Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Bước tiến dài của Việt Nam trong tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc

 Trải qua quá trình 10 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Cục Gìn giữ hòa bình (GGHB) Việt Nam, tiền thân là Trung tâm GGHB Việt Nam, đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng, hoàn thành xuất sắc vai trò, nhiệm vụ của mình, đóng góp vào việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nói riêng.

Sự phát triển của Cục GGHB Việt Nam gắn liền với những bước trưởng thành nhanh chóng của lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam, với nhiều tấm gương quân nhân nỗ lực vượt qua khó khăn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, ngày càng vững vàng trên các cương vị công tác, cống hiến hết mình cho sứ mệnh chung. Hình ảnh người lính mũ nồi xanh Việt Nam tham gia GGHB, góp phần cải thiện cuộc sống cho người dân ở những đất nước châu Phi nghèo đói, chiến tranh đã trở thành nguồn cảm hứng, tạo hiệu ứng tích cực, có ý nghĩa giáo dục lý tưởng sống cao đẹp, trân trọng giá trị của hòa bình, tình yêu thương, trách nhiệm và chia sẻ với cộng đồng.

Mặc dù là lực lượng mới thành lập, làm nhiệm vụ quốc tế xa Tổ quốc, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB Liên hợp quốc (LHQ) đã phát huy truyền thống của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”, có những đóng góp quan trọng vào nhiệm vụ tái thiết, duy trì hòa bình và hỗ trợ nhân đạo của LHQ, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam, của QĐND Việt Nam trên trường quốc tế; góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề an ninh, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới; tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ không ngừng phát triển về số lượng, với chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Từ 2 sĩ quan đầu tiên được triển khai vào năm 2014 tới Nam Sudan, đến nay, QĐND Việt Nam đã cử hơn 800 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp theo hình thức cá nhân và đơn vị tại các phái bộ ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và trụ sở LHQ. Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam ở Nam Sudan đã trở thành địa chỉ chăm sóc sức khỏe uy tín, với những y, bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tụy, hết lòng vì người bệnh, tạo những dấu ấn đặc biệt tại địa bàn. Năm 2022, lần đầu tiên Việt Nam cử đội công binh tới khu vực Abyei-một địa bàn mới, tạo bước đột phá của Việt Nam trong tham gia sứ mệnh GGHB LHQ. Hai đội công binh lần lượt được triển khai tới khu vực Abyei đã và đang hoàn thành xuất sắc sứ mệnh, làm thay đổi diện mạo khu vực bị chiến tranh tàn phá, xứng đáng là những “sứ giả hòa bình”. Trong các cuộc kiểm tra đánh giá năng lực của phái bộ, các đơn vị Việt Nam đều đáp ứng tốt các tiêu chí và tiêu chuẩn của LHQ, đặc biệt có những tiêu chí được đánh giá ở mức xuất sắc.

Các sĩ quan QĐND Việt Nam đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau tại các phái bộ, trong đó có nhiều vị trí mới như: Sĩ quan hậu cần, sĩ quan quân lương, sĩ quan điều phối quân-dân sự, sĩ quan công binh công trình, sĩ quan truyền thông... Trong môi trường làm việc quốc tế, họ đã thể hiện được trình độ, năng lực chuyên môn tốt, một số đồng chí được LHQ đề nghị kéo dài nhiệm kỳ, nhận được giấy khen, thư khen của chỉ huy phái bộ và lãnh đạo LHQ. 

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn, phát huy phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, những người lính mũ nồi xanh Việt Nam đã xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với người dân cũng như chính quyền địa phương, tạo được nhiều thiện cảm, sự tin yêu, biết ơn của họ thông qua các hoạt động hỗ trợ thiết thực giúp cải thiện đời sống của người dân như: Dạy học, hướng dẫn làm nông nghiệp, tặng quà, đóng bàn ghế học sinh, làm nhà, dựng lớp học, khoan giếng, tặng máy phát điện, khám bệnh và phát thuốc miễn phí... 

Cách tiếp cận mới đầy tính nhân văn, nhân đạo vì cộng đồng của QĐND Việt Nam trong tham gia hoạt động GGHB LHQ được chỉ huy phái bộ và lãnh đạo LHQ ghi nhận như một mô hình tham khảo tốt, được ví như “luồng gió mới” trong hoạt động GGHB LHQ. Trong Sổ vàng của Đội Công binh Việt Nam, Thiếu tướng Benjamin Olufemi Sawyerr, Quyền Trưởng phái bộ kiêm Tư lệnh Phái bộ UNISFA đánh giá cao quan điểm tiếp cận với các cộng đồng người dân địa phương của Đội Công binh Việt Nam gắn liền với truyền thống và bản sắc quân đội “vì nhân dân” của QĐND Việt Nam. Theo Thiếu tướng Sawyerr, đây là hoạt động vì cộng đồng mà tất cả các nước cử quân đều nên làm theo vì nó thực sự rất ý nghĩa. 

