Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Đánh giá nội bộ Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia

 

Sáng 27-5, Văn phòng Bộ Quốc phòng khai mạc Lớp đào tạo, hướng dẫn áp dụng và đánh giá nội bộ Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 năm 2024.

Đại tá Nguyễn Đức Hải, Phó chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương, Văn phòng Bộ Quốc phòng dự và phát biểu khai mạc.

Đánh giá nội bộ Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia
Đại tá Nguyễn Đức Hải phát biểu khai mạc. 

Trong thời gian diễn ra lớp đào tạo, các học viên sẽ được truyền đạt một số chuyên đề như: Nhận thức chung về chất lượng và quản lý chất lượng, cần thiết xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015; giới thiệu tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015; hướng dẫn xây dựng; hướng dẫn triển khai áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 tại các đơn vị quân đội; quản lý hoạt động đánh giá theo yêu cầu tiêu chuẩn TCVN ISO 19011:2018; hướng dẫn chuẩn bị đánh giá; hướng dẫn tổ chức triển khai đánh giá tại các đơn vị quân đội.

Đánh giá nội bộ Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia
Quang cảnh khai mạc.  

Phát biểu khai mạc, Đại tá Nguyễn Đức Hải nhấn mạnh, nhiệm vụ cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, chuyển đổi số, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO trong giải quyết thủ tục hành chính và công việc nội bộ tại các cơ quan, đơn vị là một nội dung quan trọng đang được lãnh đạo Bộ Quốc phòng chỉ đạo, triển khai quyết liệt.

Tuy nhiên, đây là lĩnh vực có nhiều nội dung mới và khó. Do đó, trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện đã và đang gặp nhiều khó khăn, mà một trong những nguyên nhân cơ bản đến từ nhận thức của một số lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, nhân viên và công tác xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, tổ chức và triển khai thực hiện còn nhiều hạn chế, bất cập.

Lớp đào tạo giúp các đồng chí học viên nắm được những kiến thức cơ bản về hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO trong cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, làm cơ sở giúp cán bộ đảm nhiệm trên các cương vị, chức trách được giao; đồng thời làm tốt công tác tham mưu, chỉ đạo tổ chức thực hiện những nội dung trên tại các cơ quan, đơn vị mình, góp phần hoàn thành các mục tiêu, yêu cầu của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, áp dụng ISO trong Bộ Quốc phòng.

Thông qua đào tạo, giúp người học nắm được nội dung, phương pháp, quy trình, kỹ năng xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 tại các cơ quan, đơn vị trong Quân đội; làm cơ sở để triển khai công tác quản lý hệ thống chất lượng trong toàn quân được thống nhất, đồng bộ, thực chất và hiệu quả.

Nguồn: Báo QĐND


Rút kinh nghiệm các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng chỉ đạo năm 2023

 

Sáng 27-5, tại Trung tâm huấn luyện quân sự Quốc gia 4, Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam chủ trì Hội nghị rút kinh nghiệm các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng chỉ đạo năm 2023; làm cơ sở để tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn, thống nhất bổ sung hệ thống văn kiện tác chiến, vận dụng vào huấn luyện, diễn tập năm 2024 và những những năm tiếp theo sát với yêu cầu, nhiệm vụ.

Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam...

Báo cáo tại hội nghị khẳng định, năm 2023 Bộ Quốc phòng chỉ đạo tổ chức thành công các cuộc diễn tập theo kế hoạch xác định. Tiêu biểu là diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 3; diễn tập chiến dịch trên địa bàn Tây Nguyên.

Đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ đã tổ chức tốt các cuộc diễn tập đột xuất theo chỉ đạo của thủ trưởng Bộ Quốc phòng trong điều kiện thời gian chuẩn bị ngắn như: Diễn tập Tác chiến không gian mạng cho Bộ tư lệnh 86; diễn tập chỉ huy tham mưu 1 bên 2 cấp trên bản đồ, có một phần thực binh bắn đạn thật cho Vùng 4 Hải quân; diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật cho các đơn vị thuộc Quân đoàn 12 ngay sau khi thành lập và diễn tập chỉ huy- cơ quan 1 bên 2 cấp trên bản đồ và ngoài thực địa có bắn đạn thật cho Trường Sĩ quan Lục quân 1.

Rút kinh nghiệm các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng chỉ đạo năm 2023

Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng phát biểu tại hội nghị. Ảnh: KIM NGỌC 

Các đơn vị đã chủ động tổ chức tốt các cuộc diễn tập theo Chỉ lệnh công tác quân sự-quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; phương pháp tổ chức, chỉ đạo, điều hành các cuộc diễn tập đã có nhiều đổi mới, kết hợp sử dụng các trang thiết bị công nghệ thông tin hiện đại, quy mô có nhiều đơn vị, lực lượng phương tiện tham gia diễn tập...

Thông qua các cuộc diễn tập, từng bước nâng cao trình độ, năng lực chỉ huy, tham mưu, hiệp đồng tác chiến của người chỉ huy và cơ quan các cấp trong tổ chức chuẩn bị và thực hành tác chiến.

