Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

 

Học Bác từ tấm gương tự học và tác phong làm việc hiệu quả, chuẩn mực

Bác Hồ thăm đảo Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. (Tranh: Đào Thế Am. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm).

Bác Hồ thăm đảo Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. (Tranh: Đào Thế Am. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm).

SỬ DỤNG HIỆU QUẢ THỜI GIAN ĐỂ HỌC TẬP VÀ LÀM VIỆC

Học Bác, chúng ta học tập cách quý trọng thời gian, sử dụng hiệu quả thời gian để học tập và làm việc, bởi theo Người: “Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được(2). Đó là kinh nghiệm Bác đúc rút ra từ quá trình tự học, làm việc và trong cả cuộc đời làm cách mạng của Người.

Trên hành trình 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã vượt lên hoàn cảnh, luôn tranh thủ thời gian, khai thác tối đa quỹ thời gian eo hẹp và tạo ra thời gian để kiên trì học tập, trau dồi kiến thức. Theo tác giả Trần Dân Tiên trong sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, khi làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Trêville: “Mỗi ngày 9 giờ tối công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi chúng tôi (những người Việt Nam làm công trên chuyến tàu) ngủ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm”. Những ngày làm vườn cho ông chủ tàu ở Saint Adresse “anh học tiếng Pháp với cô sen”. Những ngày sống ở Anh, “hàng ngày buổi sáng sớm và buổi chiều anh Ba ngồi trong vườn hoa Hayden, tay cầm một quyển sách và một cái bút chì. Hàng tuần, vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý”. Hồ Chí Minh còn tham gia vào Hội Du lịch đưa khách đi thăm nước Pháp và những nước lân cận với giá tiền rất rẻ bởi như Người đã nói với bạn rằng: “Trong những ngày nghỉ, không nên tiêu phí tiền bạc, mất thì giờ ở bãi bể để nhìn những người đàn bà đi tắm, mà nên đi du lịch, học hỏi được nhiều”(3). Nhờ vậy, Người có dịp đi thăm nhiều nơi ở Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Đức và cả Tòa thánh Vatican… để mở rộng tầm nhìn và cơ hội học hỏi. Khi bắt đầu đi tìm đường cứu nước, trình độ học vấn mà Người được đào tạo ở nhà trường chẳng được là bao. Trong lý lịch tự khai tại Đảng Cộng sản Pháp cũng như tại một số hội nghị, Đại hội của Quốc tế Cộng sản mà Người tham dự, Người thường khiêm tốn ghi ở phần trình độ học vấn là Tự học. Năm 1961, tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam, Người cũng đã tự kể rằng: “Về văn hóa tôi chỉ học hết lớp tiểu học... Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên...”(4). Có thể khẳng định, cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh chính là cuộc đời tự học bền bỉ, và cả thế giới đã phải thừa nhận và khâm phục về sự thông minh, về tầm hiểu biết rộng lớn của Người (danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất mà tổ chức UNESCO trao tặng Người chính là minh chứng).

Trở thành Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Năm 1961, nói chuyện với các cán bộ đảng viên ở Nghệ An hoạt động lâu năm, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau(5). Với các đảng viên mới, Người cũng căn dặn: “Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng(6).

Các đồng chí phục vụ Bác sinh thời kể lại rằng, ngày nào Bác cũng dành thời gian để bổ sung và nâng cao tri thức cho mình bằng đọc sách, báo, nghe tin tức thời sự và rút kinh nghiệm từ những công việc thực tiễn hàng ngày. Người thường xem báo ngay đầu giờ buổi sáng và thường xuyên nhắc cán bộ, nhất là cán bộ phụ trách, cần phải sắp xếp thời gian đọc báo hằng ngày để nắm bắt thông tin phục vụ cho công việc. Ngoài báo chí trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đọc báo nước ngoài gửi đến bằng con đường ngoại giao. Vừa đọc, Người vừa ghi chép hết sức cẩn thận, tỉ mỉ từ những vấn đề của các địa phương trong nước cho đến những biến động trên thế giới, từ những cuộc đấu tranh biểu tình cho đến những vấn đề về tài chính tiền tệ v.v... Rất cụ thể và thiết thực, đây chính là một trong những hình thức tự học tập để bổ sung tri thức hiệu quả và cần thiết. Trên cơ sở đó, giúp Người đưa ra chỉ đạo phù hợp với từng lĩnh vực và những chính sách đối nội, đối ngoại sát với thực tiễn.