Là cơ quan tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về tham gia hoạt động GGHB LHQ, trực tiếp chỉ đạo, điều hành lực lượng QĐND Việt Nam tham gia hoạt động này, Cục GGHB Việt Nam đã kịp thời có những đề xuất sát yêu cầu, thực tiễn nhiệm vụ để phát triển lực lượng không ngừng lớn mạnh, cùng nhiều biện pháp, sáng kiến thúc đẩy sự tham gia hiệu quả của Việt Nam vào hoạt động GGHB LHQ. Việt Nam luôn hướng tới đáp ứng các mục tiêu quan trọng của LHQ trong quá trình tham gia sứ mệnh GGHB, trong đó có việc bảo đảm tỷ lệ nữ quân nhân cao, vượt sự trông đợi của LHQ. Những tiến bộ đạt được của Việt Nam trong thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào sứ mệnh GGHB LHQ cũng như hợp tác toàn cầu thực hiện Chương trình nghị sự về phụ nữ, hòa bình và an ninh trong hoạt động GGHB LHQ được các nước và tổ chức quốc tế đánh giá cao.  

Cục GGHB Việt Nam đã phối hợp hiệu quả với các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự đạt chất lượng cao để tham gia hoạt động GGHB LHQ, tạo nguồn cán bộ đáp ứng đủ những điều kiện để ứng tuyển vào các vị trí không chỉ ở trụ sở LHQ mà hướng tới ứng tuyển những vị trí chỉ huy cấp cao ở sở chỉ huy phái bộ, tạo tiền đề quan trọng để Việt Nam có vai trò ở cơ quan cấp chiến lược về GGHB của LHQ, tham gia vào công việc hoạch định chính sách chung về GGHB, từ đó tham gia sâu rộng hơn vào lĩnh vực này. 

Trong quá trình tham gia hoạt động GGHB LHQ, Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ và hỗ trợ nhiệt tình, quý báu của các đối tác, bạn bè trong khu vực và trên thế giới thông qua các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, góp phần nâng cao năng lực tham gia hoạt động GGHB của Việt Nam, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GGHB. Việt Nam đã ký 12 bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực GGHB với LHQ, Liên minh châu Âu và các nước đối tác; đồng chủ trì tổ chức nhiều khóa huấn luyện quốc tế về GGHB, hướng tới trở thành trung tâm huấn luyện GGHB đẳng cấp khu vực và quốc tế, tổ chức thành công các cuộc diễn tập đa phương, song phương quy mô lớn, chủ trì các hội nghị quốc tế về GGHB...

Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, cạnh tranh địa chính trị và xung đột gia tăng, sứ mệnh GGHB LHQ ngày càng đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi lực lượng của các nước cử quân phải đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ cao hơn. Đảng ủy, chỉ huy Cục GGHB Việt Nam xác định nhiệm vụ của Cục GGHB Việt Nam vì thế sẽ ngày càng nặng nề, đòi hỏi toàn bộ cán bộ, sĩ quan của đơn vị phải đoàn kết, phát huy trí tuệ tập thể, nỗ lực không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Theo đó, Cục GGHB Việt Nam tiếp tục quản lý, chỉ huy, điều hành các lực lượng triển khai thực hiện nhiệm vụ tại các phái bộ bảo đảm tuyệt đối an toàn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; hoàn thiện Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Luật về tham gia lực lượng GGHB LHQ. Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất về việc mở rộng địa bàn, phạm vi và lực lượng tham gia hoạt động GGHB LHQ, trước mắt là ứng thi vào vị trí Chỉ huy trưởng Lực lượng Quân cảnh của phái bộ; nghiên cứu khả năng triển khai chó nghiệp vụ để bảo vệ doanh trại các đơn vị của Việt Nam tại địa bàn; tiếp tục tạo nguồn các ứng viên có đủ trình độ, năng lực để ứng thi vào các vị trí tại trụ sở LHQ và sở chỉ huy các phái bộ; tăng cường hợp tác quốc tế về GGHB LHQ...

10 năm là quãng thời gian không dài, nhưng có thể khẳng định Việt Nam đã đạt được bước tiến dài trong tham gia hoạt động GGHB LHQ. Những thành tựu và kết quả đạt được sẽ tạo nền tảng và động lực mạnh mẽ để Cục GGHB Việt Nam lãnh đạo, chỉ đạo thành công hoạt động của lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam, tiếp tục thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao phó, xứng đáng là lực lượng tiên phong của QĐND Việt Nam tham gia sứ mệnh quốc tế, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới.

ĐẤU TRANH KHÔNG KHOAN NHƯỢNG VỚI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, QUYẾT TÂM THỰC HIỆN KHÁT VỌNG XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC THỊNH VƯỢNG

 

 


Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh rằng việc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và đấu tranh chống lại các hành động chống phá của các thế lực thù địch luôn là “tất yếu như nhau”.Hiện nay, với tầm nhìn chiến lược và trí tuệ của Đảng thể hiện ở phương hướng, mục tiêu cách mạng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thông quađã một lần nữa khẳng định và chứng minh con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã thật sự ngày càng sáng tỏ. Con đường đi lên xã hội tốt đẹp đó dựa trên cơ sở vững chắc về lý luận và thực tiễn, được toàn dân ủng hộ, bạn bè thế giới cổ vũ và ngưỡng mộ. Đồng thời, đó là sự tiếp nối thành công không thể phản biện của cách mạng nước ta 91 năm qua từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập với vai trò và công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.Một hiện thực khác, chúng ta không được phép quên rằng sự chống phá của các thế lực thù địch là không có “biên độ” nội dung, đơn giản về cách thức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và cần tỉnh táo nhận diện, chỉ rõ. Đầu tiên là các đảng phái phản động, lưu vong với hình thức và phương tiện phổ biến của chúng là lợi dụng quá trình hội nhập, mở cửa của Việt Nam, các kênh truyền thông (báo, đài, mạng xã hội, công nghệ v.v…) tấn công, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò cầm quyền – lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như hệ thống đường lối, chính sách, chủ trương trên mọi góc độ của từng lĩnh vực. Mục tiêu không gì khác của chúng là tấn công vào lý tưởng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhân dân ta, thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam. Thứ đến là hoạt động chống phá, thù địch của những phần tử cơ hội chính trị, phản động hoặc bất mãn móc nối với các thế lực bên ngoài tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, bóp méo lịch sử, bôi nhọ hình ảnh, uy tín lãnh tụ, lãnh đạo v.v… Bên cạnh đó là nhóm đối tượng lợi dụng việc thiếu thông tin; trình độ giác ngộ chưa cao, chưa đầy đủ của một bộ phận Nhân dân, nhất là các địa bàn tập trung nhiều dân tộc thiểu số về các vấn đềtôn giáo, nhân quyền, dân chủ; một số cán bộ, đảng viên thuộc dạng/hoặc có biểu hiện “suy thoái”,  đã “biến chất”, rơi vào các biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” như  Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI và XII đã chỉ ra. Ngoài ra, có thể dựa vào động cơ, mục đích; nội dung phát ngôn v.v… để nhận dạng, phân biệt bạn bè, đồng chí hay đối tượng, đối tác của cách mạng. Các nhóm đối tượng có chung mục tiêu nên dễ dàng liên kết nhau, hợp thành lực lượng đông đảo, nguy hiểm, sẵn sàng tấn công khi có cơ hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc đấu tranh phản bác hành động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch trong thời gian qua đã giành được nhiều thành tựu quan trọng đều khắp trên các mặt trận tư tưởng lý luận, thực tiễn và pháp lý, góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Viêt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, đây là mặt trận “trường kỳ”, giằng co, giới tuyến rõ ràng nhưng không có tiếng súng đòi hỏi phải đảm bảo tính Đảng, tính khoa học, tính chính trị với tinh thần tiến công không ngừng.

Sự chống phá của các thế lực thù địch không làm thay đổi con đường phát triển với khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam

Sự chống phá của các thế lực thù địch trong việc xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự phản bác đanh thép của thực tiễn cách mạng Việt Nam

Âm mưu không mới nhưng cực kỳ nguy hiểm, gian xảo của các thế lực thù địch là đả kích chủ nghĩa Mác-Lênin và người đã có công lao lớn nhất đưa học thuyết này vào Việt Nam - Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đây là âm mưu liên hoàn mục đích, đa mục tiêu. Vì sao các đối tượng trên bắt đầu từ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh? Chúng bắt đầu từ Chủ tịch Hồ Chí Minh để không chỉ dùng các phần mềm công nghệ bôi nhọ hình ảnh của cá nhân lãnh tụ, mà còn phủ nhận công lao, vai trò, tư tưởng của Người. Đó là cơ sở để chúng hướng đến mục đích song trùng là bài xích, đả kích chủ nghĩa “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất” – tức chủ nghĩa Mác-Lêninđể nhằm đạt mục tiêu“liền kề” cũng là cuối cùng của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. “Lập luận cùn” của các nhóm đối tượng này cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác –Lênin làm nền tảng tư tưởng do Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá vào nước ta đã gây nên họa “nồi da nấu thịt”, dẫn đến sự đổ máu không cần thiết trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước trước đây; là nguyên nhân của trì trệ, lạc hậu, yếu kém hiện nay và đưa tương lai dân tộc đến một “xã hội không tưởng”, “không bao giờ bằng chế độ tư bản chủ nghĩa” với những so sánh khập khiễng về kỹ thuật, khiên cưỡng về học thuật và vô lý về dữ liệu. Thực tế đáng lưu tâm rằng, việc xét lại lịch sử với tinh thần bất chấp thực tiễn, giọng điệu hằn hộc, lập luận hậm hực, thái độ đầy chia rẽcủa chúng đã lôi kéo được không ít ngườivô tình” hoặc cố tình “nhẹ dạ”, “nhận thức chưa tới” bám theo, dựa vào và hành động một cách mù quáng, u minh. Thật ra, đó là những kẻ chống phá không phải từ sự khác biệt về văn hóa, hay một điều gì khác, mà lại là những người cùng tổ tiên Lạc Hồng, cùng Tổ quốc. Có chăng đó là sự khác biệt ở nhận thức, tư tưởng về con đường phát triển của dân tộc để mưu cầu lợi ích cá nhân từ “ai đó”, hoặc đơn giản chỉ để thỏa mãn suy nghĩ lệch lạc, cực đoan của mình mà họ nhân danh mỹ miều là quyền cá nhân, quyền dân chủ, quyền công dân, quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng hay quyền con người. Công thức của chúng là: dùng dữ kiện thực tếhoặc tạo ra để xuyên tạc quyết sách của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, cơ sở để từ đó “bào mòn” niềm tin của Nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng hướng đến cái lớn hơn là nền tảng tư tưởng của Đảng - là mục tiêu “ẩn” của chúng. Trong số những nhóm đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhđó, có những người được Đảng, Nhà nước đào tạo bài bản từ tiền thuế của Nhân dân, có “danh”, có “phận” trong xã hội vẫn “tự diễn biến” hoặc do sự lôi kéo của các thế lực cực đoan để rồi phải “quay lưng” lại với Tổ quốc mình bằng các phát ngôn tiêu cực, đến những hành vi chống phá trong thực tế bất chấp pháp luật và nhân danh yêu nước một cách trơ trẽn, giả hiệu.

