Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

Kỷ niệm 10 năm Ngày truyền thống Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam (27/5/2014 - 27/5/2024)

 BƯỚC TIẾN DÀI CỦA VIỆT NAM TRONG THAM GIA HOẠT ĐỘNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH LIÊN HỢP QUỐC

—————
Trải qua quá trình 10 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Cục Gìn giữ hòa bình (GGHB) Việt Nam, tiền thân là Trung tâm GGHB Việt Nam, đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng, hoàn thành xuất sắc vai trò, nhiệm vụ của mình, đóng góp vào việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nói riêng.
Sự phát triển của Cục GGHB Việt Nam gắn liền với những bước trưởng thành nhanh chóng của lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam, với nhiều tấm gương quân nhân nỗ lực vượt qua khó khăn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, ngày càng vững vàng trên các cương vị công tác, cống hiến hết mình cho sứ mệnh chung. Hình ảnh người lính mũ nồi xanh Việt Nam tham gia GGHB, góp phần cải thiện cuộc sống cho người dân ở những đất nước châu Phi nghèo đói, chiến tranh đã trở thành nguồn cảm hứng, tạo hiệu ứng tích cực, có ý nghĩa giáo dục lý tưởng sống cao đẹp, trân trọng giá trị của hòa bình, tình yêu thương, trách nhiệm và chia sẻ với cộng đồng.
Mặc dù là lực lượng mới thành lập, làm nhiệm vụ quốc tế xa Tổ quốc, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB Liên hợp quốc (LHQ) đã phát huy truyền thống của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”, có những đóng góp quan trọng vào nhiệm vụ tái thiết, duy trì hòa bình và hỗ trợ nhân đạo của LHQ, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam, của QĐND Việt Nam trên trường quốc tế; góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề an ninh, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới; tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ không ngừng phát triển về số lượng, với chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Từ 2 sĩ quan đầu tiên được triển khai vào năm 2014 tới Nam Sudan, đến nay, QĐND Việt Nam đã cử hơn 800 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp theo hình thức cá nhân và đơn vị tại các phái bộ ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và trụ sở LHQ. Bệnh viện dã chiến cấp 2 Việt Nam ở Nam Sudan đã trở thành địa chỉ chăm sóc sức khỏe uy tín, với những y, bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, tận tụy, hết lòng vì người bệnh, tạo những dấu ấn đặc biệt tại địa bàn. Năm 2022, lần đầu tiên Việt Nam cử đội công binh tới khu vực Abyei-một địa bàn mới, tạo bước đột phá của Việt Nam trong tham gia sứ mệnh GGHB LHQ. Hai đội công binh lần lượt được triển khai tới khu vực Abyei đã và đang hoàn thành xuất sắc sứ mệnh, làm thay đổi diện mạo khu vực bị chiến tranh tàn phá, xứng đáng là những “sứ giả hòa bình”. Trong các cuộc kiểm tra đánh giá năng lực của phái bộ, các đơn vị Việt Nam đều đáp ứng tốt các tiêu chí và tiêu chuẩn của LHQ, đặc biệt có những tiêu chí được đánh giá ở mức xuất sắc.
Các sĩ quan QĐND Việt Nam đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau tại các phái bộ, trong đó có nhiều vị trí mới như: Sĩ quan hậu cần, sĩ quan quân lương, sĩ quan điều phối quân-dân sự, sĩ quan công binh công trình, sĩ quan truyền thông... Trong môi trường làm việc quốc tế, họ đã thể hiện được trình độ, năng lực chuyên môn tốt, một số đồng chí được LHQ đề nghị kéo dài nhiệm kỳ, nhận được giấy khen, thư khen của chỉ huy phái bộ và lãnh đạo LHQ.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn, phát huy phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, những người lính mũ nồi xanh Việt Nam đã xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với người dân cũng như chính quyền địa phương, tạo được nhiều thiện cảm, sự tin yêu, biết ơn của họ thông qua các hoạt động hỗ trợ thiết thực giúp cải thiện đời sống của người dân như: Dạy học, hướng dẫn làm nông nghiệp, tặng quà, đóng bàn ghế học sinh, làm nhà, dựng lớp học, khoan giếng, tặng máy phát điện, khám bệnh và phát thuốc miễn phí...