Như lời Bác đã dạy: “Muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức”, hằng tuần, hằng ngày, có khi cả hằng giờ nữa, Bác đều có chương trình làm việc rõ ràng, khoa học, cụ thể. Một ngày làm việc của Bác bắt đầu từ rất sớm: “Khi Đài Tiếng nói Việt Nam mở nhạc hiệu thì Bác cũng bật đèn phòng ngủ. Bác làm suốt cả ngày, nhiều hôm đến tận đêm khuya(7). Trong một ngày Bác giải quyết rất nhiều công việc, từ tiếp cán bộ, tiếp khách ngoại giao, đi thăm cơ sở, họp Bộ Chính trị, nghiên cứu tài liệu, viết báo, viết thư v.v.. Trong khi bộ máy giúp việc cho Bác tại Văn phòng ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Ngoài bốn cán bộ làm công tác văn phòng (kể cả đồng chí Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác), còn có một số đồng chí nấu ăn, cần vụ, lái xe, làm vườn, có tất cả hơn mư­ời người. Nhưng sự phân bổ thời gian hợp lý khoa học và phong cách làm việc thiết thực cụ thể đã giúp Bác tiết kiệm nhiều thời gian và giải quyết hiệu quả một khối lượng công việc đồ sộ, phức tạp trên cương vị một người lãnh đạo đất nước. Khi cần nắm rõ công việc của ngành nào, địa ph­ương nào, Bác cho gọi đồng chí Trung ư­ơng, Bộ trưởng phụ trách ngành đó, địa phương đó, nếu cần thì đem theo cả chuyên viên đặc trách đến báo cáo với Bác. Người thường bố trí thời gian tiếp cán bộ đến làm việc hoặc tiếp khách vào đầu các buổi sáng sớm để sau đó dành nhiều thời gian cho công việc. Công việc xong mà chưa đến giờ ngủ, Bác lại đọc sách, báo. Chủ nhật, ngày lễ cũng có chương trình. Vì vậy, không mấy khi Bác có thời gian rảnh. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có nhiều thời gian sống gần Bác trong những năm Người sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch đã nhận định: “Theo tôi biết… thật sự Bác không có ngày nghỉ và ngày nào cũng như ngày nào, bao giờ cũng có chương trình làm việc với những giờ giấc rất nghiêm ngặt, mà Hồ Chí Minh là người gương mẫu trong việc tuân thủ kỷ luật đó(8).

Bác Hồ tiếp đoàn đại biểu các dân tộc Hà Giang (15.11.1965). Ảnh: TƯ LIỆU

Bác Hồ tiếp đoàn đại biểu các dân tộc Hà Giang (15.11.1965). (Ảnh: Tư liệu)

CÓ QUYẾT TÂM THÌ VIỆC GÌ LÀM CŨNG ĐƯỢC

Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa 5 trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác đã thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người chưa đến. Cách tôi làm việc đúng giờ. Tôi khuyên anh em làm việc phải cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm(9). Một câu chuyện nhỏ về thời gian, về kỷ luật nhưng Bác lại dạy chúng ta biết bao điều. Bác quý trọng thời gian của mình bao nhiêu, thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Vì thế, Bác không để bất cứ ai phải đợi mình bao giờ. Bác đã hẹn là đến, Bác đã hứa là làm, hẹn đồng chí nào giờ nào đến gặp, đến đúng giờ ấy là thấy Bác đã chờ sẵn. Thu Đông năm 1952, Bác đến với Hội nghị chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc. Nhiều đồng chí cán bộ dự chiến dịch Tây Bắc năm đó vẫn còn nhớ, Bác đã đến hội nghị với một hình ảnh không ai có thể quên được. Mấy hôm ấy trời mưa to, nước lũ từ các đầu nguồn tràn về cắt đứt cả đường sá nhưng Bác đã vượt suối lũ, tới hội nghị. Bà con địa phương đi đến đấy gặp lũ phải đứng lại, thấy thế cũng hăng hái theo Bác và đều lội qua được. Tất cả các đồng chí dự hội nghị đều biết rằng mùa mưa vượt suối nước lũ không phải là việc dễ, cho nên khi thấy Bác đã tới hội nghị rất đúng giờ, chẳng những cảm động trước sự săn sóc chu đáo của Bác với quân đội, mà còn là một bài học cần ngay cho họ trước khi ra trận. Bài học ấy, như Bác thường nói, là: “Quyết tâm, có quyết tâm thì việc gì làm cũng được(10).