Phát biểu kết luận hội nghị, Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng nhấn mạnh những kết quả đạt được trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tiến hành diễn tập năm 2023; đồng thời chỉ rõ những khuyết điểm tồn tại cần khắc phục.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng các cuộc diễn tập năm 2024 và những năm tiếp theo, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam yêu cầu các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp trọng tâm trong chỉ đạo điều hành diễn tập trong năm 2024 và những năm tiếp theo; tập trung nghiên cứu điều chỉnh nội dung, phương pháp chỉ đạo và thực hành, điều hành diễn tập; xây dựng hệ thống đầu bài phù hợp, kết cấu tình huống sát với từng địa bàn.

Rút kinh nghiệm các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng chỉ đạo năm 2023
Rút kinh nghiệm các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng chỉ đạo năm 2023
Rút kinh nghiệm các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng chỉ đạo năm 2023
Các đại biểu tham dự hội nghị rút kinh nghiệm. Ảnh: KIM NGỌC 

Bên cạnh đó chú trọng việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ cơ quan, đơn vị, tập trung vào các nội dung mới, chưa thống nhất, làm chuyển biến và nâng cao nhận thức về chỉ đạo, điều hành và thực hành nhiệm vụ diễn tập; đưa những nội dung phù hợp đã được kiểm chứng trong thực tế các cuộc diễn tập trước đây vào các cuộc diễn tập, phát triển thêm những nội dung mới để cuộc diễn tập phong phú sinh động, sát thực tế...

Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng yêu cầu, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tích cực nghiên cứu, nắm chắc nội dung, phương pháp, sát với yêu cầu nhiệm vụ nhất là về tổ chức, phương pháp diễn tập, lực lượng phương tiện kỹ thuật tham gia; huấn luyện phân đội bắn đạn thật, sử dụng thành thạo vũ khí trang bị mới. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng trong diễn tập.

Trong thực hiện nhiệm vụ diễn tập, kiên quyết khắc phục tư tưởng chủ quan, xem nhẹ, hạ thấp yêu cầu, bớt nội dung, chương trình, thời gian huấn luyện và bệnh thành tích; đưa các đơn vị, lực lượng phối hợp hiệp đồng vào diễn tập cùng để nâng cao trình độ khi có hoạt động tác chiến.

Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng lưu ý, cùng với thực hiện tốt các mặt công tác bảo đảm cho diễn tập; công tác phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng tham gia diễn tập, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định an toàn, tuyệt đối không để xảy ra các vụ việc mất an toàn trong huấn luyện, diễn tập; kịp thời rút kinh nghiệm, sau mỗi cuộc diễn tập ở các cấp, nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo, phát huy yếu tố con người trong thực hiện mọi nhiệm vụ. Đồng thời tích cực, chủ động làm tốt mọi công tác chuẩn bị, tổ chức thành công các cuộc diễn tập năm 2024 do Bộ Quốc phòng chỉ đạo.

DUY ĐÔNG

Nguồn: Báo QĐND


Trị bệnh giáo điều của cán bộ, đảng viên ở cơ sở

Cán bộ, đảng viên là hạt nhân xây dựng tổ chức cơ sở đảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân; thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Chất lượng của cán bộ, đảng viên cơ sở nói chung, năng lực quán triệt, vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận vào thực tiễn ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của các tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động đến hiệu quả quán triệt, triển khai và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước.

Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận vào thực tiễn, còn có những biểu hiện của bệnh giáo điều đặt ra những yêu cầu mới cần ngăn ngừa kịp thời, có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nhận diện bệnh giáo điều

Bệnh giáo điều là khuynh hướng cường điệu hóa vai trò của lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử, cụ thể. Những người bị bệnh giáo điều thường tiếp thu lý luận một cách đơn giản, phiến diện mang tính chất cảm tính; biến lý luận thành những công thức chết cứng, chìa khóa vạn năng cho mọi hành động hoặc áp dụng rập khuôn, máy móc kinh nghiệm của người khác, địa phương khác. Cho nên, khi xác định biện pháp lãnh đạo, không xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể, xa rời thực tiễn.

Bệnh giáo điều thường biểu hiện dưới dạng hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn, quá lạm dụng sách vở; nghiên cứu học tập lý luận nhưng không chuyển hóa được lý luận vào thực tiễn công tác. Nắm lý luận chỉ dừng ở câu chữ, ở những nguyên lý chung chung, trừu tượng, mượn những lời của Mác, Lênin để làm cho người ta lầm lẫn mà không thâu tóm được bản chất cách mạng và khoa học, không xuất phát từ thực tiễn để vận dụng lý luận.

 Điều này dẫn đến hình thành tư duy lối mòn, thiếu sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo những người giáo điều thường làm trái với chỉ thị của Lênin; họ không phân tích rành mạch việc gì hết; họ viết hoặc họ nói đều là trống rỗng, họ gây nên một tác phong rất xấu trong Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. 