Cách tiếp cận mới đầy tính nhân văn, nhân đạo vì cộng đồng của QĐND Việt Nam trong tham gia hoạt động GGHB LHQ được chỉ huy phái bộ và lãnh đạo LHQ ghi nhận như một mô hình tham khảo tốt, được ví như “luồng gió mới” trong hoạt động GGHB LHQ. Trong Sổ vàng của Đội Công binh Việt Nam, Thiếu tướng Benjamin Olufemi Sawyerr, Quyền Trưởng phái bộ kiêm Tư lệnh Phái bộ UNISFA đánh giá cao quan điểm tiếp cận với các cộng đồng người dân địa phương của Đội Công binh Việt Nam gắn liền với truyền thống và bản sắc quân đội “vì nhân dân” của QĐND Việt Nam. Theo Thiếu tướng Sawyerr, đây là hoạt động vì cộng đồng mà tất cả các nước cử quân đều nên làm theo vì nó thực sự rất ý nghĩa.
Là cơ quan tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về tham gia hoạt động GGHB LHQ, trực tiếp chỉ đạo, điều hành lực lượng QĐND Việt Nam tham gia hoạt động này, Cục GGHB Việt Nam đã kịp thời có những đề xuất sát yêu cầu, thực tiễn nhiệm vụ để phát triển lực lượng không ngừng lớn mạnh, cùng nhiều biện pháp, sáng kiến thúc đẩy sự tham gia hiệu quả của Việt Nam vào hoạt động GGHB LHQ. Việt Nam luôn hướng tới đáp ứng các mục tiêu quan trọng của LHQ trong quá trình tham gia sứ mệnh GGHB, trong đó có việc bảo đảm tỷ lệ nữ quân nhân cao, vượt sự trông đợi của LHQ. Những tiến bộ đạt được của Việt Nam trong thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào sứ mệnh GGHB LHQ cũng như hợp tác toàn cầu thực hiện Chương trình nghị sự về phụ nữ, hòa bình và an ninh trong hoạt động GGHB LHQ được các nước và tổ chức quốc tế đánh giá cao.
Cục GGHB Việt Nam đã phối hợp hiệu quả với các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự đạt chất lượng cao để tham gia hoạt động GGHB LHQ, tạo nguồn cán bộ đáp ứng đủ những điều kiện để ứng tuyển vào các vị trí không chỉ ở trụ sở LHQ mà hướng tới ứng tuyển những vị trí chỉ huy cấp cao ở sở chỉ huy phái bộ, tạo tiền đề quan trọng để Việt Nam có vai trò ở cơ quan cấp chiến lược về GGHB của LHQ, tham gia vào công việc hoạch định chính sách chung về GGHB, từ đó tham gia sâu rộng hơn vào lĩnh vực này.
Trong quá trình tham gia hoạt động GGHB LHQ, Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ và hỗ trợ nhiệt tình, quý báu của các đối tác, bạn bè trong khu vực và trên thế giới thông qua các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, góp phần nâng cao năng lực tham gia hoạt động GGHB của Việt Nam, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GGHB. Việt Nam đã ký 12 bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực GGHB với LHQ, Liên minh châu Âu và các nước đối tác; đồng chủ trì tổ chức nhiều khóa huấn luyện quốc tế về GGHB, hướng tới trở thành trung tâm huấn luyện GGHB đẳng cấp khu vực và quốc tế, tổ chức thành công các cuộc diễn tập đa phương, song phương quy mô lớn, chủ trì các hội nghị quốc tế về GGHB...
Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, cạnh tranh địa chính trị và xung đột gia tăng, sứ mệnh GGHB LHQ ngày càng đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi lực lượng của các nước cử quân phải đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ cao hơn. Đảng ủy, chỉ huy Cục GGHB Việt Nam xác định nhiệm vụ của Cục GGHB Việt Nam vì thế sẽ ngày càng nặng nề, đòi hỏi toàn bộ cán bộ, sĩ quan của đơn vị phải đoàn kết, phát huy trí tuệ tập thể, nỗ lực không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Theo đó, Cục GGHB Việt Nam tiếp tục quản lý, chỉ huy, điều hành các lực lượng triển khai thực hiện nhiệm vụ tại các phái bộ bảo đảm tuyệt đối an toàn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; hoàn thiện Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Luật về tham gia lực lượng GGHB LHQ. Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất về việc mở rộng địa bàn, phạm vi và lực lượng tham gia hoạt động GGHB LHQ, trước mắt là ứng thi vào vị trí Chỉ huy trưởng Lực lượng Quân cảnh của phái bộ; nghiên cứu khả năng triển khai chó nghiệp vụ để bảo vệ doanh trại các đơn vị của Việt Nam tại địa bàn; tiếp tục tạo nguồn các ứng viên có đủ trình độ, năng lực để ứng thi vào các vị trí tại trụ sở LHQ và sở chỉ huy các phái bộ; tăng cường hợp tác quốc tế về GGHB LHQ...
10 năm là quãng thời gian không dài, nhưng có thể khẳng định Việt Nam đã đạt được bước tiến dài trong tham gia hoạt động GGHB LHQ. Những thành tựu và kết quả đạt được sẽ tạo nền tảng và động lực mạnh mẽ để Cục GGHB Việt Nam lãnh đạo, chỉ đạo thành công hoạt động của lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam, tiếp tục thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao phó, xứng đáng là lực lượng tiên phong của QĐND Việt Nam tham gia sứ mệnh quốc tế, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới./.
St

