết quả học tập, kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao với tuyển chọn, bổ nhiệm, đề bạt nhằm nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, trước hết là bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy, tính Đảng, tính nguyên tắc trong công tác. Cùng với đó, theo phân cấp quản lý cán bộ, các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ; nắm chắc lịch sử chính trị và vấn đề chính trị hiện nay, chú trọng xem xét về lập trường quan điểm, tư tưởng, phát ngôn, động cơ, thái độ chính trị, đạo đức, lối sống; chủ động làm tốt công tác phòng ngừa, không để bị lợi dụng móc nối, lôi kéo; phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp cơ hội, bất mãn chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Bốn là, kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực và kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Đây là giải pháp hết sức quan trọng, đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thường xuyên quán triệt, thực hiện nghiêm việc “Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền,…” và Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị (khóa XIII), bảo đảm mọi quyền lực, quyền hạn đều được kiểm soát chặt chẽ và được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao trách nhiệm càng lớn. Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ, bảo đảm công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nâng cao vai trò người đứng đầu trong công tác cán bộ; quản lý chặt chẽ, hiệu quả đội ngũ cán bộ theo các quy định của Trung ương. Tăng cường kiểm tra, sàng lọc, xử lý, thay thế, miễn nhiệm, cho từ chức người đứng đầu yếu kém về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tín nhiệm thấp, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc trong chỉ đạo, điều hành công việc. Đồng thời, xử lý nghiêm mọi biểu hiện tiêu cực, nhất là hiện tượng chạy chức, chạy quyền trong công tác cán bộ.

Xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh tiến lên hiện đại, đòi hỏi tiếp tục được nghiên cứu thấu đáo cả về lý luận và thực tiễn, bảo đảm cho đội ngũ này có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên từng cương vị, chức trách, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

ST.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị trong Quân đội

Vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có tác động, ảnh hưởng tích cực đến cán bộ, chiến sĩ, cũng như vị thế, vai trò chủ trì về chính trị và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị Quân đội. Vì vậy, học tập và làm theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chủ tịch luôn đề cao vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; theo Người: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Vì vậy, Người cặn dặn các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Quân đội ta ngay từ những ngày đầu, cùng với việc bố trí đội ngũ cán bộ chính trị để giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu họ phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là tư cách, đạo đức, lối sống và trong công việc để chỉ đạo, động viên, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.



Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ 2, được Bác Hồ gửi thư căn dặn đội ngũ cán bộ chính trị viên. Ảnh tư liệu.

Đối với cán bộ chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”. Vô luận ở cấp bậc nào, “người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ”. Bởi, cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành. Để phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ chính trị, Người chỉ rõ: “Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”. Về mặt vật chất, chính trị viên phải luôn săn sóc đến đời sống sinh hoạt: ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu của bộ đội. Về mặt tinh thần, chính trị viên phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa và đường lối chính trị trong bộ đội. Mặt khác, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cán bộ chính trị “càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”.

Thấm nhuần lời dạy của Người, lớp lớp đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội luôn tự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu giữ vững tư cách của người cán bộ chính trị; tuyệt đối trung thành và đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn có hoài bão, lý tưởng sống đúng đắn, lối sống trong sáng, lành mạnh, trung thực, khiêm tốn, giản dị; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân,... luôn là tấm gương mẫu mực để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo.

Trong tình hình mới, đội ngũ cán bộ chính trị tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo nền tảng vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Việc thực hiện tốt vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chính trị không những nâng cao vị thế, vai trò của cá nhân, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị mà còn ngăn ngừa hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết; cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:

Trước hết, cần tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần coi việc thực hiện vai trò nêu gương là một nội dung trọng yếu của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị; một yêu cầu để đảm bảo cho đội ngũ này thực hiện tốt vai trò chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Do vậy, việc xác định những yêu cầu về nêu gương của cán bộ chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải gắn kết chặt chẽ với nội dung các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là: Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v. Trên cơ sở đó, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp trong xây dựng tiêu chí, quy định cụ thể về thực hiện vai trò nêu gương của chính ủy, chính trị viên trong các hoạt động ở đơn vị; đồng thời, làm tốt công tác giáo dục tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng đối với vấn đề này.

Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong quá trình đào tạo tại các học viện, nhà trường. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về giáo dục, đào tạo và thực hiện quan điểm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, các cơ sở đào tạo cán bộ chính trị, nhất là Học viện Chính trị và Trường Sĩ quan Chính trị cần nghiên cứu, hoàn thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, chuẩn đầu ra của các đối tượng nhằm đào tạo những chính ủy, chính trị viên có phẩm chất, năng lực toàn diện, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong hoạt động thực tiễn.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, các học viện, nhà trường cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục và đào tạo đối với cán bộ chính trị. Kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với nghiên cứu, cập nhật các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng vào hoạt động giáo dục, đào tạo nhằm thực hiện tốt yêu cầu về trang bị kiến thức, năng lực thực hành với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống, vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị ngay tại trường. Trong đó, coi trọng việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, thực hành nhằm hình thành vững chắc các phẩm chất, nhân cách và vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị trong thực tiễn.

Ba là, thường xuyên bồi dưỡng và phát huy vai trong nêu gương của cán bộ chính trị trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị. Kết hợp chặt chẽ giữa “nói” và “làm” là một giá trị nổi bật trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực tiễn cho thấy, hành động nêu gương của người đứng đầu, dù nhỏ đều có tác động, ảnh hưởng lớn đến cấp dưới. Đồng thời, có coi trọng thực hiện vai trò nêu gương thì tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng mới đi vào cuộc sống ở mỗi đơn vị và lan tỏa trong xã hội. Do vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm bồi dưỡng và phát huy tốt vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong các hoạt động thực tiễn, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Cần có cơ chế, chính sách và những biện pháp cụ thể để khích lệ, động viên vai trò nêu gương của họ; đồng thời, uốn nắn, điều chỉnh những nhận thức và biểu hiện sai trái, chưa phù hợp. Đặc biệt, cần phải coi trọng thực hiện tốt vai trò nêu gương của cấp trên đối với cấp dưới cả về lời nói và hành động để khích lệ việc học tập lẫn nhau về nêu gương trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị.

Việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn gương mẫu chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, kỷ luật của Quân đội; đặt lợi ích của tập thể, đơn vị lên trên hết, trước hết. Đồng thời, kiên quyết khắc phục các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, mệnh lệnh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Bốn đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, “tự soi”, “tự sửa” và kiểm tra, giám sát việc thực hiện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Thực hiện giải pháp này đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; bám sát sự chỉ đạo của trên; học hỏi từ đồng nghiệp để tiến hành tốt tự phê bình và phê bình, ‘‘tự soi, tự sửa’’ hằng ngày, không ngừng hoàn thiện về phẩm chất, đạo đức, lối sống, nhất là vai trò nêu gương trong thực tiễn. Coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tiếp thu những kiến thức trong lãnh đạo, quản lý để không ngừng hoàn thiện phương pháp, tác phong công tác, đáp ứng tốt các yêu cầu về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ chính trị và yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan kiểm tra các cấp cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ chính trị. Nội dung kiểm tra, giám sát cần phải toàn diện cả về tư tưởng chính trị, động cơ, thái độ, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống và việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động. Quá trình thực hiện cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp ủy đảng, người chỉ huy, cơ quan chức năng và các tổ chức quần chúng tham gia; kết hợp chặt giữa công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với công tác quản lý của người chỉ huy các cấp. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức đối thoại dân chủ, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức quần chúng đối với đội ngũ cán bộ chính trị, nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với biểu hiện thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ chính trị có tầm quan trọng đặc biệt trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Vì vậy, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải khắc ghi những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để đội ngũ cán bộ chính trị không ngừng phát huy tốt vai trò gương mẫu của mình, luôn là người giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội./.

ST.

Những nguyên tắc cơ bản về đoàn kết, hợp tác quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị hiện thực

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế có nội dung phong phú, sâu sắc và toàn diện; trong đó, những nguyên tắc cơ bản cùng giá trị hiện thực của nó đã, đang và sẽ tiếp tục là cơ sở, nền tảng để Đảng ta vận dụng, thiết lập các quan hệ quốc tế, tạo tiền đề cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.



Nhân dân Ba Lan nồng nhiệt đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 7/1957. Ảnh: tư liệu

Những nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế

Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận rõ: một quốc gia, dân tộc muốn có sức mạnh phải thoát ra khỏi tình trạng biệt lập, phải mở cửa, tăng cường hợp tác với bên ngoài; tình trạng bế quan tỏa cảng chỉ làm đất nước suy yếu và đưa đến những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Năm 1924, trong thư gửi Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập... không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau... do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”.

