Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

QUÂN ĐỘI ĐÃ VÀ ĐANG LÀ MỤC TIÊU CHỐNG PHÁ TRỌNG ĐIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, “NHÓM LỢI ÍCH”

 



Trong 6 tháng đầu năm 2024, bất cứ vấn đề, vụ việc nào có liên quan đến Quân đội đều bị các thế lực thù địch, lực lượng phản động, cực đoan, cơ hội, chống đối chính trị, nhất là “nhóm lợi ích” triệt để lợi dụng để chống phá, hạ uy tín Quân đội. Trong đó, chúng tập trung xoáy sâu vào các vụ việc, vấn đề liên quan đến công tác sắp xếp tổ chức, biên chế trong Quân đội; công tác quản lý, sử dụng vũ khí, trang thiết bị; công tác quản lý, sử dụng đất quốc phòng; công tác quản lý bộ đội … để hướng lái dư luận có cái nhìn thiếu khách quan về hoạt động cũng như môi trường trong Quân đội. Đáng chú ý, thời gian qua, nổi lên hoạt động của các “nhóm lợi ích” nhằm hạ uy tín Quân đội, như: Lan truyền các thông tin về vấn đề chuẩn bị nhân sự cấp cao có liên quan đến lãnh đạo Bộ Quốc phòng; sử dụng báo chí, truyền thông, mạng xã hội để “đẩy nóng” vấn đề chơi golf trong Quân đội; tác động đến các cơ quan chức năng của Đảng để điều tra, bới móc dấu hiệu được cho là sai phạm trong các vụ việc, vụ án liên quan đến Quân đội…

ĐẤU TRANH BẢO VỆ Ý NGHĨA CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

 


Trong những ngày đầu tháng 5, khi cả nước tưng bừng tổ chức nhiều hoạt động Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2024), lực lượng phản động, cực đoan, cơ hội, chống đối chính trị ở trong và ngoài nước đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn. Theo đó, chúng tán phát nhiều luận điệu nhằm: Xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ; phủ nhận công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các anh hùng, chiến sỹ tham gia Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Vu cáo chính quyền, xuyên tạc tình hình tại địa phương và kêu gọi người dân tẩy chay các hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Kích động, “hâm nóng” tư tưởng “ly khai, tự trị” của người dân tộc thiểu số, lôi kéo người Mông vượt biên, tham gia thành lập cái gọi là “Nhà nước Mông” và tham gia các hoạt động chống chính quyền.

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI” CỦA KẺ THÙ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


 

Để nhằm chống phá và đi đến xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ giữa thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đã dùng chiến lược “diễn biến hoà bình”. Chiến lược “diễn biến hoà bình” được tiến hành trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính trị tư tưởng, văn hoá; tấn công vào nhiều lực lượng, tổ chức chính trị-xã hội, trong đó quân đội được xác định là đối tượng trọng điểm. Thực hiện “diễn biến hoà bình” đối với quân đội các nước XHCN, chúng thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG GỬI THƯ CHÚC MỪNG KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CỤC ĐỐI NGOẠI!

     Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng (28-5-1964/28-5-2024), Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư chúc mừng tới toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động đã và đang công tác tại Cục Đối ngoại. Dưới đây là nội dung bức thư của Đại tướng Phan Văn Giang:

Thân ái gửi cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng

Các đồng chí thân mến!
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng (28-5-1964/28-5-2024), thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi thân ái gửi tới toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động đã và đang công tác tại Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Đại tướng Phan Văn Giang gửi thư chúc mừng kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Cục Đối ngoại
Trải qua 60 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu; được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các ban, bộ, ngành Trung ương, của cấp ủy đảng, chính quyền, nhân dân các địa phương và các tổ chức quốc tế; sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội; cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động Cục Đối ngoại đã phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đoàn kết, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, kịp thời tham mưu, nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng; góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý.

Tôi nhiệt liệt biểu dương, khen ngợi những thành tích và nỗ lực phấn đấu của Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng trong 60 năm qua. Mong rằng, trong giai đoạn cách mạng mới, các đồng chí tiếp tục phát huy thành tích đã đạt được, truyền thống “Trung thành, mưu lược, đoàn kết, chủ động, sáng tạo”, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ", chủ động, sáng tạo hơn nữa, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và không ngừng tiến bộ.
Chào thân ái và quyết thắng!

Yêu nước ST.

“Đảng và Chính phủ lúc nào cũng chú ý đến đồng bào vùng cao và càng ngày càng hết sức chú ý giúp đỡ đồng bào nhiều hơn nữa”

Đó là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi nói chuyện với Đoàn đại biểu các dân tộc ít người về dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động, ngày 01 tháng 5 năm 1959 tại Thủ đô Hà Nội.

Đây là giai đoạn miền Bắc đang đẩy mạnh phong trào tổ đổi công, tiến dần lên hợp tác xã; trong đó, đồng bào các dân tộc ít người là lực lượng chủ yếu trong phát triển phong trào ở miền núi. Lời khẳng định của Bác thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Chính phủ trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, nhất là đoàn kết với đồng bào các dân tộc ít người và trách nhiệm của Đảng, Chính phủ đối với việc thực hiện chính sách đó, góp phần cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào ở vùng cao.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước đã quan tâm với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn đối với đồng bào vùng cao, vùng dân tộc ít người; trong đó: Chú trọng phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể từng vùng, đảm bào cho đồng bào các dân tộc phát huy thế mạnh của địa phương, làm giàu cho mình và cho xã hội; ưu tiên phát triển giáo dục, coi trọng việc đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số; tôn trọng và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc…