AI YÊU BÁC HỒ CHÍ MINH HƠN CÁC EM NHI ĐỒNG

 Tình yêu thương của Bác không chỉ là xót xa mà đã trở nên cụ thể, mạnh mẽ và đầy thuyết phục. Sinh thời, Bác đã chăm lo, dạy dỗ các cháu từ việc nhỏ đến việc lớn.

“Các cháu phải chăm ngoan, ở nhà phải nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng năng, đối với thầy phải kính trọng, lễ phép, đối với bạn phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau”, “Giữ kỷ luật, chớ tự do phóng túng vì tự do phóng túng là không tốt”, “phải biết gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình các chiến sĩ”, “phải yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động”, “phải thật thà, dũng cảm”, “việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”, “Mong các cháu mai sau lớn lên thành những người dân xứng đáng với nước độc lập, tự do”…
Sự quan tâm của Bác đối với trẻ em gắn chặt với những trăn trở về tương lai của dân tộc, của đất nước. Ngay từ những ngày đầu tiên của Nhà nước Việt Nam non trẻ, vị Chủ tịch nước trong bộn bề công việc vẫn không quên "những người tiểu quốc dân của một nước độc lập". Tết Trung thu độc lập đầu tiên năm 1945, Người gửi thiếu nhi Việt Nam hai bức thư trong vòng một tuần lễ. Hai bức thư ấy tràn đầy niềm vui, niềm tự hào vì nước nhà đã độc lập, các em thoát kiếp "bầy nô lệ trẻ con". Một mùa thu, Bác gửi cho các em lời yêu thương tha thiết:
"Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viết mấy dòng
Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung."
Nói với trẻ em, viết cho trẻ em, đến với trẻ em, Hồ Chí Minh nhất quán trong phong cách và văn phong giản dị, gần gũi. Hàng trăm bức thư, bài báo, bài thơ tự tay Bác viết, tặng cho các cháu. Điều ấy hiếm gặp ở bất kỳ một chính khách nào, điều ấy độc đáo và làm nên một nhân cách Hồ Chí Minh.
Trong các bài nói, bài viết của Bác về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ không chỉ chứa đựng những tư tưởng quan điểm cơ bản mà còn có cả những lời chỉ bảo ân cần rất cụ thể và gần gũi với thực tế. Trong trái tim nhân ái của Người, trẻ em được ví "như búp trên cành" cần được che chở, chăm sóc và nâng niu để nở hoa tươi thắm, khỏe mạnh và tỏa hương cho đời. Người đã đặt niềm tin yêu vào những chủ nhân tương lai của đất nước, rằng:
“… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…”
Người đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng và đặc biệt cho "toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng". Trong mỗi giai đoạn của cách mạng cũng như của cuộc đời đầy cống hiến và hy sinh của mình, trẻ em luôn là lớp "công dân đặc biệt" được Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sát. Chăm lo cho thế hệ trẻ, cho trẻ em thể hiện trong phong cách sống, trong đạo đức, trong tầm nhìn chiến lược và khoa học của Người. Trong bản di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Đoạn mở đầu, Bác viết:
“Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.
Ở đoạn kết thúc Bác lại viết:
“Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.
Tình thương yêu trẻ luôn thường trực trong Bác. Xúc động biết bao khi đọc bài viết của Bác trước lúc từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết:
“Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ... Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.
Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở:
“...làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trông cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. “Trong lúc học cẩn phải làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học..."
Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần:
“Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà,dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ Quốc”.
Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.
Bác đặc biệt nhấn mạnh, điều quan trọng nhất là người giáo dục trẻ em phải là tấm gương sáng cho các em noi theo:
“Trẻ em hay bắt chước cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách phải gương mẫu, từ lời nói đến việc làm. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”.
Và Bác đã dạy rằng:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Tình yêu thương vô hạn của Bác để lại cho nhi đồng Việt Nam của những ngày đã qua, bây giờ và mãi về sau niềm tự hào mãnh liệt, lòng thành kính cao vời và niềm kiêu hãnh biết bao khi được hát về Người:
"Ai yêu các nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh"
“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh
Hơn chúng em nhi đồng
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh
Hơn thiếu nhi Việt Nam”...
St

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG GỬI THƯ CHÚC MỪNG KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CỤC ĐỐI NGOẠI.

 Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng (28-5-1964/28-5-2024), Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư chúc mừng tới toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động đã và đang công tác tại Cục Đối ngoại. Dưới đây là nội dung bức thư của Đại tướng Phan Văn Giang:

Thân ái gửi cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng
Các đồng chí thân mến!
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng (28-5-1964/28-5-2024), thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi thân ái gửi tới toàn thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động đã và đang công tác tại Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Trải qua 60 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu; được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các ban, bộ, ngành Trung ương, của cấp ủy đảng, chính quyền, nhân dân các địa phương và các tổ chức quốc tế; sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội; cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, người lao động Cục Đối ngoại đã phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đoàn kết, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, kịp thời tham mưu, nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng; góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Tôi nhiệt liệt biểu dương, khen ngợi những thành tích và nỗ lực phấn đấu của Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng trong 60 năm qua. Mong rằng, trong giai đoạn cách mạng mới, các đồng chí tiếp tục phát huy thành tích đã đạt được, truyền thống “Trung thành, mưu lược, đoàn kết, chủ động, sáng tạo”, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ", chủ động, sáng tạo hơn nữa, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và không ngừng tiến bộ./.
St

CỤC GÌN GIỮ HÒA BÌNH VIỆT NAM TỔ CHỨC LỄ KỶ NIỆM 10 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG (27/05/2014 - 27/05/2024) VÀ ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG BẢO VỆ TỔ QUỐC HẠNG BA

 Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà còn góp phần quan trọng vào thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Việc Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc càng thể hiện rõ hơn vai trò của Quân đội nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
Lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam khi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc đã giúp đỡ chính quyền và người dân địa phương bằng những hành động thiết thực như tham gia xây dựng và tu sửa đường xá; giúp nhà trường xây dựng, cải tạo lớp học; tổ chức dạy học tình nguyện; khoan giếng nước tặng khu dân cư địa phương và các trường học; tổ chức khám chữa bệnh, tư vấn sức khoẻ và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân địa phương.
Từ những chiến sĩ mũ nồi xanh đầu tiên, đến nay Việt Nam đã cử gần 900 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiêp làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc theo hình thức cá nhân và đơn vị; trong đó có 5 bệnh viện dã chiến cấp 2; 2 đội công binh, ̣hơn 100 sĩ quan triển khai theo hình thức cá nhân; tích cực tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế, ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống trên thế giới, được Liên Hợp Quốc, các phái bộ và bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Trong quá trình triển khai hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ, Việt Nam đã để lại nhiều ấn tượng và tình cảm tốt đẹp về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, tô thắm thêm hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân ái, sẵn sàng chung tay giải quyết các vấn đề mà cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc "từ sớm, từ xa" bằng biện pháp hòa bình và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
---
Sáng nay, Cục Gìn giữ hoà bình Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm Ngày truyền thống (27/5/2014-27/5/2024) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba.
Tham dự buổi lễ có Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang; Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; các Đại sứ, trưởng đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, và lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Cục Gìn giữ hoà bình Việt Nam, đại diện các lực lượng tham gia gìn giữ hoà bình./.
St

GÓC NHÌN THỊ TRƯỜNG: NỀN TẢNG VỮNG CHẮC CHO BÌNH ĐẲNG GIỚI

 Một trong những nội dung được nhiều đại biểu Quốc hội cũng như cử tri, nhân dân quan tâm tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV là báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023.

