Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Chiến thắng Điện Biên Phủ - Biểu tượng và đỉnh cao của văn hóa giữ nước Việt Nam

 

70 năm qua, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, đã có hàng nghìn công trình lớn, nhỏ, trong và ngoài nước nghiên cứu về chiến dịch này. Rất nhiều vấn đề được làm sáng tỏ, đào sâu, cả ở tầm khái quát và ở các sự kiện, biến cố, chi tiết cụ thể từ hai phía.

Song, đến nay, có một câu hỏi mang tính lịch sử sâu sắc được đặt ra và tìm lời giải đáp trong nhiều công trình, đó là: Tại sao, nguyên nhân nào Việt Nam là một dân tộc nghèo, đất không rộng, người không đông lại làm nên chiến thắng vĩ đại mang tầm vóc thế giới?  Tại sao nước Pháp giàu có, "binh hùng", vũ khí mạnh... lại thất bại thảm hại ở Điện Biên Phủ đã được chuẩn bị công phu, mà họ nghĩ sẽ là "cối xay thịt" quân Việt Minh?

Đã có nhiều lời giải xác đáng, khoa học, song không phải trọn vẹn. Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận đánh thuộc lĩnh vực quân sự, vì vậy, trước hết phải tìm nguyên nhân chiến thắng từ góc độ quân sự. Đó là khoa học quân sự, là nghệ thuật quân sự Việt Nam. Vậy nội hàm của học thuyết, nghệ thuật quân sự Việt Nam là gì? Tại một cuộc hội thảo quan trọng về vấn đề này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Phải khẳng định có một học thuyết quân sự Việt Nam và tôi nghĩ rằng, theo học thuyết ấy không hề có chiến lược quân sự thuần túy, chiến lược ta bao giờ cũng là chiến lược tổng hợp, cả chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, một chiến lược toàn diện tổng hợp[1]. Từ đó, “văn hóa” đã trở thành một nội dung, một thành tố hữu cơ trong học thuyết quân sự Việt Nam. Và trong một lần trao đổi với Giáo sư Phan Huy Lê, Đại tướng đã xác định: “Nghệ thuật quân sự Việt Nam là lĩnh vực thuộc phạm trù văn hóa”.

Và điều đặc biệt thú vị nữa là, sau thất bại ở Chiến dịch Điện Biên Phủ, chính tướng bại trận Henri Navarre - Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương - đã phải thừa nhận rằng: “Sức mạnh to lớn của Việt Minh nằm trong sức mạnh huyền thoại của dòng giống người Việt, lòng yêu nước và nhất là ý thức xã hội mà họ đã xây dựng được... Chính phủ Việt Minh đưa cuộc chiến vào tất cả các lĩnh vực - chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội và quân sự - tạo ra một động lực hết sức mạnh mẽ”[2]. Tuy rất cay đắng vì thất bại, song tướng H.Navarre đã tìm ra được chân lý, được nguyên nhân sâu xa gây nên thất bại của mình vì không hiểu được “động lực hết sức mạnh mẽ” của văn hóa quân sự Việt Nam, của văn hóa yêu nước, giữ nước của dân tộc chúng ta.


Lý giải vì sao nhân dân ta đã đánh thắng hai đế quốc nói chung và Chiến thắng Điện Biên Phủ nói riêng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: “Sẽ không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này nếu không nhìn sâu vào chiều dày lịch sử xa xưavào nền văn hóa dân tộc, vào truyền thống và di sản quân sự của tổ tiên...”[3].

Đặc điểm bao trùm và sâu sắc nhất của văn hóa giữ nước - yêu nước của dân tộc ta được hình thành và phát triển hàng nghìn năm nay, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định là: “Bí quyết quan trọng bậc nhất là: Phải thực hiện cả nước chung sức đánh giặc, phải tổ chức toàn dân kháng chiến. Quân phải đánh giặc, đồng thời dân cũng phải đánh giặc”[4]. Thử sơ lược nhìn lại một vài sự kiện lịch sử để hiểu rõ đặc trưng văn hóa giữ nước này từ xa xưa cho tới đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Có lẽ, truyền thuyết “Thánh Gióng” là biểu hiện văn hóa đầu tiên của văn hóa giữ nước của dân tộc ta. Gióng đánh quân xâm lược một mình? Không phải. Ai nuôi Gióng từ một cậu bé bỗng lớn lên thành Phù Đổng. Cơm gạo của dân làng. Ai rèn đúc vũ khí (ngựa sắt, gươm sắt) cho Gióng. Dân làng. Thanh gươm bị gẫy, vũ khí thay thế của Gióng là các cụm tre làng. Gióng đã thắng, đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi đất nước, song, đó chính là sức mạnh nhân dân trong Gióng đã làm nên chiến thắng. Đó là sức mạnh tổng hợp, tổng lực của văn hóa giữ nước của dân tộc ta. Tôi nhớ, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Alain Ruscio - sử gia người Pháp đã nhận xét: “Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân dân Việt Nam cùng kề vai, sát cánh...”[5]. Thật thú vị khi có sự trùng hợp của hai hình ảnh trên.

Văn hóa giữ nước huy động sức mạnh của cả dân tộc khi bị kẻ thù xâm lược là bí quyết của mọi chiến thắng. Tướng bại trận tại Điện Biên Phủ - De Castries đã phải thốt lên: Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc.

