Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Cần loại bỏ tư duy “cuốc vào” trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ có tính rường cột trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Muốn xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, vừa phù hợp với thực tiễn, vừa theo kịp xu hướng phát triển của thực tiễn đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ soạn thảo, dự thảo văn bản đó phải có trách nhiệm cao, có kiến thức chuyên môn sâu về lĩnh vực mình được giao soạn thảo.

Đặc biệt là các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào quy trình soạn thảo phải luôn công tâm, minh bạch, tuyệt đối không được đan cài lợi ích của ngành mình, tổ chức mình vào trong văn bản quy phạm pháp luật thì mới làm cho văn bản quy phạm pháp luật đạt được tính cách mạng và khoa học.

Thực tiễn cho thấy, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của mỗi quốc gia. Quốc gia nào có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ, chính xác, khoa học, toàn diện thì quốc gia đó sẽ có nhiều thuận lợi trong quản lý xã hội, điều chỉnh hành vi của con người, tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển.

Đối với nước ta, là nước đang trong quá trình phát triển, còn nhiều lĩnh vực mới, vấn đề, hiện tượng mới nảy sinh cần phải được điều chỉnh bằng luật pháp, do đó công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật càng phải được tiến hành khẩn trương, nhưng phải chặt chẽ, khoa học. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm đúng với thẩm quyền, hình thức, quy trình, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Trong những năm gần đây, công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo sát sao tới mức quyết liệt để nhằm tháo gỡ những vướng mắc, làm giảm, tiến tới chấm dứt việc nợ đọng văn bản quy phạm pháp luật.

Các bộ, ban, ngành Trung ương, các UBND, sở, ban, ngành các địa phương được giao nhiệm vụ soạn thảo dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản luật, dưới luật cũng đã có những cố gắng, bảo đảm cho các văn bản pháp luật sau khi dự thảo có nội dung, hình thức sát với yêu cầu thực tiễn, đúng với quy định của luật, sát với sự chỉ đạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ.

Tuy nhiên trong quá trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật cũng còn một số cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa thấm nhuần tư tưởng công minh, chính trực, tính phổ thông, do đó đã xuất hiện các dự thảo văn bản luật, dưới luật mang hơi hướng lợi ích cục bộ theo kiểu “cuốc giật vào lòng” đối với một số tổ chức, cá nhân, nhất là đối với các cơ quan, bộ, ngành được giao trực tiếp đảm nhiệm dự thảo văn bản luật; hoặc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật với các điều khoản nội dung không rõ ràng, gây ra sự lúng túng trong áp dụng, vận dụng.

Thực tế này đã diễn ra, bằng chứng là có khá nhiều văn bản luật khi trình ra Quốc hội đã bị các đại biểu bỏ phiếu không tán thành, buộc cơ quan chủ quản và các cơ quan liên quan phải chuẩn bị lại. Những văn bản quy phạm pháp luật này thường có nội dung trùng lặp, chồng chéo giữa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này với cơ quan khác, giữa ngành, lực lượng này với ngành, lực lượng khác đã được luật hóa; hoặc là chồng chéo về mặt nội dung giữa các văn bản luật.

Cũng có những tổ chức, cá nhân khi được giao soạn thảo dự thảo văn bản luật đã cố tình làm cho quyền của ngành mình, cơ quan mình “phình ra” trong một số điều, khoản, mục của luật, hoặc văn bản dưới luật. Nếu như các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ giám sát, góp ý vào văn bản luật vì những lý do nào đó mà bỏ qua, thì sau khi văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành sẽ gây cản trở trong quá trình thực thi pháp luật và gây phiền nhiễu đối với các đối tượng được điều chỉnh trong luật.

Hệ lụy thứ nhất của việc soạn thảo và ban hành những văn bản pháp luật “có sạn” là sẽ tạo ra một hệ thống văn bản pháp luật không phù hợp với thực tiễn, hoặc là có luật cũng như không, dẫn đến hiện tượng mất công bằng trong xã hội. Xuất phát từ sự “có thể co giãn” của văn bản luật mà cơ quan nắm quyền thực thi pháp luật có thể vận dụng tùy tiện, có lợi cho người này, tổ chức này, hoặc ngược lại, lâu dần dẫn đến mất niềm tin của nhân dân vào luật pháp và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai là văn bản luật nếu có những "lỗ hổng" sẽ đẻ ra sự nhũng nhiễu, cửa quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật và cũng là chỗ để một số đối tượng lợi dụng “lách luật” hòng trục lợi hoặc làm những điều phi pháp.

Thứ ba là việc chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật thiếu chuẩn mực, lợi ích cục bộ sẽ làm mất đi tính khoa học của văn bản luật, thể hiện tư duy lạc hậu, trình độ, nhận thức hạn chế của cơ quan, tổ chức, cá nhân đảm nhiệm soạn thảo, xa hơn là các văn bản này sẽ làm chậm tiến độ ban hành văn bản pháp luật, làm cho một số hành vi, lĩnh vực nảy sinh trong thực tiễn chậm được luật hóa, dẫn đến kéo lùi sự phát triển của xã hội.

