Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN SỐNG MÃI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Chủ nghĩa Mác - Lê nin là khoa học, là chân lý, có giá trị thời đại, có sức sống mãnh liệt. Chủ nghĩa Mác - Lê nin là một hệ thống tư tưởng mang tầm đỉnh cao lý luận, vì nó không chỉ dừng lại ở việc mô tả chủ nghĩa tư bản, mà còn phát hiện ra những quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản nói riêng và lịch sử loài người nói chung. Mục tiêu của chủ nghĩa Mác - Lê nin là hướng đến “giải phóng con người”, chính điều này quy định bản chất nhân văn, đem lại sức sống Vĩnh hằng cho chủ nghĩa Mác - Lê nin.

Điểm vượt trội của chủ nghĩa Mác - Lê nin so với các học thuyết khác ở chỗ nó là học thuyết duy nhất đã chỉ ra mục tiêu, con đường, lực lượng, cách thức, hình thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bất công, thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại. Đây là kim chỉ nam cho hành động, khắc phục triệt để thế giới quan duy tâm tôn giáo, phương pháp tư duy siêu hình, xác lập một thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, cách mạng với phép biện chứng duy vật làm thay đổi phương pháp tư duy của nhân loại.

Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lê nin không những không lỗi thời lạc hậu mà đã và đang tiếp tục đóng vai trò là kim chỉ nam cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân các dân tộc trên thế giới. Do vậy, các Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới phải kiên quyết đấu tranh bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin.

Đối với Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lê nin là nền tảng lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực tiễn Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê nin với tư tưởng truyền thống dân tộc và các giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự phát triển tiếp theo của chủ nghĩa Mác - Lê nin, là ngọn cờ lý luận cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã chuyển hóa chủ nghĩa Mác - Lê nin thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, thực tiễn, trực tiếp lãnh đạo thành công các mạng Việt Nam.

Thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội chủ nghĩa thông qua quá trình đổi mới Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lê nin, và khẳng định chỉ có trên cơ sở trung thành và Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam thì Đảng mới có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng và mới tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối.

CẦN ĐẤU TRANH, BÁC BỎ NHỮNG BIỂU HIỆN “SÙNG NGOẠI”, “LAI CĂNG” VĂN HOÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

“Sùng ngoại” trong văn hóa là sự đánh giá thái quá những yếu tố, sản phẩm, giá trị của nước ngoài; từ đó, dẫn đến cuồng tín, tôn sùng, theo đuổi trong nhận thức và hành động, hạ thấp, coi thường các sản phẩm, giá trị văn hóa trong nước. Còn “lai căng” văn hóa là sự tiếp thu sản phẩm, giá trị văn hóa nước ngoài trên không gian mạng để pha trộn, gán ghép một cách gượng ép, tùy tiện với các sản phẩm, giá trị văn hóa trong nước theo kiểu “dở tây dở ta”, hay nói cách khác, đó là sự bắt chước nước ngoài không có chọn lọc, gây phản cảm.

“Sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa trên không gian mạng như những virus “văn hóa độc hại” lây lan, tác động to lớn đến con người và xã hội Việt Nam. Nó cổ súy cho lối sống dân chủ, thể chế chính trị tư sản phương Tây. Những biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa theo khuynh hướng xã hội công nghiệp hiện đại và mặt trái của kinh tế thị trường, như: chủ nghĩa thực dụng, đề cao cá nhân, lối sống hưởng thụ, tôn thờ tiền bạc thái quá, thị hiếu thấp kém,… đi ngược lại với giá trị văn hóa truyền thống, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Không chỉ vậy, nó còn làm cho những giá trị đạo đức cốt lõi bị lung lay, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là của giới trẻ hiện nay, mà còn tạo ra nhiều hệ lụy trong xã hội, làm cho nhiều người dễ dao động, buông xuôi trước sự tấn công của văn hóa ngoại lai xấu độc, gây khủng hoảng niềm tin, mất phương hướng trong lựa chọn các giá trị, lối sống, v.v. Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) chỉ rõ: “Nhiều sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc”.

