Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng - Suốt đời tâm huyết với biên cương

 

Tôi gặp Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng vào những ngày cuối tháng 12-2012, sau Đại hội Cựu Chiến binh Việt Nam lần thứ V. Lúc này, ông đang làm công tác bàn giao chức Phó chủ tịch thường trực Hội cho người kế nhiệm của Ban Chấp hành mới. Lần đầu tiên được làm việc với ông, vị tướng ở tuổi 75, mà sức vẫn "cường", trí vẫn "mẫn", một con người thực sự tâm huyết, nhiệt thành, thẳng thắn.

Ít lời xã giao ngắn gọn, ông vào việc ngay. Từ cặp da màu đen, ông rút ra tập tài liệu khoảng 30 trang giấy A4 đưa cho tôi. Tôi lướt vội, trang bìa trên cùng in dòng chữ "Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng", giữa trang là tiêu đề tài liệu: "Một số bài phát biểu của Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng về công tác bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới trong tình hình mới". Cuối trang bìa ghi thời gian ấn phẩm "Năm 2000". Rồi ông nói thêm: 

- Đây là tài liệu do Phòng Khoa học - Công nghệ tập hợp các bài tôi viết đăng trên các tạp chí Trung ương, các bài nói của tôi ở một số hội nghị. Anh nghiên cứu làm tài liệu tham khảo. Anh yêu cầu gì cứ trao đổi với tôi, tôi sẵn sàng đáp ứng.

Đối với tôi, viết về chân dung vị tướng thì tài liệu kia chỉ phản ánh một phần rất nhỏ trong thân thế, sự nghiệp của ông. Chính vì vậy, buổi làm việc với ông hôm nay, tôi muốn tìm hiểu cặn kẽ quá trình hoạt động, những cống hiến của ông đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng. Ấn tượng của tôi với ông là phong cách làm việc cởi mở, dễ gần, rất chỉn chu, cẩn trọng. Xen lẫn những câu chuyện hệ trọng trong đời, trong nghiệp là kinh điển, phương ngôn kim cổ Đông, Tây mà ông đã trải nghiệm, thật hóm hỉnh. Ông làm cho không khí buổi làm việc nghiêm túc, nhưng thư thái, nhẹ nhàng. Tôi thực sự bị lão tướng chinh phục.

Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng sinh ngày 10-7-1937 tại xã Trường Sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Vùng quê của ông xưa kia quanh năm nghèo khó. Dân gian từng có câu "Được mùa Nông Cống, sống mọi nơi". Đó là câu than phiền về sự khó khăn, khắc nghiệt trong sản xuất nông nghiệp của quê ông. Như bao gia đình, nhà ông cùng chung số phận, quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" vẫn chẳng đủ ăn.

Trong kháng chiến chống Pháp, Thanh Hóa là vùng tự do, là hậu phương vững chắc, cung cấp nhiều nhân tài, vật lực cho cuộc kháng chiến. Nghe theo tiếng gọi của Cụ Hồ, thanh niên trong vùng nô nức tham gia kháng chiến. Có người gia nhập Vệ quốc đoàn, có người vào thanh niên xung phong, có người tham gia dân công hỏa tuyến. Cụ thân sinh ra ông, cũng từng tham gia đoàn quân ấy, nhưng ông cụ bị thương, phải trở về, công tác ở địa phương. Tiếp bước cha, cùng thanh niên trong làng, Phạm Hữu Bồng gia nhập đội thanh niên xung phong lên Tây Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Một lần theo bộ đội vào chiến dịch, ông đã bị thương. Chàng trai 17 tuổi can trường phải rời vị trí, về tuyến sau. Một nỗi buồn đè nặng trong lòng, người thanh niên xứ Thanh chỉ mong vết thương chóng lành để được về đơn vị tiếp tục phục vụ chiến đấu.

Sau thời gian điều trị, vết thương ổn định, ông may mắn được chuyển từ thanh niên xung phong về Đại đội 2, Cục Cảnh vệ Trung ương. Về đơn vị mới, ông càng có điều kiện nuôi dưỡng niềm ao ước bấy lâu là tiếp tục được cống hiến. Có một điều khiến ông rất trăn trở, đó là vết thương của mình. Không báo cáo chỉ huy đơn vị, xem như không trung thực, nếu báo cáo, phải kiểm tra lại sức khỏe, có khi bị loại vĩnh viễn khỏi quân ngũ. Chỉ nghĩ nếu bị ra quân, ông đã thấy rùng mình, thế là ông giấu nhẹm vết thương, tập trung để cùng đồng đội công tác bình thường, đồng thời ông tranh thủ thời gian rèn luyện sức khỏe. Cứ buổi chiều sau giờ công tác, ông có mặt ở bãi thể thao tập kéo xà đơn, nâng tạ, chạy bộ... Chính sự kiên trì và quyết tâm rèn luyện, cùng với các khoa mục đạt khá giỏi, ông đã lọt vào "tầm ngắm" của cấp trên.

Từ một người lính cảnh vệ thuộc Đại đội 2, ông có vinh dự là một trong những người lính thuộc các đơn vị đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), và được cấp trên tuyển chọn đi đào tạo tại Trường Sĩ quan Lục quân khóa 12.

Ba năm học tập, rèn luyện tại Trường Sĩ quan Lục quân là bước ngoặt trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Từ người lính, nay ông được học tập, rèn luyện cả kiến thức, bản lĩnh, tư duy của người chỉ huy tương lai. Năm 1963, tốt nghiệp khóa đào tạo sĩ quan Lục quân, ông được điều động về Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang (nay là Học viện Biên phòng), làm giáo viên chuyên ngành quân sự.

Làm giáo viên quân sự, ông thực sự thấm thía quá trình học tập, rèn luyện của mình tại Trường Sĩ quan Lục quân, với những năm tháng "luộc quân" ở mảnh đất Sơn Tây khắc nghiệt. Trên cương vị là giáo viên quân sự, ông tìm hiểu và biết, Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang mới thành lập, lại trong thời chiến, nên mọi thứ từ giảng đường, thao trường, bãi tập, giáo án, mô hình học cụ... đều thiếu thốn.

Trường rất cần một thao trường có cấu trúc phù hợp với chiến trường, rất cần giáo viên có kiến thức bài bản, có kinh nghiệm huấn luyện chính quy. Nghiên cứu giáo án huấn luyện quân sự, ông tìm tòi văn bản hướng dẫn của trên và tài liệu tham khảo của các trường sĩ quan của quân đội, để tìm ra nội dung, hình thức, biện pháp trình bày bài giảng, phù hợp với học viên sĩ quan Công an nhân dân vũ trang.

Với lòng say mê nghề nghiệp, ông đã nhanh chóng trở thành giáo viên mẫu mực, có năng khiếu sư phạm, được học viên tín nhiệm, đồng nghiệp đánh giá cao. Nhằm đáp ứng nhu cầu huấn luyện của nhà trường, năm 1973, ông được cử về Trường Đại học Công an dự lớp đào tạo giáo viên Trinh sát - pháp luật. Kết thúc khóa học, ông trở về trường cũ với cương vị giáo viên Trinh sát - pháp luật. Vốn là một giáo viên quân sự có năng lực, nay được đào tạo thêm chuyên ngành an ninh, ông càng vững tin khi đảm nhiệm giáo viên khoa mục mới. Ông hiểu, đào tạo nên người sĩ quan Công an nhân dân vũ trang phải có chuyên môn toàn diện quân sự và nghiệp vụ.