Khắc phục các văn bản quy phạm pháp luật có “lỗ hổng”; khắc phục tư duy “cuốc giật vào lòng”, mưu mô lợi ích cục bộ trong việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là việc cấp thiết phải thực hiện rốt ráo và triệt để. Trước hết, các cơ quan chức năng phải thường xuyên rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm cho các văn bản này có sự thống nhất về nội dung, không chồng chéo về lĩnh vực, vấn đề cần điều chỉnh trong văn bản luật. Khi phát hiện các “lỗ hổng”, các dấu hiệu trục lợi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong văn bản luật thì kiên quyết kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, kể cả văn bản luật mới có hiệu lực thi hành.

Về vấn đề này, trong hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2022, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long cho rằng: “Cần phải đẩy mạnh kiểm tra, rà soát văn bản vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm. Các cơ quan chức năng phải đôn đốc, bảo đảm kết luận kiểm tra được thực hiện kịp thời, đúng pháp luật; chú trọng xử lý kết quả rà soát các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn...”.

Việc đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia cao cấp về soạn thảo dự thảo văn bản luật là việc cấp thiết nên cần phải được tiến hành chặt chẽ. Đội ngũ chuyên gia này có thể là các luật sư, hoặc các cán bộ tư pháp có kinh nghiệm, có trình độ cao về các chuyên ngành, lĩnh vực và am hiểu sâu sắc về luật pháp.

Về mặt vĩ mô thì cần phải nâng tỷ lệ đại biểu chuyên trách của Quốc hội, bảo đảm cho mỗi đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực sự là một chuyên gia của đất nước về một lĩnh vực nào đó và họ chính là những người thẩm định, giúp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua các văn bản quy phạm pháp luật một cách chính xác, khoa học.

Đối với các loại văn bản dưới luật, thì trước khi soạn thảo cần phải rà soát, xây dựng đội ngũ soạn thảo dự thảo sao cho minh bạch và phải thực sự vì công việc, “dĩ công vi thượng”. Tuyệt đối không vì có tình cảm với người này, người kia mà đưa họ vào ban soạn thảo, như vậy dễ dẫn đến những lệch lạc trong khâu soạn thảo.

Việc thông qua các văn bản này phải được thẩm định kỹ càng thông qua các hội đồng được lập ra bởi những người có trách nhiệm, bảo đảm thực hiện đúng quy trình, không làm ngang, làm tắt. Hiện nay có khá nhiều cơ quan, đơn vị không tổ chức các cuộc họp hội đồng thông qua các văn bản quy phạm pháp luật nên đã “xin ý kiến” bằng văn bản đối với từng cá nhân. Vì thế việc góp ý đôi khi cũng không chặt chẽ, dẫn đến việc góp ý chất lượng không cao làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản.  

Văn bản quy phạm pháp luật chuẩn mực, khoa học, cách mạng sẽ là cơ sở để xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ. Ở đó, các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật đều có quyền lợi, nghĩa vụ như nhau.

Văn bản quy phạm pháp luật càng toàn diện, chặt chẽ, minh bạch thì càng hạn chế được sự nhũng nhiễu, ngăn chặn hiện tượng tiêu cực của những người thực thi công vụ, đồng thời thể hiện được tính ưu việt của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, mỗi người khi được giao nhiệm vụ cần phải nêu cao tinh thần “dĩ công vi thượng”, loại bỏ hoàn toàn tư duy, lợi ích cục bộ, thực hiện nhiệm vụ soạn thảo dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách công minh, chính trực, vì nhân dân, vì sự phát triển của đất nước. Tất cả thành viên trong bộ phận tham gia soạn thảo đều nêu cao tinh thần ấy thì chắc chắn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta sẽ đạt được tính khoa học, phát triển và thực sự có lợi cho quốc gia, dân tộc. /.

ST.

Quyền con người và sức khỏe cộng đồng

Những năm qua, Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận nhiều thành tựu nổi bật về nhân quyền, trong đó quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân luôn được chú trọng.

Tiêm vaccine phòng COVID-19 mũi 3, mũi 4 cho cán bộ công chức, viên chức, người lao động. (Ảnh minh họa)

Tiêm vaccine phòng COVID-19 mũi 3, mũi 4 cho cán bộ công chức, viên chức, người lao động. (Ảnh minh họa)

Thực tế những năm qua cho thấy, Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người và là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế trong việc bảo đảm các vấn đề về nhân quyền. Các thành tựu về nhân quyền được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, y tế, văn hóa...

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng đều qua các năm: từ 0,682 năm 2016 lên 0,706 năm 2020. Trong các thành tựu về quyền về con người của Việt Nam, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân luôn được ưu tiên hàng đầu bởi mỗi cá nhân khi được chăm sóc tốt về sức khỏe thì mới có thể thụ hưởng và thực hiện được các quyền cơ bản khác. Mặt khác, việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe cũng gắn liền với các quyền con người khác như: quyền sống, quyền có lương thực, thực phẩm, quyền về nhà ở, việc làm, giáo dục, quyền được bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, bình đẳng, không phân biệt đối xử...

