Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên đều phải có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc và “Phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”(1). Bởi theo Người, thấm nhuần đạo đức cách mạng là phải biết đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình; vì Đảng, vì nhân dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân. Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”(2). Người chỉ có một tâm nguyện “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(3); cho đến khi phải từ biệt thế giới này, Người chỉ “tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(4) cho quốc dân, đồng bào. Tựu trung, tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân được thể hiện trên một số điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu phục vụ nhân dân trong xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước phải lấy nhân dân làm gốc; bởi vì, “Gốc có vững cây mới bền,/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(5). “Lấy dân làm gốc” có nghĩa là phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tất cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải xác định mình là “công bộc” của nhân dân, trong mọi hoạt động phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Bởi vậy, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân đòi hỏi phát huy cao độ việc thực hành dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, coi dân chủ là nhân tố động lực của sự phát triển; thực hành dân chủ là “chìa khóa” vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. 

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(6). Chính bởi vậy, khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, trách nhiệm của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên là phục vụ nhân dân, vì nhân dân, chứ không phải trở thành những vị “quan cách mạng”, để “vinh thân phì gia”. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, công việc, trách nhiệm của Đảng có khác nhau; tuy nhiên, trong mọi hoạt động, Đảng luôn phải đặt lợi ích của nhân dân, dân tộc lên trên hết, trước hết. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng, việc nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân là mục đích và bản chất của Đảng. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho nhân dân làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân; đồng thời, để chă­m lo cho cuộc sống của nhân dân, trước hết phải xây dựng Nhà nước thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính phủ phải là “công bộc” của nhân dân; mọi công việc của Chính phủ đều phải hướng đến mục tiêu là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Bởi theo Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Tinh thần phục vụ nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt rõ trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(8). Vì vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở, đều phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân; phải lãnh đạo, tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân chính là thước đo xác thực nhất trong đánh giá mức độ hiệu quả, khả năng hiện thực hóa chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước.

Thứ hai, để nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng.

Từ thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”(9). Niềm tin của nhân dân đối với Ðảng là tài sản quý báu nhất của Ðảng; vì vậy, muốn được dân tin, dân phục, muốn được lòng dân, trước hết mỗi người cán bộ, đảng viên phải yêu dân, kính dân, phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước quyền lợi cá nhân; phải tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng, suốt đời phục vụ nhân dân. Đây là vừa là trách nhiệm, vừa là nhiệm vụ cao quý nhất của người cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng chăm lo giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân. Người nhấn mạnh: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng”(10), vì quần chúng nhân dân chỉ quý trọng những người cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng, có tinh thần trách nhiệm đối với công việc, đối với đời sống của người dân, làm gương tốt cho nhân dân noi theo. Cho nên, Người căn dặn: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến... Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính”(11). Cán bộ, đảng viên phải quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí; gương mẫu trong thi đua học tập, chiến đấu, tăng gia sản xuất; thật thà tự phê bình và phê bình để luôn luôn tiến bộ. Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ tự giác tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng phục vụ nhân dân với tinh thần “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân” như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có thể chăm lo tốt hơn đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững.   

Thứ ba, tinh thần phục vụ nhân dân được biểu hiện trong ý thức trách nhiệm đối với công việc, nhiệm vụ được giao của người cán bộ, đảng viên.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm(12). Theo Người, tinh thần trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên là nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ; là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, thì người cán bộ, đảng viên đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, cố gắng làm cho thành công. Vì thế, Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.  Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(13). Mỗi người khi phấn đấu và trở thành cán bộ, đảng viên đều phải tự mình nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, đối với dân tộc và nhân dân. Tinh thần và trách nhiệm phục vụ nhân dân không phải chỉ thể hiện bằng lời nói, mà cần thông qua hành động cụ thể, bằng hiệu quả thực hiện công việc được giao.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức được rằng, mình là “công bộc”, là người “đày tớ” của nhân dân, chứ không phải làm “quan cách mạng”.  Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải thật sự gần dân, hiểu dân, phải thật sự trăn trở về lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải thật sự vì nhân dân phục vụ. Do vậy, trong công tác, người cán bộ, đảng viên phải nắm vững và nghiêm túc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phải căn cứ vào tình hình thực tế mà xây dựng kế hoạch rõ ràng, thiết thực; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh, trí tuệ và lực lượng to lớn của nhân dân, tiếp thu sáng kiến của nhân dân để đột phá, sáng tạo khi thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.