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân đội đã thường xuyên quan tâm làm tốt công tác đào tạo, tuyển dụng con em các đồng bào dân tộc ít người với việc mở các lớp đào tạo thiếu sinh quân tạo điều kiện thuận lợi cho con em đồng bào học tập và công tác trong quân đội. Các đơn vị có bộ đội với nhiều dân tộc khác nhau, luôn lãnh đạo tốt việc xây dựng mối đoàn kết, gắn bó giữa cán bộ, chiến sĩ người kinh với người dân tộc; làm tốt công tác phân loại đối tượng huấn luyện, giáo dục để nâng cao chất lượng huấn luyện đối với bộ đội là con em dân tộc ít người. Đặc biệt, thực hiện chức năng đội quân công tác, các đơn vị quân đội luôn chủ động phối hợp tốt với cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể địa phương vùng cao, vùng sâu, vùng xa làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tích cực tham gia triển khai các chương trình, dự án xây dựng đơn vị kinh tế quốc phòng, gắn với phát triển kinh tế – xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đẩy mạnh phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, cuộc vận động “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, chương trình “Bò giống giúp người nghèo biên giới”, chương trình “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… góp phần xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống cho đồng bào, củng cố, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, thế trận quốc phòng toàn dân góp phần quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, thực hiện điều mong muốn của Người “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”.

Sưu tầm

“Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu khai mạc Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc năm 1952.

Sau 4 năm phát động, từ năm 1948 đến năm 1952, phong trào thi đua ái quốc đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Để tiếp tục cổ vũ, tuyên dương và mở rộng phong trào thi đua, từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 06 tháng 5 năm 1952, tại Việt Bắc, Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu đã được tổ chức. Đại hội vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khởi xướng phong trào thi đua ái quốc đến dự và phát biểu; Bác đặc biệt nhấn mạnh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, đem hết sức mình tham gia kháng chiến và kiến quốc thành công. Từ đó phong trào thi đua đã phát triển ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng qua các thời kỳ, trong các tầng lớp nhân dân và các lực lượng vũ trang, với nhiều nội dung phong phú và hình thức sinh động, góp phần quan trọng vào việc động viên sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện lời Bác dạy, phong trào thi đua yêu nước đã được cụ thể hoá thành phong trào thi đua Quyết thắng trong quân đội cổ vũ, động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hưởng ứng góp phần thực hiện tốt các khâu đột phá, khắc phục khâu yếu, mặt yếu, khơi dậy ý thức tự lực tự cường, vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Toàn quân xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trên các lĩnh vực công tác, trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Sưu tầm

Dùng dây thép gai của địch làm dây điện thoại

 

Tại Bảo tàng Thông tin, Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL), chúng tôi được tham quan hiện vật là cuộn dây thép gai của Tiểu đoàn Thông tin dã chiến 303 sử dụng làm dây điện thoại phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm TTLL phục vụ cho chiến đấu, ngày 15-2-1951, Tiểu đoàn Thông tin dã chiến 303 trực thuộc Cục TTLL được thành lập. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, liên lạc điện thoại được xác định là phương tiện chính, cực kỳ quan trọng, giúp cho chỉ đạo, chỉ huy thông suốt theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”: Đánh đến đâu, hào đào được đến đâu, lập tức có ngay đường dây điện thoại của các chiến sĩ thông tin được triển khai rải theo các đường trục, đi theo các vách, hoặc nằm sâu trong rãnh “mang cá”... được ghim tre giữ chặt đường dây dọc chiến hào để bảo đảm chỉ huy. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các cấp có thể thông qua liên lạc điện thoại tiến hành kiểm tra, động viên từng đơn vị trước khi bước vào trận đánh.

Trước đó, để bảo đảm TTLL cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục TTLL đã chuẩn bị gần 1.500km đường dây điện thoại chuyên dụng. Tuy nhiên, trong thực tế chiến đấu, số lượng ấy bị thiếu rất nhiều vì bom đạn địch phá hủy. Lúc đó, đồng chí Đào Ngoạn, Trợ lý Ban Thông tin chiến dịch có sáng kiến thử dùng dây thép gai thu được của địch để thay thế dây điện thoại. Sáng kiến đã được thử nghiệm, tuy đường truyền chưa đạt chất lượng như mong muốn nhưng cũng phát huy hiệu quả 70-80%. Sau đó, sáng kiến trên được áp dụng phổ biến trong các đơn vị Quân đội...

Ban đầu, việc gỡ các gai và tách sợi thép ra cũng rất mất thời gian. Vừa làm vừa nghiên cứu, các đơn vị đã nghĩ ra cách tháo dây thép từ việc sử dụng hai vỏ đạn súng trường hoặc van săm xe đạp hỏng, lồng vào hai đầu gai, xoắn ngược chiều nhau, tách đôi dây thép ra thành từng sợi rồi mắc một đoạn dây thép gai theo các hàng cây; đồng thời sử dụng mọi dụng cụ có thể cách điện đường dây như mảnh thủy tinh, sứ, mo cau khô... Dùng dây thép gai của địch vừa khắc phục được những đoạn dây thiếu, vừa thể hiện sự sáng tạo trong nghệ thuật quân sự của Quân đội ta.

Nhất quán khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn, quý giá của Đảng và dân tộc ta; là ngọn đuốc soi đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh và trước mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá, cần nhất quán khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thời gian gần đây, nhiều trang mạng như Trung tâm Asia, Chantroimoi media, Danlambao, Tiếng Dân News… thường xuyên đăng tải các thông tin sai trái nhằm xuyên tạc, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh. Một số ý kiến trên các trang mạng này cho rằng, “tư tưởng Hồ Chí Minh là sự du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa” chứ không phải là người cộng sản; “tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời”;…

Bên cạnh đó là những ý kiến cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin, tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; hoặc đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh với luận điệu “Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh, không cần chủ nghĩa Mác-Lênin”;…

Trước hết, cần thấy rõ một thực tế đó là tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam. Cùng với đó là sự tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông và phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin; trong đó, nét đặc sắc chính là sự kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin trên nền tảng những tinh hoa văn hóa được tích lũy, chắt lọc qua thực tiễn.