Các quốc gia đều có nghĩa vụ bảo đảm người dân phải được chăm sóc sức khỏe trong những điều kiện cơ bản của quốc gia đó. Nghĩa vụ quốc gia trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe đã được cộng đồng quốc tế khẳng định trong một số văn bản pháp lý quan trọng. Điều 12 ICESCR (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa) quy định: mọi người dân có quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hóa, dịch vụ và điều kiện cần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể.

Tại Việt Nam, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân được ghi nhận trong các Công ước quốc tế mà Chính phủ ký kết và tham gia; đồng thời, được ghi nhận trong Hiến pháp và nhiều đạo luật như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Khám chữa bệnh năm 2009, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014, Luật Dược năm 2016... Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe của toàn dân. Thực tế, với một hệ thống các văn bản pháp luật hỗ trợ, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam đã được thực hiện thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Cụ thể như: đầu tư nguồn lực cho y tế gồm nhân lực (đội ngũ bác sĩ, cán bộ y tế) và vật lực (trang thiết bị y tế, các bệnh viện, trạm y tế...) luôn được Chính phủ quan tâm; dịch vụ công về y tế cũng có nhiều cải tiến, phần lớn người dân cảm thấy hài lòng; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế hơn 90% số dân; trẻ em dưới 6 tuổi không phải đóng các khoản phí tham gia bảo hiểm y tế và được làm thẻ bảo hiểm y tế miễn phí... Những chính sách của Đảng và Nhà nước cho thấy, quyền và lợi ích của người dân luôn được ưu tiên, người dân được bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe.

Đặc biệt, trong hơn hai năm xảy ra đại dịch COVID-19, quyền được chăm sóc về sức khỏe của người dân càng được thể hiện rõ nét. Ngay từ khi có thông tin chính thức về đại dịch toàn cầu này, mọi quyết sách và các biện pháp y tế của Việt Nam đều nhất quán theo quan điểm tính mạng người dân là quan trọng, cả hệ thống chính trị phải ưu tiên bảo vệ tính mạng và sức khỏe của người dân. Mọi người dân đều được tiếp cận với các thông tin cũng như cơ sở, dịch vụ y tế, được tiêm vaccine miễn phí theo đúng lộ trình và được điều trị miễn phí.

Đây là một nỗ lực rất đáng ghi nhận của Việt Nam trong bối cảnh bệnh nhân mắc COVID-19 ở nhiều quốc gia trên thế giới phải tự chi trả mọi chi phí. Trước làn sóng biến thể phụ BA.4, BA.5 của Omicron trên thế giới và bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam, hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương đang tích cực triển khai tiêm vaccine COVID-19, liều nhắc lại lần 2 (mũi 4) từ tháng 6/2022 để bảo đảm an toàn sức khỏe cho cả cộng đồng.

Những ứng phó với đại dịch COVID-19 của Chính phủ Việt Nam nhân văn, ưu việt, hoàn toàn phù hợp nghĩa vụ thực hiện quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của người dân trong tình huống khẩn cấp y tế dựa theo yêu cầu cơ bản của quyền này dựa trên các yếu tố: tính sẵn có của cơ sở, hàng hóa, dịch vụ y tế; khả năng tiếp cận với cơ sở, hàng hóa, dịch vụ, thông tin y tế với chi phí hợp lý và không có sự phân biệt đối xử với bất kỳ nhóm đối tượng nào; phù hợp về mặt y học và với điều kiện đặc thù về kinh tế, xã hội, văn hóa của từng quốc gia và bảo đảm nền y tế có chất lượng.

Nỗ lực nâng cao sức khỏe người dân không chỉ được thể hiện ở các con số mà còn thể hiện ở niềm tin của người dân vào Đảng, vào chính quyền, vào hệ thống y tế; cũng như sẵn sàng sát cánh cùng hệ thống chính trị trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Đảng và Nhà nước ta luôn thấu hiểu rằng, bên cạnh việc giữ vững, phát huy những thành tựu đã đạt được còn rất nhiều việc phải làm để bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân được thực hiện toàn diện, triệt để hơn. Chẳng hạn như cần nhanh chóng tìm giải pháp tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong thể chế, chính sách, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe và các quyền liên quan. Ngoài ra cần chú trọng nâng cao nhận thức của người dân về quyền được chăm sóc sức khỏe, từ đó, có những đề xuất, kiến nghị phù hợp khả năng đáp ứng về y tế.

Đối với ngành y tế, cần thiết phải đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ, tiến tới nâng cao năng lực khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Đặc biệt là các giải pháp về phát triển y tế cơ sở và y tế dự phòng; nâng cao chất lượng đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên y tế; ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ số trong khám, chữa bệnh; xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu, các cơ sở khám, chữa bệnh tầm cỡ khu vực và quốc tế; phát triển mô hình bác sĩ gia đình...

Dư luận tiến bộ trên thế giới đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong các nỗ lực về bảo đảm nhân quyền, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, vì những mục đích cá nhân đen tối, một số đối tượng cực đoan, phản động thiếu thiện chí vẫn không ngừng ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành quả về nhân quyền, chống phá Đảng, Nhà nước bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.