Những người giáo điều thường đọc dăm ba quyển sách, thuộc dăm ba câu chữ để khoe khoang, “lòe thiên hạ” chứ không phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác. Hoặc lý luận chỉ là tổng số những công thức máy móc, đơn điệu, phiến diện, làm cho lý luận không có sức sống, xa rời thực tiễn, không chỉ đạo được thực tiễn. Từ đó lại xuất hiện tư tưởng coi thường lý luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân.

Xét về tính chất, bệnh giáo điều biểu hiện trên cả hai phương diện lý luận và kinh nghiệm: Giáo điều lý luận là thuộc lòng lý luận một cách máy móc nhưng không hiểu, không nắm được bản chất khoa học, cách mạng của lý luận; nặng về diễn giải sách vở, thoát ly thực tiễn; áp dụng lý luận nhưng không nghiên cứu điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể.

Giáo điều kinh nghiệm là việc áp dụng nguyên xi kinh nghiệm đã có sẵn một cách rập khuôn, máy móc mà không có sự sáng tạo, kế thừa, chọn lọc. Xét về phương pháp, giáo điều là xa rời, đối lập với biện chứng; bị kìm hãm, tự kìm hãm bởi tư duy, phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái nhất thành bất biến, không thay đổi, cô lập chúng khỏi những sự vật khác, trong những mối quan hệ khác. 

Xét về thái độ, giáo điều thường rất dễ rơi vào định kiến, trì trệ và bảo thủ, dẫn đến chậm thay đổi, ngại thay đổi, lệ thuộc vào những thói quen đã định hình nên khó đổi mới, thậm chí chống lại đổi mới chỉ vì những hạn chế, bất cập trong tư duy, nhận thức, không theo kịp sự vận động, phát triển của thực tiễn.

Tác hại của bệnh giáo điều làm cản trở sự phát triển của tư duy lý luận khoa học, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo. V.I.Lênin cảnh báo, giáo điều là thói quen đáng sợ nhất, vì nó làm cho cán bộ, đảng viên rơi vào định kiến, trì trệ và bảo thủ, ở một mức độ nào đó, bệnh giáo điều là sức ỳ, sự trì trệ, bảo thủ sẽ cản trở phát triển, là lực cản của đổi mới. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng vì kém lý luận cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào thì làm thế ấy; không biết áp dụng lý luận vào giải quyết thực tiễn trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cho nên thường thất bại trong lãnh đạo, chỉ đạo và công tác. 

Ngoài ra, bệnh giáo điều còn biểu hiện ở khuynh hướng tả khuynh, chủ quan và cực đoan, quy kết vội vàng, áp đặt vô nguyên tắc; cản trở sự tìm tòi, sáng tạo, không kích thích phản biện khoa học từ đó dẫn đến mất dân chủ, tự do, tùy tiện, dẫn đến việc quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước không sát thực tiễn, không hiệu quả, thậm chí dẫn đến sai lầm, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Ngăn ngừa bệnh giáo điều bằng cách nào?

Trong thời gian qua, công tác giáo dục lý luận chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng, đội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển toàn diện, vững chắc; năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn ngày càng được nâng lên. Song nhìn chung, chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng lý luận vào thực tiễn chưa sát, hiệu quả chưa cao.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: Ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng chưa kịp thời, chưa sát thực tế; ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu khả thi.

Trong đó, bệnh giáo điều vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến quá trình đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; làm cho quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên không được vận dụng có hiệu quả trong thực tiễn. Do đó, để ngăn ngừa bệnh giáo điều của cán bộ, đảng viên, cần thực hiện một số biện pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp cần xác định công tác giáo dục lý luận chính trị là một nhiệm vụ quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc giáo dục, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng gắn với bảo đảm tính thống nhất, tính kế thừa và tính liên thông, khắc phục sự trùng lặp ở các cấp học, bậc học và đối tượng.

Đổi mới phương pháp giảng dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm; rèn luyện về phương pháp tư duy. Gắn đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục với phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả. 

Thứ hai, nâng cao năng lực nắm bắt, đánh giá thực tiễn của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên (nhất là ở cơ sở) cần tăng cường bám nắm thực tiễn, tích cực nghiên cứu thực tiễn, gần dân, sát dân; chống các biểu hiện làm việc bàn giấy, xa rời thực tiễn. Quá trình nắm bắt, đánh giá thực tiễn sẽ giúp cán bộ, đảng viên tự đánh giá, điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho hoạt động đúng mục đích, đúng hướng, có cơ sở khoa học, tránh được sự mò mẫm, tự phát.

Thứ ba, nâng cao năng lực vận dụng lý luận vào nhận thức và hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên. Nâng cao trình độ lý luận và vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo vào thực tiễn; tích lũy kinh nghiệm, vốn sống, năng lực tổng kết thực tiễn một cách có lý luận; biết sử dụng lý luận như một phương pháp để tổng kết thực tiễn, làm cho thực tiễn được lý luận hóa, bên cạnh đó, khắc phục bệnh giáo điều nhưng phải đề phòng chủ nghĩa xét lại; không ngừng học tập, nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tri thức phải được kiểm nghiệm thông qua hoạt động thực tiễn chứ không dừng lại ở việc nói, viết theo kiểu chủ nghĩa kinh viện, tầm chương trích cú. 

Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở đảng. Cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy phải thực sự gương mẫu trong chấp hành các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống.

Các tổ chức cơ sở đảng cần xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông tin, tăng cường đối thoại, trao đổi, tiếp xúc giữa cán bộ, đảng viên và nhân dân gắn với thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

 

Trước thời kỳ đổi mới, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nguyên nhân căn bản được Đại hội VI đánh giá là do chúng ta rơi vào tình trạng máy móc, giáo điều. Đại hội VI đã mở ra thời kỳ mới, trên cơ sở trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng đã vận dụng linh hoạt để tiến hành công cuộc đổi mới.

Cuộc bứt phá ra khỏi chủ nghĩa giáo điều đã giúp đất nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, kinh tế đất nước ngày càng đi lên. Sau gần 40 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn, chúng ta lại thấy ở đâu đó xuất hiện căn bệnh giáo điều mới, ảnh hưởng lớn đến phát triển đất nước.

Nhận diện những biểu hiện mới của căn bệnh giáo điều

Giáo điều là những nguyên lý, những quan điểm, nguyên tắc mà con người tiếp thu mù quáng, không cần chứng minh, không có phê phán, không chú ý điều kiện ứng dụng nó. Giáo điều cũng để chỉ tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường, hạ thấp thực tiễn, hoặc áp dụng lý luận mà không tính tới thực tiễn. Có thể phân thành hai dạng: Giáo điều lý luận: Vận dụng lý luận không căn cứ vào điều kiện thực tiễn cụ thể, vận dụng mà không hiểu bản chất của lý luận. Giáo điều kinh nghiệm: Vận dụng kinh nghiệm của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào thực tiễn một cách máy móc, không tính tới điều kiện thực tiễn cụ thể. Bệnh giáo điều có thể hiểu là tình trạng nhận thức, hành động giáo điều cả về lý luận và thực tiễn kéo dài trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cần phải nhận biết và có cách khắc phục. Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều biểu hiện, song tựu trung lại có thể khái quát trên một số vấn đề sau đây:

Giáo điều hóa nghị quyết: Ở mỗi giai đoạn tính chất nhiệm vụ khác nhau, vì vậy, nghị quyết phải có những chủ trương, giải pháp thực hiện khác nhau. Tuy nhiên hiện nay, trong sinh hoạt lãnh đạo, nhất là sinh hoạt ra nghị quyết, một số cấp ủy, bí thư còn tình trạng nhận thức cho rằng nhiệm vụ cơ quan, đơn vị là “xuân thu nhị kỳ”, quanh năm ngày tháng lặp đi lặp lại không có gì mới. Nên ở không ít tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở, nghị quyết lãnh đạo được xây dựng theo kiểu khuôn mẫu, sao chép nguyên như trước, chỉ thay ngày đổi tháng. Hiện nay, trong một số tổ chức đảng, nhất là cấp chi bộ, việc chuẩn bị dự thảo và ban hành nghị quyết mang tính hình thức, thậm chí để đối phó với việc kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên. Điều đó dẫn tới tình trạng nghị quyết tháng sau, quý sau, năm sau cũng như trước, cùng lắm chỉ bổ sung một vài nội dung gọi là cho khác trước. Biểu hiện mới này không chỉ là giáo điều lý luận, thực tiễn mà còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Ngoại hóa chủ trương: Thời gian qua, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nhiều bộ, ngành, địa phương có tình trạng tổ chức nhiều cuộc đi khảo sát, tham quan học tập kinh nghiệm nước ngoài. Mục đích của chuyến đi rõ ràng được định vị là mang những kiến thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý, phát triển kinh tế-xã hội từ các nước, nhất là nước tiên tiến về để ứng dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều cán bộ có chức vụ, tầm ảnh hưởng lớn đi học tập ở nước ngoài về bê nguyên các mô hình từ nước ngoài đặt vào Việt Nam, cho rằng đó là học hỏi, sáng tạo, tiếp thu cái mới. Việc áp dụng mang tính áp đặt này chưa nghĩ đến điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện kết cấu hạ tầng của ta chưa phù hợp, chưa thể hấp thụ được nguyên vẹn kinh nghiệm đó. Hậu quả là gây thất thoát, lãng phí lớn cho các nguồn lực xã hội. Dự án đường dành riêng cho xe buýt nhanh BRT ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho bệnh giáo điều mới, học tập kinh nghiệm nước tiên tiến, bê nguyên xi vào Việt Nam. Do không phù hợp với điều kiện hạ tầng giao thông Việt Nam nên dự án trên có nguy cơ cao phải dừng hoạt động, tốn kém rất nhiều nguồn lực đầu tư.