Để giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc, một mặt phải không ngừng chăm lo, xây dựng những giá trị văn hóa tốt đẹp, mặt khác cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa trên không gian mạng theo tinh thần: “Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các quốc gia, trong đó có Việt Nam là tất yếu khách quan, song sự du nhập, “lai căng” văn hóa từ bên ngoài đối với từng quốc gia cũng khác nhau. Điều này phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng các thiết chế quản lý văn hóa của mỗi nước. Vì thế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa nói chung và trên không gian mạng nói riêng là vấn đề rất quan trọng. Đây là những cơ sở pháp lý cần thiết để các cấp, ngành, tổ chức, lực lượng đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm về văn hóa. Theo đó, cùng với quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước về văn hóa, cần đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, khung pháp lý về văn hóa, quản lý văn hóa ở tất cả các cấp. Đồng thời, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, nhằm phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực cho bản sắc văn hóa dân tộc phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập mà không hòa tan. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống thông tin quốc gia, góp phần bảo đảm chủ quyền, an ninh, trật tự và xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh trên không gian mạng. Tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ cơ chế thị trường trong lĩnh vực văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy đầu tư, sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu thụ các sản phẩm, nguồn tài nguyên, dịch vụ văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên không gian mạng.

Thực tiễn hoạt động văn hóa ở từng địa phương, lĩnh vực và cả nước cho thấy, tuy cùng chịu sự tác động của văn hóa ngoại lai, nhưng ở đâu có môi trường văn hóa tốt hơn thì ở đó sự “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa sẽ ít hơn và việc đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện này cũng dễ dàng hơn và ngược lại. Vì thế, để nâng cao sức đề kháng của nhân dân trước sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai độc hại cần phải xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành mạnh. Để làm được điều đó, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống giá trị văn hóa với các tiêu chí, chuẩn mực cụ thể trong từng lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, báo chí và truyền thông, tôn giáo và tín ngưỡng; trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, các cơ quan trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội,... nhằm hình thành các chuẩn mực về văn hóa đạo đức, hành vi ứng xử của từng cá nhân. Khai thác, phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa hiện có; thực hiện nghiêm các quy tắc ứng xử văn hóa, văn minh trên môi trường mạng xã hội, hướng tới những giá trị cao đẹp, “chân, thiện, mỹ”. Thực hiện tốt vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, người có uy tín trong cộng đồng trong việc thực hiện quy chế, chuẩn mực đạo đức, thực sự là tấm gương sáng, là hạt nhân trong việc xây dựng môi trường văn hóa. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh đấu tranh bác bỏ các hiện tượng văn hóa độc hại, biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa, nhất là trên không gian mạng ở ngay mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị và mỗi gia đình. Quá trình đấu tranh cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhân tố quyết định, “chống” là quan trọng.

Trước xu thế lớn của thời đại, việc giao thoa văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc như là một lẽ đương nhiên và không một quốc gia nào có thể đứng ngoài dòng chảy đó. Trong bối cảnh ấy, cùng với các giải pháp khác, việc sử dụng sức mạnh nội sinh của văn hóa nước nhà để ngăn chặn, giảm thiểu,... sự tác động của văn hóa ngoại lai xấu độc là vấn đề cần được chú trọng. Vì thế, cần chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc. Chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa, du lịch nước ngoài giới thiệu tiềm năng đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với thế giới. Trong hội nhập cần phát huy bản lĩnh văn hóa, trí tuệ con người Việt Nam giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc; giải quyết hài hòa mối quan hệ văn hóa với chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh với các nước và cộng đồng quốc tế; kiên quyết chống sự áp đặt, đồng hóa về văn hóa từ các nước lớn.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển như vũ bão, kéo theo đó là sự phát triển của không gian mạng cùng sự giao thoa, tiếp biến văn hóa khổng lồ đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Do đó, để nâng cao hiệu quả đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục, các cấp, ngành, lực lượng, địa phương cần đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đi đôi với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong công tác quản lý nhà nước và trong thực hiện các nhiệm vụ. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, sản xuất các sản phẩm của Việt Nam trên không gian mạng, tiến tới đủ năng lực bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ an ninh mạng và làm chủ không gian mạng. Triển khai xây dựng phát triển không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp gắn với xây dựng các quy chế phối hợp và các giải pháp kỹ thuật trong kiểm soát, ngăn chặn các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập vào nước ta từ mạng internet, các thiết bị kỹ thuật số, điện thoại di động. Xây dựng quy chế phối hợp với các hãng công nghệ nước ngoài như Google, Youtube xóa bỏ các kênh thông tin xấu, độc, không phù hợp với văn hóa nước ta. Biểu dương, khen thưởng những điển hình tốt, gương tiêu biểu trong giữ gìn đạo đức, thuần phong mỹ tục, xây dựng cơ quan, đơn vị, gia đình văn hóa và trong công tác phòng, chống, bài trừ, phê phán các sản phẩm văn hóa “sùng ngoại”, “lai căng”; kịp thời xử lý nghiêm minh, những tổ chức, cá nhân có sai phạm.