Vụ án nâng giá kit xét nghiệm COVID-19 xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á gần đây là một vụ án nghiêm trọng và có liên quan đến nhiều cán bộ y tế. Lợi dụng sự việc này, trên các trang mạng xã hội, thế lực thù địch, phản động không ngừng tuyên truyền các luận điệu sai trái nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước, cho rằng đứng sau đó có “nhóm lợi ích”, là “đấu đá nội bộ” và đưa ra những suy diễn vô căn cứ về “trùm cuối” khiến dư luận hết sức bức xúc. Cần khẳng định đây là vụ việc rất đau xót, nhưng cũng cho thấy Đảng và Nhà nước ta không khoan nhượng với cái xấu, cái tiêu cực.

Các cơ quan chức năng đã vào cuộc nhanh chóng, quyết liệt, với tinh thần không có “vùng cấm”. Chỉ trong vài tháng qua, đã có hàng chục cán bộ trong ngành y tế bị khởi tố liên quan vụ án này, trong đó, có cả những cán bộ cấp cao. Việc xử lý các cá nhân sai phạm liên quan đến vụ án Việt Á cho thấy sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước với các hành vi sai phạm liên quan đến tham nhũng, đồng thời tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là bảo đảm tốt nhất quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Bởi y tế là lĩnh vực liên quan trực tiếp, mật thiết đến sức khỏe, tính mạng người dân; đội ngũ những người làm y tế phải thật sự trong sạch, liêm chính thì người dân mới được chăm sóc, điều trị trong điều kiện tốt nhất. Các trang thiết bị y tế là để phục vụ việc khám, điều trị bệnh cho nên cần được bảo đảm cao nhất về chất lượng, hiệu quả.

Sự việc nêu trên khiến nhiều người nhớ lại thời điểm chống dịch COVID-19 căng thẳng, những đối tượng phản động không ngừng xuyên tạc các chính sách y tế nhằm bảo đảm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân mà Chính phủ áp dụng để đẩy lùi dịch COVID-19. Chúng đưa ra luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm các quyền tự do đi lại, quyền tự do hội họp, các quyền riêng tư khác khi yêu cầu cách ly, cung cấp thông tin cá nhân, giãn cách xã hội...

Chúng cố tình bỏ qua các quy định pháp luật rất rõ ràng về thực hiện quyền con người trong những điều kiện y tế khẩn cấp. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Theo đó, việc bảo đảm quyền con người còn đòi hỏi mỗi cá nhân phải tôn trọng quyền của người khác, đồng thời, bảo đảm quyền con người cũng phải gắn liền với việc thực hiện trách nhiệm của công dân với đất nước và trách nhiệm của con người với cộng đồng xã hội.

Những năm qua, Việt Nam luôn cho thấy sự tôn trọng, bảo vệ, và thúc đẩy quyền con người trong những tình huống khẩn cấp cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Sự lựa chọn ưu tiên thực hiện “quyền được chăm sóc sức khỏe” của Đảng, Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp điều kiện và bối cảnh thực tế, thực hiện mục tiêu bảo đảm tốt nhất an toàn tính mạng và sức khỏe của mọi người dân./.

ST.

Tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới

Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bảo vệ chính trị nội bộ luôn là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cần kíp, cấp bách hiện nay, bởi vì: (1) Bảo vệ chính trị nội bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là mỗi khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta đều đề ra chủ trương, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội. (2) Thực hiện nghiêm chế độ, thủ tục, quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên trong nội bộ, giữ gìn kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Đảng ta coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức triển khai, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. (3) Nghiên cứu, phát hiện và xử lý kịp thời những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, những đối tượng bị các tổ chức phản động móc nối, lôi kéo, mua chuộc cài cắm vào nội bộ ta. Không để sơ hở, lộ lọt, mất thông tin, bí mật quốc gia để các thế lực thù địch lợi dụng viết bài, tung tin xấu, độc, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. (4) Mấu chốt của bảo vệ chính trị nội bộ là nắm chắc tình hình chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và tổ chức đảng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề vướng mắc, thực hiện tốt chủ trương lấy phòng ngừa, chủ động giữ vững bên trong là chính.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là “làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...”. Đồng thời, xác định “tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng nắm vấn đề chính trị hiện nay. Chủ động đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, nhất là các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, những cán bộ, đảng viên, những người lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ”.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; các biện pháp bảo vệ bí mật, bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của Đảng, Nhà nước và quân đội. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội ta tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Phương châm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là chủ động phòng ngừa là chính, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm những vi phạm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; thận trọng đánh giá, khách quan khi giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Trong xem xét lịch sử chính trị với những vấn đề chính trị hiện nay, thì xem xét vấn đề chính trị hiện nay là chính; giữa bản thân với quan hệ gia đình thì bản thân là chính; giữa quản lý đầu vào với xử lý đầu ra thì quản lý đầu vào là chính; giữa xử lý với sử dụng thì sử dụng là chính. Qua đó, giải đáp được các câu hỏi: Hiện tại người cán bộ, đảng viên như thế nào, có đủ tiêu chí, tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, có đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới hay không?.