Quý trọng thời gian, Bác không muốn anh em giúp việc, cán bộ ngồi chơi không và luôn căn dặn anh em phải “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân(11), học trong việc làm hàng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, người trực tiếp bảo vệ Bác từ năm 1946 đến năm 1951 kể lại: Có những lần hết giờ gác, chúng tôi nằm tán chuyện với nhau. Lúc giải lao Bác đi thăm anh em. Một hôm, Bác gặp chúng tôi đang nằm chơi, Bác nói: “Các chú không có việc gì làm à? Nếu không có việc thì mang chiếc giư­ờng dỡ ra rồi lắp lại, nếu còn thì giờ nữa thì ra ngoài kia vật nhau hay tăng gia”. Ý Bác muốn nói là phải tìm việc mà làm, không nên ngồi tán gẫu...(12). Đồng chí lái xe ít xem sách báo. Những buổi anh rỗi việc, Bác gọi lên, bảo ngồi ở buồng bên, rồi đưa sách báo cho đọc. Thỉnh thoảng, Bác qua kiểm tra. Có lần Bác vào, thấy tờ báo mở trên bàn, đồng chí lái xe tựa lưng vào ghế ngủ. Bác nhẹ nhàng đi ra. Lúc khác, Bác nói: "Mới đọc chưa hiểu, dễ buồn ngủ. Đọc ít lâu, hiểu rồi sẽ ham. Ham rồi sẽ không buồn ngủ nữa"(13). Cũng với ý đó, Bác đã từng nói với những cán bộ phục vụ thật thấm thía: “Cái gì cũng quen đi thôi các chú ạ. Chăm cũng quen đi, mà lười cũng quen đi, quen nhanh thôi chứ không lâu đâu. Thế nào là khó khăn? Khó khăn là cái chưa quen. Rèn luyện cho quen đi thì khó cũng không còn khó nữa. Kiên trì rèn luyện, sẽ đến một lúc làm cỏi khó thấy rằng không khó”.

VẬN DỤNG NHỮNG CHUẨN MỰC VÀO PHONG CÁCH LÀM VIỆC

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, chuyên đề năm 2021.

Từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động cách mạng, đặc biệt là những năm Người sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những chuẩn mực về phong cách sống, phong cách làm việc. Đây là những bài học thực tiễn sâu sắc đối với mọi tầng lớp nhân dân, nhất là cán bộ đảng viên trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh mở cửa hội nhập với thế giới, đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam phải có một phong cách làm việc khoa học, hiện đại và hiệu quả để góp phần đưa đất nước phát triển.

Thực trạng hiện nay cho thấy, việc quản lý lao động trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến lãng phí thời gian lao động, làm cho năng suất, chất lượng hiệu quả công tác chưa cao. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước chưa đề cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; ý thức kỷ luật lao động kém; vi phạm các quy định của pháp luật về sử dụng thời giờ làm việc, ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng công tác và tác phong, uy tín của cán bộ, công chức, viên chức.

Để thực hiện mục tiêu hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, mỗi cá nhân, mỗi tập thể cần phải học tập và làm theo tấm gương của Bác, đặc biệt là thực hiện lời dạy của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước cần tăng cường áp dụng các biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Mỗi cá nhân cần sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết; cần tích cực thi đua trong lao động, học tập, sản xuất; cần xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp; rèn luyện tác phong công nghiệp, thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quý trọng thời gian; phát triển khả năng độc lập và tự chủ trong công việc; không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn, ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến. Đây cũng chính là biện pháp để chúng ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng quan tâm xây dựng: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước... Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai. Phải nhớ rằng: dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân(14)./.

Để thực hiện mục tiêu hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, mỗi cá nhân, mỗi tập thể cần phải học tập và làm theo tấm gương của Bác, đặc biệt là thực hiện lời dạy của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước cần tăng cường áp dụng các biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Mỗi cá nhân cần sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết; cần tích cực thi đua trong lao động, học tập, sản xuất; cần xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp; rèn luyện tác phong công nghiệp, thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quý trọng thời gian; phát triển khả năng độc lập và tự chủ trong công việc; không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn, ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến.