Sợ sai nên rập khuôn công thức, quy trình cũ trong công việc mới, bất chấp hiệu quả thấp: Tình trạng sợ sai, không dám nghĩ, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn tới tình trạng cứ làm như người trước, tháng trước, năm trước, quy trình trước, nhiệm kỳ trước mà không dám đột phá nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân. Những cán bộ, đảng viên dạng này chỉ lo giữ mình an toàn trong “chiếc kén nhỏ”, không chịu đổi mới, học hỏi, chỉ gói gọn trong tư duy nhiệm kỳ, tránh va chạm để cuối cùng là "hạ cánh an toàn". Do vậy dẫn tới trong lãnh đạo, chỉ đạo có tình trạng lặp lại “công thức”; “quy trình cũ” trong công việc mới. Từ chỗ "mũ ni che tai", không dám nói ra những điều mình suy nghĩ, trăn trở, dần dần trở nên dửng dưng với những biến động của xã hội, dửng dưng với nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của bản thân.

Thái độ ba phải: Biểu hiện của nó là không thể hiện chính kiến của mình trong sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng. Căn bệnh này tồn tại hai dạng: Dạng thứ nhất, người cán bộ, đảng viên thực chất là có ý tưởng nhưng do ngại va chạm, ngại thể hiện nên mọi thứ đều đồng ý, dẫn đến “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “nhất trí cao”. Đây là biểu hiện xuôi chiều trong lãnh đạo. Hệ lụy của nó là người đảng viên co ro trong "cái kén" của chính mình, nhìn thấy nhiều vấn đề, có ý tưởng đổi mới, có sáng kiến nhưng không dám trình bày, không dám thể hiện. Dạng thứ hai là người lười tư duy, lười suy nghĩ, coi việc lãnh đạo là của cấp ủy, của tập thể tổ chức đảng nên không chủ động trong việc tham gia đóng góp thảo luận xây dựng nghị quyết và những quyết sách khác. Cả hai dạng đều cho một đáp số là không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể vào các quyết sách lãnh đạo.

Những hậu quả khôn lường

Hậu quả lớn nhất chính là nếu căn bệnh này kéo dài sẽ là lực cản gây ra sự trì trệ, kéo lùi sự phát triển. Bởi nghị quyết lãnh đạo không thực sự là sự cụ thể hóa nghị quyết cấp trên, càng không phải là nghị quyết lãnh đạo trong giai đoạn mới, mà chỉ là nghị quyết được bê nguyên xi như trước. Một nghị quyết như vậy là vô hiệu, không thể có chủ trương, giải pháp mang tính sáng tạo, đột phá và hoàn toàn thiếu sức sống, xa rời thực tiễn, không sát với yêu cầu nhiệm vụ. Chính vì vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương diễn ra một cách đơn điệu, bình bình, không có sự đột phá, dẫn tới sự trì trệ, thụt lùi, tụt hậu do thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội luôn có sự biến động, thay đổi.

Bệnh giáo điều mới còn là sự cản trở đưa nghị quyết vào cuộc sống. Bởi ngay trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, họ khó nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận cán bộ, đảng viên như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Bởi điều mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, cơ quan, tổ chức mong chờ ở họ là sự tâm huyết, cống hiến công sức, trí tuệ, ý tưởng sáng tạo cho sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị, địa phương thì không có.

Việc áp dụng máy móc, giáo điều cả về lý luận và thực tiễn mà không chịu tính toán đến điều kiện kinh tế-xã hội sẽ gây lãng phí nguồn lực lớn của đất nước, của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây bức xúc trong dư luận nhân dân, làm giảm sút uy tín lãnh đạo của Đảng, mất uy tín của cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, bệnh giáo điều mới còn là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa độc đoán, chuyên quyền, sự chủ quan, duy ý chí có cơ hội phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là những cái sai, cái tiêu cực trong công tác lãnh đạo không được đấu tranh loại bỏ, cái sai nối tiếp cái sai. Điều này sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường là tập thể mất vai trò lãnh đạo, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng bị coi nhẹ, không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể cho việc đưa ra các quyết sách lãnh đạo, quản lý.

Liều thuốc khắc phục căn bệnh giáo điều mới

Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện của bệnh giáo điều mới, cần có các giải pháp để mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng khắc phục hiệu quả những biểu hiện của căn bệnh này. Theo đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam. Đến nay, điều kiện lịch sử, bối cảnh, thế và lực của đất nước ta đã có sự thay đổi, phát triển hơn nhiều. Chính vì vậy, trên cơ sở lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, Đảng ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ, bổ sung phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Kết quả tổng kết và những bài học kinh nghiệm sẽ là luận cứ để định hướng hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng sát với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đồng thời làm cơ sở để tổ chức đảng, đảng viên các cấp nghiên cứu quán triệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn hoạt động của bộ, ngành, tỉnh, thành phố, cơ quan, đơn vị mình.