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tư tưởng dân túy xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, nhưng nó phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ nghĩa - chủ nghĩa dân túy vào khoảng thế kỷ XIX trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản. Hiện nay, sự nổi lên mang tính toàn cầu của chủ nghĩa dân túy ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. Đặc biệt, việc nhiều nhà dân túy giành được vị trí lãnh đạo ở một số nước, đã tạo nên những thay đổi, làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp hơn.

Thực chất chủ nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng, kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm, phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cũng khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính chất.

Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa dân túy mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời. Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

Thứ nhất, những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.

Thứ ba, giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ tư, những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch, phản động.

Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Mưu hèn, kế bẩn của Thái Hạo

 

Ngày 22/12/2018 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định một số chủ trương lớn về phát triển kinh tế biển và ven biển, có nhấn mạnh: tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển. Tuy nhiên, Thái Hạo – một kẻ phản động lại có những lời lẽ bình luận xuyên tạc về vấn đề này...





Đọc bài viết: LÀNG BIỂN ĐẸP NHẤT VIỆT NAM SẮP BIẾN MẤT? đăng trên trang của Việt Tân ngày 16/3/2023 của tác giả Thái Hạo, đang làm người dân Bình Định lẫn người dân cả nước đang tỏ ra hoang mang, lo lắng và bức xúc trong nhân dân, làm ảnh hưởng tới tình hình an ninh chính trị và phát triển kinh tế đất nước. Tôi có cảm nhận suy nghĩ đó là hoàn toàn không có cơ sở. Vì: Theo trên Tiền phong ngày 13/3/2023 của tác giả Trương Định có đăng bài: Bình Định lập Ban chỉ đạo dự án gang thép hơn 53.000 tỷ đồng. Trong đó có đề cập UBND tỉnh Bình Định chấp thuận chủ trương cho Công ty Cổ phần Gang thép Long Sơn Phù Mỹ đầu tư dự án Khu liên hợp Gang thép Long Sơn tại thôn Lộ Diêu (xã Hoài Mỹ, thị xã Hoài Nhơn).

Theo Báo Tuổi trẻ ngày 28/12/2022 của tác giả Duy Thanh có đăng bài: Lo lắng dự án gang thép sẽ phá vỡ Lộ Diêu: 'Chừng nào dân chịu mới làm', trong đó có trích đoạn của Ông Phạm Trương - bí thư Thị ủy Hoài Nhơn: “Dự án này không lấy diện tích của di tích và danh thắng ở Lộ Diêu, những chỗ này phải giữ và tôn tạo, phát huy lên. Còn làm dự án thì phải có phương án chứ không đánh đổi. Nhà nước phải tính toán, xin ý kiến người dân bị ảnh hưởng. Phải dân chủ, xin ý kiến từng người, có chính sách cho người ta đầy đủ, phải tôn trọng dân chứ đâu phải muốn làm thì làm. Còn nếu mà đa số người ta không đồng tình thì chưa chắc gì đã làm”. Cũng trên bài báo này ông Nguyễn Thành Hải - giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định - cho biết: "Phạm vi nghiên cứu đầu tư dự án này ở phía Nam thôn Lộ Diêu, có khoảng cách đệm nhất định và không đụng gì đến di tích lịch sử Bến tàu Không số Lộ Diêu hay thắng cảnh Gành đá biển Lộ Diêu mà khách du lịch phượt hay đến".