Văn hóa giữ nước, bảo vệ Tổ quốc như vậy, tất yếu tạo ra nghệ thuật quân sự đặc biệt, riêng có của Việt Nam, đó là chiến tranh nhân dân, mà đặc trưng của nó là sức mạnh bắt nguồn trong lực lượng hùng hậu của nhân dân được giác ngộ và được tổ chức.

Thử đối chiếu hai trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước ta: Trận Ngọc Hồi - Đống Đa của thế kỷ XVIII và trận Điện Biên Phủ giữa thế kỷ XX sẽ cho ta thấy sức mạnh của văn hóa giữ nước và sự kế thừa, phát triển của chiến tranh nhân dân. Chỉ trong vòng hơn một tuần, người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ đã tập hợp, tổ chức lực lượng quân đội từ trong nhân dân, nông dân hùng hậu từ miền Trung ra đến phía Bắc, hành quân thần tốc đánh bại 29 vạn quân Thanh, đất nước sạch bóng quân thù, kết thúc chiến tranh.

Để chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quân và dân cả nước, từ Bắc tới Nam đã phối hợp tiêu diệt sinh lực địch, cô lập Điện Biên Phủ. Không chỉ có bộ đội chiến đấu ở Điện Biên Phủ mà còn hàng vạn, hàng triệu thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến hành quân đem đạn dược, vũ khí, mở đường, tiếp tế hậu cần... cho chiến dịch. Cả nước ra trận vì trận quyết chiến chiến lược này, đúng như sau này, nhà thơ Chính Hữu đã viết: “Có những ngày vui sao, cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục” (khi trận Điện Biên Phủ sắp diễn ra, tôi còn bé, nhưng vẫn nhớ như in: Gia đình tôi, lúc đó có 9 anh chị em thì 3 anh đã tự nguyện đi thanh niên xung phong. 3 chị đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch, trong đó có chị chưa đến 15 tuổi. Ở nhà chỉ còn có bố mẹ già và 3 đứa em nhỏ, thiếu ăn. Đồng cảm với những người ra trận, bà con làng xóm đã tự nguyện ùn ùn gánh ngô đến ủng hộ gia đình. Tôi nhớ, ngô chất thành như núi trong nhà). Văn hóa giữ nước đâu còn là một khái niệm trừu tượng mà chính là những cái cụ thể, hằng ngày nhất và đặc biệt được thể hiện trong phẩm giá những con người bình thường nhất, trước hết là những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu.

Thời phong kiến, trong kế sách giữ nước của ông cha ta có chính sách “ngụ binh ư nông”. Người nông dân sẵn sàng bỏ cày, bỏ cuốc, trở thành nghĩa sĩ, nghĩa binh, nghĩa quân khi có giặc xâm lược đất nước, khi có lời hiệu triệu cứu nước. “Ngụ binh ư nông” là một nét văn hóa giữ nước vô cùng độc đáo của dân tộc ta đã tồn tại từ hàng trăm năm. Ngày xưa, những người lính dũng cảm của anh hùng dân tộc Quang Trung đều là từ nông dân. Ở trận Điện Biên Phủ cách đây 70 năm, có lẽ, phần lớn “chiến sĩ Điện Biên” cũng từ đồng quê mà trưởng thành, trở thành Bộ đội Cụ Hồ, thành Anh hùng.

Bốn từ “Quyết chiến - Quyết thắng” trên lá cờ ở Chiến dịch Điện Biên Phủ giúp tôi nhớ tới hai từ “Sát Thát” được viết trên tay những người lính thời Trần quyết diệt quân xâm lược và dòng chữ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của cảm tử quân Trung đoàn Thủ đô chiến đấu bảo vệ Hà Nội hơn 60 ngày đêm năm 1946. Đó không hề là một khẩu hiệu hô hào suông. Đó là ý chí kiên cường, quả cảm của người lính và đó chính là hành động tự nguyện của các thế hệ người lính Việt Nam quyết tâm sắt đá diệt giặc để giữ nước, bảo vệ và giải phóng đất nước như lời hịch năm xưa “dẫu có trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa cũng cam lòng”. Và đó chính là những giá trị văn hóa bền vững và phát triển trong lịch sử dân tộc ta từ ngàn xưa đến hiện tại. Một dòng chảy văn hóa giữ nước không bao giờ, không thể đứt đoạn. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã minh chứng hùng hồn cho sự thật lịch sử đó.

56 ngày đêm cực kỳ gian khổ và hy sinh trên chiến trường Điện Biên Phủ, nếu không có sự đoàn kết, gắn bó, thương yêu nhau như tình cảm ruột thịt, chắc rằng người lính không thể trụ vững. Ngược lại, ở nơi đây đã trở thành tấm gương sáng ngời của tình đồng đội, đồng chí, cán bộ với chiến sĩ. Khi được lên Điện Biên tham gia tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm chiến thắng (1984), tôi lặng đi vì ngỡ ngàng và xúc động khi chứng kiến những chiến sĩ Điện Biên ôm chặt nhau, khóc không thành tiếng, đứng lặng đi với những đôi mắt đỏ hoe chứa đầy nước mắt trước Nghĩa trang Liệt sĩ Đồi A1 (lúc đó, còn đơn sơ lắm). Một vẻ đẹp kỳ lạ trong đau thương của người lính. Nghĩa tình đồng đội, đồng chí là một giá trị văn hóa tuyệt vời của Bộ đội Cụ Hồ, mà đỉnh cao của nó trước những thử thách vô cùng khốc liệt, nghiệt ngã ở chiến trường Điện Biên Phủ. Song giá trị văn hóa mới đó có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử dân tộc, trong văn hóa giữ nước của chúng ta. Tôi nhớ đến tình cảm “phụ tử chi binh” của thời Trần, “huynh đệ chi binh” của thời Lê và “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” có từ thời khởi nghĩa Lam Sơn.