Với tư duy nhạy bén, sắc sảo và tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Tư tưởng của Người thể hiện hai nội dung quan trọng: Một là, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Hai là, tinh thần đoàn kết, hợp tác không bị giới hạn bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó.

Thấy được tầm quan trọng của đoàn kết, hợp tác quốc tế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới một cách chặt chẽ, sâu sắc. Trước hết, theo Người, đó phải là tinh thần đoàn kết, hợp tác quốc tế đối với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột. Cùng với đó, Người đặc biệt quan tâm tới việc thiết lập quan hệ đối ngoại với các nước tư bản chủ nghĩa để tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...”.

Từ thực tiễn cách mạng, Người rút ra kết luận quan trọng: “Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều đó chứng minh rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”. Như vậy, đoàn kết, hợp tác quốc tế đã thực sự trở thành một nhân tố quan trọng, không thể thiếu, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, để đoàn kết, hợp tác quốc tế đúng phương hướng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, Người cũng nêu ra những nguyên tắc căn bản.

Thứ nhấtđoàn kết, hợp tác quốc tế phải vì lợi ích dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh yêu cầu xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, “phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi và mọi lúc”. Theo Người, phải thực hiện “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây là một phương pháp cách mạng được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Người yêu cầu những người cách mạng cần nhận thức đúng và vận dụng nhuần nhuyễn trong thực tiễn. Cái bất biến là độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cái vạn biến là sự thay đổi của những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan vận động xoay xung quanh cái bất biến, tác động, ảnh hưởng đến cái bất biến. Chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là một điển hình, mẫu mực về xử lý mối quan hệ giữa tính kiên định về nguyên tắc trong chiến lược và tính linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, cách thức thực hiện; về quan hệ giữa mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt.

Theo đó, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi “Kính gửi: Đại Anh Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước thành viên khác của Liên hợp quốc”, Người đã nêu rõ những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của nhân dân Việt Nam là: Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc, v.v. Trên cơ sở tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới, tạo cơ sở cho việc giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho sự đoàn kết và hội nhập quốc tế sau này.

Thứ haitự lực, tự cường trong đoàn kết, hợp tác quốc tế. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong đấu tranh giải phóng dân tộc thì phải “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đồng thời “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Còn trong đoàn kết, hợp tác quốc tế “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Người nhấn mạnh: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Như vậy, tinh thần cơ bản của nguyên tắc này là, khi thiết lập các quan hệ hợp tác quốc tế thì phải tăng cường thực lực, sức mạnh quốc gia; phải từ sự giúp đỡ của quốc tế để tự mình phát triển toàn diện cả về sức mạnh vật chất, kinh tế đến sức mạnh văn hóa, con người, từ sức mạnh của quá khứ đến sức mạnh của hiện tại và tương lai.

Thứ bađảm bảo nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong đoàn kết, hợp tác quốc tếNgười xác định: “Các đảng dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”. Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng một nền hòa bình chân chính trên thế giới, một trật tự thế giới mới, phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền cơ bản của tất cả các dân tộc. Công bằng và bình đẳng phải là nguyên tắc chủ đạo trên thế giới, để đảm bảo cho mỗi dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của mình dựa trên những giá trị văn hóa dân tộc và tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Các quốc gia được bình đẳng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế; và hòa bình thế giới phải được tất cả các dân tộc quyết định, không phụ thuộc vào một nhóm cầm quyền của một thiểu số các nước lớn.

Giá trị hiện thực của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Từ năm 1986, trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước với trọng tâm là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đảng ta chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, tích cực tham gia vào các quá trình, các tổ chức quốc tế; phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc đưa ra các sáng kiến hội nhập quốc tế, là thành viên có trách nhiệm với các tổ chức tham gia, nhưng Việt Nam không nóng vội, chủ quan. Là quốc gia ngày càng có vị thế quan trọng trên trường quốc tế, có tiếng nói quan trọng trên các diễn đàn và các tổ chức quốc tế, nhưng Việt Nam không áp đặt quan điểm của mình trong các quan hệ quốc tế, luôn có tinh thần hợp tác, cùng phát triển.