Chủ trương xây dựng Khu liên hợp Gang thép Long Sơn và khu bến cảng Hoài Nhơn, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã được UBND tỉnh nhất trí. Cảng Hoài Nhơn được nghiên cứu quy hoạch là cảng chuyên dùng phục vụ cho sản xuất của Khu liên hợp Gang thép Long Sơn và hướng đến cảng tổng hợp trong tương lai. Khi công trình dự án đi vào hoạt động kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển khu công nghiệp, công nghiệp phụ trợ, dịch vụ cảng biển, qua đó đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Định và các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. UBND tỉnh Bình Định đã có chủ trương xây dựng Khu liên hợp Gang thép Long Sơn và đã khảo sát lấy ý kiến của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ đồng thời đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển; không làm ảnh hưởng đến an sinh xã hội và đời sống nhân dân; thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường, vừa bảo đảm phát triển kinh tế vừa khai thác thế mạnh tiềm năng du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Như vậy, chủ trương của UBND tỉnh Bình Định là hoàn toàn phù hợp đối với tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, khai thác tài nguyên và môi trường biển;  hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn” vừa phát triển công nghiệp, vừa phát triển du lịch biển, bảo đảm an ninh bền vững về biển. Những quan điểm của Thái Hạo không có gì khác ngoài mục đích tạo sự hiểu lầm, hoang mang đối với những người dân (nhất là những người dân sống xung quanh khu vực làng biển), gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Do đó, trước những luồng thông tin “vỉa hè” như vậy mọi người cần đề cao cảnh giác để không mắc bẫy những kẻ phá hoại…

Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ 1954

 

Hiệp định Giơ-ne-vơ 20/7/1954 mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, đánh dấu sự kiện quan trọng chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới đi đến sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống thực dân trên quy mô toàn cầu.






          Hội nghị Giơ-ne-vơ được khai mạc vào ngày 26/4/1954, trong đó nội dung bàn về chiến tranh Triều Tiên kết thúc vào ngày 16/5 mà không đạt kết quả. Hội nghị bàn về chiến tranh ở Đông Dương bắt đầu từ ngày 8/5/1954, đúng lúc chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu” kết thúc. Hội nghị Giơ-ne-vơ là một hội nghị quốc tế, do hoàn cảnh lịch sử lúc đó nên thành phần, thời gian, bước đi của hội nghị do các nước lớn quyết định. Nhưng về phía Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu Chính phủ Pháp đã rút ra được bài học trong cuộc chiến tranh, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận ý muốn đó…Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của Việt Nam…Việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa với Chính phủ Pháp”

          Tham dự đàm phán, đoàn Việt Nam do Phó Thủ tướng kiêm quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đoàn của Pháp do Bộ trưởng Ngoại giao Bi-đôn dẫn đầu. Việt Nam lần đầu tiên tham dự một đấu trường quốc tế lớn với tư thế của người chiến thắng. Điều đó tạo điều kiện cho Việt Nam thể hiện tiếng nói chính nghĩa của mình và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đặt trên bàn hội nghị để đàm phán gồm 8 điểm về giải pháp toàn diện cho vấn đề Đông Dương. Trong đó nhấn mạnh 2 vấn đề quân sự và chính trị cho 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Chiến thắng Điện Biên Phủ có tác động quyết định đến việc đánh bại dã tâm và chính sách xâm lược của thực dân Pháp, buộc Pháp phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào, Campuchia, chấp nhận kết thúc chiến tranh, rút hết quân viễn chinh về nước để nhân dân 3 nước tự quyết định vận mệnh của mình.

          Hiệp định Giơ-ne-vơ là sự xác nhận trên phạm vi quốc tế sự thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, công nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thành quả quan trọng nhất của Hội nghị Giơ-ne-vơ chính là giá trị pháp lý quốc tế đảm bảo cho sự thực hiện mục tiêu cao cả thiêng liêng của dân tộc ta là thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Ở khía cạnh ngoại giao vào thời điểm bấy giờ, đây là một thành quả đem lại thế và lực mới cho nước ta trên trường quốc tế.