Lịch sử dân tộc ta từng chịu quá nhiều đau thương mất mát, bị tàn phá, hy sinh do các cuộc chiến tranh xâm lược gây ra. Cũng chính vì thế mà dân tộc ta vô cùng yêu quý hòa bình, cho dù khi chỉ có vài ngày giữa cuộc chiến. Vì vậy, nói văn hóa giữ nước Việt Nam không chỉ là sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, không chỉ là chiến lược, chiến thuật các trận đánh (nội dung này là cả một kho tàng phong phú mà cha ông ta đã để lại), mà còn chính là văn hóa yêu hòa bình, và không còn cách nào khác, phải chiến đấu cũng bởi vì hòa bình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác quyết: “Chúng tôi đã nhiều lần chứng tỏ thiện chí của mình. Nếu các ông muốn hòa bình thì sẽ có hòa bình. Còn nếu không, muốn chiến tranh thì sẽ có chiến tranh” và “Hãy tin rằng chúng tôi sẽ làm tất cả để tránh khỏi thảm họa này”[6]. “Đó là một cuộc chiến mà chúng tôi bắt buộc phải làm, chúng tôi là một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhất thế giới”[7]. Kẻ thù hung tàn, cường bạo đã bắt buộc chúng ta phải vào cuộc chiến để giành Hòa bình cho dân tộc, song, với Đại tướng, đó phải là “một nền hòa bình trong tự do và công bằng... chứ không phải hòa bình trong nhẫn nhục, mất danh dự và nô lệ”[8]. Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ là biểu hiện sáng ngời của văn hóa giữ nước - văn hóa yêu hòa bình Việt Nam, bởi vì chiến đấu để “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” như lời khẳng định đanh thép trong “Bình Ngô đại cáo”. Đó là tư tưởng quân sự độc đáo Việt Nam, biết cách đánh thắng bằng bản sắc văn hóa riêng của dân tộc chúng ta. Ở chiến trường Điện Biên Phủ, chúng ta đã thực hiện trọn vẹn, hoàn hảo điều đó.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phẩm chất “cả gan làm việc” ở người cán bộ

“Cả gan làm việc” là quan điểm độc đáo, đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dũng khí, bản lĩnh, phương pháp, tác phong làm việc của người cán bộ, là yêu cầu đặc biệt, ở tầm cao về phẩm chất, nhân cách của người cán bộ trong mối quan hệ với công việc. Phẩm chất này giúp người cán bộ có đủ dũng khí, dám vươn lên, vượt qua khó khăn, thử thách, chiến thắng suy nghĩ và hành động cá nhân chủ nghĩa, “có gan” đứng ra đảm nhận, phụ trách công việc, dám dấn thân vì lợi ích chung của tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân… Tựu trung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ “cả gan làm việc” được thể hiện ở một số nội dung sau:

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu thể hiện ở sự sáng suốt trong lựa chọn, sử dụng và bố trí, tin dùng cán bộ, dám giao việc cho cán bộ cấp dưới. Theo Người, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”. Khi thấy rõ phẩm chất, năng lực của cán bộ, thì phải tin tưởng và giao việc cho họ, bởi vì: “Nếu không tin cán bộ, sợ họ làm không được, rồi việc gì mình cũng nhúng vào. Kết quả thành chứng bao biện, công việc vẫn không xong. Cán bộ thì vơ vẩn cả ngày, buồn rầu, nản chí”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài; bên cạnh đó, sử dụng cán bộ phải thật sự thận trọng: “Cất nhắc cán bộ không nên làm như giã gạo”. Nghĩa là, trước khi cất nhắc cán bộ không xem xét kỹ về khả năng và trình độ, khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ một cách thích đáng, để khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên. Người nói, một cán bộ bị “nhấc lên”, “thả xuống” ba lần như thế thì “hỏng cả đời”.