Từ một giáo viên, ông được bổ nhiệm làm Tổ trưởng bộ môn, Phó khoa, quyền Trưởng khoa, Trưởng phòng đào tạo rồi Phó hiệu trưởng. Ở bất kỳ cương vị nào ông cũng để lại dấu ấn của sự cải cách, đổi mới, để lại những bài học có giá trị về cả lý luận và thực tiễn cho công tác đào tạo sĩ quan của nhà trường.

Mười hai năm làm thầy, làm cán bộ quản lý, ông tự hào đã cùng với Ban Giám hiệu, đội ngũ cán bộ, giáo viên đào tạo nhiều thế hệ học viên có phẩm chất năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trên các tuyến biên giới, vùng biển của Tổ quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, lúc bình thường cũng như trong chiến đấu, trước những khó khăn phức tạp. Tuy nhiên ông không khỏi trăn trở mỗi lần dự họp Bộ tư lệnh, nghe chỉ huy các địa phương, đơn vị phản ánh về chất lượng đội ngũ cán bộ, sản phẩm do nhà trường đào tạo. Ông buốt lòng khi có những sĩ quan vi phạm kỷ luật, năng lực kém. Ông ghi chép tỉ mỉ những phản ánh từ đơn vị cơ sở. Ông không tự ái mà xem đây là những phản hồi tích cực, để từ đó bổ sung, khắc phục khiếm khuyết cho quá trình đào tạo.

Đầu năm 1987, Trung tá Phạm Hữu Bồng được điều động làm Chỉ huy phó, sau một thời gian ngắn được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Công an tỉnh Lai Châu, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh. Khi ông làm Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu, sau chiến tranh biên giới, trên có chủ trương bố trí lại lực lượng, triển khai mỗi xã biên giới một đồn Biên phòng.

Trên một địa bàn rộng lớn, giao thông đi lại khó khăn như Lai Châu, việc triển khai mỗi xã biên giới một đồn quả là thách thức lớn. Ông đã cùng cán bộ cơ quan đi bộ cả tháng, trèo đèo, lội suối để tìm vị trí đóng đồn, lập trạm. Ông chỉ đạo sâu sát cụ thể việc khai thác, vận chuyển vật liệu để xây dựng đồn, gùi hàng đảm bảo hậu cần cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời ông đã coi trọng công tác động viên tư tưởng cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị dưới xuôi lên tăng cường cho biên phòng Lai Châu, nhất là những đồng chí được điều động đến địa bàn khó khăn như: Xì Lờ Lầu, Vàng Ma Chải, Tông Qua Lìn... Ông lặn lội đến làm việc với chính quyền và nhân dân các địa phương để huy động sức dân.

Tuy vậy, khu vực biên giới Lai Châu vẫn còn rất nhiều khó khăn. Các thế lực phản động cấu kết với nhau tiến hành "chiến tranh phá hoại nhiều mặt". Chúng dùng hàng hóa để móc nối, theo kiểu "rải thóc tráng men, bôi lem quần chúng" gây mất ổn định về an ninh chính trị và trật tự xã hội. Tệ nạn buôn bán hàng tâm lý phát triển, tạo thành nhiều điểm nóng trên địa bàn.

Chỉ huy trưởng Phạm Hữu Bồng đã cùng Thường vụ Đảng ủy, Bộ chỉ huy đề ra chủ trương ổn định tình hình, kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đẩy mạnh các biện pháp công tác biên phòng, trong đó biện pháp vận động quần chúng là chủ đạo. Ông chỉ đạo cơ quan cử những cán bộ giỏi, có nhiều kinh nghiệm xuống bám nắm địa bàn, giúp chỉ huy các đồn Biên phòng nâng cao chất lượng, hiệu quả Đội công tác vận động quần chúng, đi sâu xuống tận chòm, bản tuyên truyền cho đồng bào các dân tộc hiểu rõ tình hình biên giới, khắc phục khó khăn về kinh tế, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù; động viên bà con đoàn kết, định canh định cư, ổn định sản xuất.

Kinh nghiệm của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đã giúp Bộ tư lệnh vận dụng cho nhiều địa bàn khó khăn, gian khổ trên các tuyến biên phòng. Một phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống đã được thực hiện tại tất cả các đồn Biên phòng, đồng thời tạo sức mua ở vùng biên giới, khuyến khích đồng bào các dân tộc làm kinh tế. Tất cả những điều này đã tác động mạnh mẽ đến Chỉ huy trưởng Phạm Hữu Bồng, khiến ông manh nha đến ý tưởng một đề tài khoa học "Xây dựng biên giới lòng dân". Bốn năm lăn lộn với biên giới Lai Châu, thời gian trôi đi chóng vánh. Đề án "Xây dựng biên giới lòng dân" vẫn còn dang dở, ấp ủ trong ông. Công tác dân vận đã cho ông những bài học quý.

Đầu năm 1990, tạm biệt vùng sơn cước còn nhiều "duyên nợ", Thượng tá Phạm Hữu Bồng được cấp trên điều về Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đảm nhiệm cương vị Phó tham mưu trưởng. Rồi ông lần lượt đảm nhiệm cương vị: Tham mưu trưởng, Phó tư lệnh.

Năm 1996, ông được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Ở cơ quan "thủ phủ" của lực lượng Bộ đội Biên phòng, với cương vị Tư lệnh, ông có điều kiện nắm tình hình biên giới một cách tổng quan, đầy đủ hơn từ nhiều khía cạnh, từng mặt công tác, từng mảng công việc đến toàn bộ nhiệm vụ của công tác Biên phòng. Cùng Bộ tư lệnh và các cơ quan chức năng nghiên cứu đề xuất nhiều vấn đề mới về công tác Biên phòng và xây dựng Bộ đội Biên phòng, đã tạo cho ông một tầm nhìn mới của người Tư lệnh. 

Là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, mặc dù bận nhiều công việc nhưng với lòng nhiệt huyết và sự say sưa quan tâm chỉ đạo sâu sắc công tác khoa học - công nghệ, ông rất trân trọng và thực sự cầu thị mời các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu về Biên phòng. Ông quan tâm chỉ đạo việc nghiên cứu khoa học, đào tạo học vị, chức danh khoa học của cơ quan, các Học viện, nhà trường của Bộ đội Biên phòng. Cá nhân ông cũng gương mẫu trong nghiên cứu khoa học. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như: "Tổng kết chiến tranh biên giới", "Nghệ thuật tác chiến Bộ đội Biên phòng"; "Ổn định lâu dài biên giới quốc gia"...

Trong buổi Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng bàn giao chức trách Tư lệnh Biên phòng cho người kế nhiệm, với sự có mặt đông đủ các đồng chí trong Bộ tư lệnh, các Cục, phòng chức năng, ông đã phát biểu nêu lên một số kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ huy, có thể coi là "gan ruột" của một vị tướng trọn đời gắn bó với biên cương. Mỗi vấn đề ông truyền đạt lại là những quy luật chung, những bài học giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời cũng là những nét riêng mang triết lý nhân sinh, bài học ứng xử mà cá nhân ông rút ra, mang tính suy ngẫm của một người chỉ huy từng trải.

Về hưu, rời vị trí Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, nhưng biên giới quốc gia với ông vẫn còn nhiều duyên nợ. Với lòng tràn đầy nhiệt huyết, tinh thần cống hiến, ông đã dồn công sức, trí tuệ của mình tiếp nối công việc của những người tiền nhiệm, tham gia có hiệu quả vào việc hoàn chỉnh Luật Biên giới quốc gia và các văn bản pháp luật, hướng dẫn thi hành Luật Biên giới quốc gia, mà Bộ Quốc phòng tín nhiệm giao cho ông.