Trong thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương, Quân ủy Trung ương đến tổ chức cơ sở đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc tình hình, rà soát, thẩm tra vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay nên công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề bạt cán bộ, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác nhân sự. Kết quả nổi bật của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là đã góp phần quan trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội; cán bộ, chiến sĩ quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục giải quyết tốt hơn, nhất là khắc phục sự bị động, lúng túng trong rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị của các đối tượng; nắm và quản lý tình hình chính trị nội bộ sâu sát, kịp thời hơn. Thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân cần nghiêm túc hơn, không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác, kể cả ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật. Cùng với đó, phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên, chặt chẽ hơn.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tác động, ảnh hưởng tiêu cực của cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, điều đó đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Vì vậy, cần nghiên cứu, thực hiện các yêu cầu để góp phần: (1) Hạn chế đến mức thấp nhất những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ tình hình thế giới, khu vực đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và một số tác động tiêu cực đến tình hình chính trị nội bộ. (2) Giải quyết kịp thời những vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ. (3) Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vi phạm các tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố và nâng cao uy tín; xây dựng niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Để làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn.

Năm là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài. Đồng thời, xem xét kỹ lưỡng về mặt chính trị, nhất là việc nhận xét, đánh giá bảo đảm của cơ quan bảo vệ an ninh theo phân cấp.

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Lợi dụng vấn đề ngôn ngữ để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Gần đây tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số, một số đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số để tung tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động sắc tộc, chia rẽ vùng, miền, gây mất ổn định trật tự-an toàn xã hội... Vì vậy chúng ta cần hết sức cảnh giác, nhận diện rõ vấn đề này một cách kịp thời và đưa ra phương pháp đấu tranh, phòng chống hiệu quả.

Giờ thực hành môn Hóa học của học sinh Trường phổ thông Dân tộc nội trú huyện Krông Bông (Đắk Lắk).

Giờ thực hành môn Hóa học của học sinh Trường phổ thông Dân tộc nội trú huyện Krông Bông (Đắk Lắk).

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người dân tộc; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người dân tộc với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào dân tộc để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng dân tộc ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Năm 1980, Hội đồng Bộ trưởng đưa ra chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số trong Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980, trong đó xác định: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước. Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 cũng quy định rõ các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer,... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như H’Mông, Ê Đê, Jrai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2020, tại Việt Nam, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe các chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh và kênh truyền hình từ trung ương đến địa phương được phát sóng với 26 thứ tiếng dân tộc đã đến được với bản làng xa xôi.

Chỉ tính riêng Đài Tiếng nói Việt Nam đã có 6 chương trình tiếng Việt chuyên sâu về đề tài dân tộc thiểu số; 13 chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số phủ sóng tại các vùng tập trung đông đồng bào dân tộc ít người tại Tây Bắc, Đông Bắc, miền trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ; hơn 400 chương trình phát thanh (giai đoạn từ 2011-2021) để tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số về Chương trình 135, cải thiện sinh kế, nâng cao nhận thức của đồng bào về vấn đề quyền con người...

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người dân tộc thiểu số vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị-xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.

Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số./.

ST.

Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) được Đảng ta xác định là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đường lối, quan điểm, chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự kế thừa và phát triển về tư duy, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính khái quát cao, là kết tinh trí tuệ và sức sáng tạo của toàn dân tộc, vừa có tính tổng kết lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, phản ánh ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta về phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Chủ trương cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước góp phần xây dựng thành phần kinh tế nhà nước phát triển vững mạnh. (Trong ảnh: Công nhân làm việc tại một phân xưởng lắp ráp linh kiện điện tử).

Chủ trương cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước góp phần xây dựng thành phần kinh tế nhà nước phát triển vững mạnh. (Trong ảnh: Công nhân làm việc tại một phân xưởng lắp ráp linh kiện điện tử).

Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó cũng như những thành tựu Việt Nam đã đạt được sau hơn 35 năm đổi mới, các thế lực thù địch vẫn không ngừng tuyên truyền những luận điểm sai trái, xuyên tạc bác bỏ kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam. Thực tế này đòi hỏi cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái về vấn đề này.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng ta thời kỳ đổi mới, là sự lựa chọn khách quan, phù hợp xu thế vận động chung của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, đề cập đến mô hình kinh tế này, một số luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường và định hướng XHCN như "nước và lửa" không thể kết hợp được với nhau, kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản (CNTB), Việt Nam xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN là trái quy luật... Đây đều là sự xuyên tạc vô căn cứ bởi lẽ, thực tế lịch sử cho thấy, kể từ khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp và sự xuất hiện của nhà nước thì nền kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều chịu sự định hướng chính trị của một giai cấp nhất định trong xã hội. Đó là giai cấp nắm trong tay quyền lực nhà nước, thông qua nhà nước, giai cấp cầm quyền sẽ đề ra những chủ trương, chính sách nhằm bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, trước hết là lợi ích kinh tế. Do đó, điểm khác nhau cơ bản giữa kinh tế thị trường TBCN và kinh tế thị trường định hướng XHCN là ở chỗ chúng được định hướng bởi những nền chính trị của các giai cấp cầm quyền khác nhau và phát triển theo những mục tiêu khác nhau. Nếu kinh tế thị trường TBCN được định hướng bởi nền chính trị, nhà nước của giai cấp tư sản, hướng tới mục tiêu tăng trưởng tối đa nhằm phục vụ tốt nhất cho lợi ích của giai cấp tư sản thì kinh tế thị trường định hướng XHCN được định hướng bởi nền chính trị của giai cấp công nhân - giai cấp có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Vì vậy, những đường lối, chính sách phát triển kinh tế mà nhà nước xã hội chủ nghĩa đưa ra trong khi phục vụ, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp công nhân cũng đồng thời phục vụ, bảo vệ lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội. Bởi thế, một trong những nét đặc trưng mang bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN là không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần, trái lại, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi, từng chính sách và suốt quá trình phát triển.

Lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người chứng minh: kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của CNTB, đó là thành tựu phát triển cao của nền văn minh nhân loại, không thể và cũng chưa bao giờ là độc quyền của CNTB. Điều đó đồng nghĩa với việc các nước XHCN đều có thể sử dụng mô hình kinh tế này để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển theo mục đích của mình.

Hiện đang xuất hiện một số luận điểm tập trung chứng minh: khi xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế nghĩa là Việt Nam đang "xoay trục" sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng TBCN, định hướng XHCN chỉ là mị dân, hình thức. Đây hoàn toàn là ý kiến xuyên tạc, bịa đặt. Có thể thấy, trong thời kỳ quá độ, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất, nhằm huy động tối đa sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi giai tầng xã hội vào phát triển kinh tế, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tốc độ tăng trưởng cao.

Đảng, Nhà nước ta xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, do đó sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm để tạo đà cho sự phát triển chung của nền kinh tế. Nhờ đó, thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ. Qua 35 năm đổi mới "kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng từ 39-40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, tỷ lệ đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm khoảng 34,1%,... góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội". Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu: phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60 đến 65%.

Tuy nhiên, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng không đồng nghĩa với việc chúng ta "tư nhân hóa" nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhưng kinh tế nhà nước mới là thành phần giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế (trong đó có kinh tế tư nhân) theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Như vậy, bản thân kinh tế tư nhân ở Việt Nam cũng được định hướng hoạt động và phát triển phù hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của Đảng và Nhà nước chứ không phải phát triển một cách tự phát.

Thực tế cho thấy, dưới sự định hướng theo những nguyên tắc thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội, phần lớn các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam luôn nêu cao việc thực hiện đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội và xác định mục tiêu phát triển của mình là góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm hiện thực hóa những mục tiêu của CNXH: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Do đó, trong những trường hợp cần thiết, họ có thể chấp nhận hy sinh lợi ích, lợi nhuận trước mắt để bảo vệ cho lợi ích chung của nhân dân. Điều này có thể thấy rất rõ trong thời gian chống dịch COVID-19 vừa qua, hưởng ứng chủ trương chung của Đảng, Nhà nước sẵn sàng hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ tốt nhất sức khỏe và tính mạng cho nhân dân, nhiều doanh nghiệp tư nhân mặc dù sản xuất, kinh doanh cũng đang chịu nhiều thiệt hại, thua lỗ bởi dịch bệnh nhưng vẫn sẵn sàng đóng góp bằng nhiều hình thức khác nhau để phục vụ công tác chống dịch.

Với chủ trương cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước Việt Nam, một số quan điểm cho rằng, chủ trương này thực chất là việc tiến hành "tư nhân hóa" nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế thị trường theo hướng TBCN. Song thực tế đã chứng minh, chủ trương này ra đời xuất phát từ thực tế một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, do đó cần cổ phần hóa, cấu trúc lại nhằm huy động vốn đầu tư từ chủ thể của các thành phần kinh tế khác, qua đó, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, góp phần xây dựng thành phần kinh tế nhà nước phát triển vững mạnh, thật sự xứng đáng trở thành nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đều có tốc độ tăng trưởng cao hơn, hoạt động hiệu quả hơn. Chẳng hạn như trường hợp của Vinamilk sau khi cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, quy mô tài sản liên tục gia tăng, khả năng tự chủ tài chính được cải thiện. Tính đến hết năm 2020, Vinamilk đã xuất khẩu đến 55 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2,4 tỷ USD. Hay Sabeco, việc tiến hành cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, thay đổi toàn diện chiến lược kinh doanh là nhân tố chính giúp Sabeco trở thành một trong những công ty dẫn đầu ngành rượu, bia, nước giải khát tại thị trường Việt Nam và trong khu vực...

Đặc biệt, trong chủ trương cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước cũng có quy định rõ về 13 ngành, lĩnh vực Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ; bảy ngành, lĩnh vực, Nhà nước nắm từ 65% vốn điều lệ trở lên(4). Đây đều là những lĩnh vực then chốt, thiết yếu liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng - an ninh để giữ vững vai trò chủ đạo, định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường của kinh tế nhà nước.

Những luận điệu phê phán, phủ nhận, xuyên tạc bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay của các thế lực thù địch đều nhằm hướng đến một đích đến duy nhất là làm chệch hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường, từ đó làm chệch quỹ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, cần hết sức tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai lầm, phi lý và vô căn cứ này; tiếp tục giữ vững niềm tin vào con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn./.

ST.