Cán bộ công an nhân dân hướng dẫn người dân thao tác xin cấp phiếu lý lịch tư pháp trên ứng dụng VNeID_Ảnh: TTXVN
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 306
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 272, 187
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 623
(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 502, 289
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 518
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 142
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 607
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 16
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 249

Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là quan điểm chỉ đạo nhất quán xuyên suốt của Ðảng kể từ Ðại hội VIII đến nay. Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực phản động thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Thực tế này đòi hỏi cần có sự quán triệt sâu sắc, nhận thức khách quan, đúng đắn ngay từ mỗi người dân về vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

Doanh nghiệp nhà nước tiên phong trong các ngành, lĩnh vực trọng yếu, liên quan đến an ninh, quốc phòng. (Trong ảnh: Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Ðà Nẵng).

Doanh nghiệp nhà nước tiên phong trong các ngành, lĩnh vực trọng yếu, liên quan đến an ninh, quốc phòng. (Trong ảnh: Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Ðà Nẵng).

Nhiều năm qua, kinh tế nhà nước đã và đang có sự phát triển tốt, ngày càng khẳng định vị thế chủ đạo trong nền kinh tế, đồng thời có những đóng góp tích cực giúp cho "kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện". Tuy nhiên, trên một số diễn đàn, mạng xã hội thường xuyên xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước như: "kinh tế nhà nước với hàng loạt doanh nghiệp yếu kém, thua lỗ chỉ là gánh nặng của nền kinh tế", "phải xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước vì đã là kinh tế thị trường thì mọi thành phần kinh tế đều phải được bình đẳng, tự do cạnh tranh"… Những lập luận này khiến một số người bị thuyết phục nhưng thực chất là những quan điểm phản khoa học, phiến diện, chủ quan cảm tính.

Trước hết, cần khẳng định kinh tế nhà nước không đồng nhất với doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế (bao gồm các yếu tố thuộc sở hữu nhà nước và các yếu tố thuộc sở hữu toàn dân mà nhà nước được giao quyền đại diện chủ sở hữu) do nhà nước tổ chức, quản lý, điều hành. Ngoài doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước còn có các yếu tố khác thuộc sở hữu nhà nước như tài nguyên quốc gia, ngân hàng nhà nước, ngân sách, quỹ dự trữ quốc gia...

Vì vậy, không thể lấy dẫn chứng về hạn chế của một số doanh nghiệp nhà nước để quy chụp thành yếu kém của cả thành phần kinh tế nhà nước. Hơn nữa, thực tế cho thấy, mặc dù chúng ta thừa nhận vẫn còn nhiều doanh nghiệp nhà nước "chậm thực hiện cơ cấu lại và đổi mới cơ chế quản trị"; "hiệu quả sản xuất, kinh doanh còn thấp; tình trạng nợ, thua lỗ, lãng phí còn lớn", một số doanh nghiệp buông lỏng quản lý để xảy ra tham nhũng, hay đầu tư không hiệu quả dẫn đến thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng, song theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, có tới 15/16 tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước được kiểm toán năm 2020 sản xuất, kinh doanh có lãi; tỷ suất lợi nhuận tại một số đơn vị đạt tương đối cao.

Số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Ðầu tư tại Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 cũng chỉ rõ: hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước đạt tỷ lệ khá cao (78,5% có lãi, 2,2% hòa vốn và 19,3% thua lỗ) so với doanh nghiệp ngoài nhà nước (43,7% có lãi, 7,7% hòa vốn và 48,6% thua lỗ). Dù chỉ chiếm 0,4% trong tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng doanh nghiệp nhà nước đã huy động được 9,65 triệu tỷ đồng vốn cho sản xuất, kinh doanh, với doanh thu thuần cao nhất là 13,41 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 323,64 nghìn tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tới 96,9% tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng chỉ thu hút được 22,25 triệu tỷ đồng vốn, doanh thu đạt 3,41 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 190,36 nghìn tỷ đồng. Năm 2021, tổng doanh thu của khối doanh nghiệp nhà nước vượt 43,3% kế hoạch, tăng 7,8% so với năm 2020; lợi nhuận trước thuế vượt kế hoạch 41,7%, tăng 22,5% so với năm 2020, nộp ngân sách chiếm 17 - 23% tổng thu ngân sách nhà nước.