Gần 40 năm đổi mới là một chặng đường để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu, nhất là việc tham gia các tổ chức quốc tế lớn và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với những đối tác rộng lớn, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện của ASEAN với các đối tác (RCEP), v.v. Với Hiệp định EVFTA, Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tư do với Liên minh châu Âu (EU). Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, khẳng định Việt Nam - từ quốc gia đi sau trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng đã có quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo sự gắn kết quốc tế mạnh mẽ cả ở cấp độ khu vực và trên toàn thế giới.

Từ một đất nước không có tên trên bản đồ thế giới, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động hàng đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế, hiệp định thương mại tự do, chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam trở thành địa điểm gặp gỡ, giao lưu văn hóa, kinh tế, đối thoại an ninh chính trị an toàn của hầu hết các nước và các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới.

Là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong các tổ chức uy tín trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam tham gia vào nhiều tổ chức, như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia.

Những năm gần đây, Việt Nam đảm nhiệm thành công nhiều cương vị quan trọng tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, khu vực, nhất là vai trò nước chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, AIPA 41, Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77. Việt Nam cũng tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2; Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Đặc biệt, ngày 07/6/2020, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2020 - 2021, với số phiếu 192/193. Đây chính là sự khẳng định vị thế, uy tín ngày càng lớn của Việt Nam trên thế giới.

Cùng với các thành tựu về công tác đối ngoại, thế giới đánh giá rất cao lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã có 799 lượt cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại 03 phái bộ và Trụ sở Liên hợp quốc, trong đó có 792 cán bộ quân đội và 7 cán bộ công an. Hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam tại các Phái bộ và các đội tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ đã không chỉ tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mà thông qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng tới bạn bè quốc tế.

Có thể khẳng định, chưa bao giờ hình ảnh đất nước và con người Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, mến khách, thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế lại nổi bật như hiện nay. Việt Nam trở thành tâm điểm trong những chủ đề về phát triển, tinh thần trách nhiệm, tích cực vì những nỗ lực toàn cầu của tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam được đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”. 

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Tuy nhiên, cục diện đời sống chính trị thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, mau lẹ, quan hệ quốc tế có những thay đổi mang tính bước ngoặt. Do vậy, việc xác lập những quan điểm chiến lược trong đoàn kết, hội nhập quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong quá trình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vừa mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa là cơ sở để phát huy cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc và là một trong những đảm bảo quan trọng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

ST.

Tư duy mới của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là sự tổng kết, kế thừa, phát huy những quan điểm, tư tưởng và kinh nghiệm rút ra trong các nhiệm kỳ đại hội Đảng trước và quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc; đồng thời, thể hiện tư duy mới, sáng tạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Nghị quyết cần được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.



Cán bộ, chiến sĩ Vùng 5, Quân chủng Hải quân huấn luyện làm chủ vũ khí, khí tài. Ảnh: qdnd.vn

Về quan điểm, mục tiêu

Với 5 quan điểm gọn, rõ, tư duy của Đảng trong Chiến lược có bước phát triển mới khi đưa quan điểm lên trước mục tiêu, thể hiện cách tiếp cận mang tính logic hơn. Nhận thức, quan điểm về bảo vệ Tổ quốc phải đi trước để làm cơ sở xác định mục tiêu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Theo đó, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan điểm của Chiến lược là khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nhưng lần này đã nhấn mạnh phương châm dựa vào dân, “dân là gốc”, là trung tâm, chủ thể; đặc biệt, đề cao tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Dựa vào dân”, “dân là gốc”, phát huy vai trò của thế hệ trẻ không phải là vấn đề mới trong các văn kiện của Đảng, nhưng đây là lần đầu tiên được đưa vào quan điểm chính thống của Chiến lược. Điều đó thể hiện Đảng ta nhận thức sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống, bài học kinh nghiệm xương máu trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc về vai trò của nhân dân, của thế hệ trẻ. Tư duy đặt thế hệ trẻ vào vị trí trung tâm, chủ thể của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá cao vai trò “tuổi trẻ giữ nước”, vừa là yêu cầu, đòi hỏi cao, giao trọng trách lớn lao, vừa là mong muốn, khát khao, là niềm tin của Đảng, của nhân dân đối với thế hệ trẻ - chủ tương lai của đất nước.