Những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, vai trò, địa vị của phụ nữ ngày càng được nâng cao; có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Theo báo cáo của Chính phủ, đến cuối năm 2023, có 11/20 chỉ tiêu đạt và vượt so với mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2025; 3/20 chỉ tiêu đạt một phần so với mục tiêu đề ra đến năm 2030. Một số chỉ tiêu đã đạt và vượt so với mục tiêu đề ra như tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương năm 2023 đạt 50,9%; tỷ trọng lao động nữ làm việc khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm giảm xuống còn 26,22%; tỷ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã...
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách tiếp tục được hoàn thiện theo hướng bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới. Các văn bản quy phạm pháp luật khi được xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung đều được đánh giá tác động, thực hiện lồng ghép giới đối với những văn bản có vấn đề về giới. Công tác truyền thông về bình đẳng giới tiếp tục được tăng cường với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương, góp phần nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ, hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân về thực hiện bình đẳng giới. Các cơ quan, đơn vị khối doanh nghiệp, nam giới và thanh niên ngày càng tham gia tích cực hơn trong công tác bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới.
Vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình có nhiều thay đổi tích cực, ngày càng bình đẳng, độc lập trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới còn thể hiện rõ ở vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình còn thấp, phân công lao động chưa hợp lý, định kiến về giới còn phổ biến... Nữ giới thường “đóng đinh” với các việc như lau dọn, giặt giũ, chăm sóc con cái và nam giới lại ở vị trí thụ hưởng, nắm giữ quyền lực... Rõ ràng, sẽ không có bình đẳng giới nếu không có sự tham gia của nam giới trong công việc gia đình, chấm dứt bạo hành với phụ nữ và trẻ em gái.
Mặt khác, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn chưa giảm gây ảnh hưởng lâu dài đến cơ cấu dân số Việt Nam. Tỷ số giới tính khi sinh ra sống năm 2023 là 112 bé trai/100 bé gái. Thực trạng này chỉ ra rằng, tư tưởng thích con trai hơn con gái vẫn tồn tại trong mỗi gia đình. Để xây dựng một xã hội bình đẳng giới, trước tiên, cần xuất phát từ mỗi cá nhân, gia đình, xem đây là nhân tố quan trọng tiến đến sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ. Hình ảnh cha mẹ cùng nhau làm việc nhà, chăm sóc con cái, gia đình hạnh phúc sẽ khắc sâu vào tâm trí của mỗi đứa trẻ. Giáo dục bình đẳng giới trong gia đình bắt đầu từ trẻ thơ sẽ là nền tảng vững chắc để thực hiện tốt bình đẳng giới hiện nay./.
St

XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH - PHƯƠNG THỨC TỐI ƯU ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

 Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là yêu cầu khách quan, chủ trương chiến lược, nhất quán của Đảng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương trên còn là phương thức tối ưu để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