Đúng như Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo dân tộc giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; cũng như giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu quan trọng về mọi mặt trong gần 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế.

Mặt khác, cần khẳng định, bản chất của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác-Lênin và ngược lại.

Khằng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ".

Trong giai đoạn hiện nay, trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, nhất quán khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là thể hiện thái độ chủ động phòng, chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhất quán khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên quán triệt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân trên địa bàn, cơ quan, đơn vị. Căn cứ vào những yêu cầu thực tiễn đặt ra, cấp ủy, tổ chức đảng ban hành các nghị quyết, chủ trương, biện pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, biện pháp thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng, tổ chức lực lượng và vận động, tổ chức để cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, kiên quyết, chủ động vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận giá trị chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới" gắn với Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Đẩy mạnh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng Hồ Chí Minh; uốn nắn những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin về chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời, chủ động đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp.

Thứ ba, chú trọng phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện trong tuyên truyền, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chú trọng phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện trong nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình; tham mưu kịp thời với cấp ủy đảng, chính quyền các nội dung biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; cung cấp thông tin, kịp thời định hướng tư tưởng, nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Sử dụng và phát huy hiệu quả các cơ quan báo chí, truyền thông, các thiết chế văn hóa ở cơ sở. Thường xuyên đổi mới nội dung, biện pháp tuyên truyền, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nêu cao ý thức cảnh giác, chủ động phát hiện và đấu tranh kịp thời với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. 

Thứ tư, tăng cường tuyên truyền, giáo dục và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn hiện nay. Đẩy mạnh việc tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân về giá trị, tầm vóc, sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân phải mang tính toàn diện, đồng bộ, tập trung trước hết là giáo dục cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, sức mạnh, khả năng tự bảo vệ của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nằm ở chính kết quả hoạt động của triệu triệu quần chúng, cán bộ, đảng viên cộng sản, khi họ nhận thức sâu sắc sự đúng đắn bản chất cách mạng, khoa học, tin tưởng và làm theo tư tưởng của Người. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng hiện nay. Việc vận dụng có hiệu quả chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay chính là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở thực tiễn có sức thuyết phục nhất để đập tan các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

Sưu tầm

Những nhân vật "có tiếng" của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ

 

Yếu tố con người trong bất cứ trận đánh nào cũng mang tính chất tiên quyết tới kết quả cuối cùng; với trận chiến quan trọng như Điện Biên Phủ điều đó lại thể hiện rõ nhất khi thắng - bại đã quyết định cục diện chiến tranh và số phận của hai bên tham chiến.

Trong trận chiến này, Pháp đã dành cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ những người "ưu tú" nhất. Hãy cùng điểm danh bộ máy chính quyền nổi bật liên quan trực tiếp tới sự thất bại thảm hại cuối cùng của Pháp trong chiến tranh Đông Dương.

Sau thất bại của kế hoạch Navarre, người Pháp nhanh chóng thay thế bằng việc xây dựng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nhằm thu hút quân chủ lực Việt Nam đến đây để tiêu diệt, sau khi gặp nhiều khó khăn trên hầu khắp các chiến trường. Với sự đầu tư khổng lồ từ Mỹ, đây thực sự là pháo đài "mạnh nhất Đông Dương" cả về binh lực, hỏa lực. Nếu như về hỏa lực là các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ với sự chi viện các loại máy bay chuyên dụng từ Hà Nội và Hải Phòng lên thì đây là những đơn vị thiện chiến nhất, với những chỉ huy ưu tú nhất. Một số rất nổi bật và là linh hồn của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Người đầu tiên phải kể đến không ai khác chính là Navarre, tác giả, người chịu trách nhiệm tối cao về tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 55 tuổi, dành được khá nhiều thành tích từ khi mới khởi nghiệp và thăng chức khá nhanh, Navarre được kỳ vọng tương lai sáng lạn hơn những người tiền nhiệm, có khả năng "uốn nắn lại tình hình Đông Dương" và chuyển bại thành thắng. Sau thất bại của bản kế hoạch mang tên mình, có vẻ Điện Biên Phủ là phương án cứu nguy quá hoàn hảo, phù hợp thực tế chiến trường với mục đích ngăn chặn mối liên kết với Lào và tổ chức, vận dụng lực lượng quân Pháp đang rải rác ở Tây Bắc. Với nhãn quan chiến lược và những tính toán quân sự logic, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sẽ là cái bẫy khổng lồ để "nghiền nát" quân đối phương, dập tắt những cuộc nổi dậy của Việt Minh và bình định Đông Dương sau nhiều năm không được như mong đợi.

Cogny - Tư lệnh Bắc Việt Nam, không mấy thuận hòa với cấp trên của mình trong nhiều hoạt động nhưng lại vô cùng hào hứng và ủng hộ việc thiết lập Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sát sao từ quá trình xây dựng, triển khai lực lượng và không ngừng viễn vọng về cách Tập đoàn cứ điểm sẽ tiêu diệt quân đối phương, cho đến khi trước ngày diễn ra trận đánh, Cogny tổng cộng lên Điện Biên Phủ 11 lần (trong khi đó Navarre chỉ 9 lần) đã cho thấy ông ta dốc toàn tâm, toàn lực vào canh bạc cuối cùng này.