Năm 2002, ông tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh khóa 3, với cương vị Phó chủ tịch Hội. Đến nhiệm kỳ 4, ông được Đại hội Cựu chiến binh Việt Nam tái cử nhiệm kỳ thứ hai, được bầu Phó Chủ tịch thường trực Trung ương Hội. Mười năm đóng góp sức lực, trí tuệ cho Hội Cựu chiến binh, ông tiếp tục có những đóng góp quan trọng trong hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Có thể nói, thời gian công tác ở Hội Cựu chiến binh Việt Nam, ông đã để lại những dấu ấn đặc biệt sâu sắc về công tác Hội, nhất là trong đấu tranh chống tham nhũng, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của các hội viên Hội Cựu chiến binh.

75 tuổi đời, 55 năm tuổi Đảng, 58 năm liên tục phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng suốt đời tâm huyết với biên cương. Ông được Đảng, Nhà nước ghi công, trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Hai; Chính phủ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào tặng Huân chương Hữu nghị. Đó chính là sự ghi nhận, đánh giá những đóng góp của ông cho sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia - Sự nghiệp mà ông trọn đời cống hiến.

Trung tướng Phạm Kiệt: Một bản lĩnh, một nhân cách lớn

 

Trong đội ngũ tướng lĩnh Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc từ 1945-1975, Trung tướng Phạm Kiệt là một vị tướng đặc biệt. Điều đặc biệt đó, không chỉ vì ông là Đội trưởng Đội du kích Ba Tơ huyền thoại, khiến kẻ thù khiếp sợ mỗi khi nghe đến tên Tê-đơ (T.deux, T2, bí danh của đồng chí Phạm Kiệt), một học trò gần gũi của Bác Hồ, được Người dành cho tình cảm và niềm tin đặc biệt, được Người tặng cho 3 bảo vật vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ - 1954, mà ở ông, còn có mối quan hệ sâu sắc và thân tình với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, một nhân duyên lớn, mẫu mực về tình bạn chiến đấu, tình cảm chân thật, trọn vẹn nghĩa tình của ba vị tướng - ba con người huyền thoại...

Từ trước đến nay, đã có nhiều cuốn sách, bài viết về Trung tướng Phạm Kiệt, song cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn những đóng góp cho đất nước; tìm hiểu đầy đủ hơn về nhân cách và bản lĩnh lớn của một con người suốt đời vì đại nghĩa, tận tụy với Tổ quốc và nhân dân. Ở bài viết này, người viết cũng chỉ mong đóng góp một phần rất nhỏ về chân dung một vị tướng tài, đức của Quân đội nhân dân Việt Nam, của lực lượng Công an nhân dân vũ trang - Bộ đội Biên phòng.

Phạm Kiệt - tên thật là Phạm Quang Khanh, cất tiếng khóc chào đời ngày 10-1-1910, trong một gia đình nông dân yêu nước ở làng An Phú, nay là thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Quê hương ông là vùng đất linh khí của núi Ấn, sông Trà tụ hội. Nơi đây chính là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách con người Phạm Kiệt, là cội nguồn bồi đắp cho ông những giá trị tinh thần cao quý và là điểm tựa vững vàng cho ông trong mọi hoàn cảnh, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng về sau. Cũng như bao con người trên quê hương Quảng Ngãi, qua thử thách trong môi trường xã hội và tự nhiên khắc nghiệt, Trung tướng Phạm Kiệt đã tự rèn đúc cho mình một ý chí vươn lên, một tính cách mạnh mẽ, dám xông pha, chịu gian khổ, sẵn sàng hy sinh để xây dựng cuộc sống và luôn ý thức vì nghĩa lớn, vì cộng đồng đất nước.

Dường như chính sự nghèo khó của quê hương và truyền thống gia đình đã tạo nên tính cách gan góc, kiên cường, thẳng thắn, chính trực, nhưng giàu lòng nhân ái và sâu nặng nghĩa tình của những người con ưu tú như Trung tướng Phạm Kiệt. Sinh ra trong một gia đình nghèo, lớn lên trên vùng đất có bề dày lịch sử-văn hóa và truyền thống cách mạng, đồng chí Phạm Kiệt đã mau chóng giác ngộ, trở thành người cộng sản kiên cường.

15 tuổi, binh lửa tràn ngập khắp quê hương, chàng trai Phạm Kiệt đã sớm tham gia "Phong trào văn thân" chống Pháp, hoạt động yêu nước và từ đó dấn thân vào con đường cách mạng cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng. Quê hương và gia đình là "cái nôi" được coi là tác nhân cực kỳ quan trọng đến nhân cách của một con người. Sự tác động giữa quê hương và gia đình cũng là nhân tố chính tạo nên đặc trưng nhân cách trong con người đồng chí Phạm Kiệt. Từ một quê hương, một gia đình như thế đã hình thành ở Trung tướng Phạm Kiệt một nhân cách lớn: Trung thực, khiêm tốn, giản dị, sống có tình người, một lòng một dạ thương yêu nhân dân, yêu thương cán bộ, chiến sĩ, luôn đặt lợi ích của nhân dân, Tổ quốc lên trên hết.

Điểm nổi bật của Trung tướng Phạm Kiệt là tính khiêm tốn. Khi xem hồi ký "Từ núi rừng Ba Tơ" của ông, mọi người đều có cùng nhận xét, ông ít nói về mình, không khoe công mình, mà chỉ xem phần đóng góp của mình như một giọt nước giữa đại dương bao la. Về sau cũng vậy, ông rất khiêm nhường, không quan cách, tôn trọng anh em. Trong cuộc sống, ông rất biết kiềm chế để tự chiến thắng mình, không bao giờ kiêu ngạo. Ông luôn thể hiện là người có nhân cách, sống theo ý tưởng cao đẹp, càng trải nghiệm nhiều, hiểu biết nhiều càng không kiêu ngạo. Đó là sự khiêm nhường của một nhân cách lớn. 

Ông cống hiến nhiều, con người huyền thoại nhưng lại vô cùng bình dị. Ông sống đơn giản. Trong từng bữa ăn, trang phục, sinh hoạt cho thấy bản thân ông là một tấm gương cần kiệm. Món ăn thường ngày ưa thích của ông là cá bống kho, thịt rim, rau, dưa..., những thứ vốn là sản vật của miền núi Ấn, sông Trà như lúc ông còn ở quê nhà. Với gia đình, ông không để lại về vật chất, tài sản gì cho vợ con, nhưng ngược lại ông thường quan tâm, lo cho người khác hơn là lo cho người thân của mình. Ở ông, những ai đã gặp thường để lại ấn tượng về sự thân thiện, dễ gần. 

Ông rất nghiêm khắc nhưng khiêm nhường. Ở ông, ta luôn thấy được một phong thái điềm tĩnh, cởi mở, giọng nói trầm ấm, thân tình, rất dễ gần và dễ mến. Trung tướng Phạm Kiệt là người sống đầy tình người. Trong ông, tình yêu quê hương, gia đình, tình mẫu tử là vô cùng thiêng liêng, không có thứ tình cảm nào thay thế được. Chính tình yêu thương đó đã cho ông sức mạnh để sống bao dung và vượt qua những thử thách lớn lao. Vì vậy, trong mọi sinh hoạt, trong từng lời nói và việc làm, ông luôn quan tâm tới mọi người, đặc biệt là người lính. Ông có tác phong sâu sát, dân chủ, lắng nghe ý kiến cấp dưới, tìm hiểu rất kỹ con người và sự việc, tôn trọng sự thật và chân lý. 