Chúng ta biết rằng, trong lịch sử tư tưởng của dân tộc, đến thời điểm thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), thế giới quan triết học mà cụ thể là của hệ tư tưởng phong kiến đã thể hiện rõ sự bế tắc. Vì thế, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp diễn ra oanh liệt với nhiều tấm gương anh hùng trong cả nước nhưng cuối cùng đều thất bại. Đó không phải là sự thất bại của từng phong trào cụ thể, mà đó là thể hiện sự bế tắc về thế giới quan trong tư tưởng của nước ta lúc bấy giờ. Từ đó dẫn đến sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc. Dân tộc Việt Nam ở giai đoạn này đấu tranh không phải để tìm “ông vua” triều Nguyễn thứ 14, mà lịch sử đang đòi hỏi phải có một con đường khác, một hệ tư tưởng khác có thể cứu nước, cứu dân và xây dựng một nấc thang mới, một thời đại mới của dân tộc trong tương lai.Khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, thế giới quan phong kiến đã kết thúc,các tư tưởng khác có mặt ở Việt Nam lúc bấy giờ đã bị chính lịch sử dân tộc “từ chối”. Có thể nói đó là sự đổi ngôi mang tính bước ngoặc trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng dân tộc.Ở góc độ truyền thống văn hóa tiếp nhận, người dân Việt Nam đón nhận và thừa nhận quan điểm, thế giới quan triết học Mác-Lênin vì đúng với yêu cầu và xu thế phát triển của dân tộc mình. Với chù nghĩa Mác-Lênin, dân tộc Việt Nam có được thế giới quan mới khoa học, cách mạng và thành công đến hôm nay. Chủ nghĩa Mác-Lênin với bản chất cách mạng và khoa học đó đã giải phóng được sự bế tắt về thế giới quan, giải đáp được bài toán con đường giải phóng dân tộc và khát vọng của Nhân dân Việt Nam. Truyền thống dân tộc, văn hóa dân tộc, lịch sử tư tưởng dân tộc và chủ nghĩa Mác-Lênin đã hòa quyện, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tiễn đã chứng minh con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta chọn lựa là hoàn toàn đúng đắn. Cần nhắc lại rằng, khi chủ nghĩa Mác-Lênin truyền bá vào nước ta trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ở nước ta tồn tại và diễn ra những cuộc tranh luận, đấu tranh về tư tưởng sôi nổi và quyết liệt bởi các nhân sĩ và nhiều thực thể khác như “chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề”, hay như “chủ nghĩa cải lương”, “hòa bình cách mạng” v.v… Diễn biến này kéo dài sau khi Đảng ta được thành lập, nhất là sự xuất hiện của nhóm Tờ-rốt-kít “với chủ nghĩa hư vô dân tộc”, hay “chủ nghĩa chống cộng” đang hoạt động mạnh mẽ v.v… Dữ liệu đó chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, phát triển ở Việt Nam không phải là “độc tôn”, mà là sự lựa chọn của lịch sử một cách thuyết phục nhất, “đường hoàng” nhất, “chính danh” nhất. Kết quả là một quốc gia mà trước đó 15 năm còn là thuộc địa của thực dân đế quốc đã làm nên Cách mạng Tháng Tám (1945) lừng lẫy, đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ to lớn trong tiến trình lịch sử của dân tộc, đưa Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Với cách mạng và dân tộcViệt Nam,chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tư tưởng vô giá. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đó vẫn là hệ thống lý luận cách mạng để xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân và cũng là đảng của dân tộc Việt Nam. Đó vẫn là học thuyết chỉ nam cho hành động cách mạng để xây dựng toàn bộ hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối cho thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó vẫn là học thuyết nền tảng để xây dựng tổ chức trong hệ thống chính trị nước ta; là tư tưởng cốt lõi để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng và xã hội. Đó vẫn là lý luận khoa học để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên cho Đảng qua mọi thời kỳ cách mạng. Đó vẫn là ngọn hải đăng trên con đường quá độ lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam kể từ khi hệ tư tưởng phong kiến chấm dứt sứ mệnh lịch sử cùng với triều đại nhà Nguyễn, chưa có tư tưởng nào làm được. Đó là sự thật hiển nhiên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân ta đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là tiếp nhận một “quỹ đạo” phát triển mới cho dân tộc – quỹ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến lên xã hội cộng sản tốt đẹp. Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch vẫn sẽ còn tiếp diễn bởi chúng không bao giờ từ bỏ dã tâm chống phá cách mạng nước ta. Với bản chất phản động và chống cộng, các thế lực thù địch luôn thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn để xuyên tạc hệ thống lý luận cách mạng chân chính, khoa học này. Chúng không bao giờ hiểu hoặc cố tình lờ đi “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít”.

Tóm lại, “hạt giống” chủ nghĩa Mác-Lênin mà Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh gieo trồng được chăm sóc bằng truyền thống yêu nước, cần cù lao động của nhân dân Việt Nam cách đây hơn một thế kỷ đã phát triển ngày càng to lớn, đem lại nhiều quả ngọt. Do vậy, với lòng tự hào chính nghĩa, chúng ta trung thành và xem chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cách mạng nước ta.