          Hiệp định Giơ-ne-vơ mở ra thời kỳ mới cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Tranh thủ điều kiện hòa bình, Việt Nam tiến hành khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc, chuẩn bị hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước sau này. Hội nghị Giơ-ne-vơ cũng đã đem lại những bài học quý giá cho cách mạng Việt Nam. Đó là bài học về kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao. Cần tạo cục diện đánh - đàm mà trước tiên là từ thắng lợi ở chiến trường, nhưng ngoại giao cũng rất quan trọng làm cho thế giới thấy rõ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, tác động vào nội bộ đối phương nhằm kiềm chế kẻ thù và tạo áp lực kéo địch xuống thang. Trong đấu tranh ngoại giao cần thiết phải nắm chắc được tương quan lực lượng, sự tính toán của các nước lớn để đánh giá đúng tình hình, từ đó đặt ra được lộ trình đấu tranh để thắng từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Bài học tổng quát nhất là luôn kiên trì tinh thần độc lập tự chủ, không bị chi phối trước bất cứ thế lực nào.

          Ngày nay, trong một thế giới tương đối hoà bình, ổn định nhưng cũng đầy thách thức, chung ta cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo trong quan hệ quốc tế, phải luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Bất kỳ lúc nào thì vấn đề độc lập tự chủ, bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đối với chúng ta cũng là cao cả và thiêng liêng nhất, không thể nhân nhượng.

Nhận diện vấn đề suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ đến “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay

 Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên đã và đang trở thành một căn bệnh “man y”, nội dung cấp bách, trở thành mệnh lệnh cuộc sống nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã nhận diện, chỉ rõ và đề ra các giải pháp khắc phục hữu hiệu, coi đây là vấn đề vừa mang tính cấp bách, lâu dài vừa mang tính sống còn đối với Đảng, chế độ ta. Một trong những giải pháp hiểu hiệu nhất, đó là bằng ý chí, quyết tâm chính trị và tinh thần trách nhiệm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.





Suy thoái là sự yếu kém, hư hỏng, làm mất dần đi cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, làm chậm quá trình phát triển dẫn đến sự thoái hóa và biến chất của sự vật, hiện tượng, quá trình hay chính bản thân con người và tổ chức xã hội của con người. Sự suy thoái này theo thời gian, dần trở thành một căn bệnh trong xã hội - “Bệnh suy thoái”. “Bệnh suy thoái” là sự giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động về chính trị, sa sút phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống khác với những băn khoăn, lo lắng, bức xúc, có lúc thiếu lòng tin; khác với vi phạm một số khuyết điểm, chấp hành không nghiêm một số quy định của Hiến pháp, pháp luật. Sự suy thoái này tất yếu sẽ làm hư hỏng, làm biến chất cán bộ, đảng viên và làm hỏng mọi việc của cá nhân và tổ chức.

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Trong thế giới cái gì cũng biến hóa, tư tưởng con người cũng biến hoá. Có cái thì biến hóa tiến bộ lên, tức là phát triển; có cái thì biến hóa lạc hậu đi, tức là suy thoái”[1]. Đó “khuynh hướng chật hẹp và bao biện”, “lạm dụng hình phạt”, “hủ hóa”, “kéo bè kéo cánh”, “kiêu ngạo”... Những khuyết điểm đó tiếp tục được Người chỉ rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Với bút danh X.Y.Z, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những khuyết điểm phát triển thành “căn bệnh rất nguy hiểm” mà cán bộ, đảng viên mắc phải,

Từ nhận diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn sâu sát quy trình diễn tiến của “bệnh” suy thoái. Tại Đại hội II (2-1951), Đảng ta đã chỉ ra một số biểu hiện suy thoái như: “bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi, bệnh công thần”. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, Đảng ta đã đề cập tới vấn đề suy thoái tư tưởng chính trị: “Trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng”[2]. Các kỳ Đại hội IX, X, XI của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định tình trạng suy thoái là nghiêm trọng. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng - chính trị, đạo đức - lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ[3]Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” còn diễn biến phức tạp”[4].