Ngay từ những ngày đầu tham gia cách mạng, Trung tướng Phạm Kiệt đã sớm bộc lộ những phẩm chất thiên tư bẩm sinh tốt đẹp, phẩm chất đó dần được định hình và ngày càng thể hiện rõ là một người chỉ huy kiên quyết, táo bạo, tính quyết đoán, chủ động nắm bắt thời cơ, không chờ đợi; tư duy nhìn xa trông rộng và tính cách trung thực, dám nói, dám làm vì nghĩa lớn. 

Tính quyết đoán, chớp thời cơ của Trung tướng Phạm Kiệt được thể hiện tiêu biểu trong khởi nghĩa Ba Tơ, trong những chuyến tháp tùng Bác Hồ đi công tác, trong chỉ đạo lực lượng Công an nhân dân vũ trang bắn rơi hàng trăm máy bay Mỹ; đánh, bắt hàng trăm toán gián điệp biệt kích Mỹ-ngụy tung ra miền Bắc, trong bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới Tổ quốc.

Đức tính thẳng thắn, trung thực, vì nghĩa lớn là một trong những phẩm chất của Trung tướng Phạm Kiệt. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: "Ông được nhiều người yêu qúy, vì là một con người trung thực, thẳng thắn, lúc nào cũng dám nói thẳng, nói thật, không úp mở, rào chắn, bởi trách nhiệm cao trong phụng sự nhân dân, Tổ quốc". Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, sau khi nắm chắc tình hình, ông là người đồng tình ủng hộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp về chủ trương chuyển hướng chiến lược từ đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, thắng chắc và là người có vai trò tích cực trong kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện chủ trương chuyển hướng chiến lược này.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Sau này mới biết có cán bộ lo ngại, nhưng khi đó không một ai nói lên ý nghĩ thật của mình vì ngại cho là dao động. Tôi đánh giá rất cao ý kiến của anh Phạm Kiệt... Tôi càng thấy rõ anh Kiệt là một cán bộ có trình độ chính trị và quân sự, có tinh thần kiên định, lại có bản lĩnh vì nghĩa lớn, nói lên sự thật không chút ngần ngại. Anh đã để lại cho chúng ta một tấm gương về đức tính, về bản lĩnh của người đảng viên cộng sản".

Điều đó cho thấy, Trung tướng Phạm Kiệt là một nhà quân sự có nhãn quan đặc biệt, sống trung thực, tất cả vì nghĩa lớn. Phẩm chất này, về sau ông vẫn thường nhắc đi nhắc lại với đồng đội và các con của mình: "Nói thẳng, nói thật cũng phải dũng cảm hy sinh không kém gì xông pha trên chiến trường".

Trong cuộc sống, Trung tướng Phạm Kiệt đã để lại trong lòng nhiều thế hệ người lính quân hàm xanh và biết bao người khác về hình ảnh một vị tướng thẳng thắn, trung thực, sống giản dị, giàu lòng vị tha, được cán bộ, chiến sĩ và mọi người vô cùng yêu mến.

Trong chiến đấu, ông là vị chỉ huy có bản lĩnh, dũng cảm, thông minh, có nhiều cách đánh sáng tạo, có hiệu quả. Ông là một vị Tướng luôn đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết.

13 giờ ngày 23-1-1975, trái tim đầy nhân hậu của người anh hùng huyền thoại-Trung tướng Phạm Kiệt đã ngừng đập nhưng nhân cách và bản lĩnh của ông đã để lại huyền thoại về một con người tận trung với nước, chí hiếu với dân, một bài học lớn vô ngần về đức tính trung thực, dám nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm nói lên sự thật, vì đại nghĩa dân tộc, hạnh phúc nhân dân; tính cách dứt khoát, kiên quyết trong lãnh đạo, chỉ huy, nhưng trái tim đầy nhân hậu vẫn mãi ngời sáng. Tổ quốc đã ghi công ông. Các thế hệ đồng chí, đồng đội đã noi theo tấm gương và hình ảnh cao đẹp của ông, tiếp bước con đường ông đang đi dở.

Với những công lao đóng góp cho nhân dân, cho đất nước, Trung tướng Phạm Kiệt được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh (23-1-1975). Gần 40 năm sau khi ông về cõi vĩnh hằng, ngày 25-7-2012, Đảng, Nhà nước đã truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Trung tướng Phạm Kiệt. Đây là phần thưởng xứng đáng cho công lao cống hiến của ông, nhằm tôn vinh người anh hùng suốt cả cuộc đời đã tận tụy vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Nhân cách, bản lĩnh và công lao của vị danh tướng tài ba Phạm Kiệt đã và sẽ sống mãi trong lòng quê hương, đất nước và cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, Bộ đội Biên phòng ngày nay.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

         Trước thời kỳ đổi mới, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nguyên nhân căn bản được Đại hội VI đánh giá là do chúng ta rơi vào tình trạng máy móc, giáo điều. Đại hội VI đã mở ra thời kỳ mới, trên cơ sở trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng đã vận dụng linh hoạt để tiến hành công cuộc đổi mới.

Cuộc bứt phá ra khỏi chủ nghĩa giáo điều đã giúp đất nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, kinh tế đất nước ngày càng đi lên. Sau gần 40 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn, chúng ta lại thấy ở đâu đó xuất hiện căn bệnh giáo điều mới, ảnh hưởng lớn đến phát triển đất nước.

Nhận diện những biểu hiện mới của căn bệnh giáo điều

Giáo điều là những nguyên lý, những quan điểm, nguyên tắc mà con người tiếp thu mù quáng, không cần chứng minh, không có phê phán, không chú ý điều kiện ứng dụng nó. Giáo điều cũng để chỉ tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường, hạ thấp thực tiễn, hoặc áp dụng lý luận mà không tính tới thực tiễn. Có thể phân thành hai dạng: Giáo điều lý luận: Vận dụng lý luận không căn cứ vào điều kiện thực tiễn cụ thể, vận dụng mà không hiểu bản chất của lý luận. Giáo điều kinh nghiệm: Vận dụng kinh nghiệm của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào thực tiễn một cách máy móc, không tính tới điều kiện thực tiễn cụ thể. Bệnh giáo điều có thể hiểu là tình trạng nhận thức, hành động giáo điều cả về lý luận và thực tiễn kéo dài trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cần phải nhận biết và có cách khắc phục. Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều biểu hiện, song tựu trung lại có thể khái quát trên một số vấn đề sau đây:

Giáo điều hóa nghị quyết: Ở mỗi giai đoạn tính chất nhiệm vụ khác nhau, vì vậy, nghị quyết phải có những chủ trương, giải pháp thực hiện khác nhau. Tuy nhiên hiện nay, trong sinh hoạt lãnh đạo, nhất là sinh hoạt ra nghị quyết, một số cấp ủy, bí thư còn tình trạng nhận thức cho rằng nhiệm vụ cơ quan, đơn vị là “xuân thu nhị kỳ”, quanh năm ngày tháng lặp đi lặp lại không có gì mới. Nên ở không ít tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở, nghị quyết lãnh đạo được xây dựng theo kiểu khuôn mẫu, sao chép nguyên như trước, chỉ thay ngày đổi tháng. Hiện nay, trong một số tổ chức đảng, nhất là cấp chi bộ, việc chuẩn bị dự thảo và ban hành nghị quyết mang tính hình thức, thậm chí để đối phó với việc kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên. Điều đó dẫn tới tình trạng nghị quyết tháng sau, quý sau, năm sau cũng như trước, cùng lắm chỉ bổ sung một vài nội dung gọi là cho khác trước. Biểu hiện mới này không chỉ là giáo điều lý luận, thực tiễn mà còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Ngoại hóa chủ trương: Thời gian qua, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nhiều bộ, ngành, địa phương có tình trạng tổ chức nhiều cuộc đi khảo sát, tham quan học tập kinh nghiệm nước ngoài. Mục đích của chuyến đi rõ ràng được định vị là mang những kiến thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý, phát triển kinh tế-xã hội từ các nước, nhất là nước tiên tiến về để ứng dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều cán bộ có chức vụ, tầm ảnh hưởng lớn đi học tập ở nước ngoài về bê nguyên các mô hình từ nước ngoài đặt vào Việt Nam, cho rằng đó là học hỏi, sáng tạo, tiếp thu cái mới. Việc áp dụng mang tính áp đặt này chưa nghĩ đến điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện kết cấu hạ tầng của ta chưa phù hợp, chưa thể hấp thụ được nguyên vẹn kinh nghiệm đó. Hậu quả là gây thất thoát, lãng phí lớn cho các nguồn lực xã hội. Dự án đường dành riêng cho xe buýt nhanh BRT ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho bệnh giáo điều mới, học tập kinh nghiệm nước tiên tiến, bê nguyên xi vào Việt Nam. Do không phù hợp với điều kiện hạ tầng giao thông Việt Nam nên dự án trên có nguy cơ cao phải dừng hoạt động, tốn kém rất nhiều nguồn lực đầu tư.

Sợ sai nên rập khuôn công thức, quy trình cũ trong công việc mới, bất chấp hiệu quả thấp: Tình trạng sợ sai, không dám nghĩ, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn tới tình trạng cứ làm như người trước, tháng trước, năm trước, quy trình trước, nhiệm kỳ trước mà không dám đột phá nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân. Những cán bộ, đảng viên dạng này chỉ lo giữ mình an toàn trong “chiếc kén nhỏ”, không chịu đổi mới, học hỏi, chỉ gói gọn trong tư duy nhiệm kỳ, tránh va chạm để cuối cùng là "hạ cánh an toàn". Do vậy dẫn tới trong lãnh đạo, chỉ đạo có tình trạng lặp lại “công thức”; “quy trình cũ” trong công việc mới. Từ chỗ "mũ ni che tai", không dám nói ra những điều mình suy nghĩ, trăn trở, dần dần trở nên dửng dưng với những biến động của xã hội, dửng dưng với nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của bản thân.

Thái độ ba phải: Biểu hiện của nó là không thể hiện chính kiến của mình trong sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng. Căn bệnh này tồn tại hai dạng: Dạng thứ nhất, người cán bộ, đảng viên thực chất là có ý tưởng nhưng do ngại va chạm, ngại thể hiện nên mọi thứ đều đồng ý, dẫn đến “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “nhất trí cao”. Đây là biểu hiện xuôi chiều trong lãnh đạo. Hệ lụy của nó là người đảng viên co ro trong "cái kén" của chính mình, nhìn thấy nhiều vấn đề, có ý tưởng đổi mới, có sáng kiến nhưng không dám trình bày, không dám thể hiện. Dạng thứ hai là người lười tư duy, lười suy nghĩ, coi việc lãnh đạo là của cấp ủy, của tập thể tổ chức đảng nên không chủ động trong việc tham gia đóng góp thảo luận xây dựng nghị quyết và những quyết sách khác. Cả hai dạng đều cho một đáp số là không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể vào các quyết sách lãnh đạo.

Những hậu quả khôn lường

Hậu quả lớn nhất chính là nếu căn bệnh này kéo dài sẽ là lực cản gây ra sự trì trệ, kéo lùi sự phát triển. Bởi nghị quyết lãnh đạo không thực sự là sự cụ thể hóa nghị quyết cấp trên, càng không phải là nghị quyết lãnh đạo trong giai đoạn mới, mà chỉ là nghị quyết được bê nguyên xi như trước. Một nghị quyết như vậy là vô hiệu, không thể có chủ trương, giải pháp mang tính sáng tạo, đột phá và hoàn toàn thiếu sức sống, xa rời thực tiễn, không sát với yêu cầu nhiệm vụ. Chính vì vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương diễn ra một cách đơn điệu, bình bình, không có sự đột phá, dẫn tới sự trì trệ, thụt lùi, tụt hậu do thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội luôn có sự biến động, thay đổi.

Bệnh giáo điều mới còn là sự cản trở đưa nghị quyết vào cuộc sống. Bởi ngay trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, họ khó nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận cán bộ, đảng viên như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Bởi điều mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, cơ quan, tổ chức mong chờ ở họ là sự tâm huyết, cống hiến công sức, trí tuệ, ý tưởng sáng tạo cho sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị, địa phương thì không có.

Việc áp dụng máy móc, giáo điều cả về lý luận và thực tiễn mà không chịu tính toán đến điều kiện kinh tế-xã hội sẽ gây lãng phí nguồn lực lớn của đất nước, của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây bức xúc trong dư luận nhân dân, làm giảm sút uy tín lãnh đạo của Đảng, mất uy tín của cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, bệnh giáo điều mới còn là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa độc đoán, chuyên quyền, sự chủ quan, duy ý chí có cơ hội phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là những cái sai, cái tiêu cực trong công tác lãnh đạo không được đấu tranh loại bỏ, cái sai nối tiếp cái sai. Điều này sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường là tập thể mất vai trò lãnh đạo, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng bị coi nhẹ, không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể cho việc đưa ra các quyết sách lãnh đạo, quản lý.

Liều thuốc khắc phục căn bệnh giáo điều mới

Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện của bệnh giáo điều mới, cần có các giải pháp để mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng khắc phục hiệu quả những biểu hiện của căn bệnh này. Theo đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam. Đến nay, điều kiện lịch sử, bối cảnh, thế và lực của đất nước ta đã có sự thay đổi, phát triển hơn nhiều. Chính vì vậy, trên cơ sở lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, Đảng ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ, bổ sung phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Kết quả tổng kết và những bài học kinh nghiệm sẽ là luận cứ để định hướng hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng sát với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đồng thời làm cơ sở để tổ chức đảng, đảng viên các cấp nghiên cứu quán triệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn hoạt động của bộ, ngành, tỉnh, thành phố, cơ quan, đơn vị mình.

Hai là, hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc thúc đẩy tinh thần "7 dám", nhất là tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm của người cán bộ chủ trì, đứng đầu rất cần có cơ chế để quản lý, định hướng, bảo vệ cán bộ. Cơ chế ấy phải được thể chế hóa thành pháp luật, để vừa thông thoáng, mở ra hành lang đủ rộng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phát huy cao nhất tinh thần "7 dám", nhưng vẫn đúng pháp luật để cán bộ, đảng viên tránh được những vướng mắc, sai phạm.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tính thực tiễn trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phong cách thực tiễn của Người thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ không áp dụng máy móc, giáo điều mà luôn đứng trên mảnh đất hiện thực cách mạng Việt Nam, văn hóa, con người Việt Nam để nghiên cứu, bảo vệ, phát triển, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm chắc, hiểu sâu chức trách nhiệm vụ, đi sâu đi sát thực tiễn, rèn luyện phương pháp tác phong lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể, bảo đảm tính khoa học, hiệu quả.

Bốn là, tạo đột phá trong đào tạo bồi dưỡng gắn với rèn luyện thử thách đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Đây được xác định là khâu đột phá bởi người cán bộ bên cạnh được đào tạo cơ bản về kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo còn cần được trải qua thử thách, rèn luyện trong thực tiễn. Thực tiễn công tác càng nhiều, càng dày thì càng giúp cho kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ, đảng viên hiệu quả, sát thực tế, tránh được duy ý chí, giáo điều, máy móc.