Hai là, hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc thúc đẩy tinh thần "7 dám", nhất là tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm của người cán bộ chủ trì, đứng đầu rất cần có cơ chế để quản lý, định hướng, bảo vệ cán bộ. Cơ chế ấy phải được thể chế hóa thành pháp luật, để vừa thông thoáng, mở ra hành lang đủ rộng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phát huy cao nhất tinh thần "7 dám", nhưng vẫn đúng pháp luật để cán bộ, đảng viên tránh được những vướng mắc, sai phạm.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tính thực tiễn trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phong cách thực tiễn của Người thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ không áp dụng máy móc, giáo điều mà luôn đứng trên mảnh đất hiện thực cách mạng Việt Nam, văn hóa, con người Việt Nam để nghiên cứu, bảo vệ, phát triển, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm chắc, hiểu sâu chức trách nhiệm vụ, đi sâu đi sát thực tiễn, rèn luyện phương pháp tác phong lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể, bảo đảm tính khoa học, hiệu quả.

Bốn là, tạo đột phá trong đào tạo bồi dưỡng gắn với rèn luyện thử thách đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Đây được xác định là khâu đột phá bởi người cán bộ bên cạnh được đào tạo cơ bản về kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo còn cần được trải qua thử thách, rèn luyện trong thực tiễn. Thực tiễn công tác càng nhiều, càng dày thì càng giúp cho kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ, đảng viên hiệu quả, sát thực tế, tránh được duy ý chí, giáo điều, máy móc.

Năm là, phát huy dân chủ trong phản biện chính sách, nhất là đối với người đứng đầu ở tất cả các cấp. Cần phát huy dân chủ rộng rãi trong phản biện chính sách, dân chủ phải được thực hiện ngay trong nội bộ tổ chức đảng, nội bộ cơ quan, đơn vị. Đối với người đứng đầu địa phương còn phải làm tốt công tác vận hành hệ thống phản biện xã hội để phản hồi thông tin từ thực tiễn thực thi các quyết sách, chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, thông qua đó giúp cấp ủy, bí thư, người đứng đầu có cái nhìn toàn diện về hiệu quả thực thi chính sách, kịp thời phát hiện những bất cập để điều chỉnh.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề cần được nhận diện và có định hướng khắc phục. Trong đó trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó là cách thiết thực để bảo vệ, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, bảo đảm được vai trò, sứ mệnh của Đảng và từng cán bộ, đảng viên trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tự hào trong tư thế người chiến thắng...

 

Năm 1953, thanh niên trong làng đều nô nức lên đường nhập ngũ, tôi lúc đó mới 16 tuổi, tình nguyện đi bộ đội nhưng không đủ tuổi. Để được ra mặt trận, tôi đăng ký vào lực lượng thanh niên xung phong.

Đó là ngày 20-1-1954, tôi rời ghế nhà trường để lên đường. Hơn một tháng đi bộ qua Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La đến một địa điểm “Rừng Vàu” thuộc tỉnh Lai Châu. Ngày 3-3-1954, tôi may mắn được chuyển sang bộ đội, hành quân về Phú Thọ để huấn luyện tân binh. Vậy là ước mơ được cầm súng đánh giặc của tôi đã thành hiện thực. Trên đường hành quân, tôi hãnh diện khi được mang khẩu súng trường MAS dài bằng người, vừa hành quân vừa học chính trị. Chúng tôi quên tất cả mệt nhọc, gian khổ, chỉ nghĩ làm sao được nhanh chóng ra chiến trường. Thời gian huấn luyện 7 ngày, chủ yếu là tập bắn súng, đào công sự, lăn lê bò toài.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã nổ súng, ai cũng nô nức muốn được tham gia. Chúng tôi hành quân lên Điện Biên Phủ, qua đèo Pha Đin, đi cấp tốc cả ngày lẫn đêm. Trên đường đi, vừa gian khổ, vừa ác liệt vì bom đạn địch, nhưng ai cũng vui. Dân công, bộ đội khí thế hừng hực; từng dòng người, ô tô, xe đạp đổ về chiến trường Điện Biên Phủ. Thỉnh thoảng lại gặp bộ đội ta giải từng tốp tù binh đi ngược chiều về tuyến sau. Chúng tôi phấn chấn bảo nhau: “Đi nhanh lên kẻo chiến dịch kết thúc thì mình đến chỉ nhặt vỏ hộp”.

Qua 10 ngày hành quân, sáng 30-3-1954, chúng tôi đã có mặt ở tuyến 2 của Mặt trận Điện Biên Phủ, nghỉ một ngày, rồi sau đó được bổ sung về đơn vị chiến đấu. Tôi được về Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 (nay là Sư đoàn 312, Quân đoàn 12). Tối hôm đó, chúng tôi về đến căn cứ của đơn vị là một khu vực ở phía Bắc cứ điểm Him Lam. Mọi sinh hoạt, ăn ở, đi lại đều dưới hầm hào, tất cả mọi thứ đều xa lạ, mới mẻ, bỡ ngỡ, gian khổ. Đại đội 58 của tôi là đơn vị chủ công đã đánh vào cứ điểm Him Lam ngày 13-3-1954, trận mở màn của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sáng 1-4, Đại đội 58 lên tập hợp ở đồi Him Lam để một số tân binh làm quen địa hình và chiến trường.