Không thể phủ nhận nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam

Từ trước tới nay, trong công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người, Việt Nam luôn thể hiện tinh thần cầu thị, sẵn sàng hợp tác, lắng nghe khuyến nghị của các chính phủ, cơ quan, tổ chức quốc tế để có những giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn loại tội phạm này. Tuy nhiên, chúng ta cũng không chấp nhận những đánh giá phiến diện, thiếu khách quan, phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong suốt thời gian qua.

Tuyên truyền cho người dân về phòng, chống mua bán người tại chợ phiên xã Pha Long, huyện Mường Khương (Lào Cai).

Tuyên truyền cho người dân về phòng, chống mua bán người tại chợ phiên xã Pha Long, huyện Mường Khương (Lào Cai).

Từ năm 2000, Văn phòng giám sát và chống buôn người (The Office to Monitor and Combat Trafficking in Persons - J/TIP) trực thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu công bố Báo cáo thường niên về tình hình buôn người (Trafficking in Persons Report - TIP Report) trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, cơ quan này cũng phân loại các quốc gia dựa theo sự tuân thủ của chính phủ những nước này với hệ thống quy định trong Đạo luật Bảo vệ nạn nhân buôn người (Trafficking Victims Protection Act - TVPA) được Hoa Kỳ thông qua năm 2000.

Kể từ khi được ban hành, nội dung trong các bản Báo cáo về tình hình buôn người của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lập tức trở thành chủ đề gây nhiều tranh cãi.

Thí dụ trong bài viết “Nâng cao hiệu quả của luật pháp quốc tế về chống buôn người: Tầm nhìn cho tương lai trong các báo cáo tình hình buôn người của Hoa Kỳ”, đăng trên tạp chí Đánh giá nhân quyền - Nhà xuất bản Springer ngày 1/12/2010, tác giả Anne T.Gallagher nhận định: “Báo cáo nên dựa trên quy định của pháp luật của quốc tế về chống mua bán người thay vì chỉ dựa theo tiêu chí do chính trị gia Hoa Kỳ áp đặt”.

Tương tự, trong bài viết “Thế giới bóng tối của lao động tình dục xuyên biên giới” đăng trên tờ The Guardian ngày 19/11/2008, nhà báo Laura Agustín đưa ra bình luận: “Báo cáo về tình hình buôn người của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ dựa trên phỏng đoán của CIA, cảnh sát và đại sứ quán Hoa Kỳ tại các nước mà không dựa trên sự khác biệt về văn hóa và các tầng lớp xã hội”.

Năm 2016 doanh nghiệp xã hội Seefar - một tổ chức có nhiều hoạt động kinh doanh vì mục tiêu xã hội tại các nước Đông Nam Á cho rằng các báo cáo TIP đưa ra quá nhiều khuyến nghị không phù hợp với bối cảnh và năng lực của một số quốc gia. Bên cạnh đó, tổ chức này cũng lưu ý rằng phần lớn khuyến nghị trong các báo cáo TIP không mang tính kế thừa bền vững, thiếu tầm nhìn dài hạn...

Dù nhận được nhiều góp ý từ các tổ chức quốc tế, giới học giả cho đến báo chí, các báo cáo TIP vẫn không cho thấy sự điều chỉnh cải thiện cách nhìn để bảo đảm sự khách quan, công bằng. Nội dung của Báo cáo TIP 2022 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố mới đây tiếp tục đưa ra nhiều nhận định phiến diện, sai sự thật về tình hình phòng, chống mua bán người ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Cụ thể, Báo cáo TIP 2022 hạ bậc Việt Nam xuống Nhóm 3 - các nước không đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu để loại bỏ nạn mua bán người và không có các nỗ lực để đáp ứng các tiêu chuẩn này.

Điều đáng nói là dù chỉ trích Việt Nam “thiếu nỗ lực đáng kể”, Báo cáo TIP 2022 vẫn buộc phải thừa nhận: Chính phủ Việt Nam đã có những bước tiến để giải quyết nạn buôn người; ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành sáng kiến, chính sách, pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật quốc tế; các cơ quan thực thi pháp luật đã tăng cường hợp tác với các cơ quan có cùng chức năng, nhiệm vụ của các quốc gia trên thế giới… Báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam hỗ trợ nhiều nạn nhân hơn so với năm 2020. Bộ Công an cũng tập trung chỉ đạo nhằm kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm mua, bán người xảy ra ở Việt Nam.

Trên thực tế, từ trước đến nay, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó có công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người được xác định là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài và được thực hiện một cách chủ động. Nhiều văn bản chính sách, pháp luật về phòng ngừa mua bán người, lao động cưỡng bức, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán, bảo vệ trẻ em được ban hành suốt thời gian qua.

Tiêu biểu có thể kể đến như: ngày 10/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 793/QĐ-TTg lấy ngày 30/7 hằng năm là “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc.

Tháng 2/2021 Chính phủ đã ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030. Bên cạnh đó, việc quan tâm, hỗ trợ, chăm sóc các nạn nhân của hành vi mua, bán người được Chính phủ đặc biệt quan tâm, thể hiện thông qua Nghị định số 20/2021/NĐ-CP về việc quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

Cơ chế phối hợp liên ngành trong hoạt động về phòng, chống mua bán người tiếp tục được tăng cường trong năm 2022. Ngày 18/7, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao đã ký quy chế phối hợp tiếp nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân buôn người.