Năm là, phát huy dân chủ trong phản biện chính sách, nhất là đối với người đứng đầu ở tất cả các cấp. Cần phát huy dân chủ rộng rãi trong phản biện chính sách, dân chủ phải được thực hiện ngay trong nội bộ tổ chức đảng, nội bộ cơ quan, đơn vị. Đối với người đứng đầu địa phương còn phải làm tốt công tác vận hành hệ thống phản biện xã hội để phản hồi thông tin từ thực tiễn thực thi các quyết sách, chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, thông qua đó giúp cấp ủy, bí thư, người đứng đầu có cái nhìn toàn diện về hiệu quả thực thi chính sách, kịp thời phát hiện những bất cập để điều chỉnh.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề cần được nhận diện và có định hướng khắc phục. Trong đó trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó là cách thiết thực để bảo vệ, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, bảo đảm được vai trò, sứ mệnh của Đảng và từng cán bộ, đảng viên trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sưu tầm

Công tác bảo vệ an ninh Quân đội góp phần bảo đảm cho thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ

 

Tại mặt trận Điện Biên Phủ, Cục phó Cục Bảo vệ Quân đội (nay là Cục Bảo vệ an ninh Quân đội) Phạm Kiệt được cử đi kiểm tra công tác chuẩn bị chiến trường ở phía Đông Bắc. Sau khi đến tận nơi kiểm tra, ông đã đề nghị gặp Đại tướng qua điện thoại và nêu ý kiến: "Pháo của ta đều đặt trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo, hoặc máy bay đánh phá sẽ khó tránh tổn thất. Một số pháo vẫn chưa kéo được tới trận địa".

Đề nghị Tổng tư lệnh xem lại kế hoạch đánh nhanh

Từ hội nghị Thẩm Púa ngày 14-1-1954 tới khi đưa pháo vào trận địa đối với Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận Điện Biên Phủ là một thời gian rất dài với nhiều đêm thao thức. Ông yêu cầu các phái viên đi nắm tình hình, thấy bất cứ điều gì đáng chú ý đều phải báo cáo kịp thời. Lúc này, toàn quân đang nô nức thực hiện quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trong 2 đêm 3 ngày. Tuy khi đó cũng có người lo ngại, nhưng không một ai nói lên ý nghĩ thật của mình vì e bị cho là dao động.

Mặc dù nhận được phản ánh, tinh thần chuẩn bị chiến đấu rất cao của cán bộ, chiến sĩ song sau nhiều lần suy tính, cân nhắc, Đại tướng nhận thấy có rất ít yếu tố thắng lợi. Ông vẫn khẩn trương theo sát tình hình củng cố của địch và suy nghĩ về quyết định thay đổi phương châm tác chiến. Chính vào lúc đó Đại tướng nhận được ý kiến của đồng chí Phạm Kiệt (sau là Trung tướng, Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an nhân dân vũ trang) qua điện thoại. Sau này, trong hồi ký, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định, Cục phó Cục Bảo vệ Quân đội Phạm Kiệt là người đầu tiên và cũng là duy nhất phát hiện khó khăn và thẳng thắn báo cáo Chỉ huy trưởng Mặt trận.

Năm 2017, dịp tưởng niệm 60 năm ngày mất của đồng chí Nguyễn Chánh, nguyên Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, người bạn chiến đấu thân thiết của đồng chí Phạm Kiệt, chúng tôi được trò chuyện với bà Phạm Thị Trinh, phu nhân đồng chí Nguyễn Chánh, cũng là em gái của Trung tướng Phạm Kiệt.

Ở tuổi gần 100 nhưng câu chuyện về vị tướng tài ba của Quân đội ta do bà Trinh kể vẫn rất mạch lạc. Ngoài ra, chúng tôi còn may mắn được xem một kỷ vật vô cùng quý báu của gia đình. Đó là bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề ngày 19-1-1995 tham gia ý kiến vào buổi sinh hoạt sử học tưởng niệm Trung tướng Phạm Kiệt.

Trong thư, Đại tướng nhớ lại: “Tôi gặp anh lần đầu tại Ninh Hòa, trong chuyến được Bác Hồ phái vào mặt trận miền Nam. Lúc bấy giờ anh Kiệt đang chỉ huy đánh địch từ phía Ma Drak, đã tổ chức cho tôi nói chuyện bằng điện thoại với đồng chí Nam Long. Ở mặt trận, anh tỏ ra là một người chỉ huy kiên quyết và linh hoạt. Về sau, anh ra Hà Nội làm việc tại Bộ Quốc Phòng, phụ trách công tác bảo vệ, là một đồng chí hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, được Quân ủy và cán bộ thương yêu, tín nhiệm”.

Tại mặt trận Điện Biên Phủ, cùng với nhiệm vụ phụ trách công tác bảo vệ, đồng chí Phạm Kiệt đã được Chỉ huy trưởng Mặt trận cử đi kiểm tra công tác chuẩn bị chiến trường ở phía Đông Bắc. Ông đã đến tận nơi, kiểm tra trận địa pháo binh, phát hiện sự nguy hiểm trong bố trí pháo binh dã chiến của ta tại một địa bàn tương đối bằng phẳng.

“Anh trình bày hết tình hình và là người duy nhất lúc đó đã đề nghị tôi xem xét lại kế hoạch đánh nhanh… Tôi đánh giá rất cao ý kiến của anh Phạm Kiệt, ý kiến ấy cùng với những tin tức trinh sát từ nhiều mặt gửi về đã cung cấp cho tôi căn cứ quan trọng để đề ra với Đảng ủy thay đổi phương châm tác chiến, rút quân ra, chuyển sang kế hoạch mới "đánh chắc, tiến chắc"-trong thư Đại tướng khẳng định.

Quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một câu chuyện không bao giờ cũ về Điện Biên Phủ. Ngược dòng thời gian trở về thời điểm cách đây 70 năm, từ khi phổ biến nhiệm vụ chiến đấu theo kế hoạch đánh nhanh (14-1) cho đến ngày 25-1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phải trải qua nhiều ngày đêm trăn trở, vừa theo dõi tình hình địch, vừa suy nghĩ thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Suy nghĩ căng thẳng đến mức đầu đau nhức, y sĩ Thùy-người phụ trách chăm sóc sức khỏe phải buộc trên trán Đại tướng một nắm ngải cứu.

Sau khi kiểm tra chiến trường lần cuối và nhận được cuộc điện thoại báo cáo của đồng chí Phạm Kiệt, đến sáng 26-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định triệu tập cuộc họp Đảng ủy Mặt trận. Trong hồi ký, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thuật lại không khí căng thẳng của cuộc họp ngày hôm ấy. Đại tướng phải nói lại chỉ thị của Bác Hồ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng thì đánh, không chắc thắng không đánh”. Cuối cùng, với tinh thần trách nhiệm trước Bác Hồ, trước Bộ Chính trị và cả xương máu của bộ đội, khi kết luận cuộc họp, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp quyết định: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.