De Castries, Chỉ huy trưởng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, người thay thế không thể phù hợp hơn sau khi Tướng Gilles - chỉ huy tập đoàn cứ điểm Nà Sản và đánh chiếm Điện Biên Phủ từ chối vì lý do sức khỏe. Nổi tiếng là người dũng cảm, cá tính, không ngại dấn thân, thích phô trương bản lĩnh, tài năng của mình lại sinh ra trong gia đình quý tộc và truyền thống binh nghiệp, De Castries có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trên nhiều mặt trận từ chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến các trận đánh trước đó tại mặt trận Đông Dương. Nhận nhiệm vụ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khi mới chỉ là một Đại tá, De Castries đã biến kế hoạch Navarre thành hiện thực khi xây dựng căn cứ quân sự này kiên cố, vững chắc gồm 49 cứ điểm được chia thành 8 cụm cứ điểm với ba phân khu trong thế liên hoàn, hỗ trợ chiến đấu. Tính từ ngày đầu tiên đặt chân lên Điện Biên Phủ, 8-12-1953, De Castries tự đắc trong khoảng 3 tháng, lo lắng, sợ sệt 56 ngày sau đó và trở thành tướng bại trận trong chiến tranh xâm lược Đông Dương của người Pháp vào chiều 7-5-1954 lịch sử.

Luôn tự hào về pháo binh nên chẳng mấy ngạc nhiên khi Navarre gửi lên Điện Biên Phủ cho De Castries một chỉ huy pháo dày dạn kinh nghiệm như Piroth. Là một sĩ quan kỳ cựu về pháo binh với kinh nghiệm chuyên môn giỏi, đã từng tham gia chiến tranh thế giới lần thứ hai và đã để lại trên chiến trường nước Ý một cánh tay phải năm 1943, Piroth là sự bổ sung tuyệt vời cho chàng kỵ binh De Castries với tư cách chỉ huy phó Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đặc trách pháo binh. Tuy nhiên những ngày tháng ở Điện Biên Phủ quá ngắn ngủi và là trận chiến nhỏ bé so với Chiến tranh thế giới thứ hai nhưng mang lại cho Piroth nhiều đau thương khi trước đó luôn mạnh mồm tuyên bố "Không để cho bất cứ khẩu pháo nào của Việt Minh bắn quá ba phát mà không tiêu diệt được chúng" nhưng lại không thể dập tắt được hỏa lực pháo binh Việt Minh ngày từ những giờ phút đầu của cuộc chiến. Sự thất thủ nhanh chóng của cứ điểm Him Lam và phân khu Bắc đã khiến Piroth chỉ còn lối thoát danh dự duy nhất là tự sát bằng một quả lựu đạn trong chính căn hầm chỉ huy pháo của mình.

Người nổi tiếng nhất trong lực lượng Pháp tại Điện Biên Phủ không ai khác chính là Bigeard, một con người ương bướng, không được lòng cấp trên nhưng lại được binh lính mến phục. Tuy nhiên, Bigeard là người biết ứng phó khi gặp khó khăn, không chịu thất bại một cách dễ dàng, nhiều lần chiến đấu quyết liệt với bộ đội ta, điển hình trong trận đồi C1 và C2. Nhiều năm sau khi trở về từ Điện Biên Phủ, Bigeard trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp. Một cấp phó khác của De Castries đặc trách phân khu trung tâm là Pierre Langlais được đánh giá là dũng cảm, quyết đoán và luôn tích cực trong chỉ huy chiến đấu. Khác với cấp trên của mình, Langlais xuất thân trong một gia đình nghèo từ miền Tây nước Pháp, được đào tạo bài bản trong trường lớp quân sự và luôn cần mẫn, chăm chỉ với những nhiệm vụ được giao. Mặc dù không thích phô trương, sống cô độc nhưng ông ta lại khá gần gũi với thuộc cấp, binh lính dưới quyền mình.

Và nhân vật cuối cùng nằm trong "bộ máy chính quyền" của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là André Lalande đặc trách phân khu Nam, vai trò khá mờ nhạt, không gây ấn tượng nhiều ngoài việc cầm cố phân khu Nam cho đến phút cuối cùng và tổ chức được cuộc rút chạy khi Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sụp đổ nhưng vẫn không thành công.

Đối phương nói về Chiến thắng Điện Biên Phủ

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, có rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả trong nước và quốc tế tìm hiểu về thắng lợi của Việt Nam và thất bại của Pháp trong đó có những nhìn nhận, đánh giá của chính đối phương..

Trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra, tự tin vào sức mạnh của mình, Chính phủ Pháp cho rằng, Việt Minh không có khả năng tiến công tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm như Điện Biên Phủ. Phó chủ tịch Ủy ban phụ trách các vấn đề Đông Dương hỏi tướng Henri Navarre, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, rằng: "Với sự tăng viện mà ông đòi hỏi, có thể giúp ông đánh bại kẻ thù vào thời điểm tháng 1-1954 không?". Navarre khẳng định chắc chắn: “Tôi đang nghĩ như vậy vì kẻ thù đang khốn đốn, hậu phương của họ bị nghiền nát và chúng đã yếu đi”(1). Cùng chung nhận định trên là các nhà chiến lược quân sự của Bộ Quốc phòng Pháp cũng khẳng định: Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam không thể tiến công tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nếu Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam chủ trương tiến công tập đoàn này theo nghệ thuật tiến công thông thường, nghệ thuật tiến công mà các học viện quân sự nổi tiếng ở châu Âu và Bắc Mỹ đã nghiên cứu, giảng dạy từ lâu rồi.