Hiện nay, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống biểu hiện tính chất, mức độ khác nhau, diễn ra ở các đối tượng khác nhau, từ đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý - đảng viên thường, đến đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp, kể cả cán bộ cao cấp. Vấn đề đặt ra cấp bách là cần nhận diện đúng sự suy thoái đang diễn ra ở những đối tượng nào? Có thể chia thành hai nhóm đối tượng: sự suy thoái của bộ phận cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, kể cả cán bộ cao cấp và sự suy thoái của bộ phận đảng viên không giữ chức vụ trong Đảng và chính quyền.

Sự suy thoái của nhóm cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền, trong đó có những cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý cấp cao, kể cả cấp Trung ương. Nhóm này có nguy cơ suy thoái cao và có nguy hại lớn, vì sự liên quan lớn hơn đến quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, quyền lực xã hội của họ. Suy thoái về tư tưởng chính trị biểu hiện ở bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền này là tự cho mình đứng ngoài sự quản lý, giám sát của tổ chức, coi thường kỷ luật, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, cũng như quy định của cơ quan, đơn vị; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, có tư tưởng bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; coi thường nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Trong quan hệ trực tiếp với nhân dân có biểu hiện quan cách, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân; có các hành vi vô đạo đức trong quan hệ gia đình và quan hệ giữa cá nhân với xã hội; đạo đức nghề nghiệp sa sút, đặc biệt trong những lĩnh vực được xã hội tôn vinh; mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục của dân tộc, của cha ông; một số có biểu hiện vọng ngoại hoặc sa vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ đó, dẫn tới độc đoán, chuyên quyền, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, coi thường tập thể, trở thành “quan cách mạng”.

Sự suy thoái của bộ phận đảng viên không giữ chức vụ trong Đảng và chính quyền. Đảng viên không giữ cương vị chức trách trong Đảng và chính quyền là những đảng viên chưa hoặc không được giao các chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, chỉ chịu trách nhiệm cá nhân khi thực hiện các nhiệm vụ đảng viên. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị của nhóm đối tượng này là phai nhạt lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, thậm chí muốn từ bỏ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phai nhạt lý tưởng, hoài nghi về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhận thức chưa sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; mơ hồ, mất cảnh giác, làm lộ, lọt thông tin, tài liệu bí mật quân sự, bí mật quốc gia; ngại học tập lý luận chính trị và tham gia các phong trào cách mạng; không thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, lối sống trong sáng, chính trực, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, vụ lợi, cơ hội, buông thả, thực dụng, hưởng thụ, tính toán thiệt hơn; sa sút ý chí chiến đấu, trung bình chủ nghĩa, ý chí đấu tranh tự phê bình và phê bình, dĩ hòa vi quý, nói dựa, lấy lòng nhau, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; nói không đi đôi với làm, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”; không làm tròn nhiệm vụ người đảng viên. Nhiều người không thấm nhuần tư tưởng và tiêu biểu về phẩm chất: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Đối với quân đội, biểu hiện những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, chính sách, quản lý tài chính, vật tư, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị; bệnh hình thức, thành tích; ý thức tổ chức kỷ luật kém, vi phạm nguyên tắc, chế độ quy định, kỷ luật, pháp luật, những điều đảng viên không được làm; quan liêu, tham nhũng, lãng phí; vi phạm đạo đức, lối sống, mất đoàn kết nội bộ và đoàn kết quân - dân; tinh thần cảnh giác, chất lượng huấn luyện, giáo dục và khả năng sẵn sàng chiến đấu chưa cao; lúng túng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn tiêu cực, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; ngại học tập, nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; trung bình chủ nghĩa, né tránh phê bình, thiếu trách nhiệm với công việc, hiệu quả công tác thấp, thậm chí có cán bộ, chiến sĩ không hoàn thành nhiệm vụ.