Biểu hiện "cả gan làm việc" của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn là ở chỗ phải tin tưởng vào cán bộ cấp dưới, tạo điều kiện, cơ hội để khuyến khích họ phát huy năng lực và tinh thần trách nhiệm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ. Khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm”. Đặc biệt, phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn được thể hiện ở tinh thần “dám” bứt phá, đổi mới sáng tạo, bản lĩnh, quyết đoán; mạnh dạn “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, “dám” vứt bỏ những gì của ngày hôm qua đã không hợp thời nữa, thay đổi cách thức công tác. Cán bộ lãnh đạo phải coi trọng và có hình thức khen thưởng kịp thời đối với những cán bộ cấp dưới dám nói, dám đề ra sáng kiến, có gan phụ trách, có gan làm việc; đồng thời, nghiêm khắc phê bình cán bộ có tư tưởng cầm chừng, ỷ lại, sợ trách nhiệm... Khen phải đúng, khen để tạo động lực cho cán bộ phát huy năng lực, tinh thần làm việc, dám nói, dám làm; đồng thời, không được khen quá mức, dễ gây ra sự chủ quan. Người cán bộ lãnh đạo phải “thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người chỉ huy.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất “cả gan làm việc” của người chỉ huy là sự quyết đoán, sắc sảo, nhạy bén, mưu trí, táo bạo, dũng cảm, có dũng khí, gan góc, gặp việc gì cũng phải có “gan” làm, có “gan” chịu trách nhiệm; có tinh thần dám đánh và biết cách đánh thắng quân thù; mưu lược, biết địch, biết ta, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng quân thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”. Muốn “cả gan làm việc” thì người chỉ huy phải có đầy đủ các phẩm chất Trí - Tín - Dũng - Nhân - Liêm - Trung. Trí là phải có đầu óc sáng suốt để nhìn mọi việc rõ ràng, để suy xét cho đúng. Tín là phải làm cho người ta tin mình. Ví dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn có nghĩa là tự tin vào sức mình, nhưng không phải là tự mãn, tự cao. Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh. Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch đã đầu hàng, ta phải khoan dung. Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, chớ tham danh vọng, tham sống. Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. Người yêu cầu, người làm công tác tổ chức - cán bộ phải làm tốt khâu phát hiện và lựa chọn, đào tạo cán bộ; không được thiên tư, thiên vị, không phân biệt người trong hay người ngoài Đảng, mà phải lựa chọn được người thật sự có đức, có tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước”. Trong sử dụng cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải có lập trường, bản lĩnh để cán bộ cấp dưới mạnh dạn đưa ra ý kiến, có gan phụ trách, có gan làm việc, đổi mới sáng tạo; người làm công tác cán bộ phải có gan cất nhắc cán bộ và chịu trách nhiệm về đề xuất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, người làm công tác tổ chức - cán bộ cần phải liêm chính, trong sáng, công tâm trong đánh giá ưu điểm của người cán bộ; đồng thời, sẵn sàng giúp đỡ cán bộ khắc phục hạn chế, yếu kém của họ. Người nhắc nhở: “Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người sửa chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được”. Người phê phán cách dùng người không hợp lý làm cho cán bộ không thể hoàn thành được nhiệm vụ.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ kiểm tra.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ kiểm tra được thể hiện ở việc dũng cảm tự phê bình và phê bình, mạnh dạn, có dũng khí, vì lợi ích chung của tập thể để nói lên hạn chế của tổ chức, cơ quan, cá nhân mà không e ngại, sợ va chạm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ kiểm tra phải “cả gan nói”, tức là mạnh dạn chỉ ra khuyết điểm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương và của cả cấp trên, trên cơ sở khoa học, với tinh thần xây dựng, nhằm mục đích khắc phục, sửa chữa khuyết điểm để làm việc cho tốt hơn. Người cán bộ kiểm tra cần “cả gan” phê bình cấp trên, nhưng phải trên nguyên tắc chân thành, đúng mực. Người cán bộ kiểm tra phải có thái độ dứt khoát trong việc xem xét và “cả gan” xử phạt những cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm với nguyên tắc không có trường hợp ngoại lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”.

Sưu tầm

Những chỉ dẫn đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà chiến lược quân sự thiên tài, người trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong hệ thống di sản tư tưởng, lý luận quý báu mà Người để lại, có những luận điểm đặc sắc về xây dựng quân đội nhân dân cần được quán triệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Những luận điểm đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội nhân dân mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa trong xây dựng quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa cùng với hoạt động thực tiễn phong phú của Người trong tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta. Những luận điểm đó không những đã được kiểm chứng tính đúng đắn qua thực tiễn xây dựng Quân đội nhân dân trước đây, mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị và vẫn là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Trước hết, về tính tất yếu phải xây dựng Quân đội nhân dân. Luận giải đầy đủ cả cơ sở lý luận và thực tiễn, Người cho rằng: xây dựng Quân đội nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, cần kíp nhất, điều kiện tiên quyết để kháng chiến thắng lợi. Do đó, khi nói về nhiệm vụ của nhà nước dân chủ mới, Người chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách, đặt lên hàng đầu: “Để kháng chiến thắng lợi, nước nhà phải xây dựng nhiều mặt: Xây dựng quân đội - Một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng”. Bước sang giai đoạn cách mạng mới, cần tiếp tục thi đua xây dựng Quân đội hùng mạnh để bảo vệ thành quả cách mạng, giữ gìn hòa bình, thống nhất Tổ quốc và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người căn dặn: “... phải thi đua xây dựng Quân đội nhân dân hùng mạnh, làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”.

Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta không những sớm tổ chức ra Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, mà còn không ngừng chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện. Hiện nay, Đảng ta chủ trương: “Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân,... cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội,... tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân,... cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Hai là, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh là nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng. Trước mắt là tạo ra lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu, công cụ bạo lực cách mạng sắc bén để giành, giữ chính quyền, kiến tạo hòa bình, loại bỏ nguy cơ chiến tranh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Người chỉ rõ: “Để đánh thắng thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ và lũ Việt gian bù nhìn... ta phải có một quân đội nhân dân thật mạnh và luôn luôn tiến bộ”. Khi mục tiêu giành và giữ chính quyền đã hoàn thành, Người khẳng định mục đích cuối cùng của việc: “Xây dựng quân đội cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến hành chiến tranh cách mạng chính là chuẩn bị điều kiện để tiêu diệt hết thảy chiến tranh”, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc.