Với sự tập trung binh lực mạnh mẽ, bộ chỉ huy quân Pháp tin rằng, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có thể vô hiệu hóa, tiến tới tiêu diệt các binh đoàn chủ lực trang bị còn hạn chế của Việt Nam. Ngày 2-1-1954, tướng Cogny, Tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương, khi trả lời phỏng vấn hãng tin AP (Mỹ), khẳng định: "Bộ chỉ huy Pháp tin chắc sẽ đánh cho Việt Minh đại bại ở Điện Biên Phủ. Chúng ta chờ đợi những cuộc chiến đấu ác liệt và kéo dài. Nhưng chúng ta sẽ thắng”(2). Trong lần tới kiểm tra tập đoàn cứ điểm, tướng Navarre tỏ ra thận trọng hơn, muốn tăng cường cho Điện Biên Phủ thêm 3 tiểu đoàn cơ động, vì cơ quan tình báo Pháp báo cáo là cuộc tiến công của ta có thể xảy ra vào ngày 13 hoặc 15-3. De Castries, chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã dứt khoát từ chối và ngạo mạn nói  rằng: “Thật vô ích! Sẽ gay go nhưng chúng tôi giữ được”(3).

 Sau nhiều tháng đánh giá tình hình, Navarre càng tin tưởng chủ lực Việt Minh không thể đánh được Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Không những thế, ông ta còn nhận định, đến cuối tháng 2-1954, cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân của Việt Minh đã vượt qua đỉnh cao nhất, đang bắt đầu đi xuống và trước sau gì cũng phải rút khỏi Điện Biên Phủ. Vì đó là nơi Việt Minh không thể đánh chiếm được; nếu chủ lực Việt Minh liều lĩnh mở cuộc tiến công thì đây sẽ “là trận tiêu diệt lớn khối chủ lực của Việt Minh”, là thời cơ hiếm hoi mà quân Pháp phải tận dụng. Tuy nhiên, họ không hề biết rằng sau đợt 1 của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và khi Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hình thành, vấn đề đặt ra với Bộ Tổng Tư lệnh và riêng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp không phải là tiến công hay không tiến công mà là đánh như thế nào để tiêu diệt được một tập đoàn cứ điểm mạnh? Và nếu không đánh bại được hình thức phòng ngự chiến lược mới này của quân Pháp, tức là không mở được cục diện thuận lợi cho cuộc kháng chiến phát triển. Đó chính là quyết tâm không lay chuyển và cũng là niềm tin của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông rời căn cứ Việt Bắc hành quân ra tiền tuyến.

Thế rồi, sau thất bại nặng nề của Pháp ngay trong đợt 1 chiến dịch (giữa tháng 3-1954), từ Thủ tướng Pháp Lanien đến Navarre, Cogny đều chuyển sang “thái độ bi quan sâu sắc”. Navarre than phiền rằng: “Tổn thất của chúng ta là nặng nề và chúng ta đã tiêu phí một số rất lớn vũ khí; dự trữ của chúng ta đã bị xuống rất thấp, cần phải nhiều thời gian mới bổ sung được”. Cogny thú nhận với một số nhà báo: “Điện Biên Phủ quả là một cái bẫy, nhưng không phải là cái bẫy với Việt Minh nữa, mà đã thành một cái bẫy đối với chúng ta”.

Một nguyên nhân bộ đội Việt Nam giành thắng lợi trong trận mở màn chiến dịch, điểm mới trong tác chiến chiến dịch là vai trò của pháo binh. Bộ chỉ huy Pháp không thể tin được là bộ đội Việt Nam có thể kéo pháo bằng tay vào các trận địa đặt trên núi cao hướng xuống lòng chảo Điện Biên Phủ. Uy lực và hiệu quả của những trận pháo kích khiến các khẩu pháo của Pháp bị phá hủy và khống chế. Tướng Yves Gras viết: “Trận đánh bắt đầu bằng sự xuất hiện của pháo binh Việt Minh và điều này đã gây nên bất ngờ chiến thuật thực sự... Pháo binh Việt Minh được bố trí thành từng khẩu riêng biệt suốt dọc sườn núi phía Đông của lòng chảo... bắn trực tiếp và có thể bắn dồn dập với một mật độ nhất định... Pháo binh Pháp rất dễ bị phá hủy bằng những phát đạn bắn thẳng từ trên núi”(4).

Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, mặc dù đánh phá ác liệt song quân Pháp vẫn không ngăn được con đường tiếp tế của đối phương cho mặt trận Điện Biên Phủ. 10 năm sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, Jules Roy, cựu Đại tá không quân Pháp phải thừa nhận: “Mặc dù nhiều tấn bom đã trút xuống các trục lộ giao thông nhưng tuyến tiếp tế của Việt Minh không bao giờ bị đứt... Tướng Navarre bị đánh bại không phải bởi các phương tiện chiến tranh mà là do trí thông minh và ý chí quyết thắng của đối phương”(5). Tướng Raoul Salan, người trực tiếp cầm quân chỉ huy trên chiến trường Việt Nam, khi nói về nghệ thuật quân sự của đối phương cũng bày tỏ khâm phục: “Quân đội Việt Minh là một lực lượng bộ binh xuất sắc... Lính bộ binh chính quy Việt Minh theo quan niệm của tôi là địch thủ ghê gớm nhất mà Pháp đã gặp phải từ sau trận Verdun. Lính bộ binh Việt Nam còn mạnh hơn người lính Đức vì với chất lượng đã có lại cộng thêm sức mạnh tập thể...”(6). Trong cuốn "Đông Dương đỏ", Raoul Salan cũng không ngần ngại nói rằng: “Sau 30 năm chiến tranh, vừa kết hợp được khả năng chiến đấu của mình, với lòng cuồng nhiệt và hăng say của quần chúng, người lính Việt Minh quả thực là một địch thủ đáng sợ trong thời đại ngày nay” và “Quân đội của họ (Việt Minh)-Quân đội giỏi nhất trên thế giới hiện nay, đã chiến đấu kể từ năm 1945. Được trưởng thành trong khói lửa, quân đội nay đã đạt tới đỉnh cao. Đó là một bộ máy chiến tranh không gì sánh kịp”.