Hiện nay, toàn Đảng, với tinh thần quyết tâm, nhận rõ trách nhiệm lịch sử và ý nghĩa thiêng liêng, trọng đại của vấn đề xây dựng Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt và khắc phục bệnh suy thoái, cần phải nhận diện đúng, trúng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là những nội dung cấp bách, trở thành mệnh lệnh của cuộc sống. Với ý chí quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao, thời gian qua, Đảng ta không chỉ ban hành nhiều nghị quyết, các cuộc vận động mà còn bằng việc làm cụ thể thiết thực đã từng bước đẩy lùi, ngăn chặn con “vi rút” suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo cấp cao nói riêng. Điều đó đã củng cố lòng tin của nhân dân đối với chế độ, “ý Đảng hợp với lòng dân” sẽ tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn - nền tảng vững chắc thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội XIII đề ra.

TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN DƯỚI VỎ BỌC CÁC TỔ CHỨC NGOẠI VI NHƯNG BẢN CHẤT THÌ KHÔNG THAY ĐỔI

 


 Kể từ khi thành lập Việt Tân được coi là một tổ chức khét tiếng có nhiều hoạt động phá hoại Đảng và Nhà nước ta với phương thức hoạt động tinh vi, tổ chức nhiều hoạt động bạo loạn có vũ trang. Chính vì vậy năm 2016 Bộ Công an đã đưa tổ chức Việt Tân vào danh sách các tổ chức khủng bố.

Sau khi thành lập chúng đã tuyên truyền, lôi kéo nhiều người dân Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài tham gia để tạo thành một cộng đồng người Việt chống phá Đảng, Nhà nước ta với mục đích hạ uy tín, giảm lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng; Sự nghiệp đổi mới Đất nước; Xóa bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa; Đòi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng...Chúng tranh thủ sự giúp đỡ của các cá nhân và tổ chức dưới vỏ bọc là các tổ chức phúc lợi xã hội, thiện nguyện, các tổ chức phi chính phủ đảm bảo nhân quyền cho người dân... để quyên góp tiền nhằm duy trì và mở rộng hoạt động.

Trong những năm gần đây, người dân đã nhìn rõ được âm mưu, thủ đoạn đê hèn của tổ chức khủng bố Việt Tân là nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ ngày càng toàn diện, sâu rộng tất cả các lĩnh vực. Vì vậy, chúng đã không được sự hậu thuẫn giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức; không thể quyên góp tài chính để mở rộng các hoạt động chống phá. Chính vì lẽ đó, để duy trì và mở rộng hoạt động chúng đã tổ chức ra các tổ chức ngoại vi dưới vỏ bọc là các tổ chức bảo vệ nhân quyền, phúc lợi xã hội, thiện nguyện....tiếp tục lợi dụng lòng tin của các cá nhân và tổ chức để quyên góp tiền phục vụ cho hoạt động sai trái của chúng.

Các tổ chức “con” của Việt Tân có thể kể đến như Voice; Rise; Liên minh Việt Nam tự do; Hội hải ngoại; Ủy ban chính trị người mỹ gốc việt....Ngoài ra chúng còn liên minh với các tổ chức phản động khác như Tổ chức dân chủ nhân dân; Liên minh dân chủ; Chính phủ việt nam tự do...Nhằm tạo ra một thế lực liên hoàn để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Mặc dù, đã tổ chức ra các tổ chức ngoại vi phi chính phủ dưới vỏ bọc của các tổ chức phúc lợi, thiện nguyện, bảo vệ nhân quyền, hỗ trợ pháp lý...bên ngoài có vẻ như không liên quan đến đến tổ chức khủng bố Việt Tân nhưng thực chất chúng chính là các tổ chức “Con” của Việt Tân.

Trong những ngày qua, chúng đang dựa vào cuộc họp về Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) cho Việt Nam ở Thụy sĩ để đưa ra những thông tin sai sự thật về Nhân quyền ở Việt Nam nhằm kích động, lôi kéo đông đảo người dân chống phá Đảng, Nhà nước ta, hạ uy tín, giảm lòng tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nhưng chúng đã quên rằng để có sự tự do, ấm no, hạnh phúc và phồn vinh của Đất nước như hiện nay đều là do quan điểm quân sự đúng đắn và sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời (03/02/1930) đến nay Đảng ta đã lãnh đạo Đất nước ta, Dân tộc ta trải qua hai cuộc kháng chiến trường kì chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ (Hai cường quốc về Quốc phòng) để giành và thống nhất Đất nước. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển của Khoa học - Công nghệ và sự hiểu biết của người dân thì mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của chúng tinh vi như thế nào cũng sẽ bị bóc trần, “cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”.