Từ chỉ dẫn quý báu trên của Người, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, để Quân đội làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định: “Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang được đổi mới về tổ chức, trang bị, nghệ thuật quân sự; sức mạnh tổng hợp tiếp tục được tăng cường; khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng cao; thực sự là quân đội của nhân dân, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

Ba là, về nội dung, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân, Người chỉ rõ phải xuất phát từ mục đích xây dựng Quân đội và phải căn cứ vào tình hình nhiệm vụ của cách mạng quy định nên rất toàn diện. Vì vậy, theo Người “... một mặt phải tiếp tục thực hiện kế hoạch huấn luyện cho quân đội, một mặt phải chuẩn bị thực hiện các chế độ chính quy và phải nghiên cứu giải quyết dần các vấn đề củng cố hậu phương. Đó là nhiệm vụ rất to lớn, rất quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta”. Nhất quán và làm rõ hơn tính toàn diện về nội dung, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, Người khẳng định: Quân đội nhân dân phải được xây dựng hùng mạnh để thực hiện ba chức năng: đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Các chức năng đó đều vẻ vang và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, Người nhấn mạnh: “Đảng và Chính phủ giao cho quân đội ta hai nhiệm vụ: 1. Xây dựng quân đội nhân dân ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu. 2. Thiết thực tham gia lao động sản xuất để góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là hai nhiệm vụ rất vẻ vang; hai nhiệm vụ đó nhất trí với nhau. Các chú cần phải ra sức học tập và công tác để xây dựng quân đội; đồng thời, phải ra sức tham gia sản xuất và tiết kiệm, ủng hộ những đơn vị chuyển sang sản xuất”.

Bốn là, về nguyên tắc xây dựng Quân đội nhân dân. Trung thành với học thuyết Mác - Lênin về tổ chức lãnh đạo, xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, vận dụng vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “lấy chính trị làm gốc” là một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.

Cùng với đó, để Quân đội ta thực sự là đội quân cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, Người chỉ rõ: Đảng phải lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội. Đây là nguyên tắc “bất di, bất dịch”, được xác định từ rất sớm, ngay trong “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” của Đảng (tháng 02/1930) do Người trực tiếp khởi thảo. Thực tiễn cho thấy, để giữ vững định hướng chính trị trong xây dựng Quân đội, trước sau như một, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, khẳng định dứt khoát vai trò độc tôn lãnh đạo quân đội công nông, không phân quyền lãnh đạo đó cho một giai cấp, một tổ chức, một đảng phái nào khác, vì thế mà: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”.

Năm là, phương thức xây dựng Quân đội nhân dân. Theo Người, để xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh, phải vận dụng tổng hợp các cách thức, biện pháp. Trước hết, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng và giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho Quân đội; trên cơ sở đó, đẩy mạnh công tác huấn luyện quân sự và kỹ thuật; phải chấp hành nghiêm chế độ và kỷ luật; phải hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất. Người nhấn mạnh: để Quân đội ta hoàn thành được nhiệm vụ đó thì cán bộ phải nâng cao quyết tâm và phải cẩn thận. Quyết tâm và cẩn thận phải đi đôi với nhau chứ không phải quyết tâm là mạo hiểm. Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn quân ta và phải biểu hiện cụ thể đối với từng loại hình đơn vị. Đối với các đơn vị bộ đội thường trực, phải tích cực học tập, chấp hành nghiêm chế độ, kỷ luật và sẵn sàng chiến đấu cao. Các đơn vị bộ đội sản xuất phải tích cực lao động hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất. Cán bộ phải có tinh thần trách nhiệm, chấp hành tốt mệnh lệnh và chỉ thị, khắc phục khó khăn, đi sâu đi sát thực tế, thường xuyên kiểm tra đôn đốc, chống quan liêu đại khái. “Toàn quân phải đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng quân đội ta thành một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu, học tập giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi”.

Thấu triệt những chỉ dẫn của Người, trong tiến trình đổi mới từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Đảng ta đều xác định chủ trương giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, đề ra những chủ trương, giải pháp lãnh đạo xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Ngày 20/7/2005, Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Đây chính là “chìa khóa vạn năng” để xây dựng Quân đội ta thành Quân đội vừa cách mạng, vừa hùng mạnh. Nhất quán quan điểm này, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, phải “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đang đứng trước cả thời cơ và thách thức đan xen, Quân đội đang quyết liệt thực hiện điều chỉnh tổ chức lực lượng tạo tiền đề vững chắc để tiến lên hiện đại. Trước tình hình đó, hơn bao giờ hết, Quân đội nhân dân càng phải thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng. Để hoàn thành trọng trách vẻ vang, nhiệm vụ thiêng liêng đó, chúng ta cần vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó, chú trọng thực hiện tốt các nội dung trọng tâm:

Một là, tiếp tục quán triệt, nghiên cứu làm sáng rõ hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân, làm cơ sở để vận dụng hiệu quả và phát triển sáng tạo vào quá trình xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đồng thời, tập trung nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện chủ trương, cơ chế, chính sách để tạo cơ sở chính trị, hành lang pháp lý nâng cao hiệu quả quán triệt, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân trong tình hình mới.

Hai là, các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Trọng tâm là Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII); Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo,... gắn với quán triệt và thực hiện những chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng Quân đội trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”.

Ba là, kiên định nguyên tắc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Trong đó, tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân; đồng thời, không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Quân đội ta. Thường xuyên củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân - nền tảng vững chắc để xây dựng Quân đội hùng mạnh.

Bốn là, từng cơ quan, đơn vị thường xuyên rà soát, kiện toàn tổ chức, biên chế, trang bị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Năm là, phải gắn việc đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện - đào tạo, quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao với nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, quản lý tư tưởng, kỷ luật.