Khi nhận xét về đội ngũ cán bộ chỉ huy của QĐND Việt Nam, trong cuốn “Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày”, tác giả Michael Maclear đã phân tích sâu sắc yếu tố chiến thắng của QĐND Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và vai trò của vị Tổng chỉ huy: “Đối với ông Giáp, cảm giác khi gặp thì người ta thấy ông là một con người giống Napoléon về dáng vóc và kiến thức. Ông ta là một chiến lược gia có tài... chẳng bao giờ thua một cuộc chiến tranh nào”. Cũng nhận định về đội ngũ của các tướng lĩnh cầm quân trên chiến trường Điện Biên Phủ, Đại tá Gabriel Bonnet, công tác tại Viện hàn lâm Quân sự Pháp, trong cuốn “Chiến tranh cách mạng Việt Nam” đánh giá: “Những nhà chỉ huy quân sự cao cấp của Việt Minh có đầy đủ các đức tính làm tự hào cho quân đội cách mạng, trung thành và đức tin chính trị, sự hiểu biết và sự thông minh tổng hợp... cho phép họ hoàn thành tất cả mọi nhiệm vụ, giải quyết những vấn đề quân sự rất phức tạp”. Còn ông Jules Roy, một ký giả người Pháp có mặt tại Điện Biên Phủ năm 1954 đã so sánh rằng: “Hỏi xem có được mấy vị tư lệnh binh đoàn, sư đoàn và trung đoàn của quân đội ta (Pháp) biết chịu đựng cùng binh sĩ, cùng sống như họ, chịu đi bộ, lặng lẽ, không ầm ĩ, nhưng rất đáng sợ như đối phương của ta đang ở quanh ta...”(7).

Đặc biệt, sự trưởng thành vượt bậc của QĐND Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng giáng cho đối phương những đòn bất ngờ. Sống sót sau trận Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, Trung tá Marcel Bigeard (sau là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp) chua chát rằng: “Những con người do tướng Giáp đào luyện thật là những chiến binh tuyệt vời! Những cuộc phản kích của quân Việt chặn đứng pháo binh của chúng tôi, các khẩu súng cối của chúng tôi không thể nhả đạn”(8). Và rồi Marcel Bigeard lại tự vấn: “Liệu có ai có thể tin được rằng những người Bắc Kỳ nhỏ nhắn ấy, những con người của đồng ruộng, thanh đạm, tích cực lao động, được huấn luyện chút ít về chính trị và quân sự lại đã có thể biến thành một phương tiện chiến đấu ghê gớm, linh hoạt, cơ động, bền bỉ, biết cách hành động, có năng lực không chỉ ở cấp độ người chiến binh mà cả ở cấp độ bộ chỉ huy... Trong lúc chúng ta đã không làm sao có thể chỉ định được một hoặc hai, thậm chí ba viên tướng chỉ huy chung các đơn vị của chúng ta ở Điện Biên Phủ”.

Từng rải truyền đơn thách thức tướng Giáp đưa quân đọ sức tại Điện Biên Phủ nhưng kết cục De Castries phải thú nhận: “Quân đội viễn chinh Pháp và các tướng tá Pháp chúng tôi là một đội quân nhà nghề, thiện chiến và trang bị hiện đại. Sự kiện tướng Giáp thắng chúng tôi ở Điện Biên Phủ làm chúng tôi ngạc nhiên về tài năng của ông... Tôi thừa nhận tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và Đại tướng Navarre. Tôi hân hạnh làm đối thủ của tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

Phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, chống quan điểm sai trái để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới

Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh-hệ thống tư tưởng mang ý nghĩa và giá trị thời đại, thì việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là một trong những giải pháp quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Vấn đề này luôn là cốt yếu nhằm thống nhất những nhận thức chưa đúng, đồng thời phản bác sự xuyên tạc nhằm hạ thấp, phủ nhận những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

Ý nghĩa và giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dù vậy, vẫn còn những nhận thức chưa đúng, hiểu chưa thấu đáo, nhất là việc các thế lực thù địch lợi dụng tự do, dân chủ, lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh. Thậm chí, một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đã vào hùa với sự xuyên tạc này.

Họ tìm mọi cách, dùng mọi lý lẽ khi nói và viết: Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc Chủ nghĩa Mác-Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, cần từ bỏ nó để kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi-con đường tư bản chủ nghĩa...

Họ xuyên tạc rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có tư tưởng của riêng mình hoặc tư tưởng của Người không được coi là một hệ thống. Dựa vào những luận điểm của Người có tính bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và bao hàm sự kế thừa những giá trị tư tưởng tiến bộ của nền cộng hòa Pháp và Mỹ, họ quy kết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản.

Họ đưa ra một góc nhìn phiến diện rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội chủ nghĩa, không mang bản chất mác-xít, thậm chí đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ quan điểm chống phá sai trái ấy, họ đã sử dụng nhiều thủ đoạn để cố tình khiến dư luận có cái nhìn sai bản chất.

Những ý kiến trên là nhận thức rất sai trái và là sự xuyên tạc vô căn cứ. Cả về lý luận và thực tiễn đã chứng minh, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, là sự kết hợp nhuần nhuyễn Chủ nghĩa Mác-Lênin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Chính Chủ nghĩa Mác-Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam. Giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện rất rõ “trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc...” như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18-2-1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định.

Phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận, tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phát triển và làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam; bảo vệ uy tín của Đảng cũng như các quan điểm, đường lối của Đảng trong tiến trình cách mạng. Bởi thế, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là một trong những giải pháp quan trọng để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới hiện nay.

Đến nay, công tác nghiên cứu và việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần động viên các tầng lớp nhân dân sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại. Tuy vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn một số hạn chế, yếu kém. Việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào học trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề chưa đạt hiệu quả cao, chưa tạo được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo học sinh, sinh viên và chưa có chương trình thích hợp trong các bậc học phổ thông.

Riêng trong hệ thống giáo dục phổ thông và cao đẳng, đại học, việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh chưa gây được ấn tượng sâu sắc cho học sinh, sinh viên. Chương trình giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh ở một số trường học, bậc học còn có sự lồng ghép với các môn học khác... Hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh ở các bậc học sau chương trình giáo dục phổ thông tuy có giáo trình song chưa có sự thống nhất giữa các cơ sở đào tạo...

Do tính chất học tập, giáo dục và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh ở các bậc học có ý nghĩa quan trọng, bởi thế cần xác định đúng vị trí, vai trò các nội dung học tập về tư tưởng Hồ Chí Minh, không được cắt xén chương trình học tập. Giáo trình học tập phải giúp học sinh, sinh viên có thể tự nghiên cứu được, phải đầy đủ và sâu sắc về kiến thức, nội dung, giải đáp được những điều còn chưa rõ, chưa hiểu và học hỏi lẫn nhau.

Để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, chúng ta cần rất coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là các chuyên gia đầu ngành trong hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Bản thân những nhà nghiên cứu mác-xít, những người làm công tác lý luận cũng phải nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng lý luận mác-xít, những tác phẩm nguyên bản của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin... từ đó phát hiện những vấn đề mới, cách tiếp cận mới để giải quyết bài toán thực tiễn của xã hội hiện đại đang đặt ra; tránh lối nghiên cứu “tầm chương trích cú”, kinh viện, áp dụng lý luận vào thực tiễn một cách máy móc, thiếu sáng tạo, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng bị xơ cứng, xa rời thực tiễn.

Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn không chỉ tập trung trực diện vào các nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà cần chú ý tới những vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đấu tranh và xây dựng xã hội mới.

Trong mục tiêu xuyên tạc, phủ định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực phản động, cơ hội không chỉ trực diện hướng tới phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng mà họ còn thông qua hình thức, biện pháp gián tiếp để thực hiện ý đồ của mình. Họ tập trung phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi xấu lãnh đạo, phủ định đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước...

Bên cạnh đó, họ “ca tụng” các giá trị dân chủ, nhân quyền, văn hóa theo lối sống phương Tây... Tất cả những chiêu bài đó nhằm cố minh chứng việc chúng ta lựa chọn sai con đường, sai mô hình do xuất phát từ học thuyết và tư tưởng lỗi thời, ảo tưởng. Thực chất mục tiêu của họ suy cho cùng là phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng, kêu gọi theo con đường mới, từ bỏ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bởi vậy, song song với việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận như trên thì cũng rất cần việc thường xuyên đánh giá, tổng kết thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn, đồng thời có phương cách bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Thực tế hiện nay cũng cho thấy, những nhận thức sai trái, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với tư tưởng Hồ Chí Minh cũng ngày càng tinh vi. Họ liên kết, tán phát thông tin sai trái hòng phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh.

Họ thông qua các phương thức như: Gửi đơn thư góp ý, khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan Đảng, chính quyền, cơ quan dân cử và các cơ quan ngôn luận; thông qua các tổ chức dưới dạng tài liệu, sách truyền tay, thông tin truyền miệng; thông qua hội nghị, hội thảo, tổ chức các sự kiện chuyên đề; lập các trang web của nhiều tổ chức, cá nhân để đăng thông tin; thông qua mạng xã hội tán phát các thông tin và liên kết tạo thành đợt tấn công theo chuyên đề, theo các sự kiện.

Từ thực tiễn đó, để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi chúng ta cũng phải vận dụng các phương thức thông tin phù hợp, sáng tạo để phản bác lại những quan điểm xuyên tạc, sai trái, đồng thời chủ động, kịp thời định hướng thông tin, đưa thông tin chính thống đến dư luận, người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm môi trường ổn định cho phát triển./.