Thứ hai, việc xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ là sự định hướng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm thực hiện các mục tiêu của tiến trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà còn cho thấy sự khác biệt lớn của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ðó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Kinh tế nhà nước chính là "công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường", bảo đảm cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước trực tiếp phụ trách những lĩnh vực trọng yếu liên quan đến an ninh chủ quyền quốc gia, quân sự quốc phòng, bảo đảm an sinh xã hội, tài nguyên quốc gia, hay đầu tư ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn mà doanh nghiệp tư nhân không thể hoặc không muốn làm nhưng cần thiết cho tiến trình phát triển kinh tế của đất nước theo mục tiêu đã định, vì lợi ích đông đảo tầng lớp nhân dân như xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt, cung ứng dịch vụ công ích, đầu tư vào những ngành có vốn đầu tư lớn, ở địa bàn khó khăn, nhiều rủi ro, khó thu được lợi nhuận cao...

Kinh tế nhà nước giúp tạo điều kiện cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển (như hỗ trợ, ưu đãi về vốn, hỗ trợ về hạ tầng cơ sở, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ,…); giảm thiểu, khắc phục được những khuyết tật của cơ chế thị trường; bảo vệ, hỗ trợ nhóm yếu thế, dễ gặp rủi ro,... Ðặc biệt, kinh tế nhà nước chính là bộ phận quan trọng để định hướng sự phát triển của các thành phần kinh tế theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa tiến bộ, công bằng, văn minh, không để các doanh nghiệp ngoài nhà nước tự do theo đuổi lợi nhuận bằng mọi giá, vì lợi ích tư nhân mà bất chấp lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng...

Với nguồn lực giới hạn, kinh tế tư nhân cũng không thể hoặc không muốn đầu tư vào những ngành đòi hỏi nguồn vốn lớn, mức độ rủi ro cao, địa bàn khó khăn, hay những ngành nghề ít lợi nhuận, phục vụ cộng đồng, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến an ninh, quốc phòng, tài nguyên quốc gia,...

Thứ tư, cho rằng để cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là "ưu ái đối với kinh tế nhà nước", "phân biệt đối xử bất công với các doanh nghiệp khác", "cạnh tranh không lành mạnh",... là sự xuyên tạc vô căn cứ. Bởi lẽ, quan điểm nhất quán của Ðảng là: "các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật", doanh nghiệp nhà nước cũng phải "cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế". Nhà nước luôn coi trọng "tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp", bảo đảm "thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế".

Mỗi thành phần kinh tế dù có vai trò, vị trí không giống nhau song đều có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần đem lại những thành tựu phát triển đáng mừng, nâng cao tầm vóc, vị thế và uy tín nước ta trên trường quốc tế. Dù xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo song không hề có sự phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế khác, ngược lại còn coi "kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng", "Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của kinh tế quốc dân", đồng thời nỗ lực chỉ đạo không ngừng củng cố, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, khuyến khích phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta và là tiêu chí quan trọng bảo đảm tính định hướng XHCN cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trước thực trạng vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém của thành phần kinh tế này, để bảo đảm vai trò chủ đạo đó, kinh tế nhà nước cần được đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại cho đúng chức năng, nhiệm vụ đầu tàu, dẫn dắt, định hướng; đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, xử lý dứt điểm những hạn chế, yếu kém trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành của một số doanh nghiệp nhà nước đang tạo lỗ hổng cho tham nhũng, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất, uy tín, trách nhiệm ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn./.
ST.

Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin vào đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tinh thần, phương pháp đấu tranh của V.I.Lênin vẫn soi rọi, định hướng cho nhiệm vụ “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị...” ở nước ta hiện nay.

V.I.Lênin đã viết: “Chúng ta tin tưởng ở đảng, chúng ta thấy ở đó trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta” - Ảnh minh họa: internet

V.I.Lênin đã viết: “Chúng ta tin tưởng ở đảng, chúng ta thấy ở đó trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta” - Ảnh minh họa: internet

1. LÊNIN ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Ngay tác phẩm đầu tay của mình: Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao, V.I.Lênin đã thể hiện là nhà duy vật triệt để trong lĩnh vực xã hội, thực hiện việc đấu tranh, phê phán những quan điểm duy tâm, siêu hình bảo vệ chủ nghĩa Mác. Trong đó, V.I.Lênin đã dựa chắc vào thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác và những thành tựu của khoa học tự nhiên đã đạt được để luận giải, chứng minh, chỉ ra tính chất ngụy biện, vô căn cứ của chủ nghĩa duy tâm, vạch trần tính hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình mà phái dân túy tuyên truyền.