Đứng trên đồi Him Lam thấy được khu vực Mường Thanh, lần đầu tiên trong đời, tôi thấy trận địa địch, chiến hào, lô cốt, hàng rào dây thép gai. Ngay lúc đó, một chiếc máy bay ném bom B24 của địch bị cao xạ ta bắn rơi dưới chân đồi Him Lam, cạnh Đường 41. Anh em chúng tôi mừng quá, đứng lên reo hò. Đúng lúc đó, pháo địch ở Mường Thanh bắn vào Him Lam, Đại đội tôi phải rút về căn cứ. Tối đến, chúng tôi lại đi đào giao thông hào ở phía Bắc sân bay Mường Thanh. Trời tối đen như mực nhưng thi thoảng có pháo sáng của địch nên ai cũng quan sát thấy cả trận địa. Trên bãi cỏ bằng phẳng, mọi người đều nằm xuống, đầu người sau chạm chân người trước, theo dây dù trắng do lính trinh sát giăng sẵn hướng vào đồn địch. Ai cũng phải đào thật nhanh để có chỗ tránh đạn bắn thẳng của địch, lúc đầu nằm đào rồi sau đó quỳ đào. Một quả pháo địch rơi đúng đội hình phía trước tôi, một số đồng chí thương vong nhưng không ai dao động, sợ hãi mà lại càng đào nhanh hơn. Khi đã thành đường hào sâu khoảng 60cm thì đội hình tiến về phía trước để cho đơn vị sau dồn lên.

Càng vào gần cứ điểm địch thì càng ác liệt hơn, nhưng chủ yếu là đạn thẳng, còn pháo cối của địch không còn tác dụng nữa. Đến khi giao thông hào đã vào cách cứ điểm địch khoảng 50m, đơn vị để lại một tổ chốt giữ, số còn lại rút về căn cứ nghỉ ngơi. Thế là ở phía Bắc sân bay Mường Thanh, chiến hào của ta đã cắt qua sân bay tạo thành những mũi tiến thẳng tới các cứ điểm, khống chế sân bay Mường Thanh của địch.

Liên tục từ đó chúng tôi phòng ngự, chốt giữ, khống chế phía Bắc sân bay Mường Thanh, tạo bàn đạp và chi viện cho đơn vị bạn đánh chiếm các cứ điểm xung quanh. Chiều 7-5-1954, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 mở cuộc tiến công cứ điểm gần cầu Mường Thanh; địch kéo cờ trắng ra hàng. Tiếp sau là Đại đoàn 316 tiến đánh cứ điểm cuối cùng che chở cho sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Thế của ta như nước vỡ bờ, bộ đội ta đánh tới đâu, cờ trắng của địch xuất hiện tới đó. Nhiều toán địch từ các chiến hào lũ lượt kéo ra nộp vũ khí. 17 giờ 15 phút ngày 7-5-1954, một cánh quân của Đại đoàn 312 tiến tới sở chỉ huy địch. 17 giờ 30 phút, tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ tham mưu địch bị bắt. Chúng tôi cũng được lệnh tiến vào sở chỉ huy địch để áp giải tù binh.

Không có gì vinh dự, tự hào hơn khi trong tư thế của người chiến thắng, tôi với dáng người nhỏ bé nhưng hai tay cầm chắc khẩu súng trường MAS lê tuốt trần đi áp giải những tên địch to cao, râu ria bờm xờm, ngoan ngoãn đi theo hướng dẫn của mình. Suốt đêm 7-5, chúng tôi áp giải tù binh đi theo Đường 41 về cây số 70 để giao cho tuyến sau...

70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ: Tư liệu gốc của Pháp viết về chiến dịch và hành trình đến Việt Nam

 

Vào những ngày này, khi đến thăm Bảo tàng Lịch sử Báo chí Việt Nam tại Thủ đô Hà Nội, khách tham quan sẽ thấy những tờ báo Pháp có tuổi đời đến 70 năm được trưng bày ở đây.

Không chỉ đơn thuần là những tờ báo cũ bình thường, đây chính là những tờ báo đầu tiên đăng tin thất trận của thực dân Pháp tại chiến dịch Điện Biên Phủ. 70 năm sau, người lưu giữ chúng đã tặng lại Bảo tàng Báo chí Việt Nam.

 “Điện Biên Phủ đã thất thủ”, “Ngừng bắn ở Đông Dương”, “Tranh cãi quanh bàn tròn hội nghị Geneva”… đó là những hàng tít nổi bật trên trang nhất của tờ L’Humanité số ra ngày 8-5-1954 và France-soir số ra ngày 9 và 10-5-1954.

Chỉ một ngày sau Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954), ở cách xa hàng vạn km, các tờ báo Pháp đồng loạt đăng tin đội quân viễn chinh Pháp thất thủ tại chiến trường Điện Biên Phủ. Từ đó đến nay đã 70 năm. Ít ai còn giữ những trang báo đăng tải sự thất bại này của quân đội thực dân Pháp, nếu không phải là các trung tâm tư liệu. Nhưng với thú vui sưu tập các loại sách báo, tem thư và bưu thiếp, cùng tình cảm đặc biệt với Việt Nam, ông Jean-Marie Jacquemin đã giữ được một số tờ báo mang ý nghĩa lịch sử này cho đến ngày nay.