Tư duy mới nổi bật của Đảng lần này là đề cập, nhấn mạnh những vấn đề cần phải “kiên định, kiên quyết và kiên trì”. Đó là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và kiên định với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng cũng như những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi hành vi xâm phạm, hoặc đe dọa xâm phạm, phá hoại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, nền văn hóa, các thành quả cách mạng, môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước nhanh, toàn diện, bền vững. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cơ hội chính trị, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Cùng với đó, phải kiên trì với các lợi ích chiến lược, chính sách quốc phòng “bốn không”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, giải quyết các vấn đề tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; phải kiên trì bám sát thực tiễn, địa bàn, cơ sở, phát hiện, ngăn ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu từ sớm, từ xa mọi nguy cơ xung đột, chiến tranh; thực hiện tốt việc kiên trì phòng ngừa đi đôi với nghiêm trị các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá đất nước; tuyệt đối không nóng vội, chủ quan trong xử lý các vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia - dân tộc.

Trên cơ sở quan điểm đã xác định, tư duy của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc được Chiến lược diễn đạt rành mạch hơn khi khẳng định bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp đổi mới, nền văn hóa...; đồng thời, bổ sung nội dung “bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng...; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong,... dập tắt nguy cơ xung đột quân sự, chiến tranh”. Điều này cho thấy tư duy của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc ngày càng bao quát, toàn diện, rõ nét hơn.

Đối với các mục tiêu cụ thể, trước hết về xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, Chiến lược xác định phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, v.v. Ở mục tiêu này, Chiến lược đã bổ sung thành tố “đội ngũ cán bộ, hệ thống chính trị” thể hiện tính toàn diện, sự đòi hỏi cao hơn, ngang tầm với vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.

Đối với mục tiêu tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược đặc biệt đề cao sức mạnh của nhân dân, yếu tố dân chủ xã hội chủ nghĩa, niềm tin của nhân dân, đồng thuận xã hội, đặc biệt là mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhấn mạnh đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu này thể hiện sự quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể, trung tâm của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là sự cụ thể hóa tư tưởng “yên dân”, “thế trận lòng dân” vững chắc và vai trò hạt nhân của đoàn kết trong Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Về mục tiêu phát triển kinh tế, Chiến lược xác định đây là thành tố trung tâm, nền tảng vật chất của tiềm lực quốc phòng, sức mạnh nền quốc phòng toàn dân. Theo đó, cùng với đề cập về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh nội dung “chuyển đổi số, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước toàn diện, nhanh, bền vững”. Tư duy phát triển kinh tế “toàn diện, nhanh, bền vững” và đặt mục tiêu “toàn diện” trước “nhanh, bền vững” là sự bổ sung mới có ý nghĩa rất quan trọng. Tính toàn diện của nền kinh tế có thể hiểu là trên tất cả các ngành, thành phần, cơ cấu lĩnh vực, vùng, miền, vĩ mô, vi mô, trong nước, ngoài nước, kinh tế tri thức, kinh tế số;... đồng thời, “toàn diện” trên cả 04 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.

Phát triển văn hóa là một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược, được đề cập sâu, với những nội dung mới, đó là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước; phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa và con người Việt Nam, bảo đảm vừa phát huy giá trị tốt đẹp truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Về phương châm chỉ đạo

Kế thừa các nghị quyết về chiến lược quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định một số phương châm chủ đạo, trước hết là phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây là phương châm đầu tiên, bao trùm, dẫn dắt các phương châm khác trong Chiến lược. Các phương châm được chính thức đề cập trong Chiến lược là giữ “trong ấm, ngoài êm”; “bốn không”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cân bằng, hài hòa lợi ích trong quan hệ với các nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Tư duy mới về phương châm trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc lần này là Đảng ta đưa nội dung chủ động thiết lập tuyến phòng thủ, tạo vành đai an ninh từ xa để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đây là sự kế thừa, phát triển tư duy của Đảng về vai trò phòng thủ quốc gia, phòng thủ dân sự, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố,... với việc phát huy vai trò của tiềm lực, thế trận đối ngoại, huy động nguồn lực quốc tế để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ.