 

ThS. VŨ KIM YẾN
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

 

Nhận diện thủ đoạn bôi lem công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam

Thứ Hai, 13/05/2024, 06:55

Xuyên tạc, chống phá vấn đề nhân quyền là một trong những âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trong thời gian qua, lợi dụng các hoạt động đối ngoại nhân quyền của Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc.

Tái diễn những trò lố

Mới đây, ngày 7/5/2024, tại trụ sở Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sỹ), đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu đã tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Trước sự kiện này, các đối tượng xấu lại tung ra những trò lố, hướng lái xuyên tạc trên mạng xã hội. Thông qua các bài viết, hình ảnh, video hay livestream, các tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ… xuyên tạc rằng “Việt Nam nhận được nhiều khuyến nghị cho thấy mức độ tồi tệ nhân quyền”, từ đó giở lại chiêu bài “Việt Nam cần chấm dứt đàn áp nhân quyền”! Trang mạng xã hội của Việt Tân livestream, rêu rao “Biểu tình trước Geneva Thụy Sỹ: Người Việt Nam đòi nhân quyền cho Việt Nam”. Trước đó, tổ chức này đăng nhiều thông tin kêu gọi tụ tập buổi biểu tình diễn ra ngày 7/5/2024 trước trụ sở Liên hợp quốc tại Geneva “nhằm lên án những vi phạm nhân quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam”!

Trò hề này được số này “nhai đi nhai lại”. Ngày 3/10/2023, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vu cáo, kêu gọi “Việt Nam cần khẩn cấp cải tổ quyền con người trước chu kỳ rà soát định kỳ phổ quát (UPR)”. Điều đáng nói là những kêu gọi trên của HRW hoàn toàn không có cơ sở và lý lẽ xác thực, tổ chức này phớt lờ về tình hình quyền con người ở Việt Nam, dựa vào những thông tin sai trái, cóp nhặt từ những cá nhân, tổ chức bất mãn, chống đối trong nước cung cấp. Đến ngày 11/1/2024, HRW lại công bố báo cáo thường niên về thực hành nhân quyền tại hơn 100 quốc gia năm 2023, trong đó có Việt Nam. Báo cáo này tiếp tục đưa ra các nhận định về nhân quyền tại Việt Nam một cách phiến diện, quy chụp.

Nhận diện thủ đoạn bôi lem công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam -0
Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc của Việt Nam (Ảnh: TTXVN).

Có thể thấy, mỗi khi Việt Nam ứng cử, trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc hay trước các phiên đối thoại về báo cáo các quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR), khi Hội đồng Nhân quyền thông qua kết quả rà soát… thì những chiêu trò vu khống, chống phá Việt Nam lại diễn ra quyết liệt. Âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của một số hội nhóm phản động, tổ chức đội lốt nhân quyền là thường đưa ra các bản khuyến nghị, thư ngỏ, báo cáo, nêu yêu sách để xuyên tạc ở nước ta không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo; các quyền về dân sự, chính trị bị hạn chế, bị “chà đạp”. Thậm chí họ bịa đặt rằng, những người bất đồng chính kiến bị bắt giam một cách vô cớ, bị ngược đãi; vu cáo chính quyền bắt bớ tùy tiện, đàn áp công dân, xâm phạm quyền con người; đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội bị tạm giam hay bị kết án, nhất là số đối tượng có các hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Bên cạnh đó, họ bịa đặt Việt Nam thực hiện không đúng cam kết quốc tế, không có đóng góp gì cho hoạt động nhân quyền quốc tế, kêu gọi các quốc gia không bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền. Trong quá trình bầu cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc và trong các phiên đối thoại nhân quyền thường niên, lực lượng thù địch tổ chức các cuộc biểu tình ở hải ngoại để phản đối phái đoàn của Việt Nam, gây sức ép tới các quốc gia khi lựa chọn lá phiếu bầu cử.