Công tác bảo vệ an ninh Quân đội - nhiệm vụ nặng nề và thầm lặng

Việc thay đổi phương châm tác chiến tại thời điểm quyết định ấy là một bài học mẫu mực về vận dụng nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trong hoàn cảnh chiến đấu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát huy cao độ trách nhiệm cá nhân, đồng thời tôn trọng sự lãnh đạo tập thể của cấp ủy Đảng. Sẵn sàng chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước tập thể. Nhưng khi thành công, ông luôn luôn nhắc nhớ những người có vai trò nhất định trong quyết định ấy. Một trong số đó là đồng chí Phạm Kiệt. Đại tướng khẳng định: “Anh Kiệt là một cán bộ có trình độ chính trị và quân sự, có tinh thần kiên định, lại có bản lĩnh vì nghĩa lớn, nói lên sự thật không chút ngần ngại. Anh đã để lại cho chúng ta một tấm gương về đức tính, về bản lĩnh của người đảng viên cộng sản”.

Điều này đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu rõ hơn về tướng Phạm Kiệt, nhất là những đóng góp quan trọng của ông trong công tác bảo vệ, nặng nề nhưng rất thầm lặng, góp phần vào thành công của Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử cách đây 7 thập kỷ.

Đồng chí Phạm Kiệt (1910-1975) tên thật là Phạm Quang Khanh, sinh ra trong một gia đình nông dân yêu nước ở xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Người con của vùng đất địa linh núi Ấn, sông Trà với “lời thề Ba Tơ” giác ngộ cách mạng từ rất sớm, trở thành người cộng sản kiên cường. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “Từ núi rừng Ba Tơ”, trải qua nhiều cương vị công tác, đồng chí Phạm Kiệt đã có mặt ở miền Bắc, là Cục phó Cục Bảo vệ Quân đội, với nhiệm vụ “phải bảo đảm giữ bí mật lực lượng, bảo đảm pháo hành quân, lại bảo đảm an toàn cho cơ quan chỉ huy... làm sao tới đích không bị thiệt hại gì về người cũng như vũ khí là đạt được thắng lợi bước đầu”...

Trong tâm thế ấy, ông bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch quy mô lớn nhất trong lịch sử 9 năm kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta. Bộ binh, dân công và cả một đại đoàn pháo (lần đầu tiên ra trận)... sẽ hành quân theo đường cái rộng thênh thang, dài trên 400km. Trong khi đó Tây Bắc là vùng mới giải phóng, cơ sở gián điệp của địch gài lại ta chưa quét sạch được hết và số tề, ngụy, phỉ cũ chưa chịu cải tạo cũng còn không phải là ít. Do đó, yêu cầu đặt ra là, đồng thời với việc bao vây địch bằng quân sự ở Điện Biên Phủ, lực lượng bảo vệ phải phong tỏa tin tức, không để cho tình báo của địch phát hiện cuộc hành quân của ta.

Đầu tháng 1-1954, đồng chí Phạm Kiệt rời căn cứ địa, đi kiểm tra và bàn bạc kế hoạch hành quân với các đơn vị pháo. Sau khi gặp đồng chí Phạm Ngọc Mậu-Chính ủy Đại đoàn công pháo 351 trao đổi tình hình, ông xuống thăm bộ đội pháo 105mm. Tận mắt nhìn thấy đội ngũ pháo binh trẻ tuổi nhưng đầy khí thế hùng dũng ông càng thấm thía trách nhiệm nặng nề phải bảo vệ cuộc hành quân thật an toàn. Theo báo cáo của cơ quan tham mưu pháo binh: Đường lên Điện Biên hoàn toàn mới lạ, anh em đã bộc lộ tư tưởng ngại xe đổ. Nhất là loại cao xạ pháo 37mm cồng kềnh chắn cả đường, khó kéo lắm.

Không để tư tưởng ấy lan rộng, đồng chí Phạm Kiệt đã gặp đồng chí Nguyễn Quang Bích, Chỉ huy trưởng Pháo cao xạ (sau này là Thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân) bàn việc mở hội nghị đả thông tư tưởng cho cán bộ đại đội, trung đội, đồng thời xem lại từng chi tiết kế hoạch vận chuyển, đem thắc mắc của chiến sĩ nêu ra cho anh em thảo luận tập thể, tìm cách khắc phục. Từ đây, các cán bộ đều xác định một lần nữa quyết tâm vận chuyển an toàn, bảo đảm thời gian.

Các đơn vị pháo lên đường. Đồng chí Phạm Kiệt lại quay về trực tiếp chuẩn bị kế hoạch bảo vệ cơ quan chỉ huy đi lên Điện Biên. Ngày 5-1-1954, Đại tướng ra lệnh bắt đầu hành quân. “Buổi lên đường, lòng tôi hướng về Tây Bắc, tưởng tượng đến khu lòng chảo Điện Biên, nơi mà tôi chưa hề đặt chân đến nhưng đã từng nghe tên không biết bao nhiêu lần trong các cuộc hội nghị học tập, các lần họp bàn kế hoạch công tác. Đối với người cán bộ Quân đội, hai tiếng ấy đã có cả một sức thôi thúc đặc biệt. Tôi chỉ biết rằng nơi ấy sẽ diễn ra một trận đánh lớn. Chiến dịch sắp mở sẽ giáng một đòn nặng nề, nhất định sẽ làm cho kế hoạch quân sự Navarre của đế quốc Pháp - Mỹ bị phá sản”-Trung tướng Phạm Kiệt kể trong hồi ký.

Được anh trai nhiều lần kể cho nghe về chuyến hành quân đặc biệt ấy, bà Phạm Thị Trinh nhớ mãi chi tiết đặc biệt là đoàn đi trên chiếc xe Jeep trang bị ghế gỗ. Dù qua những đoạn đường gồ ghề, ghế bị xóc đến nảy người nhưng Đại tướng vẫn vui vẻ nói: “Lần này ta đi, thần tiên nhất. Dù sao cũng có xe ọc ạch mà đi, không vất vả như các chiến dịch trước!”.

Lạc quan là vậy, song trong những ngày hành quân này, nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho thủ trưởng và cơ quan chỉ huy đối với lực lượng bảo vệ an ninh là rất nặng nề. Bên cạnh việc phải đề phòng những bất trắc xảy ra dưới đất, lại phải đề phòng những bắt trắc từ trên trời bởi không quân địch. Các cán bộ trong đoàn, nhất là Đại tướng, Tổng tư lệnh vừa đi đường vừa làm việc cho nên việc tổ chức trạm nghỉ cũng phải chu đáo. Mỗi trạm trú quân đều có bố trí cán bộ bảo vệ. Đoàn đi, họ cuốn theo như kiểu cuốn chiếu. Việc nắm tình hình hằng ngày yêu cầu tương đối chặt. Đường lên Điện Biên dài, những đoạn nguy hiểm nhất còn ở phía trước. Nhưng nhiệm vụ chiến đấu đang thôi thúc, không thể quá cẩn thận hóa ra trù trừ được.

Đến từng trạm, Cục phó Phạm Kiệt nhận báo cáo của các cán bộ bảo vệ phụ trách từng vùng hoặc công tác ở các đơn vị pháo binh, bộ binh rồi báo cáo lại với Đại tướng. Đồng chí Phạm Kiệt kể: “Hằng ngày, đúng 8 giờ anh Văn nghe báo cáo tình hình chung trong đêm vừa qua. Giọng nói quen thuộc của anh Văn, mỗi ngày lại như động viên thêm các cán bộ phụ trách hoàn thành nhiệm vụ. Cứ mỗi chặng đường, lúc kết thúc báo cáo bằng hai tiếng an toàn, lòng tôi vui sướng vô hạn. Biết bao nhiêu cán bộ đã ngày đêm hăng hái công tác, lăn mình trong quần chúng nhân dân, nắm chắc từng quãng đường, dò từng dấu vết kẻ địch để bảo đảm bí mật và an toàn cho cuộc hành quân”.