V.I.Lênin đã làm một cuộc mổ xẻ tận gốc nguồn gốc sản sinh, luận giải rõ bản chất đích thực của chủ nghĩa Bécstanh khi Ông cho rằng, chủ nghĩa Bécstanh không đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà đứng trên lập trường của “chủ nghĩa Cantơ mới”, theo đuôi cái gọi là khoa học của những giáo sư triết học tư sản. V.I.Lênin chỉ rõ, thực chất của chủ nghĩa xét lại Bécstanh là: “Xác định thái độ của mình tùy theo hoàn cảnh, thích ứng với những sự biến trước mắt, với những biến đổi của những sự kiện chính trị nhỏ nhặt, quên mất lợi ích sống còn của giai cấp vô sản và những nét căn bản của toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa, của toàn bộ sự tiến triển tư bản chủ nghĩa, hy sinh những lợi ích sống còn ấy vì những lợi ích thực tế hay những lợi ích giả định tạm thời, - đó là chính sách của bọn xét lại”. Đồng thời, V.I.Lênin nhấn mạnh, chủ nghĩa Mác là một hệ thống lý luận khoa học, đối lập với mọi biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm, chẳng những Bécstanh mà ngay cả mọi triết học tư sản hiện đại cũng không thể đánh đổ được.

Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, có hàng loạt những quan điểm sai trái xuyên tạc, phủ nhận nội dung giá trị chủ nghĩa Máctrong đó có cả quan điểm của các lãnh tụ Quốc tế II. Theo V.I.Lênin, họ không chịu tiếp thu định hướng của C.Mác và Ph.Ăngghen để bổ sung, phát triển, mà thể hiện thái độ phủ nhận sạch trơn, họ cho rằng chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại mới. Vì vậy, V.I.Lênin đã đấu tranh, vạch ra sự sai lầm, vô căn cứ và luận chứng một cách khoa học về bản chất đích thực của chủ nghĩa đế quốc. Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin xác định “chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển và kế tục trực tiếp của những đặc tính cơ bản của chủ nghĩa tư bản”, nhưng biểu hiện ở giai đoạn, trình độ cao. Mặc dù vậy, chủ nghĩa đế quốc vẫn là sự là tiếp nối quy luật phát sinh, phát triển và diệt vong của nó như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng khái quát và chỉ ra không có sức mạnh nào phủ định chủ nghĩa tư bản hơn chính sự phát triển của những mâu thuẫn trong lòng nó và chủ nghĩa tư bản “sẽ không tránh khỏi sự tiêu diệt”.

Khi tiến trình cách mạng phát triển đến sự cận kề của đấu tranh giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, khi điều kiện cách mạng vô sản đã trở nên chín muồi, thời cơ giành chính quyền về tay giai cấp công nhân đã xuất hiện, tinh thần của Đảng Bônsêvíc và quần chúng đang dâng lên, thì những kẻ đột lốt Mác chống Mác quyết liệt hơn. Loại quan điểm này chĩa mũi nhọn vào phủ nhận phương pháp giành chính quyền bằng cách mạng bạo lực; phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác về bản chất giai cấp của nhà nước, phủ nhận chuyên chính vô sản. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã viết tác phẩm Nhà nước và cách mạng. Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng của Ph.Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và chủ nhà nước, khẳng định lại những luận điểm và bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới cho phù hợp với tình hình gấp rút. Trong quá trình ấy, V.I.Lênin đã thể hiện một phương pháp đấu tranh mới bằng cách trích dẫn quan điểm của Ph.Ăngghen và trích dẫn các luận điểm xuyên tạc, sai trái, để từ đó so sánh và chỉ ra sự cắt xén, thêm bớt của những kẻ chống Mác, hòng làm cho nội dung tư tưởng các luận điểm không còn đúng nghĩa. Qua đó, V.I.Lênin khôi phục lại bản chất cách mạng, khoa học và dẫn dắt, định hướng tư tưởng cho trận quyết chiến giành chính quyền nhà nước ở Nga.

Có thể nói, V.I.Lênin đã dành gần như trọn cuộc đời mình để đấu tranh kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng nhưng rất khoa học, đầy sức thuyết phục và hiệu quả trước mọi quan điểm thù địchsai trái, xuyên tạc, phản động, phản khoa học của kẻ thù chủ nghĩa Mác, như chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại với đủ màu sắc, dưới dạng công khai hay dấu mặt, cả nội địa lẫn quốc tế. Qua đó, V.I.Lênin đã có những cống hiến to lớn, thiết thực không những trực tiếp bảo vệ toàn diện chủ nghĩa Mác, mà còn làm tỏa sáng những giá trị khoa học và cách mạng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới.

2. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VÀO ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG THỜI KỲ MỚI

Mặc dù diễn ra cách đây hơn một thế kỷ, nhưng tinh thần, phương pháp đấu tranh của V.I.Lênin vẫn đang soi rọi, định hướng cho nhiệm vụ “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” ở nước ta hiện nay. Có thể tiếp cận nghiên cứu, định hướng vận dụng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới từ quan điểm của V.I.Lênin ở các góc độ khác nhau, nhưng cần tập trung ở những phương diện sau đây:

Một là, về thái độ, lập trường chính trị.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, V.I.Lênin đã để lại di sản đồ sộ các tác phẩm kinh điển, có giá trị vô cùng to lớn cả về lý luận và chỉ đạo thực tiễn. Trong đó, thể hiện rõ thái độ kiên quyết, bản lĩnh kiên cường, không khoan nhượng đối với những kẻ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của V.I.Lênin, xuyên suốt một quan điểm nhất quán là thái độ kiên quyết, bản lĩnh kiên cường, khoa học trong đấu tranh với các quan điểm sai trái. Mỗi tác phẩm đều gắn với đấu tranh phê phán một loại quan điểm sai trái, phản động cụ thể hay một tàn tích xấu, sản phẩm của chế độ xã hội cũ trong đời sống tinh thần của những người lao động. V.I.Lênin coi đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái như một tình huống, một nhiệm vụ quan trọng và chuyển nó thành động lực cho bảo vệ, phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen. Đồng thời, V.I.Lênin đưa tư tưởng đó vào giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và những người lao động trong thực tiễn.

Trong thời kỳ mới, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình”, không chỉ xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn xuyên tạc, thổi phồng các vấn đề bức xúc trong xã hội, tạo dựng thông tin sai sự thật nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng nhân dân.

Vì thế, những người tham gia vào đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động cần phải có thái độ kiên quyết, bản lĩnh kiên cường, không khoan nhượng, không dao động, dè dặt. Chỉ có thái độ kiên quyết, dũng khí, lập trường cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng thì mới không bị lung lạc trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới. Cán bộ, đảng viên, các lực lượng, những nhà khoa học cần noi gương sáng của V.I.Lênin để củng cố, phát huy thái độ kiên quyết, lập trường chính trị kiên định vững vàng trong cuộc đấu tranh này. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên, các lực lượng, các nhà khoa học cần phải là một tấm gương sáng trong định hướng, dẫn dắt dư luận, củng cố tinh thần cho toàn xã hội trước sự chống phá của các thế lực trong “diễn biến hòa bình”. Mặt khác, với thái độ kiên quyết, lập trường chính trị vững vàng và dũng khí đấu tranh của cán bộ, đảng viên, các lực lượng, các nhà khoa học còn là tấm gương sáng trong tuyên truyền, giáo dục cho toàn xã hội về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho mỗi người và cả dân tộc ta thật sự là một “cơ thể cường tráng” miễn dịch với những vi rút độc hại xâm nhập từ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cần phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của V.I.Lênin: “Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình.

Hai là, về nội dung đấu tranh.

V.I.Lênin đã nghiên cứu, toàn diện, sâu sắc toàn bộ tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen một cách nghiêm túc. Vì thế, V.I.Lênin mới có thể đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, đồng thời bảo vệ, phát triển từng nội dung và toàn bộ hệ thống tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen. Chỉ có như thế, mới có thể cho phép V.I.Lênin đưa ra kết luận: Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách có phê phán, không bỏ sót một điểm nào. Tất cả những cái mà tư tưởng loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phê phán, và đã thông qua phong trào công nhân mà kiểm tra lại“Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Học tập V.I.Lênin về tính toàn diện, trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta không chỉ đấu tranh bảo vệ trực diện nội dung các quan điểm, nguyên lý cụ thể của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và bảo vệ nhân dân; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều cần chú ý là, những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống hoàn chỉnh có giá trị bền vững. Vì thế, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng phải bảo vệ tính hệ thống, chỉnh thể toàn vẹn của những nguyên lý lý luận đó, không để những nguyên lý lý luận đó bị chia cắt, tách rời. Cho nên mọi khuynh hướng tách rời, trích dẫn cắt xén các luận điểm và luận giải không phù hợp với bối cảnh lịch sử đều phải đấu tranh phản bác để bảo vệ tính hệ thống, chỉnh thể toàn vẹn của những nguyên lý lý luận đó. Đồng thời, trong đấu tranh, cần phải bám sát thực tiễn cách mạng, lấy thực tiễn đó để đưa ra những kết luận xác đáng, làm cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với sự phát triển, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Ba là, về hình thức, phương pháp đấu tranh.