Trước tình trạng mua bán người diễn ra ngày một phổ biến trên không gian mạng, mạng xã hội, ngày 29/7 vừa qua, Bộ Công an phối hợp Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Lễ phát động hưởng ứng “Ngày thế giới phòng, chống mua bán người” và “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người-30/7” với chủ đề “Sử dụng và lạm dụng không gian mạng”, nhằm lan tỏa thông điệp của chương trình và khẳng định cam kết của Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết tâm ngăn chặn nạn mua bán người.

Đồng thời, Việt Nam luôn sẵn sàng tiếp thu, cộng tác với chính phủ, cơ quan, tổ chức quốc tế nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn tội phạm buôn người, hỗ trợ các nạn nhân của mua bán người. Ngày 24/9/1982 Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR). Nhiều năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong việc nội luật hóa Công ước ICCPR và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người nói chung, phòng, chống mua bán người nói riêng thể hiện qua Luật Phòng, chống mua bán người, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2019 và gần đây là Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Do nằm trong khu vực có tình hình buôn người phức tạp, năm 2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cùng các nhà lãnh đạo ASEAN ký Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gia nhập nhiều nghị định, hiệp ước, điều ước, thỏa thuận song phương, đa phương nhằm ngăn chặn tội phạm mua bán người.

Sau khi thông qua Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (Thỏa thuận GCM) vào ngày 19/12/2018, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều kế hoạch, hoạt động tích cực nhằm triển khai thỏa thuận này. Ngày 24/5/2022, Việt Nam đã tham dự Diễn đàn Rà soát di cư quốc tế (IRMF) lần thứ nhất, qua đó, khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong việc củng cố môi trường di cư minh bạch, ngăn chặn nguy cơ mua bán người núp bóng hoạt động di cư quốc tế.

Bên cạnh đó các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả các hiệp định hợp tác song phương và đa phương về phòng, chống mua bán người, chuẩn bị cho Hội nghị liên Bộ trưởng các nước Tiểu vùng Mê Kông mở rộng về phòng, chống mua bán người (COMMIT) và họp Ban chỉ đạo COMMIT khu vực theo đề xuất của Chính phủ vương quốc Thái Lan...

Từ những việc làm cụ thể, có hiệu quả trên thực tế, Việt Nam được đánh giá là thành viên trách nhiệm trong phòng, chống mua bán người. Do đó Báo cáo TIP 2022 về tình hình buôn người tại Việt Nam không phản ánh đúng tình hình thực tế.

Thậm chí, xét trên mặt bằng 188 quốc gia hiện diện trong báo cáo, những kết quả mà Nhà nước Việt Nam đạt được là rất tích cực bất chấp tác động xấu từ đại dịch Covid-19 lên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn 2021-2022. Mặc dù vậy, J/TIP vẫn cố tình hạ thấp những thành tựu này song song với việc thổi phồng một số cáo buộc vô căn cứ.

Ngày 21/7, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra Báo cáo năm 2022 về tình hình mua bán người trên thế giới, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra Báo cáo năm 2022 về tình hình mua bán người trên thế giới với các thông tin không xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam.

Trước những đánh giá phiến diện, vô lý được nêu trong Báo cáo TIP 2022 chính quyền nhiều nước đã bày tỏ thái độ bất bình. Ngoài ra, có thể kể đến phản ứng của các nghiệp đoàn tại Malaysia được phản ánh trên tờ The Star Malaysia ngày 24/7/2022 khi họ đặt nghi vấn về độ tin cậy của các bên đứng sau Báo cáo TIP 2022 vì thiếu cơ sở, phương pháp đánh giá và cách thức thu thập bằng chứng trước khi đưa ra kết luận.

Gay gắt hơn, Chính quyền Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) phát biểu trên trang Tin tức ngày 20/7/2022 tuyên bố Báo cáo TIP 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Hồng Kông vào Danh sách theo dõi Cấp 2 là không công bằng và không phản ánh đúng sự thật; đồng thời lên án những người lập ra báo cáo cố tình can thiệp vào hệ thống pháp luật hiện tại của vùng lãnh thổ này.

Những năm qua, dù không đồng tình với nội dung được nêu trong các báo cáo TIP hằng năm, Chính phủ Việt Nam vẫn giao lưu, hợp tác, tiếp thu kinh nghiệm với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, đồng thời nghiêm túc xem xét, giải quyết các khuyến nghị được nêu ra trong từng báo cáo.

Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn phía Hoa Kỳ trong thời gian tới hợp tác chặt chẽ hơn nữa để có đánh giá đầy đủ về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam, sẵn sàng trao đổi với phía Hoa Kỳ cũng như các bên liên quan về những vấn đề hợp tác cụ thể để cùng nhau triển khai hiệu quả công tác phòng, chống mua bán người.

Song Báo cáo TIP 2022 đã thiếu sự nhìn nhận, đánh giá khách quan, dẫn đến kết quả đưa ra không phản ánh đúng tình hình thực tế, gây bức xúc dư luận. Điều này chắc chắn sẽ làm giảm uy tín, giá trị của các bản báo cáo TIP đối với Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới./.

ST.