Khát vọng của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, vươn lên thành quốc gia phát triển, thịnh vượng là một tất yếu lịch sử

Nhân dân Việt Nam ngay từ khi chính đảng của mình được thành lập đã xác định rõ con đường phát triển là tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó là sự kiên định của một dân tộc vốn trải qua ngót hơn trăm năm sống dưới gót giầy ngoại xâm, thà hi sinh tất cả chứ “nhất định không chịu mất nước, nhất định không làm nô lệ”.Đất nước ta gần 40 năm đổi mới (1986-2024) đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Thế nhưng các thế lực thù địch bên ngoài cố gắng hàng ngày để tuyên truyền phủ nhận thành tựu, chăm chăm vào các hạn chế, chúng muốn Việt Nam phát triển và thịnh vượng theo triết lí tư bản làm giàu cho một ít phần trăm dân số nhưng ôm giữ hầu như gần trọn vẹn thu nhập quốc dân. Chúng đã và sẽ tiếp tục tung hô giá trị phương Tây mà không khó để nhận ra bên ngoài là hình thức, còn bên trong là bản chất bóc lột tinh vi đến mức công nhân phải gục trên dây chuyền sản xuất.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra các mục tiêu chiến lược cụ thể: đến năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đây cũng là mục tiêu chiến lược của Đảng ta trong nhiệm kỳ 2021-2026 và các giai đoạn tiếp theo. Mục tiêu trên là hun đúc khát vọng của một dân tộc hàng nghìn năm văn hiến, quyết tâm vươn lên phát triển trong thời đại mới. Đồng thời, đó còn là mục tiêu được kết tinh từ lịch sử tư tưởng của dân tộc đã chiến thắng âm mưu và “quy luật” đồng hóa hơn một nghìn năm bởi thế lực ngoại bang, vẫn giữ gìn được bản sắc, truyền thống của mình. Có thể nói, xây dựng một quốc gia thịnh vượng là khát vọng của dân tộc ta trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước theo hệ tư tưởng mới, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, khát vọng đó được hòa quyện và thể hiện trong từng quyết sách, chủ trương, mục tiêu lãnh đạo của Đảng, phù hợp với các giai đoạn vận động, phát triển của cách mạng. Đại hội Đảng lần thứ XIII đã xây dựng nội dung, quan điểm chỉ đạo, xác định mục tiêu nhằm hiện thực hóa ý chí, quyết tâm, khát vọng xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi lập luận xuyên tạc của các thế lực thù địch về sự lựa chọn và kiên định con đường phát triển đất nước của Nhân dân Việt Nam không bao giờ thành công.

Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với sự ủng hộ không thể đong đếm của Nhân dân. Sư ủng hộ của Nhân dân không chỉ thể hiện ở sự tin tưởng vào Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, học thuyết chân chính và cách mạng nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn ở tâm thế xã hội. Hàng triệu người dã hi sinh trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại của đất nước mình và hiện nay vẫn còn hàng triệu người khuyết tật do bom, mìn trong chiến tranh còn sót lại.Theo số liệu thống kê, đến tháng 12-2020, nước ta vẫn còn 5,640 triệu héc-ta đất bị ô nhiễm bom, mìn, chiếm 17,1% diện tích đất tự nhiên cả nước. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã luôn nỗ lực để làm sạch các khu vực bị ô nhiễm bom, mìn, vật nổ trên cả nước. Đến hết năm 2019, đã có gần ba triệu người khuyết tật được cấp giấy xác nhận khuyết tật, các đối tượng đã được trợ cấp hằng tháng, tặng nhà tình nghĩa, phương tiện nghe nhìn, học nghề, hỗ trợ sinh kế...

Là cán bộ, đảng viên không đượcquên hay thời ơ những con số đó. Lý trí của người cán bộ, đảng viên không được mơ hồ trong nhận thức và hành động cách mạng. Đồng thời, không được lơ là, mất cảnh giác đối với mọi sự phá hoại có hệ thống và lâu dài của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 


Nội dung cơ bản của tư tưởng nhà nước pháp quyền là: nhà nước mà trong đó mọi chủ thể (kể cả các cơ quan nhà nước) đều phải nghiêm chỉnh phục tùng pháp luật, một pháp luật có tính pháp lý cao, phù hợp với lý trí, thể hiện đầy đủ những  giá trị cao cả nhất  của xã hội,  của con người. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền, đã có từ lâu đời trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên, nhà nước và pháp luật đều là công cụ thống trị  của một giai cấp đối với toàn xã hội, do vậy tư tưởng nhà nước pháp quyền trong các chế độ xã hội không thể giống nhau. Do vậy, tìm hiểu tư tưởng nhà nước pháp quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, giúp chúng ta quán triệt tư tưởng của Đảng, góp sức mình biến tư tưởng  của Đảng thành hiện thực. Đặc biệt trong tình hình hiện nay khi mà  tệ tham nhũng, quan liêu đang trở thành quốc nạn, thì tư tưởng nhà nước pháp quyền  của Đảng là cơ sở lý luận để xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, xứng đáng là nhà nước  của dân, do dân, vì dân.

 Cùng với những  thành tựu  to lớn về nhiều mặt của công cuộc đổi mới, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng nhà nước ngày càng sáng rõ, cho phép Đảng ta khẳng định quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền  của dân, do dân, vì dân. Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo  của Đảng. Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ  của nhân dân, là nhà nước pháp quyền  của dân, do dân, vì dân.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật.