Trước mỗi quan điểm sai trái, V.I.Lênin đều hình thành một phương pháp luận chứng có tính đặc thù riêng, phù hợp, rất khoa học và có tính thuyết phục caoĐồng thời, có những hình thức phê phán phong phúđa dạng để tìm ra sự “ngụy biện” trong mỗi quan điểm sai trái thù địch, từ đó vạch trần thủ đoạn và phê phán có hiệu quả. Có thể thấy, phương pháp, hình thức đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái luôn thống nhất giữa giữ vững tính nguyên tắc, mục đích với tính linh hoạt được V.I.Lênin vận dụng một cách nhuần nhuyễn. Trong nguyên tắc đấu tranh, V.I.Lênin yêu cầu phải giữ vững sự đối lập về hệ tư tưởng, đối lập về lợi ích, địa vị giai cấp và phải kiên định với lập trường chủ nghĩa Mác. Trên cơ sở đó, phải tìm ra phương pháp với nhiều hình thức phê phán linh hoạt, phù hợp. V.I.Lênin chỉ rõ: “Thống nhất về mặt tư tưởng = truyền bá những tư tưởng nhất định, làm sáng tỏ sự đối chọi giai cấp, sự phân định ranh giới về mặt tư tưởng. Thống nhất về mặt tư tưởng = truyền bá những tư tưởng có khả năng đẩy lên phía trước, những tư tưởng của giai cấp tiên phong”. “Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết các vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi “vấp phải” những vần đề chung đó một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng lẻ, thì có nghĩa là đưa chính sách của mình đến chỗ có những dao động tồi tệ nhất và mất hẳn tính nguyên tắc” - Đó là chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trong thời kỳ mới, các loại quan điểm sai trái, thù địch diễn ra rất đa dạng, phức tạp. Vì thế, hình thức, phương pháp phê phán cũng phải linh hoạt, phù hợp. Vì mục đích xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay, chúng luôn dùng thuật “ngụy biện”, “cài lỗi” lôgíc trong dẫn dắt, suy luận những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước để che đậy âm mưu, thủ đoạn và bản chất phản động của chúng. Cho nên, trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, cần phải có phương pháp đúng với hình thức phù hợp, phải vạch ra sự “ngụy biện” và “cài lỗi” của chúng để đấu tranh có hiệu quả. Phải dùng phương pháp “luận chứng” khoa học để chứng minh cho nội dung, phê phán tính chất phản động, phản khoa học trong những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Đồng thời, phải đa dạng hóa các hình thức đấu tranh theo hướng sử sụng tối đa thành thựu của công nghệ thông tin, Interrnet, mạng xã hội để đăng tải các nội dung tuyên truyền những quan điểm chính thống, định hướng dư luận; đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”, phản động được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp, giữa “xây” và “chống”, “xây” phải cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả.

Nghiên cứu tư tưởng của V.I.Lênin về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phản động càng cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn giá trị bền vững và sức sống mãnh liệt của di sản tư tưởng, lý luận mà V.I.Lênin để lại. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên, các lực lượng tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo di sản tư tưởng đó, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới./.

ST.

Nâng cao vai trò của truyền thông để bảo vệ quyền con người

Truyền thông có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về quyền con người. Một trong những chức năng đó là đấu tranh phê phán những quan điểm, luận điệu sai trái về quyền con người, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch, cá nhân, tổ chức cực đoan, thiếu thiện chí không ngừng xuyên tạc, bôi đen, hạ thấp thành tựu về quyền con người ở Việt Nam.

(Ảnh minh hoạ: MIC)

(Ảnh minh hoạ: MIC)

Ngày 14/9 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1079/QĐ-TTg phê duyệt Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam (Đề án) đồng thời xem đây là nhiệm vụ chính trị và là trách nhiệm thường xuyên của cả hệ thống chính trị, trước mắt và lâu dài.

Một trong ba nội dung quan trọng mà Đề án hướng đến là phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Cụ thể, Đề án đưa ra mục tiêu phấn đấu 100% nguồn dữ liệu và sản phẩm truyền thông của Đề án được số hóa, kết nối, sử dụng chung và phổ biến trên không gian mạng để lan tỏa thông tin tích cực, nhân văn; giảm thông tin sai lệch, tin giả, tin xấu độc xâm hại quyền con người trên không gian mạng xuống còn dưới 10% tổng số thông tin về quyền con người ở Việt Nam; phát hiện, xử lý 90% tin giả, tin xấu độc xâm hại quyền con người trên không gian mạng. Từ đó, đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ, tăng cường hợp tác liên ngành giữa các cơ quan chức năng, nhất là các đơn vị báo chí, truyền thông.