Những chiêu trò này diễn đi, diễn lại nhiều lần, từ năm này qua năm khác, nội dung được biến tấu theo bối cảnh sự kiện nhưng ý đồ thì không thay đổi. Mục đích là làm lu mờ những nỗ lực, thành tựu trong công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam; làm cho cộng đồng quốc tế hiểu sai, hiểu không đầy đủ về tình hình nhân quyền và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nhân quyền; hạ thấp, phớt lờ những thành tựu đã được công nhận trong bảo đảm, thúc đẩy quyền công dân, quyền con người; hạ bệ vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới…

Thành tựu về nhân quyền và những đóng góp của Việt Nam là khách quan, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao

Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay, việc bảo đảm, thúc đẩy quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước ta chú trọng và không ngừng bổ sung, phát triển qua các thời kỳ. Không chỉ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, dành nhiều nguồn lực, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Đảng, Nhà nước ta còn chú trọng đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân quyền. Với sự cố gắng không ngừng, Việt Nam có quyền tự hào khi đạt được nhiều thành tựu quan trọng về công tác đối ngoại nhân quyền.

 Trong quá trình đổi mới đất nước, Việt Nam thường xuyên hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về quyền con người và đạt được nhiều thành tựu trên thực tế. Các quyền dân sự, chính trị, y tế, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí, Internet, bình đẳng giới đều đạt những tiến bộ rõ rệt. Việt Nam đã vươn lên từ một nước nghèo để trở thành một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, hội nhập quốc tế sâu rộng. Các chỉ số về phát triển con người (HDI), bình đẳng giới (GEI) của Việt Nam do các cơ quan Liên hợp quốc xếp hạng liên tục được cải thiện.  Năm 1977, nước ta gia nhập Liên hợp quốc, đây là dấu mốc quan trọng trong công tác đối ngoại nhân quyền, một mặt Việt Nam tranh thủ các nguồn lực có giá trị đối với công tác nhân quyền trong nước, mặt khác là cơ sở để Việt Nam đóng góp nhiều hơn cho công tác nhân quyền thế giới. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN đã trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với số phiếu cao, đây là lần thứ 2 chúng ta trở thành thành viên của tổ chức này. Thực tế cho thấy, quốc gia trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền là điều không hề dễ dàng bởi bên cạnh việc quốc gia đó phải đạt những tiến bộ vượt bậc về bảo vệ quyền con người trong nước còn phải có đóng góp tích cực, hiệu quả thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu.

Việc Việt Nam đã hai lần trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng rõ nhất về thành tựu liên quan quyền con người ở nước ta. Đồng thời cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, không chỉ những thành tựu nhân quyền trong nước mà những đóng góp của nước ta đối với công tác nhân quyền của Liên hợp quốc. Đây là minh chứng rõ nét nhất phản bác lại những luận điệu sai trái, thù địch. Vào ngày 3/4/2023, tại Geneva (Thụy Sỹ), Việt Nam soạn thảo và đề xuất với Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA). Nghị quyết do Việt Nam khởi xướng đã tập hợp được 98 nước tham gia đồng bảo trợ.  Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người. Đồng thời, chúng ta phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Việt Nam luôn chủ động trong công tác đối thoại nhân quyền. Tháng 6/2023, tại Maroc, đoàn đại biểu Quốc hội do ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Nghị viện về đối thoại tôn giáo do Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) tổ chức, quy tụ 163 quốc gia. Tham vấn tại hội nghị, đoàn đại biểu Việt Nam đã thông tin cho bạn bè quốc tế biết về những nỗ lực, thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; ghi nhận những đóng góp của các tổ chức tôn giáo trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Ngày 27/7/2023, đoàn Việt Nam đã thăm chính thức Tòa thánh Vatican theo lời mời của Giáo hoàng Francis. Trong chuyến thăm này, Chính phủ Việt Nam và Tòa thánh Vatican đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của đại diện thường trú và Văn phòng đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”. Đây là hình mẫu của sự tin tưởng lẫn nhau và là cơ sở để thúc đẩy, mở rộng quan hệ hơn nữa giữa Việt Nam và các tổ chức, nhà nước tôn giáo. Đối với Hoa Kỳ, EU, Việt Nam luôn chủ động trong đối thoại nhân quyền, đưa công tác này ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. Hằng năm, nước ta đều chủ động cử các phái đoàn trao đổi, thảo luận về vấn đề nhân quyền để đi đến tháo gỡ những vướng mắc, thống nhất nhận thức chung, tôn trọng tính đặc thù về nhân quyền của các bên, thúc đẩy sự phát triển.