1- Thực tiễn đã cho thấy, dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn mong muốn, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập. Tuy nhiên, xuyên suốt lịch sử của dân tộc, các thế lực ngoại bang luôn tìm mọi cách để thôn tính, xâm lăng, chống phá nước ta. Vì vậy, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh để làm cho “quốc phú - binh cường”; chú trọng giữ vững ổn định ở bên trong và tiến hành bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng để giữ cho “nội yên - ngoại tĩnh” đã trở thành ý thức thường trực, kinh nghiệm quý báu trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Kế thừa, phát huy truyền thống, kinh nghiệm quý báu của dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và luôn quan tâm, chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Sau cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nước ta vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách nặng nề; khi đó, Đại hội IV của Đảng (năm 1976) chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách cần phải tập trung giải quyết là: “Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với việc xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược. Phải kết hợp chặt chẽ nghĩa vụ lao động với nghĩa vụ quân sự để vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế, vừa bảo đảm củng cố quốc phòng một cách vững chắc”.
Tuy nhiên, trong khi tình hình kinh tế - xã hội đang khó khăn chồng chất chưa được tháo gỡ, thì ngay sau đó, nước ta lại phải tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược để bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, Đại hội V của Đảng (năm 1982) đã chỉ rõ: Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, “phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện và hiện đại... Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Đó là những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc bảo vệ Tổ quốc”. Chính tinh thần cảnh giác, chủ động và sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tạo nên sức mạnh to lớn để chúng ta vượt qua thử thách ngặt nghèo, đánh bại mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, tư duy mới của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng từng bước được hình thành, bổ sung và phát triển. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định: “Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, kiên trì chấp hành và cụ thể hoá đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Tuy nhiên, khi đất nước ta vừa bắt tay vào công cuộc đổi mới, thì các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng dẫn đến sụp đổ...; lúc này, vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã nhấn mạnh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.
Đặc biệt, tháng 7-2003, Hội nghị Trung ương 8 khóa IX ban hành “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó chỉ rõ: Chúng ta kiên định lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước. Do đó, “sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước, trước hết là tiềm lực về chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế; tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân mà mấu chốt là thế trận lòng dân; đẩy mạnh giáo dục quốc phòng; phát triển phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống”.
Như vậy, tư duy của Đảng về quân sự, quốc phòng đã có bước phát triển rất quan trọng, đó là “từ tư duy quân sự là chủ yếu sang tư duy về quốc phòng là cơ bản” nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột và xem đây là lợi ích cao nhất của đất nước.
Tháng 10-2013, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và dự báo những nhân tố tác động mới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trong đó, xác định củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phải tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Đặc biệt, ngày 16-4-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chiến lược quốc phòng Việt Nam”. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nền quốc phòng vững mạnh để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Về nguyên tắc xây dựng nền quốc phòng, Đảng ta khẳng định: Thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Những nguyên tắc trên thể hiện rõ mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam, đồng thời cho thấy mong muốn, thiện chí của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.
Trên cơ sở đó, phương châm chỉ đạo được xác định là: Thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến; kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, sự biến động phức tạp của tình hình, sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng. Kiên định phương châm “người trước, súng sau”, lấy con người là trung tâm, trọng tâm trong công tác quốc phòng. Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì kết hợp vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở nắm vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn bớt thù, giữ cân bằng chiến lược với các nước lớn và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước và các tổ chức quốc tế, không để nước ngoài lợi dụng hoặc thỏa hiệp với nhau làm phương hại tới độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc.
Về phương thức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Chiến lược quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn diện, bảo vệ vững chắc hòa bình, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà không phải tiến hành chiến tranh; tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các loại hình tổ chức kinh tế - xã hội và từng vùng, miền. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững trên cả nước, mạnh ở trọng điểm. Thời bình thực hiện sự nghiệp quốc phòng là “của dân, do dân, vì dân”; quốc phòng thời chiến phải “bám trụ, bám dân” để chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Chuẩn bị sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.
Đến Đại hội XIII của Đảng, Đảng chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với phương hướng: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại...
Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (tháng 10-2023) tiếp tục ban hành Nghị quyết số 44-NQ/TW, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó xác định: Phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; “… dựa vào dân, lấy “dân là gốc”, khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, lấy “yên dân” là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Cùng với tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và đấu tranh quốc phòng. Năm 2019, trong lần thứ tư công bố Sách trắng quốc phòng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược”. Đặc biệt, “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia".
Về đấu tranh quốc phòng, Việt Nam chủ trương phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng, cả phi vũ trang và vũ trang; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa; không để nước ngoài lợi dụng, thỏa hiệp với nhau hoặc với các thế lực thù địch làm phương hại đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; xử trí linh hoạt, hiệu quả từng tình huống. Điều này cho thấy, mong muốn, thiện chí và lập trường kiên định trước sau như một của Việt Nam trong đối ngoại và đấu tranh quốc phòng là vì một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển, không có xung đột, chiến tranh.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và trước yêu cầu của thời kỳ mới, ngày 28-4-2023, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Kết luận số 53-KL/TW, về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, trong đó xác định rõ: Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm góp phần tăng cường tiềm lực, khả năng tự lực, tự cường về quân sự, quốc phòng, nâng cao sức mạnh quốc phòng và sức mạnh tổng hợp của đất nước để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại quốc phòng trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước; nâng cao vị thế, vai trò, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
2- Như vậy, trong thời kỳ mới, tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc nói chung, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng có bước phát triển quan trọng và ngày càng hoàn thiện, với phương châm cốt lõi là làm cho đất nước không phải tiến hành chiến tranh mới là quốc phòng tối ưu và càng chuẩn bị tốt nhất cho sẵn sàng chiến tranh thì chiến tranh càng lùi xa. Do đó, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là “thế trận lòng dân” được củng cố ngày càng vững chắc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vẫn tồn tại những bất cập, hạn chế; trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, quyết liệt và toàn diện hơn. Vì vậy, để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.
Đây là nội dung quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, toàn diện. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân thấm nhuần sâu sắc truyền thống đánh giặc, giữ nước kiên cường, anh dũng của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; thấy rõ được giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng, từ đó, phát huy ý thức, trách nhiệm, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững quan điểm về đối tác, đối tượng; biết nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...; nâng cao cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá ngay từ địa phương, cơ sở, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hiện nay, do tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng nên sự ảnh hưởng, phụ thuộc và thâm nhập lẫn nhau giữa hoạt động quân sự, quốc phòng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ngày càng gia tăng. Vì vậy, sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang, mà phải thấm sâu và trở thành ý thức thường trực, hành động cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân và trong tất cả các hoạt động, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, phải không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách về xây dựng nền quốc phòng toàn dân; hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; tạo cơ chế để huy động tốt nhất sự đóng góp của các cấp, các ngành, của mọi tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sức ép “chọn bên” ngày càng gay gắt hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền quốc phòng theo hướng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, lấy sức mạnh nội lực là chính; đồng thời, mở rộng hợp tác quốc phòng, tranh thủ có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng nền quốc phòng ngày càng toàn diện, hiện đại cả về lực lượng, thế trận, vũ khí trang bị, khoa học và nghệ thuật quân sự, bảo đảm có đủ tiềm lực, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Ba là, chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.
Thực tiễn lịch sử của đất nước ta cho thấy, khi nào lòng dân thuận thì thế nước mạnh, lòng dân ly tán thì thế nước yếu. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch hiện nay, thì vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân càng có ý nghĩa quan trọng. Do đó, phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn... Thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo, khoảng cách giữa các vùng, miền; thực hiện tiến bộ, công bằng và bảo đảm an sinh xã hội, làm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đặc biệt, phải luôn coi trọng giữ gìn, bồi đắp mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; thực sự trọng dân, gần dân, sát dân, tin dân, hiểu dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm, chăm lo đến lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xử lý triệt để những vấn đề gây bất bình, bức xúc trong nhân dân. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, thực hiện có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; động viên toàn dân tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc ở tất cả các cấp, các địa bàn, biên giới, biển, đảo và trên các môi trường (trên bộ, trên không, trên biển, không gian mạng), sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng thời bình và chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Bốn là, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.
Lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có cơ cấu, tổ chức hợp lý, tinh, gọn, cơ động, có sức chiến đấu cao, có vũ khí, trang bị hiện đại; nâng cao khả năng phòng thủ tác chiến tầm cao, tầm xa, khả năng kiểm soát vùng trời, vùng biển, đảo xa bờ, tác chiến ban đêm, sẵn sàng đánh thắng trong các tình huống xung đột và chiến tranh. Cùng với đó, chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao; đồng thời, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa quân đội với công an và dân quân tự vệ tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, toàn diện các chủ trương, giải pháp để làm cho đất nước mạnh lên về mọi mặt; trong đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh chính là phương thức tối ưu, hiệu quả nhất để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa./.
St

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TIẾP TỤC SOI SÁNG CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 V.I.Lênin - nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của phong trào cộng sản toàn thế giới đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do cho các dân tộc, vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại. Những di sản mà Lênin để lại cho toàn thể nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn trên cả phương diện lý luận và từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Ðối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của V.I.Lênin không chỉ là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng mà vẫn đang tiếp tục chỉ dẫn cho mỗi bước đi trong chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới.