Đề án cũng giao các bộ, ngành, địa phương phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an tiến hành tổ chức theo dõi, tổng hợp dư luận báo chí trong và ngoài nước, xây dựng lập luận đấu tranh với các thông tin sai lệch về tình hình bảo đảm quyền con người thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, tỉnh, thành phố. Bộ Công an cũng có trách nhiệm cùng Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ động cung cấp thông tin chính thức về các vụ việc, đối tượng được quốc tế quan tâm; giải thích làm rõ, đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch về quyền con người ở Việt Nam.

Thực tế, các nội dung này đã được đề cập trước đó trong một số văn bản của Chính phủ liên quan đến truyền thông về quyền con người như: Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 5/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, Quyết định số 16/QĐ-TTg ngày 2/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về quyền con người,… Từ đó, công tác chống tin giả, tin xấu độc xâm hại quyền con người trên không gian mạng nói riêng và trong cộng đồng nói chung đã thu được những kết quả tích cực.

Theo Báo cáo của Bộ Thông tin và truyền thông, trong 6 tháng đầu năm 2022, Facebook đã chặn, gỡ bỏ hơn 1.374 bài viết có nội dung thông tin xấu độc (tỷ lệ 91%), 16 hội, nhóm (group) có nội dung không lành mạnh và nội dung độc hại với trẻ em. Tương tự, theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông, YouTube và TikTok cũng đã gỡ bỏ hàng nghìn video có nội dung độc hại, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, đặc biệt là nhận thức của thanh thiếu niên Việt Nam. Nhờ sử dụng công nghệ và thuật toán rà quét, các nhà cung cấp mạng xã hội này đã tự động gỡ bỏ hàng triệu nội dung có chứa nội dung xâm hại quyền con người.

Bất chấp những kết quả tích cực đã đạt được, tình hình tin sai lệch, tin giả, tin xấu độc xâm hại quyền con người, quyền công dân Việt Nam trên không gian mạng vẫn đang diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch, tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí vẫn không ngừng tung ra các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu quyền con người của Việt Nam. Một số hội, nhóm thường xuyên tổ chức các hoạt động chống phá núp dưới vỏ bọc “thư ngỏ”, “báo cáo nhân quyền”, “báo cáo tự do tôn giáo”, “báo cáo tự do báo chí”, “đề án dân quyền”,…

Không chỉ vậy, các đối tượng cũng thường xuyên gửi cáo buộc sai sự thật, vô căn cứ về tình hình quyền con người tại Việt Nam tới Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Trắng trợn hơn, nhiều fanpage, website, tài khoản đại diện của các hội nhóm này còn công khai thừa nhận đây là “chiến lược”, “chiến thuật” để can thiệp, gây sức ép với các nước lớn, tổ chức quốc tế nhằm áp đặt biện pháp trừng phạt kinh tế, cấm vận phi lý đối với nước ta.

Đáng buồn là một số cá nhân vì bất mãn chế độ cùng nhiều động cơ đen tối khác đã hợp tác, tiếp tay cho các tổ chức phản động này. Ngày 18/4/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên phạt Trần Thị Ngọc Xuân và 11 đồng phạm thuộc tổ chức khủng bố “chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” vì phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, quy định tại Điều 109 Bộ luật Hình sự.

Theo cơ quan điều tra, dưới vỏ bọc hoạt động từ thiện, giúp đỡ người nghèo, những đối tượng này đã lôi kéo một số người dân tham gia bỏ phiếu “trưng cầu dân ý” trực tuyến, ủng hộ Đào Minh Quân, kẻ cầm đầu tổ chức phản động “chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Mới đây, ngày 25/9, chia sẻ trên các tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại, một thành viên chủ chốt của tổ chức khủng bố “Việt Tân” thậm chí còn khoe khoang rằng đã chiêu mộ được một số phần tử trong nước có “kinh nghiệm cọ xát, lăn lộn” để “làm việc ngày đêm”. Nhờ những chân rết này, các tổ chức phản động có cơ hội lan truyền nhiều thông tin xấu độc về quyền con người, gây hoang mang trong nhân dân, đặc biệt là trong giai đoạn đại dịch COVID-19 hoành hành.

Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết, nhẹ dạ của một bộ phận người dân cũng được xem là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng thông tin sai lệch, tin giả, tin xấu độc về quyền con người trên không gian mạng. Nhiều quan điểm, nhận định ngụy khoa học về giới, kỳ thị giới tính, phân biệt đối xử về dân tộc,… được chia sẻ tràn lan trên Facebook, YouTube, TikTok gây tác động tiêu cực đến cộng đồng. Bên cạnh đó nạn đổ lỗi cho nạn nhân (Victim blaming), bắt nạt trực tuyến (Cyberbullying), xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân, xúc phạm danh dự, uy tín người khác tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng.

Ngày 14/7/2022, thông tin về việc một cô gái trẻ mất tích bí ẩn sau khi rời phòng trọ đã bị nhiều trang thông tin giải trí tổng hợp chia sẻ với mục đích “câu view”, “câu like”. Hệ quả nghiêm trọng là có hàng chục nghìn bài viết, lượt bình luận mang tính giễu cợt, xúc phạm nạn nhân và gia đình đã được đăng tải trên không gian mạng. Tương tự, thông tin một nữ du khách bị hiếp dâm ở một nhà nghỉ tại tỉnh Hà Giang trong những ngày qua liên tục bị không ít người “mổ xẻ” với mục đích đổ lỗi cho người bị hại với những cáo buộc vô căn cứ như: nạn nhân muốn “giăng bẫy” nghi phạm, bịa đặt câu chuyện thương tâm để nổi tiếng...

Những thí dụ nêu trên phần nào cho thấy sự phức tạp và mức độ nghiêm trọng của nạn thông tin sai lệch, thông tin xấu độc xâm phạm quyền con người trên không gian mạng. Ngày 19/2/2021, nghiên cứu “Văn minh, An toàn và Tương tác trực tuyến” của Tập đoàn Microsoft đã ghi nhận trải nghiệm trực tuyến tại Việt Nam có sự cải thiện rõ rệt trong mùa dịch. Song, nhóm nghiên cứu cũng lưu ý chỉ số DCI (Văn minh trên Không gian mạng) của Việt Nam “kém hơn nhiều so với trung bình khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, nhất là ở hai hạng mục xúc phạm và phân biệt đối xử.

Như vậy, việc phê duyệt Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam là phù hợp tình hình hiện nay, minh chứng cho quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta trong công tác bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Các nội dung của Đề án hướng đến sự phối hợp giữa công tác giải thích, làm rõ, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về tình hình quyền con người ở Việt Nam với công tác phổ biến, giáo dục kiến thức về quyền con người; tuyên truyền về các nỗ lực và thành tựu bảo đảm quyền con người.

Theo đó, giáo dục kiến thức về quyền con người, tuyên truyền về quyền con người có ảnh hưởng lớn đến sự thành công trong nhiệm vụ phòng, chống, phản bác thông tin xấu độc, xâm phạm quyền con người. Chúng ta tuyệt đối không thể chủ quan, xem nhẹ các luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền được các thế lực thù địch, cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí liên tục tung ra trên không gian mạng, nhất là trong bối cảnh các đối tượng phản động cực đoan xem đây là chiêu bài chính trong âm mưu hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chính quyền nhân dân.

Việc đẩy mạnh phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, công ty quảng cáo, truyền thông trong việc xử lý thông tin xấu độc, tiêu cực về các quyền con người cần nâng lên một bước mới. Hiện nay, một số doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam vẫn tìm cách né tránh không thực hiện ngăn chặn thông tin xấu độc về quyền con người tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, hàng loạt fanpage, trang tin tổng hợp có pháp nhân là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam cũng thường xuyên có những hành vi xâm phạm quyền con người như: làm lọt, lộ thông tin cá nhân, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, cung cấp nội dung trái thuần phong, mỹ tục,… Tuy nhiên, việc xử lý còn gặp nhiều khó khăn. Về phía các cơ quan báo chí, truyền thông cũng chưa có nhiều tiếng nói phê phán, lên án mạnh mẽ đối với các hành vi dung túng, tiếp tay cho hành vi xâm phạm quyền con người.

Chính vì thế, để đạt được mục tiêu giảm thông tin sai lệch, tin giả, tin xấu độc xâm hại quyền con người trên không gian mạng được nêu trong Đề án, các cơ quan chức năng cần phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa trong công tác chuyên môn và các hoạt động hợp tác, phối hợp liên ngành, liên bộ; đồng thời kêu gọi sự hợp tác, chung tay của cộng đồng để bảo vệ môi trường mạng an toàn, lành mạnh, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân./.

ST.