Sáu là, thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật; phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội và phát triển kinh tế - xã hội.

Khắc ghi lời dạy của Người, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nguyện đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, không ngừng phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Sưu tầm

Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại

 

Cách đây tròn 70 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lập thêm một chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc-Chiến thắng Điện Biên Phủ. Chiến thắng đó bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc ta; từ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và tinh thần, ý chí quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vì độc lập, tự do của Tổ quốc...

Bảy thập niên đã trôi qua, nhưng âm hưởng, ý nghĩa và bài học lịch sử từ Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, trong đó có bài học về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, với những nội dung chủ yếu sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nghị quyết của Đảng về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội là nguyên tắc, vấn đề có tính quy luật quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của Quân đội. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng được thể hiện rõ nét, là nhân tố quyết định thắng lợi. Ngay từ tháng 1-1953, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: Phương hướng chiến lược trong thời gian tới là tạm thời “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do; đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch. Đây là quyết sách cực kỳ quan trọng của Đảng để đưa cuộc kháng chiến tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới trên mặt trận quân sự.

Trước tình hình thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch Navarre, cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp, phân tích, đánh giá tình hình địch-ta và xác định chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 với phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”. Bộ Chính trị nhấn mạnh các nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo tác chiến là: “Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt; chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng”. Đến đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào-Đông Bắc Campuchia, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó.

Quyết tâm chiến lược và tư tưởng chỉ đạo “đánh chắc thắng” của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là cơ sở để Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp quyết định đề xuất chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, trực tiếp đưa đến Chiến thắng Điện Biên Phủ. Đây chính là thành công nổi bật, là bài học quan trọng nhất về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự chấp hành, triển khai thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng.

Hiện nay và trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là chủ đạo, nhưng tiếp tục có những diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột quân sự, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ... Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất hiện nhiều loại vũ khí mới, hiện đại; chiến tranh công nghệ cao và chiến tranh phi tiếp xúc ngày càng phổ biến; các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp. Đối với nước ta, sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, tạo nền tảng vững chắc tiếp tục phát triển đất nước. Tuy nhiên, đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội... Tình hình trên đặt ra yêu cầu rất cao đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, bài học về giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội từ Chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên giá trị.

Để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, phải tiếp tục quán triệt, nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Quân đội. Trước hết, phải tổ chức quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 2-4-2022 của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch số 1228/KH-BQP ngày 25-4-2022 của Bộ Quốc phòng về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo... Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể, phương pháp tiến hành chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi cụ thể, phù hợp để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Hai là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, có bản lĩnh, tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cao luôn được chú trọng. Sau Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 3-1953, Tổng Quân ủy ra nghị quyết về chỉnh quân chính trị. Qua chỉnh quân chính trị, Quân đội được giác ngộ giai cấp và nâng cao một bước về trình độ hiểu biết Chủ nghĩa Mác-Lênin. Sức mạnh về chính trị tư tưởng được tăng lên gấp bội, là cơ sở thúc đẩy sự trưởng thành của Quân đội về mọi mặt.

Chuẩn bị bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cờ “Quyết chiến, quyết thắng” cho Quân đội. Thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được phổ biến khắp mặt trận, tạo ra không khí phấn khởi, thi đua lập công trên khắp các trận địa, góp phần củng cố tinh thần, quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Khi thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, phải chuẩn bị lại chiến trường cũng như trong quá trình chiến đấu vô cùng gian khổ, nhiều tình huống khó khăn. Song, được giáo dục, động viên kịp thời, cán bộ, chiến sĩ ta vẫn giữ vững ý chí, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, sáng tạo ra nhiều cách đánh độc đáo, hiệu quả, đưa chiến dịch đến toàn thắng.

Hiện nay, bài học xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cần tiếp tục được vận dụng và phát huy trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, bởi đây là nguyên tắc xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta nhằm giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng là nhân tố quyết định việc hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Theo đó, phải quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội, lấy xây dựng chính trị làm nền tảng. Xây dựng Quân đội phải toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực và trên mọi nhiệm vụ; phát huy cao độ nhân tố chính trị tinh thần. Chú trọng tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Tích cực, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Xây dựng cho quân nhân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thấm nhuần đạo đức cách mạng, gắn bó chặt chẽ với nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích quốc gia-dân tộc...

Ba là, thường xuyên xây dựng, kiện toàn tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Chiến thắng Điện Biên Phủ bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó có kết quả của việc xây dựng, từng bước hoàn chỉnh tổ chức LLVT, nòng cốt là QĐND. Ngay sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đặc biệt coi trọng xây dựng LLVT nhân dân. Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71/SL ấn định Quy tắc Quân đội quốc gia, quy định về tổ chức biên chế thống nhất từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, liên đoàn, tập đoàn của bộ binh, các đơn vị chuyên môn và hỏa lực trợ chiến. Căn cứ điều kiện thực tế, đến tháng 11-1946, ta chủ trương tập trung xây dựng, củng cố các đơn vị bộ đội quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến là phải tiến lên vận động chiến, mở những chiến dịch lớn, ngày 28-8-1949, Đại đoàn 308-đại đoàn chủ lực đầu tiên-chính thức làm lễ thành lập. Từ năm 1950 đến năm 1952, có 5 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh-pháo binh tiếp tục được thành lập. Đây là “những binh đoàn cơ động-quả đấm chiến lược” để thực hiện các chiến dịch lớn, các đợt hoạt động mang tầm chiến lược, tạo chuyển biến trên chiến trường. Đến năm 1953, chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, cùng với giáo dục chính trị tư tưởng, toàn quân thực hiện chỉnh đốn về tổ chức. Các đơn vị được bổ sung, kiện toàn tổ chức biên chế, củng cố thêm chất lượng của LLVT, sẵn sàng bước vào chiến dịch.