 Những  luận điểm nêu trên thể hiện những  nội dung cơ bản nhất về: bản chất, đặc điểm, tổ chức  của nhà nước pháp quyền ở nước ta. Đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, vừa là tiếp thu có chọn lọc tư tưỏng và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền đã có trong lịch sử, phù hợp với đặc điểm và quá trình xây dựng nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ mới.

Xây dựng nhà nước thực sự của dân, do vì dân là quan điểm nhất quán  của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam trong toàn bộ tiến trình cách mạng. Vì vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay  thực chất là xây dựng nhà nước thực sự  của dân, do dân, vì dân. Nhà nước pháp quyền mà chúng ta xây dựng là nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bản chất giai cấp  của nhà nước pháp quyền ở nước ta vẫn là bản chất giai cấp công nhân, khác hẳn với bản chất  của nhà nước pháp quyền tư sản .

Trong nhà nước pháp quyền ở nước ta, nhân dân thực sự là chủ thể  của quyền lực nhà nước, là người tổ chức ra nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt động  của nhà nước; nhà nước là hình thức quyền lực  của nhân dân, thông qua nhà nước mà quyền lực  của nhân dân mang tính quyền lực nhà nước và có hiệu lực trên thực tế ở phạm vi cả nước. Sức mạnh và quyền lực  của nhà nước đều bắt nguốn từ nhân dân, chứ không phải nhà nước là người ban quyền lực cho nhân dân. Nhân dân là người uỷ quyền cho nhà nước, nhà nước và cán bộ công chức  của nhà nước phải thực thi đúng quyền lực mà nhân dân giao cho.

Hồ Chí Minh đã căn dặn: các cơ quan  của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc  của dân, nghĩa là ngánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như thời kỳ dưới quyền thống trị  của Nhật, Pháp. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Thấu suốt tư tưởng  của Hồ Chí Minh,  Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ  của nhân dân. “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh.Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.”

Khi bàn về chế độ dân chủ Các Mác cho rằng: chế độ dân chủ thực chất là chế độ do dân tự quy định nhà nước. Vì vậy, với tư cách là công cụ thực hiện quyền làm chủ  của nhân dân, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải chủ động tạo môi trường, cơ chế và điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, thực hiện quyền làm chủ  của mình trong tất cả các phương diện  của đời sống xã hội.

Trước hết, nhà nước phải tổ chức tốt quá trình dân chủ hoá trên các phương diện: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Về hoạt động lập pháp: cần tổ chức lấy ý kiến  của nhân dân vào các dự án luật, tổ chức trưng cầu ý kiến nhân dân về các vấn đề quan trọng  của đất nước; tổ chức quá trình làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp. Về hoạt động hành pháp: tổ chức cho nhân dân đóng góp ý kiến vào kế hoạch phát triển  kinh tế xã hội, vào các quá trình qủan lý; thu hút nhân dân tham gia thực hiện quản lý theo ngành, theo lãnh thổ; tổ chức cho nhân tham gia giải quyết những  tranh chấp, khiếu nại, tố cáo  của công dân trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước.

Về hoạt động tư pháp: thu hút, huy động tối đa khả năng  của nhân dân,  của các tổ chức xã hội và tổ chức nghề nghiệp tham gia rộng rãi các hoạt động tư pháp, thông qua đó năng cao năng lực làm chủ nhà nước và trách nhiệm chính trị  của nhân dân đối với nhà nước; tạo điều kiện để nhân dân làm quen với công việc quản lý nhà nước.

Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước ta, tất cả quyền lực mà nhân dân uỷ thác cho nhà nước  phải được tổ chức phù hợp để phát huy sức mạnh  của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực sự làm chủ trong kiểm tra, giám sát hoạt động  của các cơ quan nhà nước, tránh sự lạm dụng quyền lực từ phía nhà nước. Do đó, quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất, không phân chia quyền lực cho các cơ quan nhà nước theo kiểu chế ước lẫn nhau như  nhà nước pháp quyền tư sản. Mặt khác tập trung quyền lực luôn gắn chặt với sự phân công quyền lực cho các cơ quan nhà nước, phối hợp thực thi các chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Để tạo khuôn khổ cho quá trình thực hiện quyền làm chủ  của nhân dân, nhà nước phải thường xuyên quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ nghiêm kỹ cương xã hội. Nhà nước thể chế hoá đướng lối, chủ trương lãnh đạo  của Đảng, thể chế hoá quyền, nghĩa vụ, lợi ích chính đáng  của nhân dân trong hệ thống pháp luật để khi ban hành nó có hiệu lực pháp lý cao, buộc mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức và mọi công dân phải có nghĩa vụ chấp hành.

 Mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh đó là nguyên tắc  của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hồ Chí Minh đã dạy: giải quyết mọi công việc phải thấu lý  trọn tình, phải có lòng khoan dung độ lượng, nhưng pháp luật phải thẳng tay trừng trị những  kẻ bất liêm, bất kể kẻ đó ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì.

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, mặt trái  của cơ chế thị trường cũng đang thường xuyên tác động đến mọi mặt  của đời sống xã hội, đặc biệt là tệ quan liêu tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Không ít cán bộ, công chức nhà nước lợi dụng chức quyền để thực hiện hành vi tham nhũng, móc ngoặc tạo thành vây cánh để che chắn cho nhau trước pháp luật. 