Hòng thực hiện âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, một trong những mục tiêu các thế lực thù địch tập trung thực hiện chính là đòi xóa bỏ sự lãnh đạo duy nhất, trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối, mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam.
Ðể thực hiện mục tiêu này, các đối tượng tuyên truyền luận điệu: Ðảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng mà theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì chính trị nảy sinh trên cơ sở kinh tế, phản ánh kinh tế và chính trị do kinh tế quyết định. Bởi vậy theo họ, ở Việt Nam thời kỳ đổi mới đang thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu cho nên theo quy luật kinh tế quyết định chính trị thì Việt Nam phải tiến hành đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chỉ có thực hiện đa nguyên, đa đảng đại diện cho lợi ích của các giai cấp, lực lượng khác nhau trong xã hội thì mới thật sự bảo đảm dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Ðây là sự xuyên tạc vô căn cứ và cũng không đúng với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
Xuất phát từ lập trường duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đúng là chính trị là sự phản ánh kinh tế, kinh tế quyết định chính trị, sự biến đổi của đời sống chính trị suy cho cùng bắt nguồn từ sự biến đổi của đời sống kinh tế.
Tuy nhiên, về vấn đề này V.I.Lênin khẳng định: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế"; "chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại".
Ở đây, V.I.Lênin đã chỉ rõ rằng: chính trị phản ánh kinh tế và xét đến cùng do kinh tế quyết định nhưng chính trị không phải là tấm gương soi của kinh tế theo nghĩa kinh tế có gì thì chính trị phải có cái đó. Nghĩa là chính trị không phản ánh tất cả những quan hệ vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp của kinh tế mà chỉ phản ánh những quan hệ đặc trưng cốt lõi nhất của kinh tế, đó chính là quan hệ sản xuất mà trung tâm nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Do đó, khi nhìn vào bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào thì căn cứ vào quan hệ sản xuất thống trị và quan hệ sở hữu thống trị, chi phối trong kinh tế, chúng ta có thể nhận diện rõ bản chất chế độ chính trị của quốc gia đó là như thế nào. Theo đó, một nền kinh tế do chế độ sở hữu tư nhân thống trị và chi phối (thiểu số giai cấp thống trị nắm trong tay những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu trong xã hội) thì tất yếu không thể có một nền chính trị thật sự dân chủ dành cho mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội mà đó chỉ là nền dân chủ dành cho thiểu số giai cấp thống trị. Ngược lại chỉ khi nào chế độ công hữu giữ vai trò chủ đạo, chi phối trong nền kinh tế (mọi giai tầng cùng nhau sở hữu những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu) thì mới có cơ sở để xây dựng một chế độ chính trị thật sự dân chủ cho tất cả mọi giai cấp, tầng lớp, mọi người dân trong xã hội.
Từ đây, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã luận chứng cho việc muốn có một nền dân chủ thật sự tiến bộ dành cho tất cả mọi giai tầng trong xã hội thì nhất định phải dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chừng nào chưa làm được điều này thì sẽ không làm thay đổi bản chất của chế độ chính trị dù nó có tồn tại dưới hình thức nào đi chăng nữa.
Từ luận điểm của V.I.Lênin soi chiếu vào thực tiễn Việt Nam thời kỳ đổi mới có thể thấy: bước sang thời kỳ đổi mới Ðảng ta chủ trương khôi phục lại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu và coi đây là đặc trưng xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ðiều này được khẳng định ngay từ Ðại hội VI (1986) - Ðại hội đánh dấu đường lối đổi mới sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của Ðảng: "coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ".
Tuy nhiên, điểm cần lưu ý ở đây là các thành phần kinh tế Việt Nam không phát triển tự do mà phát triển theo định hướng chung - định hướng xã hội chủ nghĩa với sự chi phối của chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước. Chủ trương này được thể hiện nhất quán ngay từ những nhiệm kỳ Ðại hội đầu của thời kỳ đổi mới: Ðại hội VII: "thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa"; Ðại hội VIII: "phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Và ngay tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Ðảng ta thông qua tại Ðại hội VII năm 1991 cũng chỉ rõ một trong 6 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam xây dựng đó là: "Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu".
Do đó, mô hình kinh tế tổng quát mà Việt Nam lựa chọn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với đặc trưng cơ bản: gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển, bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phải phục vụ cho lợi ích của toàn thể nhân dân vì những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội - dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Ðiều này được Ðảng khẳng định rõ trong Văn kiện Ðại hội XIII tổng kết sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ðó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước".
Như vậy, với một nền kinh tế chung phát triển thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự chi phối của chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước thì việc có một Ðảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, cách mạng và xã hội - Ðảng Cộng sản Việt Nam - "Ðội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc" - tất yếu vẫn đi theo quy luật kinh tế quyết định bản chất của chế độ chính trị như các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra và cũng hoàn toàn đúng với quan điểm của V.I.Lênin.
Ðồng thời cần phải nhận thức sâu sắc một sự thật rằng, đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ và nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền không đồng nhất với phản dân chủ như những gì mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền. Dân chủ hay không, dân chủ đến đâu và nền dân chủ đó dành cho ai, cho một giai cấp hay toàn thể xã hội xét đến cùng vẫn phụ thuộc vào chính bản chất của chế độ kinh tế nhất là chế độ sở hữu như V.I.Lênin đã chỉ rõ.
Từ thực tế có thể thấy, tại nhiều nước tư bản hiện nay đang thực hiện chế độ đa đảng, song ở các nước này, quan hệ sản xuất thống trị vẫn là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và chế độ sở hữu chi phối vẫn là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nghĩa là thiểu số giai cấp tư sản thống trị vẫn nắm trong tay những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu trong xã hội. Do đó, tương ứng với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì nền chính trị ở các nước tư bản không thể trở thành nền chính trị dân chủ dành cho các giai tầng trong xã hội mà đó chỉ là nền dân chủ tư sản dành cho giai cấp cầm quyền trong xã hội, và tất yếu dù có nhiều đảng phái chính trị cùng tồn tại nhưng đảng cầm quyền, nắm quyền quyết định vẫn là đảng của giai cấp tư sản. Và tất yếu, trên cơ sở của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nhà nước tư sản cũng không có cơ sở trở thành nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân như nhiều học giả tư sản hiện nay vẫn khẳng định mà suy cho cùng nhà nước đó cũng chỉ chủ yếu đại diện cho quyền, lợi ích của giai cấp tư sản.
Ðối với Việt Nam, mặc dù chúng ta phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu nhưng trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chế độ công hữu giữ vai trò chi phối, do đó, tương ứng với chế độ sở hữu như vậy, Việt Nam mới có cơ sở để xây dựng nền dân chủ thật sự tiến bộ cho tất cả mọi người - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, có cơ sở để xây dựng nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, tư tưởng của V.I.Lênin nói riêng vẫn đang tiếp tục đồng hành cùng toàn Ðảng và toàn thể nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiếp tục soi sáng, dẫn lối cho cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./.
St