Và cuối cùng sau một tuần hành quân, cơ quan chỉ huy chiến dịch của Bộ đến vị trí đã định. Kết thúc đợt vận chuyển ấy, Đại tướng nói: Ta nêu yêu cầu cơ quan chỉ huy đến nơi được an toàn, xe pháo hành quân không bị tổn thất dọc đường. Cả hai yêu cầu đều được bảo đảm tốt. Riêng về mặt công tác bảo vệ như thế là có nhiều cố gắng. Chúng ta coi như đã giành được thắng lợi bước đầu.

Thắng lợi đó là thắng lợi chung của các binh chủng, trong đó có lực lượng bảo vệ an ninh quân đội đã đoàn kết chặt chẽ, trên dưới một lòng, quyết tâm bảo đảm chiến thắng sắp tới. Được Đại tướng khen ngợi, sau đợt hành quân dài ngày ấy, các cán bộ bảo vệ ai cũng phấn khởi, tin tưởng. Điều đó là tiền đề để thời gian sau đó cho đến khi kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ, toàn lực lượng bảo vệ quân đội làm tốt công tác phòng gian bảo mật, góp phần bảo đảm thắng lợi của chiến dịch.

Sao còn vấn vương tấm áo lỗi thời?

        Ngót nửa thế kỷ từ Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, song những luồng tư tưởng gợi lại tàn tích chiến tranh, kích động hận thù vẫn ẩn hiện đâu đó trong đời sống của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Điều đó đòi hỏi thế hệ ngày nay càng phải thể hiện trách nhiệm lớn hơn nữa trong việc phản đối những gì đi ngược lại với chính sách hòa hợp dân tộc mà Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện.

Không chỉ là những hành vi phản cảm

Lâu nay, một số cá nhân bất mãn và tổ chức, trong đó có các tổ phản động lưu vong ở nước ngoài, cùng các thế lực thù địch vẫn rắp tâm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn, mà một trong số đó là tổ chức mua bán, sưu tầm và mang mặc các trang phục từ thời ngụy quân, ngụy quyền.

Sẽ chẳng ai ý kiến gì nếu như trang phục mà một số cá nhân cổ xúy lại là bộ quần áo rằn ri mà lính Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam trước năm 1975. Những trang phục ấy thường được ăn vận trong các buổi tụ tập, lễ tưởng niệm hay diễu hành với các mác “phục quốc” hay “làm sống dậy” tinh thần của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Dù đó chỉ là những sự việc, hiện tượng nhỏ lẻ nhưng vẫn khiến bức xúc dư luận, tác động xấu đến nhận thức cộng đồng người Việt Nam ở trong và ngoài nước, bởi được lặp đi lặp lại vào những dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước suốt bao nhiêu năm qua.

Dĩ nhiên, mỗi người đều có quyền lựa chọn xu hướng, phong cách ăn mặc cho riêng mình, song việc khoác lên mình trang phục của kẻ xâm lược và chế độ tay sai bán nước, từng gieo tội ác với dân tộc mình cách đây gần nửa thế kỷ rõ ràng là hành vi khoét sâu vào vết thương chiến tranh trong quá khứ, gieo rắc lòng hận thù tới một bộ phận kiều bào đang sinh sống ở hải ngoại, nhất là giới trẻ hải ngoại. Cùng với đó là ảo vọng muốn thông qua trang phục, âm nhạc hay các hoạt động nghệ thuật để làm sống lại những giá trị đã lỗi thời và đã bị đào thải của chính quyền tay sai bán nước ở Sài Gòn trước năm 1975. Suy cho cùng, đó không đơn thuần là những hành vi mà thoạt nhìn đã thấy lố bịch, phản cảm.

Nhưng cũng không loại trừ khả năng họ chính là nạn nhân xúi giục của những kẻ luôn mang trong mình lòng hận thù, tư tưởng bất mãn, hoặc các tổ chức phản động lưu vong có tư tưởng thù địch với Việt Nam, muốn dựa vào những tàn tích quá khứ để bóp méo lịch sử, kích động hận thù, phá hoại chủ trương “hòa hợp dân tộc”, “khép lại quá khứ, mở ra tương lai” và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Theo dõi trên mạng xã hội có thể thấy, thời gian gần đây, việc mang mặc những trang phục như vậy thường bị dư luận nhận diện và phản đối một cách hết sức nhanh chóng, quyết liệt. Mừng vì điều đó càng chứng tỏ người Việt Nam ta ở trong nước cũng như nước ngoài giờ đây đều có chung quan điểm, đó là không thể cổ xúy những gì đã trở thành vô giá trị, những gì gợi lại quá khứ đau thương của dân tộc. Vẫn biết hòa hợp dân tộc là một quá trình lâu dài, bền bỉ, nhưng sẽ khó đi đến đích nếu chưa thoát khỏi chiếc áo nhuốm máu đồng bào, nhuốm màu thù hận, mặc cảm và định kiến.

Đặt niềm tin vào thế hệ kiều bào trẻ

Tính đến tháng 4-2023, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 5,3 triệu người Việt sinh sống, làm việc, học tập ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, dù còn một bộ phận vẫn giữ định kiến, nhận thức và hành động không phù hợp lợi ích quốc gia, song hầu hết đều có tư tưởng cởi mở hơn, có cái nhìn đúng đắn về lịch sử và đất nước, đặc biệt là thế hệ kiều bào trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh.

Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều người trong số những kiều bào trẻ đang đóng vai trò nòng cốt, có sức ảnh hưởng lớn trong việc tập hợp, đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước, đồng thời là những nhân tố quan trọng trong triển khai chính sách hòa hợp dân tộc và tác động lớn đến nhận thức, thái độ của cộng đồng nơi họ đang sinh sống. Họ cũng là nguồn lực quan trọng của quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, thể hiện qua những đóng góp cụ thể, thiết thực của mỗi người trên nhiều lĩnh vực như đầu tư, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo...

Có được những kết quả ấy là do Đảng, Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương, chính sách liên quan tới hòa hợp dân tộc và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 (khóa IX) của Bộ Chính trị “Về công tác dân tộc”, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đặc biệt, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19-5-2015 của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” đã khẳng định đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xóa bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Một trong những ví dụ điển hình là hiện nay, những người từng làm việc cho chế độ Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 được đối xử bình đẳng trong mọi hoạt động, từ xuất, nhập cảnh, hồi hương, quốc tịch đến về nước làm ăn, đầu tư kinh doanh...

Những năm gần đây, kiều bào còn tham gia nhiều hoạt động, sự kiện mang tinh thần hướng về quê hương, đất nước, gắn kết kiều bào với quê hương như Chương trình xuân quê hương, tham dự Giỗ Tổ Hùng Vương, thăm quân và dân huyện đảo Trường Sa, nhà giàn DK1... Đặc biệt, trong số những kiều bào tích cực tham gia những chương trình ấy có cả những người trước đây từng mang quan điểm khác biệt, nay đã thay đổi suy nghĩ và có cái nhìn đúng đắn về quá khứ cũng như thực tại của đất nước.

Qua đó cho thấy, trong quá trình triển khai chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ, nhất là người trẻ ở hải ngoại. Chính họ cũng là những người có tiếng nói trọng lượng nhất để phản bác quan điểm đòi “phục dựng” một chế độ đã “cáo chung” từ nhiều năm trước, từ đó tiếp tục hàn gắn vết thương chiến tranh và giúp cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài toàn tâm toàn ý đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Sưu tầm

Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lenin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.

Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước. 

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Sưu tầm

Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN

Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản. Lenin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".

Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt. Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công. Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lenin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc". 

Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.

Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân. 

Sưu tầm