Về nhiệm vụ, giải pháp

Nghị quyết xác định 06 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, nhưng thứ tự có sự điều chỉnh, bổ sung nội hàm rộng hơn và đưa nhiệm vụ, giải pháp “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” lên vị trí thứ hai. Điều này thể hiện tư duy mới của Đảng ngày càng sâu sắc hơn về vai trò của sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân và tư tưởng “yên dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, đây cũng thể hiện sự nhất quán, tính logic hệ thống trong tư duy của Đảng từ quan điểm đến mục tiêu, phương châm cho đến nhiệm vụ, giải pháp về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Với nhiệm vụ giải pháp thứ nhất, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, Chiến lược xác định rõ tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, nhất là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Nội dung chi tiết các nhiệm vụ, giải pháp còn lại đều có kế thừa, cập nhật và bổ sung, phát triển các nhiệm vụ cụ thể trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội, sát hơn với tình hình thực tiễn trong nước cũng như bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

Về tổ chức thực hiện

Tư duy mới của Đảng thể hiện rõ bước đột phá khi chỉ sau 03 ngày ban hành Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Chính trị đã triển khai Kế hoạch thực hiện, làm cơ sở cho các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, xây dựng chương trình hành động, đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt nắm chắc tình hình môi trường chiến lược, quan điểm, mục tiêu, phương châm và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu; đồng thời, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị,... để xác định các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm, cốt lõi, dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, lộ trình, bước đi phù hợp để tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là sản phẩm trí tuệ, thể hiện tư duy mới, sáng tạo của Đảng ta trong bối cảnh quốc tế, trong nước đã và đang có nhiều thay đổi. Đây là những vấn đề cơ bản, quan trọng, lâu dài, có tính định hướng lớn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Quán triệt sâu sắc, nắm chắc nội dung, xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện sát đúng, khả thi, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả là cơ sở quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

ST.

Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đẩy mạnh, có bước tiến mới, quyết liệt, đồng bộ, toàn diện và hiệu quả hơn. Việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành gắn với công tác cán bộ, xử lý nghiêm sai phạm, thực hiện miễn nhiệm, từ chức,... theo quy định của Đảng, Nhà nước; vừa giữ nghiêm kỷ cương, vừa thể hiện rõ nét tính nhân văn, để lại dấu ấn tích cực, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Những kết quả đạt được

Nhìn lại 10 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được cả hệ thống chính trị vào cuộc với nhận thức ngày càng rõ hơn, thực hiện với quyết tâm ngày càng cao hơn, thể hiện qua số lượng vụ án được xử lý ngày càng nhiều, trên hầu hết lĩnh vực, ở tất cả địa phương. “Trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập. Cũng trong năm 2023, các cơ quan chức năng đã cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng”. Ngành thanh tra, kiểm toán nhà nước tăng cường thanh tra, kiểm toán những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, những vấn đề nổi cộm, bức xúc; tập trung thanh tra, kiểm toán các chuyên đề, vụ việc theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Qua thanh tra, kiểm toán, các cơ quan chức năng đã kiến nghị xử lý tài chính, thu hồi 82.560 tỷ đồng và 883ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 3.530 tập thể và 8.619 cá nhân; đã chuyển 557 vụ việc có dấu hiệu phạm tội sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. “Về công tác điều tra, truy tố, xét xử, năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng trên cả nước đã khởi tố hơn 4.500 vụ, hơn 9.370 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ (tăng 46% về số vụ án so với năm 2022). Riêng án tham nhũng tăng gần 2 lần về số vụ và hơn 2 lần về số bị can”.

Đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm hoạt động của ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương_Ảnh: TTXVN

Những kết quả nêu trên cho thấy, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đã lan tỏa rất mạnh mẽ và có “sức bật mới”, ngày càng đi vào chiều sâu, với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, bất kể người đó là ai, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trở thành một xu thế không thể đảo ngược, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn còn rất cam go, đầy khó khăn, thách thức, vì thủ đoạn của các đối tượng ngày càng tinh vi và được “ngụy trang”, “che đậy” rất kín đáo, hòng “lách luật”, tìm mọi cách để “qua mặt” các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước; do đó, thời gian tới, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định thật chặt chẽ, khoa học, dân chủ để thực hiện hiệu quả cuộc đấu tranh này.