Trên cơ sở các đơn vị chủ lực được tổ chức xây dựng và rèn luyện trong chiến đấu qua nhiều chiến dịch lớn, được củng cố trong chỉnh huấn chính trị, quân sự; trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Tổng Tư lệnh đã sử dụng lực lượng nhiều đại đoàn chủ lực mạnh: 308, 312, 316, 304 (thiếu), 351, tạo sức mạnh đột phá, đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất, kiên cố nhất của địch. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch luôn kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, kịp thời kiện toàn tổ chức biên chế lực lượng của các đơn vị, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến.

Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, trên cơ sở biểu tổ chức, biên chế mới, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) hiện có và với nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam trong điều kiện mới. Trước hết, triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kế hoạch về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo. Khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian và quân số phục vụ, bảo đảm, nhằm tăng cường quân số cho khối đơn vị. Khối đơn vị chiến đấu, điều chỉnh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh, khả năng cơ động lực lượng, sẵn sàng chiến đấu cao. Sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sản xuất quốc phòng; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế một số nhà trường Quân đội phù hợp với tổ chức của Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh.

Bốn là, thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ; đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo; đẩy mạnh nghiên cứu phát triển lý luận quân sự, quốc phòng và khoa học quân sự hiện đại.

Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trong toàn quân. Đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, Quân đội ta đã có đội ngũ cán bộ lớn mạnh, có khả năng, trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu. Chỉ huy các cấp đã được đào tạo, rèn luyện, thử thách, trải qua nhiều cương vị công tác, nhiều chiến dịch lớn, nhiều đồng chí có thành tích xuất sắc qua thực tiễn chiến đấu và chỉ huy chiến đấu. Với năng lực, kinh nghiệm dày dạn trận mạc và được đào tạo, bồi dưỡng, việc chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu trong chiến dịch đã diễn ra chặt chẽ, nhịp nhàng, quyết đoán, đưa đến thắng lợi vang dội. Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhiều đồng chí tiếp tục có những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trở thành những nhà quân sự, chính trị xuất sắc, cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Cùng với xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công tác huấn luyện được đặc biệt chú trọng nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội. Từ tháng 9-1953, sau chỉnh huấn chính trị, Quân đội ta tiến hành chỉnh huấn quân sự, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, nâng cao trình độ đánh công kiên cũng như đánh vận động, cả ban ngày và ban đêm... Các đơn vị tiến hành luyện tập thực tế, coi thao trường như chiến trường, huấn luyện như chiến đấu. Qua chỉnh huấn quân sự, khả năng chiến đấu hiệp đồng binh chủng, trình độ chỉ huy, chiến thuật, kỹ thuật, tác phong chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao, đặc biệt là đánh tập đoàn cứ điểm.

Với đội ngũ cán bộ được xây dựng, bồi dưỡng và rèn luyện, toàn quân được chỉnh huấn quân sự, trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc. Về chỉ đạo chiến lược, với 5 đòn tiến công chiến lược trên khắp chiến trường Đông Dương, ta đã phá được kế hoạch tập trung khối cơ động mạnh, làm đảo lộn thế bố trí của quân Pháp, từ đó buộc Pháp phải thay đổi bố trí lực lượng trên chiến trường và chấp nhận một trận chiến quyết định với ta ở Điện Biên Phủ. Về nghệ thuật chiến dịch, ta đã sớm hình thành thế bao vây, tiến công và bao vây, ngày càng siết chặt từng cứ điểm, cụm cứ điểm và cả Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chia cắt thế liên hoàn của tập đoàn cứ điểm địch. Với hỏa lực mạnh, ta tổ chức tập trung đánh chắc thắng, tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm theo kiểu “bóc vỏ” từ ngoài vào trong, từng bước uy hiếp tiến tới tiêu diệt khu vực trọng yếu nhất của địch. Về chiến thuật, ta đã tổ chức thành công các trận công kiên hiệp đồng binh chủng lớn có hỏa lực pháo binh yểm trợ; tiến hành các trận chiến đấu phòng ngự trận địa dài ngày, sáng tạo ra cách đánh “vây, lấn” độc đáo, hiệu quả, gây bất ngờ cho địch.

Hiện nay, để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, việc xây dựng nhân tố con người vẫn luôn là yếu tố có ý nghĩa quyết định theo đúng quan điểm “người trước, súng sau”. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ; đề ra chủ trương, giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết số lượng, điều chỉnh cơ cấu, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ.

Cùng với đó, đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện-đào tạo, tạo nguồn cán bộ các cấp có đủ phẩm chất cách mạng, tư duy, năng lực chuyên môn, trình độ chỉ huy, quản lý... Xây dựng hệ thống nhà trường tinh, gọn, mạnh, hiện đại; chương trình đào tạo sát thực tiễn hoạt động của đơn vị. Việc tổ chức huấn luyện phải chặt chẽ, đúng phương châm, quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp; chú trọng truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn kết hợp với việc làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại, áp dụng khoa học kỹ thuật. Tập trung nâng cao chất lượng các cuộc diễn tập, hội thao, hội thi, diễn tập hiệp đồng quân, binh chủng...

Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu, phát huy nghệ thuật quân sự độc đáo, đặc sắc Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đánh thắng kẻ thù trên các mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vận dụng linh hoạt “thế, lực, thời, mưu” với nhiều cách đánh sáng tạo để giành thắng lợi với tổn thất ít nhất. Phát triển lý luận và thực tế về tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo điều hành chiến tranh, chỉ huy tác chiến và tiến hành chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới, phù hợp với các hình thái chiến tranh, đối tượng tác chiến, loại hình tác chiến chiến lược, VKTBKT hiện đại. Phát triển nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, tác chiến liên hợp. Phát triển tư tưởng, phương châm chỉ đạo, phương thức tiến hành, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam...

Năm là, tiếp tục nghiên cứu công tác hậu cần-kỹ thuật (HC-KT) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng với các mặt công tác khác, công tác bảo đảm HC-KT được gấp rút triển khai. Hội đồng Cung cấp mặt trận ở Trung ương, các khu và các tỉnh từ Thanh Hóa trở ra được thành lập để huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch. Ngành hậu cần đã huy động toàn bộ lực lượng, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, bao gồm cả lực lượng chiến đấu và dân công, với 12 triệu ngày công phục vụ chiến dịch; khối lượng vật chất phục vụ chiến dịch hơn 20.000 tấn. Công tác kỹ thuật đã tổ chức, huy động phương tiện và bảo đảm kỹ thuật tốt cho lực lượng vận tải cơ giới; bảo đảm an toàn, bí mật, đầy đủ vũ khí, đặc biệt là vũ khí pháo binh; đồng thời triệt để tận thu vũ khí, trang bị của địch, thực hiện “lấy của địch đánh địch”.

Vận dụng bài học về công tác HC-KT từ Chiến dịch Điện Biên Phủ trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại cần xây dựng hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý chỉ đạo công tác HC-KT bảo đảm thống nhất, đồng bộ, tinh, gọn, hiệu quả, phù hợp với tổ chức lực lượng Quân đội, phát huy được sức mạnh của các cấp, các ngành và của toàn dân. Có đội ngũ cán bộ, nhân viên HC-KT chất lượng cao, đủ khả năng làm chủ phương tiện, trang bị kỹ thuật hiện đại. Kiện toàn tổ chức ngành kỹ thuật theo hướng “tinh, gọn, mạnh, thống nhất”, phù hợp với tính năng công nghệ của VKTBKT và nhiệm vụ của từng cấp. Đổi mới phương thức bảo đảm kỹ thuật đối với VKTBKT thế hệ mới, công nghệ cao.

Kết hợp tốt các phương thức bảo đảm truyền thống với ứng dụng khoa học-công nghệ, tổ chức triển khai bảo đảm linh hoạt, kịp thời, đầy đủ cho các nhu cầu của Quân đội cả thời bình và thời chiến, trong mọi tình huống chiến tranh hiện đại, công nghệ cao, trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và các thách thức an ninh phi truyền thống khác. Có các cơ sở bảo đảm HC-KT nòng cốt, đồng bộ với khu vực phòng thủ, tạo thế liên hoàn vững chắc theo hướng bố trí chiến lược tại các vùng, miền gắn với phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, đồng thời tổ chức bảo đảm HC-KT theo phương thức hiện đại để nâng cao chất lượng công tác bảo đảm.

Sáu là, đẩy mạnh công tác đối ngoại, phát triển công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa VKTBKT.

Để đi đến Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã từng bước chuẩn bị một cách toàn diện, kỹ càng cả về nhân lực, vật lực và trong quá trình đó, sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế là hết sức quan trọng. Quán triệt quan điểm “Đông Dương là một chiến trường”, Quân đội ta đã xây dựng được khối đoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Từ năm 1950, sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô, chúng ta đã nhận được từ những quốc gia này sự giúp đỡ cả về vật chất và chính trị, trong đó có nhiều loại hỏa lực hiện đại, tạo sức mạnh đánh bại đối phương. Bên cạnh nguồn viện trợ, ta rất chú trọng và nỗ lực xây dựng, phát triển ngành quân giới, vừa sửa chữa, vừa sản xuất một số loại vũ khí, bảo đảm một phần VKTBKT cho LLVT.

Hiện nay, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một bộ phận quan trọng của ba trụ cột đối ngoại, nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình, đồng thời, góp phần củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, phục vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Thời gian tới, toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh, triển khai thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Kết luận số 53-KL/TW ngày 28-4-2023 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

Qua hoạt động đối ngoại quốc phòng và hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực quốc tế phục vụ sự nghiệp hiện đại hóa Quân đội, phát triển công nghiệp quốc phòng, kỹ thuật quân sự. Triển khai và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26-1-2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, tiếp tục xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đạt trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại, gắn phát triển công nghiệp quốc phòng với công nghiệp quốc gia, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, có hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo đảm VKTBKT cho LLVT nhân dân. Kết hợp phát triển công nghiệp quốc phòng để tự trang bị với mua sắm vũ khí, khí tài mới, hiện đại gắn với nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao, đổi mới công nghệ, nhất là các công nghệ mới, hiện đại, làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại.

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm bảo đảm cho Quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 70 năm đã trôi qua, nhưng những bài học từ Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 vẫn còn nguyên giá trị trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Những bài học đó cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát huy, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng Quân đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.