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH-NGƯỜI LÀM NÊN LỊCH SỬ VĨ ĐẠI CỦA THẾ GIỚI

 Sự hình thành của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của một quá trình tìm tòi, khảo nghiệm lâu dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả lớn nhất của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên tìm được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng, vừa đáp ứng nhu cầu lịch sử dân tộc, hợp lòng dân, vừa phù hợp xu thế của thời đại mới được mở ra từ thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Tiếp đó, giương cao ngọn cờ độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, Người và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người đứng đầu đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc.
Nêu cao bản chất Chính phủ của dân, do dân, vì dân
Từ thành quả trực tiếp của Cách mạng tháng Tám 1945, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh trên cương vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới, thay mặt quốc dân đồng bào đọc bản Tuyên ngôn độc lập trịnh trọng công bố sự ra đời chính thức của một chính quyền mới - chính quyền dân chủ nhân dân; một nhà nước mới - nhà nước tự do và độc lập; một thể chế mới - dân chủ cộng hoà. Khác với các hình thức nhà nước của phong kiến, thực dân đã từng tồn tại ở Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cao bản chất chính phủ của dân, do dân, vì dân, Người dùng từ "Chính phủ là công bộc của dân" để diễn tả các công việc của chính phủ phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người.
Từ người đứng đầu Chính phủ - Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến các thành viên Chính phủ và tất cả các bộ, ngành bao giờ "cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh". Những yêu cầu này của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ sự thấu hiểu về nhiệm vụ lịch sử của chính quyền mới, chính quyền cách mạng chăm lo tự do hạnh phúc cho đông đảo các tầng lớp nhân dân. Như tiêu ngữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" ghi dưới Quốc hiệu Việt Nam từ thuở khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là khát vọng, là mục tiêu phấn đấu.
Chính phủ nhân dân là tập hợp những con người của dân, do dân, vì dân nên Chính phủ phải biết làm việc cho mục tiêu khát vọng ấy. Đặt "quyền lợi dân lên trên hết thảy", nỗ lực làm việc, nêu gương liêm khiết, mẫu mực đoàn kết thống nhất, kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh, tự giác... là yêu cầu, nhiệm vụ, là trọng trách, chức năng, cũng là đạo đức cao cả của người cán bộ Chính phủ - những người được dân bầu lên, cử lên Chính phủ.
Đặt "quyền lợi dân lên trên hết thảy", cho nên, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đó là 6 nhiệm vụ khẩn thiết, sát hợp với đòi hỏi trước mắt của nước nhà: giải quyết nạn đói; giải quyết nạn dốt; xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu; giáo dục nhân dân trừ bỏ những thói xấu do chế độ thực dân đã dùng mọi thủ đoạn để đầu độc và hủ hoá dân ta; xóa bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò và "tuyệt đối cấm hút thuốc phiện"; thực hiện tín ngưỡng tự do; lương - giáo đoàn kết.
Trước hết, theo sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ phát động phong trào tăng gia sản xuất để đẩy lùi nạn đói và ổn định đời sống nhân dân. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói, hô hào nhân dân chống nạn đói, "coi cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm". Ngày 7/12/1945, Người viết thư Gửi nông gia Việt Nam với lời lẽ mộc mạc, tha thiết: "Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp. Vậy chúng ta không nên bỏ hoang một tấc đất nào hết. Chúng ta phải quý mỗi tấc đất như một tấc vàng".
Trước nạn đói đang trầm trọng, trên tinh thần "sẻ cơm nhường áo", Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với đồng bào cả nước và bản thân Người - người đứng đầu Chính phủ đã nêu gương thực hiện trước: "Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo".
Ông Vũ Kỳ, Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Nhân dân ta lúc đó dù còn nhiều khó khăn nhưng Cụ Hồ đã kêu gọi thì từ Nam chí Bắc đều hưởng ứng nhiệt liệt. Bởi, không phải Cụ Hồ chỉ kêu gọi mà chính Cụ Hồ đã làm, đã thực hiện và là người thực hiện đầu tiên... Nhớ hồi đó có nhiều thư từ khắp nơi gửi đến, có thư của các cụ già, của phụ nữ, của cả các cháu thiếu nhi... gửi đến Chính phủ, đến Cụ Hồ, đề nghị Bác đừng nhịn ăn. Cảm động hơn có nhiều người xin nhịn thêm để thay phần cho Bác. Nhưng câu trả lời của Bác là: "Tôi là người nêu ra, tôi phải làm gương mẫu". Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được hàng vạn tấn gạo cứu đói. Phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh, diện tích trồng lúa và hoa màu tăng lên, nạn đói đã sớm được khắc phục.
Coi mọi lực lượng dân tộc đều là nguồn lực của cách mạng, cho nên ngay trong những năm đầu của chính quyền mới, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy vai trò của giới công thương trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
Ngày 17/9/1945, trong thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp "Tuần lễ vàng", Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có".
10h ngày 18/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp khoảng 30 nhà tư sản có tiếng ở Hà Nội. Trong buổi gặp mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của giới công thương trong sự nghiệp xây dựng lại đất nước sau gần 80 năm thực dân Pháp đô hộ. Người phân tích khúc chiết, thấu tình đạt lý mối quan hệ giữa dân giàu - nước mạnh và khuyến khích: "Các nhà có tài sản lớn ở Hà Nội nên làm cho Tuần lễ vàng ở thủ đô Hà Nội có kết quả để tỏ rõ cho thế giới biết người Việt Nam đồng lòng giúp nước...".
Sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp giới công thương đã một lần nữa thể hiện tinh thần nhất quán và xuyên suốt của Người và Chính phủ là: Lập cho được một chính phủ có nhiều thành phần, gồm nhiều đại diện của các đảng phái, đoàn thể, ngày càng mang tính dân chủ hơn, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân, để tạo thành lực lượng cách mạng.
Tiếp đó, ngày 13/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Giới công thương Việt Nam, hoan nghênh giới công thương đã đoàn kết lại thành Công thương cứu quốc đoàn và gia nhập Mặt trận Việt Minh, đem vốn làm ích nước lợi dân. Người chỉ rõ: "Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công - Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công - Thương trong công cuộc kiến thiết này". Chính nhờ quan điểm và chính sách đúng đắn, tình cảm và sự hợp tác chân thành của Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch mà đội ngũ các nhà công thương Việt Nam đã biểu thị lòng yêu nước của mình bằng những việc làm cụ thể, thông qua "Tuần lễ vàng", khi quyên góp được 370 kg vàng cho Chính phủ, góp 20 triệu đồng vào Quỹ Độc lập, 40 triệu đồng vào Quỹ Đảm phụ quốc phòng.
Song song với diệt giặc đói, chiến dịch diệt giặc dốt cũng được phát động. Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch ký 3 sắc lệnh quan trọng về giáo dục là Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam; Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay là bắt buộc và không mất tiền.
Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ"... Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo", một phong trào thanh toán nạn mù chữ đã dâng cao trong cả nước. Các lớp học bình dân học vụ mở ra ở khắp mọi nơi với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Nhờ đó, chỉ một năm sau Cách mạng tháng Tám, đã có 2,5 triệu người biết đọc, biết viết.
Tuy nhiên, để sự nghiệp kháng chiến kiến quốc giành được thắng lợi, nhiệm vụ trung tâm là củng cố chính quyền nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã kiên quyết thực hiện tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xúc tiến tổ chức Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.
Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành và thành công tốt đẹp trên phạm vi cả nước. Cuộc bầu cử dẫn ến sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, củng cố tính pháp lý của Nhà nước Việt Nam mới. Tại phiên họp thứ nhất ngày 2/3/1946, Quốc hội đã lập ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến, gồm 12 thành viên do Hồ Chủ tịch đứng đầu.
Trọng tâm là giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên
Cùng với Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, việc soạn thảo Hiến pháp được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt. Ngày 9/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội thông qua, đặt cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và toàn xã hội.
Ngày 3/11/1946, Quốc hội đã thông qua danh sách Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đệ trình, gồm 14 uỷ viên. Đây là một Chính phủ "tỏ rõ cái tinh thần quốc dân liên hiệp", "chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc, để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây dựng một nước Việt Nam mới".
Để kiện toàn bộ máy Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký một loạt sắc lệnh về hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước với chức năng, nhiệm vụ mới, trọng tâm là việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Bên cạnh các cơ quan Trung ương, việc xây dựng hệ thống chính quyền các cấp được chú trọng. Để không gây xáo trộn, Nhà nước chủ trương giữ nguyên các đơn vị hành chính cũ, có điều chỉnh cho thống nhất với toàn quốc, gồm 4 cấp: Kỳ (sau đổi thành bộ), tỉnh, huyện, xã.
Cũng nhằm bảo đảm tính pháp lý và sự thống nhất, Chính phủ đã ra Sắc lệnh 63 ngày 22/11/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân địa phương (ở nông thôn) và Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về chính quyền nhân dân ở đô thị.
Theo Sắc lệnh số 63, chính quyền nhân dân địa phương gồm hai cơ quan: HĐND và Ủy ban hành chính. Ở cấp tỉnh và xã có cả 2 cơ quan trên, còn cấp kỳ và huyện chỉ có uỷ ban hành chính. Trong tiến trình kháng chiến, hệ thống chính quyền các cấp tiếp tục được củng cố và kiện toàn, bảo đảm đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.
Sự hình thành Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là kết quả của một quá trình tìm tòi, khảo nghiệm lâu dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả lớn nhất của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt những nền móng bước đầu nhưng rất vững chắc cho nhà nước kiểu mới ở Việt Nam: Nhà nước đó bắt rễ vững chắc trong nhân dân, được toàn dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nhà nước đó đã ban hành Hiến pháp, hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam.
Cán bộ của chính quyền đó được xây dựng trên quan điểm rất cách mạng và theo những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính quyền đó là của dân, do dân và vì dân, quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ mà lịch sử giao phó, xứng đáng với "cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa" của nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Chính phủ đối với ta như người "anh cả" trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào"./.
St