Tổ chức khủng bố Việt Tân dù dưới vỏ bọc hay các tổ chức ngoại vi nào; dù chúng có dùng bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào; phương thức hoạt động tinh vi ra sao thì cũng không thể thay đổi lòng tin sắt son của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC TRONG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG HIỆN NAY

 


Tổ chức cơ sở đảng là chủ thể lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận ở cơ sở. Chất lượng, hiệu quả lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận biểu hiện năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, trực tiếp góp phần xây dựng đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xây dựng địa phương, cơ quan, đơn vị vững mạnh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Tự hào với những thành tựu qua gần 40 năm đổi mới, với cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ta như ngày nay, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng ngày càng được củng cố, tăng cường. Tuy nhiên, cho đến nay, cách mạng Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức lớn, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ngày càng cam go, phức tạp. Thực tiễn đó đòi hỏi, các tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận cần quán triệt và thực hiện một số vấn đề có tính nguyên tắc sau đây:

Một là, chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên, đồng thời đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cấp ủy cơ sở trong lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Vấn đề có tính nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức cơ sở đảng phải thường xuyên chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên; đề cao trách nhiệm chủ động nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và vận dụng đúng đắn, sáng tạo trong thực tiễn lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Nắm bắt, dự báo âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; kịp thời nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị và tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của cấp ủy, hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên; tích cực đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, hiệu quả phương thức lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận. Quan tâm, chỉ đạo xây dựng, phát huy vai trò lực lượng chuyên trách đủ mạnh ở cơ sở, vừa là hạt nhân, vừa để định hướng, “dẫn dắt” hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận, nhất là đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính trong lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận của tổ chức cơ sở đảng.

Vấn đề có tính nguyên tắc này đòi hỏi các tổ chức cơ sở đảng bên cạnh việc cụ thể hóa quan điểm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, khi xác định nội dung, phương thức lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động, phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nâng cao khả năng tự phòng chống của cán bộ, đảng viên và quần chúng trước những âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng, phản động, cơ hội chính trị. Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ cách mạng và của địa phương, cơ quan, đơn vị. Cần tránh tình trạng chỉ thiên về đấu tranh phê phán mà buông lỏng việc nhân rộng, biểu dương gương người tốt việc tốt, cách làm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp trong lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận của tổ chức cơ sở đảng.

Vấn đề có tính nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức cơ sở đảng cần chủ động xây dựng, ban hành các quy định, quy chế phối hợp với các lực lượng có liên quan. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, lực lượng trong và ngoài chi bộ, đảng bộ, đặc biệt là các cơ quan thông tấn, báo chí, các viện nghiên cứu để có những dự báo, đánh giá chính xác, nhạy bén, đề xuất biện pháp đấu tranh phù hợp. Bồi dưỡng, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, cơ quan, đơn vị trong tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, biện pháp lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận của chi ủy, chi bộ trực thuộc và việc thực hiện quy định nêu gương của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị. Kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc nảy sinh để tháo gỡ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận của tổ chức cơ sở đảng.

Những vấn đề có tính nguyên tắc trên là nội dung rất quan trọng. Quán triệt và tuân thủ đúng trực tiếp góp phần tạo sự thống nhất về nhận thức, đề cao trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng, bảo đảm cho những tác động vào yếu tố quy định chất lượng lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận của tổ chức cơ sở đảng đạt hiệu quả cao, từ đó chất lượng lãnh đạo đấu tranh tư tưởng, lý luận của tổ chức cơ sở đảng sẽ đạt được ở mức độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh, xây dựng địa phương, cơ quan, đơn vị vững mạnh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.