Việt Nam cũng tích cực tham gia duy trì hòa bình, cứu trợ nhân đạo. Từ năm 2014 đến nay, hằng năm Việt Nam đều cử hàng trăm lượt cán bộ, nhân viên thuộc lực lượng vũ tranh nhân dân Việt Nam đi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đặc biệt, ngày 9/2/2023, 100 cán bộ, chiến sĩ của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đã sang Thổ Nhĩ Kỳ để tham gia công tác cứu nạn vụ động đất, được Chính phủ và nhân dân nước bạn, cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Trở lại với phiên đối thoại ngày 7/5 vừa qua, Việt Nam tái khẳng định chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, luôn xác định con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới, phát triển đất nước. Các vấn đề được các nước quan tâm, Việt Nam đã trình bày, phúc đáp, thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Trong chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, quá trình triển khai các khuyến nghị, Việt Nam đã tổ chức tham vấn rộng rãi với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó có các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức xã hội, các quốc gia thành viên, đối tác phát triển, và người dân. Hằng trăm các ý kiến, phản hồi đã được thu thập và được thể hiện rõ nét trong Báo cáo này. Đến nay có 239/241 khuyến nghị (tương đương 99,2%) đã được hoàn thành hoặc triển khai một phần. Cũng trong chu kỳ này đã có 45 luật và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quyền con người đã được thông qua hoặc sửa đổi, trong đó có một số luật quan trọng như Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống ma túy và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.

Đối với một số ý kiến dựa trên những nguồn tin chưa được kiểm chứng, đoàn Việt Nam đã giải đáp, cung cấp thông tin xác thực. Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt; đồng thời nêu rõ không có một mô hình chung cho tất cả các nước mà mỗi nước tùy theo đặc thù, điều kiện của mình sẽ có con đường phát triển riêng. Việt Nam tự tin tiếp bước trên con đường đã chọn hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, người dân được thụ hưởng các quyền con người cơ bản. Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ và cam kết của mình trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Đề xuất lương hưu áp dụng ở mức cao nhất có thể khi cải cách tiền lương

 Chiều 27/5, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung phát biểu tiếp thu, giải trình trước Quốc hội về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), cải cách tiền lương

Bộ trưởng nhấn mạnh vấn đề nhiều đại biểu băn khoăn là bỏ quy định mức lương hưu thấp nhất. Theo Bộ trưởng, mức lương hưu thấp nhất thời gian vừa qua chỉ đúng cho một giai đoạn nhất định. Nhưng tới đây, khi thực hiện mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, chúng ta bỏ mức lương hưu thấp nhất, không có nghĩa là không còn người tham gia bảo hiểm ở thấp hơn mức lương. 

“Mức lương hưu thấp nhất hiện nay đang lấy mức lương cơ sở. Nhưng nếu như cứ để bắt buộc phải mức lương cơ sở này thì một loạt những người có nhu cầu không thể tham gia bảo hiểm được, vì không đủ điều kiện tham gia bằng mức lương tối thiểu. Tại sao không cho người ta thấp hơn vẫn tham gia được, tôi đóng thấp thì tôi hưởng thấp, nhưng hưởng thấp còn hơn là không có; hai là đã đóng thấp nhưng người ta được bảo hiểm y tế, đối với người già như thế là rất quý” - Bộ trưởng nói

Bộ trưởng cũng cho biết, khảo sát khu vực nông thôn thì phương án này người dân cho là phù hợp.

Liên quan đến cải cách tiền lương, theo người đứng đầu ngành Lao động, Thương binh và Xã hội, việc cải cách tiền lương đã chuẩn bị hơn 20 năm, điều khó nhất của vấn đề này là không có tiền nhưng đợt này thì có tiền rồi, Chính phủ đã chuẩn bị được 680.000 tỉ đồng...

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho rằng cải cách tiền lương là vấn đề mới, phức tạp và cốt lõi là trả lương theo vị trí việc làm. Tuy nhiên, muốn trả lương theo vị trí việc làm thì phải xác định được vị trí việc làm. Vị trí việc làm có ba đặc điểm gồm tính ổn định, tính lâu dài và tính thường xuyên. Kết cấu của mỗi vị trí việc làm gồm một bản mô tả công việc và khung năng lực.