Thời gian qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, đáng ghi nhận; cụ thể là:

Thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cùng với cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã thể hiện sự nhất trí, đồng lòng, với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, qua đó tạo ra chuyển biến về chất trong nhận thức và hành động, bảo đảm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Thứ hai, các quy định về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ban hành theo hướng cập nhật, đồng bộ, kịp thờiNhững quy định này đã cập nhật đầy đủ, rõ ràng những hành vi vi phạm mới của tổ chức đảng, đảng viên; qua đó, góp phần khắc phục “kẽ hở” trong quy định của Đảng về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ ba, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tổ chức thực hiện đồng bộ từ trên xuống dưới, với quyết tâm cao; một số lĩnh vực, một số trường hợp đã từng được coi là “ngoại lệ”, “vùng cấm”, thì nay được tăng cường, chú trọng chỉ đạo kiểm tra, xử lý dứt điểm, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đối với những vi phạm. Việc thành lập ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến cấp tỉnh đã tạo ra sự đồng bộ, thống nhất về tổ chức, bộ máy hoạt động, thể hiện rõ tinh thần “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”.

Thứ tư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã kịp thời công khai kết luận kiểm tra, kết quả giám sát, quyết định kỷ luật hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật cá nhân, tổ chức vi phạm một cách công khai, minh bạch, giúp định hướng đúng dư luận xã hội; khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phát động đội ngũ cán bộ, đảng viên và huy động nhân dân cùng tham gia giám sát, đồng hành cùng với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Nhận diện một số vấn đề đặt ra đối với công tác phòng, chống tham nhũng cần tập trung xử lý hiệu quả

Một là, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một “cuộc chiến” rất cam go với nhiều khó khăn, thử thách, trong khi các thế lực thù địch lại thường xuyên lợi dụng, thổi phồng, bóp méo… để xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước, nhằm chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ. Trong bối cảnh đó, cần “phải bình tĩnh tỉnh táo, rất khôn ngoan, có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được cái ổn định”.

Hai là, Đại hội XIII của Đảng đã tách công tác cán bộ từ xây dựng Đảng về tổ chức ra thành một nội dung riêng trong công tác xây dựng Đảng, do đó xây dựng Đảng bao gồm các mặt về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Điều đó cho thấy vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác cán bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Tuy nhiên, hiện nay, chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều bất cập; do đó, một mặt, sẽ khó thu hút được người tài vào bộ máy của Đảng, Nhà nước nói chung, vào các cơ quan đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng; mặt khác, cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức băn khoăn, dao động trước sự cám dỗ của các lợi ích vật chất và phi vật chất, dễ sa ngã, vi phạm pháp luật.

Ba là, cần phải khẳng định rằng, hành vi tham nhũng, tiêu cực là rất khó bị “phanh phui” và có được chứng cứ rõ ràng, vì đây là một “vòng khép kín”, với nhiều lợi ích đan xen, chằng chịt, sẵn sàng bao che, bảo vệ nhau. Khi người đưa hối lộ, người nhận hối lộ, kẻ môi giới hối lộ đều có tội thì khi đó, các đối tượng thường quanh co, che giấu, thậm chí tìm mọi cách đối phó với các cơ quan chức năng, khiến cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trở nên rất phức tạp, khó lường. Vì thế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Phát hiện đã khó nhưng xử lý phải nghiêm. Ta muốn xử lý nhanh nhưng bao nhiêu công đoạn, một vụ án chằng chịt bao nhiêu mối quan hệ, giám định kê khai có đúng không, giám định người khai có đúng không... rất phức tạp. Chưa kể nhiều lần nói đây là vấn đề lợi ích, cấu kết, móc ngoặc với nhau, lợi ích nhóm, ông mất chân giò, bà thò chai rượu... những quan hệ lằng nhằng với nhau”.