Tệ tham nhũng đã trở thành một quốc nạn, là một trong bốn nguy cơ de doạ đến sự tồn vong  của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. “Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp…tệ quan liêu, tham nhũng lãng phí chưa bị đẩy lùi”. Một giải pháp có tính chất chiến lược để đấu tranh chống tệ quan liêu và tham nhũng là phải xây dựng được một nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân.

 Muốn xây dựng nhà nước pháp quyền thực sự  của dân, do dân, vì dân thì vấn đề quan trọng hàng đầu là yếu tố con người. Phải lựa chọn, đào tạo những  con người có đủ phẩm chất và năng lực đứng vững trước những cám dỗ, cạm bẫy  của cơ chế thị trường. Mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, đòi hỏi phải có tiêu chuẩn khác nhau đối với những  cán bộ  của bộ máy nhà nước. Hơn bao giờ hết, hiện nay chúng ta càng thấm thía lời dạy  của Lê-nin: “ Trong vấn đề cải tiến bộ máy nhà nước, những  yêu cầu đối với con người không hoàn toàn giống như những  yêu cầu đối với thời chiến tranh”. Muốn xây dựng bộ máy nhà nước thật sự có chất lượng, xứng đáng với với danh hiêụ nhà nước xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đầu tiên đối với con người  là phải có trình độ văn hoá cần thiết.

 Muốn có đủ trình dộ văn hoá cần thiết, cần phải học tập và chỉ có học tập, cứ không thể chỉ sử dụng bất cứ một trong những  đức tính tốt đẹp nhất  của con người; không thể thay thế kiến thức, học thức bằng sự sốt sắng, hấp tấp, vội vàng. Đồng thời việc học tập không phải nhằm mục đích tự thân; những  kiến thức đã học phải thực sự gắn với cuộc sống, phải trở thành một bộ phận khăng khít  của cuộc sống phục vụ đắc lực cho cuộc sống. Để phát huy hiệu quả  của đào tạo, phải bố trí sử dụng hợp lý, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực  của từng người.

Thực tế hiện nay ở nước ta còn có khoảng cách rất lớn giữa đào tạo và sử dụng trong toàn xã hội nói chung cũng như trong bộ máy nhà nước; nơi thừa, nơi thiếu, làm việc không đúng chuyên môn được đào tạo, làm lãng phí thời gian và tiền bạc  của từng cá nhân cũng như toàn xã hội, hiệu quả công tác thấp. Để khắc phục được thực trạng nêu trên cân phải thực hiện nguyên tắc: xuất phát từ việc để bố trí người chứ không phải từ người mà bố trí việc.

Để xây dựng nhà nước pháp quyền thực sự  của dân, do dân ,vì dân thì một nội dung không kém phần quan  trọng là: đội ngũ cán bộ công chức nhà nước phải được đãi ngộ một cách xứng đáng với lao động  của họ. Thu nhập  của cán bộ công chức nhà nước bảo đảm để họ có sống cao hơn mặt bằng chung  của xã hội. Tất nhiên, các khoản thu nhập phải được công khai hoá, tiền tệ hoá, chống các thu nhập có tính chất đặc quyền, đặc lợi. Với mức thu nhập như vậy, không cần tham nhũng cán bộ công chức  vẫn sống đàng hoàng.

Đi cùng với chế độ đãi ngộ xứng đáng thì cũng cần phải có những chế định về pháp luật và kinh tế, để cán bộ công chức nhà nước không dám tham nhũng. Trước hết về pháp luật cần quy định khung hình phạt nặng hơn đối với cán bộ, công chức nhà nước vi phạm pháp luật; cùng một hành vi vi phạm, nhưng cán bộ giữ cương vị càng cao thì hình phạt càng nặng. Về kinh tế, nếu cán bộ công chức nhà nước tham nhũng gây thiệt hại về kinh tế thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về kinh tế; để tránh tẩu tán tài sản cho con, cháu, họ hàng, pháp luật cũng cần có quy định: con, cháu, họ hàng  của người tham nhũng phải chứng minh được tính hợp pháp tài sản  của mình, nếu không tài sản  của con, cháu, họ hàng sẽ bị tịch thu để bồi thường thiệt hại kinh tế  mà người tham nhũng đã gây ra.

Để chống tham nhũng có hiệu quả cần phải tạo ra cơ chế để những  người muốn tham nhũng cũng không thể tham nhũng được. Muốn vậy phải thực hiện công khai, minh bạch mọi hoạt động  của bộ máy nhà nước: công khai công tác cán bộ; công khai thu nhập, quyền lợi và nghĩa vụ  của cán bộ, công chức nhà nước; công khai thu chi tài chính… Đồng thời với công khai phải phát huy được vai trò  của tổ chức Đảng, các tổ chức quần chúng trong việc giám sát mọi hoạt động  của cán  bộ và công chức nhà nước.

Đặc biệt là phải phải phát huy được vai trò giám sát của nhân dân, vì  không có một hành vi nào có thể qua được tai mắt  của quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, để nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, cần phải có những  hình thức và biện pháp có hiệu quả để bảo vệ những  người  dũng cảm đứng ra tố cáo những  hành vi tham nhũng. Tham nhũng là quốc nạn, là giặc nội xâm, vì vậy những người dũng cảm chống tham nhũng phải được khen thưởng xướng đáng kể cả vật chất và tinh thần, phải được tặng thưởng những  danh hiệu cao quý  của nhà nước. Thực hiện những nội dung trên đây chính là tạo ra một cơ chế để cán bộ, công chức nhà nước không cần, không dám, không thể tham nhũng.

Sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay, đòi hỏi phải đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo định hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đấu tranh chống tệ quan liêu tham nhũng.

“ Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”. Quá trính đó đòi hỏi Đảng ta phải trung thành với học thuyết Mác- Lênin về nhà nước pháp luật; trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; tiếp thu có phê phán tư tưởng, thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền và kinh nghiệm đấu tranh chống tham nhũng  của các nước trên thế giới. Trên cơ sở đó, phải không ngừng đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo, định ra phương hướng chủ trương giải pháp cụ thể để từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam thực sự là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, đủ sức mạnh hoàn thành sứ mệnh vẻ vang xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH MÃI LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG VÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Tổng kết thành tựu những năm đổi mới ở nước ta, Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu, trong đó bài học hàng đầu là phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) của Đảng khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Tuy nhiên hiện nay các thế lực thù địch không ngừng đưa ra các luận điệu phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy việc bảo vệ và khẳng định vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và việc phản bác lại các luận điệu phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là rất cần thiết.

Các luận điểm sai trái, thù địch chống phá, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh rất đa dạng, với nhiều luận điệu khác nhau. Qua nghiên cứu, theo dõi có thể khái quát, nhận diện luận điểm sai trái ở một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, xuyên tạc, bác bỏ lý luận hình thái kinh tế - xã hội mác xít nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.

 Các lực lượng phản động, cơ hội chống đối chính trị sử dụng một số trang mạng trên Internet làm phương tiện để phát tán, đăng tải các học thuyết chính trị tư sản: Thuyết thế giới phẳng, thuyết hội tụ, thuyết ba làn sóng văn minh… Mục đích nhằm phủ nhận lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, tuyệt đối hóa yếu tố khoa học, kỹ thuật, coi đó là yếu tố quyết định sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Quan điểm này về thực chất là phủ nhận vai trò đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, cho tới nay xã hội loài người đã trải qua bốn hình thái kinh tế - xã hội và đang quá độ tiến vào hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa theo đúng quy luật vốn có của nó.

 Hai là, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Trước sự phát triển mới của chủ nghĩa tư bản và những biến đổi trong giai cấp công nhân, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc và lập luận rằng: giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, do vậy sẽ không thể lật đổ được chế độ cũ và lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển.

  Ba là, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Các thế lực thù địch hiểu rõ việc tiến công một cách trực diện vào tư tưởng Hồ Chí Minh là rất khó, vì vậy chúng đã đi đường vòng. Chúng cho rằng, hiện nay chủ nghĩa Mác - Lênin đã “lỗi thời”, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, phù hợp với dân tộc Việt Nam. Do đó, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh, đề cao “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây thật sự là một chiêu trò rất nguy hiểm của một số người nhân danh “cấp tiến” trong mục tiêu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh.

  Bốn là, cổ xúy cho luận điểm “quân đội phi giai cấp”, “quân đội nhà nghề” nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.

Để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị sử dụng nhiều phương thức. Về tư tưởng, lý luận, họ lập luận rằng: quân đội là công cụ của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng, chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào.

Để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam có hiệu quả, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới là một trong những biện pháp tốt nhất để tiếp tục tuyên truyền, vận dụng sáng tạo vào điều kiện của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, nhận diện quan điểm sai trái cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Giáo dục, nâng cao nhận thức và nhận diện được quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là vấn đề hết sức quan trọng. [3] Tình trạng nhận thức, nhận diện không chính xác các quan điểm sai trái, thù địch có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản nhất là do chúng ta chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chưa tuyên truyền sâu rộng trong xã hội.

Ba là, kiên quyết, chủ động vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch.

 Để đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, trước hết chúng ta cần nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mà các lực lượng phản động, cơ hội chính trị sử dụng để chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm minh. Hơn nữa, cần sớm phổ biến kịp thời tới các lực lượng tham gia đấu tranh để sớm nhận diện và ngăn chăn kịp thời khi chúng mới manh nha thực hiện.

Bốn là, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao.

Thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, tiếp tục thực hiện có hiệu quả sinh hoạt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) “về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Năm là, phát huy vai trò của các lực lượng, phương tiện từ Trung ương đến địa phương trong tuyên truyền, đấu tranh chống các luận điểm sai trái.

Sử dụng và phát huy hiệu quả các cơ quan báo chí, truyền thông, bám sát các sự kiện chính trị của đất nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để xác định nội dung, biện pháp tuyên truyền, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta; nêu cao ý thức cảnh giác, chủ động phát hiện và đấu tranh kịp thời với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Thường xuyên quán triệt, định hướng tư tưởng nhất là các vụ việc nhạy cảm trong xã hội; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tích cực hoạt động, chia sẻ các trang, bài viết hay về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phản bác lại các quan điểm lệch lạc, nhận thức chưa đúng về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng; đối với HSQ, CS phải ra sức học tập nhất là các vấn đề lý luận, tìm hiểu các ngày truyền thống của Đảng, Nhà nước và Quân đội; tích cực học tập và làm tốt 10 lời thề, 12 điều kỷ luật; thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ được giao. Hiện tại tất cả các quan nhân phải thường xuyên quán triệtvà thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.