Sưu tầm

Xây dựng phẩm chất “dám làm” của đội ngũ cán bộ hiện nay

Phẩm chất “dám làm” của người cán bộ - sự kế thừa, phát triển quan điểm “cả gan làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Về mặt ngữ nghĩa, “dám làm” không phải là cụm từ mới và xa lạ với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến phẩm chất “dám làm” của các lực lượng khác nhau trong xã hội. Với đội ngũ cán bộ, Người cho rằng, “vì không hiểu biết nên không dám làm”; đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu cán bộ. Với quần chúng nhân dân, Người cho rằng: “Quần chúng dám làm, dám nói, do đó mà thật sự mở rộng dân chủ”. Đối với lực lượng vũ trang nhân dân, Người chỉ rõ nhiệm vụ của người làm tướng là phải: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung; theo đó, phẩm chất “dám làm” được coi như là “Dũng”, có nghĩa là “không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh”. Người nhắc nhở, yêu cầu: “Mỗi người lao động cần có tinh thần dám nghĩ dám làm, vươn lên hàng đầu, thành người lao động tiên tiến”. Như vậy, “dám làm” cũng còn có nghĩa là tự biết mình, biết người, biết bản chất và đòi hỏi của công việc, hiểu biết lòng dân để có thể vượt qua ranh giới của bản thân, vượt qua trạng thái tâm lý cá nhân. Đó là biểu hiện của dũng khí, lòng quả cảm, tinh thần tiên phong, xung kích của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Để đạt được phẩm chất “dám làm” thì cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ để dám đối diện, sẵn sàng làm việc khó, dám đương đầu với khó khăn, thử thách.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “cả gan làm việc” được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, kế thừa và phát triển vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng và được hội tụ trong phẩm chất “dám làm” của người cán bộ trong tình hình mới. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nêu rõ, sự khôi phục hệ thống của Đảng là kết quả từ công tác có sáng kiến của các đảng bộ và các chiến sĩ hạ cấp. Đến Đại hội IV, Đảng yêu cầu, cán bộ nhà nước phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi, có sáng kiến, có năng lực tổ chức thực tiễn; đồng thời, phải nhiệt tình, tận tụy, hy sinh, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức kỷ luật, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Tại Đại hội VI của Đảng, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, Đảng đặt ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực phù hợp, luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thông suốt và chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, ham học hỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức quản lý kinh tế, xã hội, có tính tổ chức và kỷ luật cao.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Hội nghị Trung ương khóa VIII thống nhất thông qua Nghị quyết số 03-NQ/HNTW, ngày 18-6-1997, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”. Sau hơn 20 năm triển khai thực hiện, đội ngũ cán bộ ở nước ta đã từng bước trưởng thành và phát triển. Ngày 19-5-2018, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Quan điểm của Đảng là: Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”. Thực chất đây vừa là yêu cầu, vừa là hệ giá trị trong phẩm chất, nhân cách của người cán bộ, có quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở cả suy nghĩ và việc làm, trách nhiệm và nghĩa vụ trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

“Cả gan làm việc” khác với làm liều, làm bừa, làm ẩu và thói vô trách nhiệm.

Trong bối cảnh mới hiện nay, chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên được thể hiện qua các mối quan hệ cơ bản, đó là: Với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; đối với công việc; đối với bản thân, gia đình; đối với đồng chí, đồng nghiệp; đối với các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị. Trong đó, “dám làm” là một phẩm chất đặc biệt, là dũng khí của người cán bộ, thể hiện năng lực, bản lĩnh, trình độ, trí tuệ, lòng kiên trì gan góc khi đối diện với công việc, nhất là công việc khó và trong khi làm nhiệm vụ được giao.

Phẩm chất “dám làm”, “cả gan làm việc” của người cán bộ là mạnh dạn, quyết định, quyết đoán thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao trên cơ sở đã nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu sâu sắc về thực tiễn công việc, môi trường làm việc, phân tích và nắm chắc thuận lợi, khó khăn trong triển khai công việc tại cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu thông suốt về truyền thống, văn hóa, tập tục, hương ước địa phương; luôn đặt lợi ích của tập thể nơi mình công tác lên trên hết, trước hết; chấp nhận dấn thân, không vì lợi ích của cá nhân, người thân, gia đình mình; mạnh dạn bỏ cách nghĩ, cách làm đã cũ, không còn phù hợp. “Dám làm” còn là dám đương đầu trực diện với khó khăn, thử thách; có lúc phải chấp nhận rủi ro trong công việc, để chấn chỉnh tổ chức, cá nhân về tinh thần, thái độ, trách nhiệm; không ngừng đổi mới phương thức quản lý, cách làm, giảm thiểu phiền hà, chặn đứng tham nhũng, lãng phí, tăng cường dân chủ, minh bạch trong công việc; tin vào suy nghĩ, việc làm của mình, tin vào sự chính nghĩa, sức mạnh đoàn kết của mọi người.

“Dám làm”, “cả gan làm việc” còn thể hiện ở thái độ, ý thức, trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác của người cán bộ, “dám” đứng mũi chịu sào, không tranh công, đổ lỗi, dám nhận trách nhiệm về mình và chịu trách nhiệm đến cùng với công việc. Khi đã “dám làm”, thì tận tụy, chủ động, đổi mới sáng tạo, khoa học, trung thực, dân chủ, kỷ cương, phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng, không ngừng học hỏi, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, dám đổi mới sáng tạo, đột phá vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vì lợi ích của nhân dân. Người cán bộ “dám làm”, “cả gan làm việc” luôn xung phong đi đầu, mạnh dạn, táo bạo, quyết đoán, vượt lên mọi rào cản để làm đúng, duy trì đúng, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, đúng thực chất công việc, vì lợi ích chung.

Ở chiều ngược lại, những cán bộ kém về phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, kém rèn luyện, không chịu tu dưỡng đã nhân danh tiêu chí “dám làm” và “cả gan làm việc” để có những suy nghĩ và việc làm tiêu cực. Ở họ, suy nghĩ và việc làm đều mang nặng “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, chỉ lo vun vén cho người thân, gia đình, cánh hẩu; vì thế mà, có bản chất liều lĩnh, hay “làm liều”, “coi trời bằng vung”, coi thường pháp luật, tự cho mình, “nhóm lợi ích” của mình là một “vùng cấm”, mà không ai và tổ chức nào có quyền động chạm đến. Những đối tượng này luôn làm việc vô nguyên tắc, vô tổ chức kỷ luật, làm theo ý muốn cá nhân, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cứ có lợi ích cho bản thân, gia đình, người thân, phe cánh là làm.

Sưu tầm