Bốn là, các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã có, nhưng so với diễn biến thực tế hiện nay, thì vẫn còn chưa bao quát được hết tính chất phong phú và phức tạp của đời sống xã hội đang diễn ra hằng ngày; do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần xây dựng thêm những quy định cụ thể và chặt chẽ hơn để có thể thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Năm là, vẫn còn tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nên đã không giữ được mình, dẫn đến sa vào chủ nghĩa cá nhân, có hành vi sách nhiễu nhân dân, doanh nghiệp, tiêu cực trong công tác và thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng đã được chỉ đạo và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào””. Việc xử lý thuyết phục chính là ở chỗ vừa nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa rất nhân văn, thấu tình đạt lý, “đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh kẻ chạy lại”. Tổng Bí thư từng nói: “Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế được tiến hành một cách kiên trì, kiên quyết, không khoan nhượng, không nương nhẹ, không làm oan, sai; không bỏ lọt tội phạm; rất nghiêm minh, nhưng cũng rất nhân văn, nhân ái, có lý, có tình; hầu hết các đối tượng bị xử lý đều nhận thức rõ sai phạm của mình và tâm phục, khẩu phục, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải, xin lỗi Đảng, Nhà nước và nhân dân; có tác dụng cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa mạnh mẽ, được dư luận, nhân dân rất đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao”. Điều quan trọng nhất ở đây chính là củng cố, bảo đảm, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, đối với hệ thống chính trị và chế độ.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh trong nội bộ, làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, nhằm không để xảy ra hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh”. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chính là góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vị thế, uy tín của một Đảng duy nhất cầm quyền, được nhân dân tin tưởng, giao phó. “Mục đích của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để “trị bệnh cứu người”, kỷ luật một vài người để cứu muôn người, truy tố một vụ để cảnh tỉnh cả một vùng, một lĩnh vực; từ đó, để cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa là chính, nên cần phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; phải tăng cường giáo dục kỷ luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, dùng kỷ luật nghiêm minh và giám sát nghiêm khắc để cán bộ, đảng viên biết giữ gìn, nhớ điều cấm, giữ giới hạn”. Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cần thực hiện một cách kiên quyết, kiên trì và đồng bộ các biện pháp; lấy ngăn chặn, phòng ngừa là chính, không chỉ nhằm mục đích trừng trị.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai_Nguồn: ubkttw.vn

Một số nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Thứ nhất, cần có sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm, nhất là của người đứng đầu đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa, tác dụng của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên mới nâng cao được trách nhiệm, có thái độ và động cơ đúng đắn, có ý chí quyết tâm cao, tích cực, tự giác thực hiện hiệu lực, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, hiệu quả.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố một cách hiệu quả, bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch. Phát hiện từ sớm, từ xa, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết, kiên trì thực hiện thu hồi tài sản tham nhũng, tiêu cực, góp phần khắc phục hạn chế và hậu quả của tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, thể hiện tính răn đe, sự nghiêm minh của pháp luật. Xử lý kịp thời và thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý có biểu hiện sách nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trong thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

Thứ ba, xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ phẩm chất, năng lực, đức, tài để thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chất lượng, hiệu quả.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: Không liêm, không sạch thì không nói được ai, không kiểm tra, giám sát, không kỷ luật được người khác. Phải chống tiêu cực ngay trong các cơ quan và cá nhân những người làm công tác chống tiêu cực”. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải thực sự là người nêu gương về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, hợp lý, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nỗ lực phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc, trách nhiệm được giao.

Thứ tư, tổ chức và thực hiện tốt, hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thực tế, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao hiện nay.

Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Nhà nước về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tăng cường kiểm soát một cách thực chất, hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế, thể chế, thì bảo đảm công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình là điều kiện kiên quyết để kiểm soát quyền lực có hiệu quả, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị lạm dụng. Theo đó, cần có biện pháp phù hợp để công dân thực hiện đầy đủ quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật, cơ quan và tổ chức có sự phản hồi chính xác, kịp thời ý kiến của nhân dân; đồng thời, phát huy vai trò giám sát việc thực thi quyền lực thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước, giám sát của cơ quan dân cử và đại biểu dân cử, của cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và toàn xã hội đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ năm, thực hiện tốt hoạt động phối hợp của các chủ thể, tổ chức, cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Trong tổ chức thực hiện, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật để tăng cường sức mạnh tổng hợp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tránh chồng chéo, trùng lặp, gây lãng phí nguồn lực, không hiệu quả.

Tăng cường sự phối hợp giám sát của Đảng với của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội chính là thực hiện tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, nhằm tổ chức, động viên nhân dân phát hiện, tham gia góp ý, phê bình hành vi, việc làm sai trái của cán bộ, đảng viên, góp phần đưa công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lan tỏa cả về chiều rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.

Thứ sáu, thực hiện tốt, nền nếp, thường xuyên công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; rút ra bài học kinh nghiệm quý để tiếp tục vận dụng hiệu quả trong tình hình mới. Qua tổng kết thực tiễn, các cơ quan chức năng có thể rút ra kinh nghiệm quý, mô hình hay, tạo cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc xây dựng, hình thành và bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.

ST.