Ngồi đọc lại những hàng tít lớn trên trang nhất của các báo cũ về Điện Biên Phủ, ông Jean-Marie Jacquemin say sưa kể nguồn gốc những tờ báo mà cha ông đã lưu giữ, rồi chuyển lại cho ông, cùng đam mê sưu tầm các thông tin về những sự kiện lớn. Ông cho biết, do ảnh hưởng từ cha, ông đã giữ rất nhiều bài báo về các sự kiện trên thế giới, trong đó có cả cuộc chiến tranh Đông Dương và thất bại của đội quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam. Nhưng do không còn chỗ chứa nên ông đã phải lọc bớt, chỉ giữ những tờ báo nói về những sự kiện quan trọng. 

Nói về Việt Nam, gương mặt phúc hậu, mang đậm nếp gấp thời gian của người đàn ông này trở nên vui vẻ hơn. Ông Jean-Marie Jacquemin bày tỏ tình cảm khâm phục về một đất nước nhỏ bé, nhưng đã có thể tiến hành các cuộc kháng chiến và giành thắng lợi trước thực dân và đế quốc lớn như Pháp và Mỹ. Ông cũng đánh giá cao việc Pháp và Việt Nam đã khép lại quá khứ để cùng nhau hướng tới tương lai, có một mối quan hệ tốt đẹp suốt 50 năm qua. Ông chia sẻ: “Các cuộc chiến đều sẽ kết thúc bằng hiệp định hòa bình với những thỏa thuận mang tính nhân văn. Trong tương lai, điều cần thiết là thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam thông qua phát triển văn hóa và du lịch để hai nước hiểu nhau hơn”.

Trước đó, với tình cảm đặc biệt dành cho Việt Nam, ông Jean-Marie Jacquemin đã hiến tặng cho Bảo tàng Báo chí Việt Nam một số tài liệu sách báo có giá trị liên quan đến Việt Nam và cuốn sách "1968-1973 Verrières-le-Buisson: Bến bờ bình yên" do ông biên soạn.

Cuốn sách là tuyển tập hàng trăm bài báo của Pháp và quốc tế viết về chiến tranh ở Việt Nam và tiến trình đàm phán Hiệp định Paris, được coi là một trong những quá trình đàm phán kéo dài nhất thế kỷ 20, cũng như sự hiện diện của Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở ngôi nhà số 49, nay là 17 phố Cambacérès, thuộc thành phố Verrières-le-Buisson, trong thời gian đàm phán và ký kết Hiệp định Paris từ năm 1968 đến 1973. Các bài báo được ông Jacquemin sưu tập trong nhiều năm và in thành sách lần đầu tiên vào năm 2013 nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris, sau đó được tái bản có bổ sung năm 2023, nhân dịp kỷ niệm 50 năm sự kiện này.

Nhìn lại hành trình đến với Việt Nam của những tờ báo Pháp, bà Trần Kim Hoa, Giám đốc Bảo tàng Báo chí Việt Nam nhấn mạnh ý nghĩa của việc những tờ báo tư liệu quý giá xuất bản ở nước Pháp từ những năm 50-70 của thế kỷ trước hiện diện tại Bảo tàng Báo chí Việt Nam. Bà Kim Hoa khẳng định: "Điều này luôn là mong muốn cháy bỏng của những người làm bảo tàng, nhằm phục vụ các đồng nghiệp báo chí và công chúng tham quan, nhất là trong bối cảnh hai nước kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ". 

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH


Qua gần 40 năm đổi mới công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng. Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CÁCH MẠNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó chúng xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, nhiều chiêu thức thậm độc, lúc công khai, lúc ngấm ngầm. Âm mưu của chúng là, với một quân đội cách mạng được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục, rèn luyện thì không thể đánh bằng các biện pháp tấn công trực diện mà thực hiện nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng thẩm thấu từng bước, “pha loãng chính trị”, làm cho quân đội biến chất từ từ để tiến tới vô hiệu hóa quân đội khi có đủ các điều kiện và thời cơ.

BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Sự bùng nổ của công nghệ thông tin, dịch vụ Internet, mạng xã hội… đã hình thành nên một không gian mạng, bao phủ toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, không bị giới hạn bởi các yếu tố không gian, thời gian và trở thành không gian chiến lược mới - vùng “Lãnh thổ đặc biệt” của quốc gia. Cùng với mặt tích cực, không gian mạng cũng đặt ra không ít thách thức đối với quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là tất yếu khách quan, nhiệm vụ chiến lược, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, góp phần tạo ra hệ thống hoàn chỉnh trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

NHỮNG NÉT MỚI TRONG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THÊ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

 


 

Thực hiện chiến lược "diên biến hòa bình" ở Việt Nam, các thế lực thù địch xác định phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường gần nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng ở đủ mọi đối tượng, từ cán bộ cấp cao cho đến những người dân thường. Thủ đoạn mới chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch được biếu hiện ở những nét cơ bản sau: