Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”

Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay. 
Ảnh minh họa.
Những người đảng viên cộng sản chúng ta rất tự hào được sống, chiến đấu, phấn đấu cho lý tưởng cao cả đó. Tuy nhiên, những năm gần đây, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, một bộ phận đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra.

 “Ngọn đuốc soi đường” cho những người cộng sản 

Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết. Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối án tử hình”...

Hẳn ai nghe lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Tiến Hà đều thấy khí phách ngời sáng, kiên trung của hàng vạn chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù của thực dân, đế quốc. Họ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, chấp nhận cái chết một cách thanh thản vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao đẹp của Đảng, của dân tộc.

Nói đến lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Khi đất nước nằm trong ách nô lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai... và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.

Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo.

Xa rời lý tưởng cách mạng - con đường dẫn tới sự tha hóa, biến chất

Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn ra hai khuynh hướng chủ yếu.

Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức, lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua (2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự.

Suy cho cùng, số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực, bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”.

Trọn đời giữ gìn điều thiêng liêng, cao quý nhất

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”.

Trong buổi lễ kết nạp Đảng, trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản.

Để lý tưởng cách mạng luôn là linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn.

Chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận, mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; cùng với đó là nghiêm túc thực hiện kỷ luật Đảng, nhất là thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đó là con đường làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh từ cơ sở. Đó cũng là con đường cơ bản để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng, gìn giữ phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn lấy lý tưởng cách mạng là linh hồn sống, là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên một lòng một dạ trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết giúp họ có cơ hội học tập, công tác tốt, tích cực cống hiến và trưởng thành, xứng danh là người chiến sĩ tiên phong ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.

ST.

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn
Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 
Ảnh minh họa

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động
Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.
Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .
Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.
Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.
Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử
Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.
Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.
Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.
Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.
Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hơn 94 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.
Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi.  
Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam./.

ST.

Gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực sự có hiệu quả, cần xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, với niềm tin vào thắng lợi và góp phần tri ân những người đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc; tuyệt đối tránh hiện tượng chiếu lệ, hình thức, nói không đi đôi với làm.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

LÒNG YÊU NƯỚC, NIỀM TIN THẮNG LỢI - GỐC RỄ LÂU BỀN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, hồn cốt tạo nên những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ, từ nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta phát triển, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối phù hợp, đúng đắn; cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước; từng bước đi vào vào quần chúng nhân dân thông qcông tác tư tưởng, biến thành hành động cách mạng thiết thực, hiệu quả, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “...Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi”.

Vậy nên, để tiếp tục giành thắng lợi và bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng, tất yếu phải bảo vệ Đảng. Muốn bảo vệ Đảng, trước hết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Suy cho cùng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ chính là bảo vệ cuộc sống, văn hóa, con người, cốt cách, trí tuệ Việt Nam. Trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng không chỉ là việc của cán bộ, đảng viên mà là của mọi tầng lớp nhân dân.

Sự thâm độc của các thế lực phản động, thù địch là dùng mọi thủ đoạn tấn công vào “cái gốc”, tức là chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo, triệt tiêu con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Từ đó, chúng xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo, công lao, đóng góp của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi thực hiện cạnh tranh chính trị, thiết lập chế độ đa đảng”Cùng với đó là sự xuyên tạc, phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; khoét sâu sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; xuyên tạc đoàn kết nội bộ và bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, đời tư của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Do đó, Đảng ta đã xác định, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mà tuyên giáo là lực lượng nòng cốt; đồng thời là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay càng đòi hỏi phải bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vì những lý do sau: 1) xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác nay đối với xây dựng Đảng và đối với quá trình xây dựng đất nước; 2) xuất phát từ sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; 3) xuất phát từ bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, đặc biệt là từ sự tan rã, sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu; 4) xuất phát từ thực tế ở trong nước, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo dức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Song, để công tác này có hiệu quả, cần xuất phát từ trái tim yêu nước, có niềm tin chiến thắng, với trách nhiệm bảo vệ giống nòi, giang sơn gấm vóc Việt Nam, chứ không phải bằng mệnh lệnh, gượng ép, đối phó. Một khi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu được như vậy, tích cực hành động bằng trái tim tin tưởng, trách nhiệm, nhiệt huyết, chắc chắn nền tảng tư tưởng của Đảng luôn được bảo vệ vững chắc.

Rọi chiếu vào lịch sử cách mạng Việt Nam, toát lên chân lý: muốn có chiến thắng, tất yếu phải có niềm tin vào chiến thắng và khi đó mới có sự đồng tâm hợp lực hành động muôn người như một, cống hiến, hy sinh bằng chính sự “chỉ đường dẫn lối” của trái tim yêu nước chân chính. Chính niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc, vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài trí của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là cội nguồn sức mạnh bao trùm, kết nối không gian, vượt qua thời gian, tạo sự bền bỉ, kiên cường, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, làm nên thắng lợi vĩ đại. Chính nhờ có niềm tin đã tạo nên những trái tim nhiệt huyết, thôi thúc bản lĩnh, bất chấp hy sinh, gian khổ để xông pha vào các cuộc trường chinh ròng rã gần 100 năm chống ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và can thiệp của Mỹ; 21 năm chống ách thống trị thực dân kiểu mới và chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai. Niềm tin ấy chính là cội nguồn sức mạnh bất diệt, nguồn cảm hứng, động viên lớp lớp thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng của trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của sự nghiệp toàn dân kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chính sức mạnh của niềm tin đã chiến thắng sức mạnh của vũ khí, đô la của kẻ thù. Nhà báo Duylơrannút từng viết: “Trong thế kỳ XX, chính vật chất là sức mạnh của thời đại. Thời đại có nhiều tên gọi: Thời đại năng lượng nguyên tử, thời đại phản lực, thời đại điều khiển học, thời đại chinh phục vũ trụ, thời đại thông tin hóa. Dù đặt tên cho thiết bị nào thì người Mỹ đều có và người Việt Nam đều không có. Sức mạnh duy nhất của người Việt Nam lúc đó là sức mạnh của con người, của niềm tin chiến thắng”. Niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tâm điểm tập hợp, gắn kết cả dân tộc thành một khối thống nhất. Niềm tin này cũng thức tỉnh nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý luôn sát cánh, ủng hộ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Trong công cuộc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay, luôn cần có và phải có niềm tin ở cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người trong bộ máy trực tiếp làm công tác này (Nhóm chuyên gia, Ban Chỉ đạo, Tổ Thư ký giúp việc, Cộng tác viên...). Mỗi khi chúng ta có niềm tin vào thắng lợi, ắt sẽ có cách thức tiến hành để đạt đích thắng lợi. Một khi có niềm tin và trái tim yêu nước chân chính thì lập trường sẽ không dao động, tâm không gợn sóng, hành động không gượng gạo, không chạy theo phong trào và thành tích, càng không vì đối phó, hình thức, mệnh lệnh. Đó chính là gốc rễ đem lại kết quả tích cực, lâu bền trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

TRI ÂN - MỘT TRÁCH NHIỆM TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã để lại nhiều tấm gương chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, trở thành bài học, nêu gương cho các thế hệ người Việt. Từ những ngày Đảng mới thành lập, các đảng viên nhiệt huyết cách mạng cùng với nhân dân vượt qua gian khó, luôn tin tưởng vào thắng lợi ở ngày mai; không chỉ tin vào chiến thắng ngoại xâm mà cái đích cao cả là niềm tin và chiến đấu cho lý tưởng cộng sản - thực hiện khát vọng công bằng, bình đẳng, nhân văn. Những tấm gương chiến đấu, hy sinh của Tổng Bí thư Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ; các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Hoàng Văn Thụ, Võ Thị Sáu, Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi... luôn soi sáng lý tưởng cách mạng cho hậu thế, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên giai đoạn hiện nay tự soi mình, rèn mìnhsửa mình, phấn đấu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Trong khi phần đông ra sức tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp sức xây dựng Đảng, đổi mới đất nước thì một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, tha hóa, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí có người quay lưng hại Đảng, phản bội nhân dân, phỉ báng quá khứ, làm nhục quốc thể. Lại có những cán bộ, đảng viên vun vén tư lợi, chạy chức, chạy quyền vì mục đích trục lợi cá nhân; có biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền với cấp dưới, với đồng nghiệp và nhân dân... Những hành động đó làm ảnh hưởng đến uy tín, thanh danh của Đảng; ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ; làm tổn hại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN mà nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân dày công gây dựng, vun đắp.

Để có độc lập, tự do của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân hôm nay, đã có bao lớp tiền bối xông pha, cống hiến, chiến đấu, hy sinh. Lịch sử cách mạng Việt Nam được bồi đắp, tô thắm bởi những chiến công và sự hy sinh của các bậc tiền nhân, trong đó có những cán bộ, đảng viên. Pho sử bằng vàng đó thể hiện phong phú, sinh động cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân ta. Những giá trị đó thẩm thấu trong tiến trình lịch sử Đảng, trở thành chân lý, niềm tin, tự hào, lòng biết ơn của nhân dân đối với Đảng, của hậu thế đối với tiền nhân.

Do vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không đơn thuần là bảo vệ cho hiện tại mà còn là bảo vệ thành quả của quá khứ và tạo sự vững bền ở tương lai. Bởi lẽ, “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Từ đó, những lúc bản thân phải gánh vác nhiều công việc, có thể chịu mệt nhọc hơn, hoặc thiệt thòi trong cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm; hoặc bị non kém hơn về quyền lợi, bổng lộc thì vẫn vui vẻ, với tâm niệm đóng góp của bản thân chưa xứng đáng với những đồng chí đã cống hiến, hy sinh. Nếu gặp nghịch cảnh nào đó của thực tế, bản thân có thể chạnh lòng, nhưng không được phép hụt hẫng, nhụt ý chí phấn đấu, mà cần có suy nghĩ tích cực, vượt qua để góp phần tri ân những người đã chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; luôn xác định làm việc là vì trách nhiệm tri ân, chứ không phải vì để được tôn vinh thành tích cá nhân. Theo đó, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là một cách thức góp phần trả ơn người đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trái tim nhiệt huyết, niềm tin vững chắc và lòng tri ân chân thành, sâu sắc chính là gốc rễ quan trọng, góp phần quyết định, đem lại kết quả tích cực trong cuộc đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Đó cũng là tiền đề, điều kiện tiên quyết, cơ sở để thực hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, để “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”./.

ST.

Không thể xuyên tạc quyền tự do báo chí tại Việt Nam

Những năm qua, sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của hệ thống báo chí, truyền thông trong nước đã phản ánh rất rõ những thành tựu đáng ghi nhận của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân.

Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước tác nghiệp tại Trung tâm Báo chí Đại hội XIII của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước tác nghiệp tại Trung tâm Báo chí Đại hội XIII của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Việt Nam đã, đang tham gia và nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình về vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí theo Hiến chương Liên hợp quốc và các nghị định, hiệp ước quốc tế, khu vực liên quan.

Tuy nhiên, một số cá nhân và tổ chức thù địch, phản động vẫn luôn tìm cách để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do báo chí như một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Không có gì đáng ngạc nhiên, vào đầu tháng 5/2024, theo thông lệ, tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) lại công bố báo cáo thường niên về “Chỉ số tự do báo chí năm 2024”.

Tổ chức này xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí - thuộc nhóm các nước “có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới”.

Đây không phải là lần đầu RSF đưa ra những nhận định hoàn toàn phiến diện, thiếu khách quan, thiên kiến và quy chụp về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, bất chấp thực tế đời sống báo chí ở nước ta ngày càng phát triển chuyên nghiệp, sôi động và hiệu quả.

Giống như mọi lần, những quy kết vô căn cứ trong báo cáo của tổ chức này không đưa ra được bất cứ bằng chứng có tính xác thực nào ứng với các tiêu chí được chính họ đưa ra là “thực hiện các hoạt động giúp thúc đẩy tự do báo chí của thế giới” mà chỉ dựa vào những thông tin thiếu khách quan từ một nhóm người có định kiến với nhà nước sở tại về quan điểm, đường hướng hoạt động báo chí hoặc một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, có hành vi vi phạm pháp luật, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị.

Những nội dung mang tính bịa đặt trong bản báo cáo đã tạo cơ hội cho những phần tử thù địch, cực đoan trong và ngoài nước công kích, chống phá Việt Nam.

Thực tiễn đã chứng minh, trong suốt tiến trình phát triển của đất nước, việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và các quy định của pháp luật, phù hợp với các quy định của quốc tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Cụ thể tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.

Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam những năm qua rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực...

Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, đến năm 2023, cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000.

Với sự hỗ trợ của công nghệ, hệ thống báo điện tử đang hoạt động ngày càng mạnh mẽ, tạo ra sự tương tác tích cực đối với bạn đọc. Hợp tác quốc tế trong truyền thông cũng đang được tăng cường.

Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Công tác đào tạo, trao đổi, hợp tác về báo chí trong và ngoài nước ngày càng được quan tâm. Không chỉ vậy, mạng xã hội cũng là một kênh thông tin tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông.

Mọi công dân đều được quyền phát ngôn, thảo luận các vấn đề của đời sống. Đây là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất cho vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm.

Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, tự do báo chí không có nghĩa là bất chấp mọi quy định pháp luật. Tự do phải trong khuôn khổ luật pháp quốc gia. Không chỉ riêng báo chí mà bất kỳ lĩnh vực nào khác của đời sống cũng phải hoạt động theo tinh thần thượng tôn pháp luật.

Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13, khoản 2).

Đồng thời tại khoản 3, Điều 25 về Quyền và nghĩa vụ của nhà báo, Luật Báo chí quy định, nhà báo có nghĩa vụ thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.

Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí ở Việt Nam lấy mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Người làm báo luôn gắn trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, không phải là tự do tùy tiện theo ý chí cá nhân.

Do đó khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mọi công dân đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, không làm ảnh hưởng hay xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Thực chất thủ đoạn xuyên tạc tình hình nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận của Việt Nam không phải là mới. Đây là kịch bản cũ thường xuyên được RSF và một số tổ chức nhân danh dân chủ, nhân quyền áp dụng, rêu rao để vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Mặt khác, qua đó kích động, tuyển lựa hỗ trợ các thành phần chống đối trong nước tiến hành những hoạt động công kích Đảng, Nhà nước, cơ quan công quyền dưới vỏ bọc “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do” nhằm phục vụ cho mục đích đen tối của mình.

Một thực tế không thể phủ nhận là ở Việt Nam, không người nào bị kết án tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những trường hợp bị xử lý hình sự đều do thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của Nhà nước, cũng như các tổ chức, cá nhân, gây bất bình trong dư luận.

Việc bắt giữ, xử lý hình sự một số đối tượng nhân danh “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định chính trị là cần thiết và đúng với quy định pháp luật. Tuy nhiên các thế lực thù địch đã lợi dụng những vụ việc này để rêu rao vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí hòng chống phá Việt Nam.

Chúng cố tình gắn mác cho những đối tượng cực đoan, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là “nhà báo độc lập”, hay “nhà báo tự do”, cho dù các đối tượng này không hề làm việc cho một cơ quan báo chí nào ở Việt Nam, không được Bộ Thông tin và Truyền thông ở Việt Nam cấp thẻ theo luật định.

Từ đây các đối tượng ra sức bóp méo tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, kêu gọi các tổ chức quốc tế lên án Việt Nam.

Có thể thấy rằng, cái gọi là “tự do báo chí” mà những phần tử thù địch muốn tuyên truyền, cổ xúy thực chất là đề cao quan điểm cá nhân nhưng không đi kèm với trách nhiệm xã hội, khuôn khổ pháp luật và đạo đức, bất chấp những hậu quả xảy ra với cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Đây là điều không thể chấp nhận được bởi trong một xã hội tiến bộ, tự do ngôn luận, tự do báo chí không thể nằm ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc. Mọi hành vi phá hoại đất nước, gây mất an ninh trật tự xã hội nhân danh tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải bị ngăn chặn và loại bỏ.

Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng khẳng định: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

Trước đó, trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 cũng nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Rõ ràng sẽ không có quốc gia nào ủng hộ tự do báo chí nếu đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, xã hội. Như tại Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận cũng đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc, trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự); đồng thời, việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.

Hệ thống các quy định pháp luật của nước ta luôn tương thích với các quy định quốc tế trong vấn đề tự do báo chí. Nền báo chí cách mạng Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.

Do đó, những luận điệu xuyên tạc, thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ, bịa đặt tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, hay các bảng xếp hạng thiếu căn cứ của một số tổ chức, cá nhân không thể phủ nhận, bóp méo những thành tựu to lớn mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được./.

ST.

Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tôn giáo

Thời gian qua, Việt Nam tiếp tục có nhiều nỗ lực nhằm bảo đảm quyền con người, trong đó luôn quan tâm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đảng, Nhà nước cũng tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tìm ra hướng đi chung, xóa bỏ những định kiến, cách nhìn nhận, đánh giá không chính xác của một số cá nhân, tổ chức về tình hình tôn giáo tại Việt Nam.

Lễ hội “Xuân yêu thương” của các Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Lễ hội “Xuân yêu thương” của các Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Cùng với quá trình phát triển và đổi mới của đất nước, đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt Nam có nhiều chuyển biến, từ đây đặt ra yêu cầu Đảng, Nhà nước phải làm tốt hơn nữa công tác tôn giáo và đoàn kết dân tộc trong tình hình mới. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã và đang hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo cho nhân dân mà trọng tâm là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Từ cơ sở của đạo luật này, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị định quan trọng, gần nhất là Nghị định số 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29/12/2023 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Không chỉ vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng được lồng ghép trong các văn bản pháp luật quan trọng khác như Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và mới đây là Luật Đất đai năm 2024. Qua đó, nhiều vấn đề mới đã được ban hành nhằm củng cố, nâng cao quyền của người theo tôn giáo đang sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam như quyền bày tỏ niềm tin, tín ngưỡng của phạm nhân; chính sách nhà nước giao đất có hạn mức không thu tiền sử dụng đất đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tôn giáo…

Nhờ chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam tiếp tục phát triển ngày một sinh động và đa dạng. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện có hơn 27 triệu người Việt Nam đang sinh hoạt trong 38 tổ chức, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành trực thuộc 16 tôn giáo. So với năm 2022, số lượng người Việt Nam theo tôn giáo đã tăng gần 56.000 người, chức sắc tăng 814 người, cơ sở thờ tự tăng 142 địa điểm. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo, tính riêng năm 2023 Nhà xuất bản Tôn giáo đã xuất bản 2.400.000 bản kinh sách, tài liệu liên quan bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và các tiếng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo sửa chữa, cải tạo và xây mới cơ sở tôn giáo. Tính đến nay, số lượng cơ sở tôn giáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi toàn quốc đạt hơn 70%. Nhiều cơ sở thờ tự được xây dựng, tôn tạo khang trang, quy mô để bà con an tâm sinh hoạt tinh thần.

Những kết quả nêu trên đã cho thấy một bức tranh Việt Nam đa tôn giáo nhưng luôn chung sống thân thiện, hợp tác, đoàn kết trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một số cá nhân, tổ chức vẫn giữ cái nhìn, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Từ thực tế này, thời gian qua, Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại tôn giáo một cách toàn diện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Trong đó, phải kể đến việc công bố Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, các hoạt động tăng cường đối thoại quốc tế, xóa bỏ những hiểu nhầm, bác bỏ những luận điệu thiếu thiện chí liên quan đến các vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam.

Năm 2023, Ban Tôn giáo Chính phủ đã tạo điều kiện cho hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài. Ở chiều ngược lại, cơ quan chức năng đã cấp phép cho gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Các ban, bộ, ngành và chính quyền địa phương đã hỗ trợ cấp phép cho các tổ chức tôn giáo đăng cai, tổ chức các sự kiện lớn như Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu của Giáo hội Công giáo Việt Nam; Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo châu Á vì hòa bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Lễ hội “Xuân yêu thương” của các Hội thánh Tin lành Việt Nam…

Trên diễn đàn quốc tế, trong năm 2023, Bộ Nội vụ đã tiếp 14 đoàn khách quốc tế đến tìm hiểu về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Từ ngày 10-22/10/2023, Đoàn liên ngành và chức sắc tôn giáo do Thứ trưởng Nội vụ Vũ Chiến Thắng đứng đầu đã thăm Hoa Kỳ để trao đổi về chính sách tôn giáo và thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Trong chuyến thăm này, đoàn đã làm việc với các đại diện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Đại sứ lưu động về tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, Phó Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ… Qua đó, thống nhất cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin thông qua cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Hoa Kỳ và qua kênh đối thoại với Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ). Song song với hoạt động này, Đoàn cũng tổ chức gặp và làm việc bàn tròn, tọa đàm với cá nhân và lãnh đạo các tổ chức tôn giáo Hoa Kỳ tại cơ sở tôn giáo.

Trong các cuộc gặp gỡ này, đại diện phía Hoa Kỳ cũng như các chức sắc tôn giáo Hoa Kỳ đã phần nào ghi nhận những thành tựu, kết quả đạt được của Việt Nam trong công tác tôn giáo. Đáng chú ý, tại dịp này, mục sư Franklin Graham, Chủ tịch Hiệp hội truyền giáo Billy Graham đã khẳng định mong muốn đảm nhận vai trò “đại sứ tôn giáo” cho Việt Nam để chia sẻ, giải thích cho chính giới và các tổ chức của phía Hoa Kỳ, vận động cho Việt Nam sớm ra khỏi SWL (Danh sách theo dõi đặc biệt của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo).

Nổi bật trong chính sách đối ngoại tôn giáo của Việt Nam từ năm 2023 đến nay phải kể đến những bước tiến trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican. Cụ thể vào tháng 7/2023 hai bên đã thống nhất Quy chế hoạt động của Đại diện Thường trú và Văn phòng Đại diện Thường trú ở Việt Nam. Ngày 23/12/2023, Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Marek Zalewski làm Đại diện Tòa thánh Vatican thường trú tại Việt Nam. Ngày 31/1/2024, Tổng Giám mục Marek Zalewski đã đến Việt Nam đảm nhiệm chức vụ này. Đồng thời tại cuộc gặp giữa Đoàn liên ngành và chức sắc tôn giáo diễn ra vào tháng 10/2023, Đại diện Tòa thánh Vatican tại Liên hợp quốc, Tổng Giám mục Gabriele Caccia đã tuyên bố ủng hộ Việt Nam ra khỏi danh sách SWL, thúc đẩy quan hệ nhà nước giữa Việt Nam và Tòa thánh trong thời gian tới. Mới đây, từ ngày 9-14/4/2024, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican Paul Richard Gallagher đã có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam. Trong lần đầu đến Việt Nam, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Gallagher đã rất ấn tượng về thành tựu phát triển kinh tế và đối ngoại Việt Nam mà trong đó có sự đóng góp không nhỏ của cộng đồng Công giáo Việt Nam. Đồng thời, ông tin tưởng với sự hiểu biết lẫn nhau, đối thoại chân thành, quan hệ Việt Nam-Tòa thánh sẽ đạt được những phát triển mới.

Những kết quả nêu trên là minh chứng không thể phủ nhận khi đề cập vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thành tích ấy đến từ nỗ lực của toàn thể hệ thống chính trị khi luôn kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng tôn giáo, từ đó chủ động giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo thiết thực, ý nghĩa. Mặc dù vậy, những tháng gần đây, các hoạt động lợi dụng quyền tự do tôn giáo để chống phá của các hội, nhóm phản động, cực đoan có chiều hướng gia tăng. Các đối tượng không giấu giếm mục đích tạo bất lợi cho Việt Nam tại phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, cũng như ngăn Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách SWL.

Bằng cách xuyên tạc một số vụ án như “Tịnh thất Bồng Lai”, “Ân đàn đại đạo”, “tín ngưỡng Dương Văn Mình”, các đối tượng chống phá cố tình hướng lái dư luận, quy kết Việt Nam “bách hại những cộng đồng tôn giáo độc lập [mà] không tuân thủ sự kiểm soát của nhà nước”, bất chấp sự thực đây là những vụ án đã được xét xử công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội. Song song đó, các tổ chức chống phá cũng lợi dụng triệt để nhận thức chủ quan, hành xử thiếu kinh nghiệm của một số cán bộ khi thực thi pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, các vụ việc này chỉ mang tính đơn lẻ, xuất phát từ sai lầm cá nhân của người làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng. Dẫu vậy các hội, nhóm cố tình vu khống Nhà nước Việt Nam “ép” người dân “bỏ đạo” bằng cách xây dựng, áp dụng các chính sách, pháp luật để “ngăn cản họ trong việc thực thi niềm tin tôn giáo một cách độc lập”.

Trên thực tế, sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đi vào đời sống, Việt Nam có thêm 3 tổ chức tôn giáo mới được công nhận. Số lượng điểm nhóm được cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung tăng theo thời gian ở tất cả các tôn giáo. Hiện tại cả nước có gần 4.000 điểm sinh hoạt tôn giáo, trong đó có 67 điểm, nhóm sinh hoạt tôn giáo dành cho người nước ngoài. Con số này cao hơn đáng kể khi đối sánh với số lượng 2.600 điểm nhóm được cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung trước năm 2018 (thời điểm Luật Tín ngưỡng, tôn giáo chính thức có hiệu lực).

Đáng tiếc, một số tổ chức, cơ quan theo dõi tình hình tôn giáo thế giới ở các quốc gia, tổ chức liên chính phủ như Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) vẫn tiếp tục sử dụng những cứ liệu sai sự thật, không chính xác làm nguồn tham khảo cho các báo cáo, đánh giá của mình. Việc làm này không những tự làm giảm giá trị và tính khách quan của các bản báo cáo mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến những cố gắng, công sức của Việt Nam với công tác đối ngoại giữa các cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo. Có thể khẳng định, từ trước đến nay, Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn về lĩnh vực tôn giáo với các cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế để cùng tìm ra hướng giải quyết cho những vấn đề còn khác biệt. Tuy nhiên, điều này phải được thực hiện trên nền tảng của sự tăng cường hiểu biết, tinh thần đối thoại cởi mở, hợp tác chặt chẽ và tôn trọng lẫn nhau./.

ST.