Từ đó, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung chỉ ra ba đề xuất về cải cách tiền lương.

Cụ thể, về mức tham chiếu, theo Bộ trưởng, bản chất mức tham chiếu là một khái niệm mới thay thế cho mức lương cơ sở, bởi vì trong Nghị quyết 27 đã nêu là bãi bỏ mức lương cơ sở. Mức tham chiếu thực chất tính trên cơ sở tăng trưởng kinh tế CPI và trên thực tiễn thu, chi, thay cho mức lương cơ sở. 

“Nếu thời gian tới chưa bãi bỏ ngay mức lương cơ sở thì chúng ta tiếp tục sử dụng. Nếu sau Nghị quyết 27 nâng lên một bước nữa thì đó cũng vẫn là mức lương cơ sở và bản chất đó là tham chiếu” - Bộ trưởng cho biết. 

Trước Quốc hội, Bộ trưởng cũng khẳng định, vấn đề chênh lệch lương hưu trước và sau ngày 01/7 không khó giải quyết. Cho biết đây là về vấn đề chuyên môn, Bộ trưởng nhấn mạnh đã xử lý bằng Nghị định 42 liên quan đến các đối tượng trước và sau năm 2023. Vấn đề này không khó khăn gì và tính toán được theo nguyên tắc người hưởng lương hưởng sau ngày 01/7 mà chế độ cao thì sau này chúng ta chỉ tính phần CPI. Còn lại những người trước ngày 01/7 thì sẽ có tăng trưởng kinh tế CPI và một số tăng trưởng thực tế của quỹ.

Đối với cách tính lương hưu khu vực lực lượng vũ trang, Bộ trưởng cho biết ghi nhận ý kiến này và sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền.

"Đối với các khu vực khác liên quan đến hưu trí, chúng tôi với trách nhiệm cơ quan tham mưu đã đề xuất người được hưởng lương hưu ngày 01/7 khi cải cách tiền lương cũng áp dụng ở mức cao nhất có thể” - Bộ trưởng Đào Ngọc Dung khẳng định. Đồng thời cho biết, có thể 6 tháng cuối năm 2024 và đầu năm 2025, chúng ta cân bằng quỹ, không có kết dư, chấp nhận điều đó để đảm bảo quyền lợi cho người hưu trí. 

Đối với người có công và đối tượng bảo trợ xã hội, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nói sẽ cao hơn một bậc so với công nhân, viên chức./.

 

 

Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa quân sự Việt Nam

TS NGUYỄN THANH HẢI
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(LLCT) - Cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra mắt đúng vào dịp các cấp, các ngành đang tổng kết 10 năm thực hiện “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (2013-2023). Nội dung cuốn sách phản ánh tư duy sáng tạo, mang tầm chiến lược của người đứng đầu Đảng ta về văn hóa quân sự Việt Nam và những định hướng để giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa quân sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng trong thời kỳ mới.
 

Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa quân sự Việt Nam

Bộ đội Biên phòng Lai Châu hướng dẫn đồng bào dân tộc Mảng ở xã Nậm Ban, huyện Nậm Nhùn trồng lúa nước_Ảnh: danvan.vn

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta suốt mấy nghìn năm lịch sử đã hun đúc, xây đắp nên hệ giá trị văn hóa quân sự độc đáo, đặc sắc Việt Nam, đó là: truyền thống yêu nước trong hoạt động quân sự; nhân văn, nhân đạo trong hoạt động quân sự; nghệ thuật quân sự độc đáo và trong thời đại Hồ Chí Minh bổ sung thêm giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là hệ giá trị văn hóa phản ánh những đặc trưng tiêu biểu, kết nối mạch nguồn, tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường, bản lĩnh, khí phách, trí tuệ, sức mạnh Việt Nam trong lĩnh vực quân sự.

Cuốn sách Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới (Cuốn sách) gồm 39 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, đã thể hiện sự tiếp nối, bổ sung, làm giàu giá trị văn hóa quân sự Việt Nam. Với tư duy, tầm nhìn chiến lược, kiến tạo, phương pháp luận khoa học, biện chứng, sự uyên bác, vốn kiến thức sâu rộng, nhãn quan chính trị sắc bén, kinh nghiệm thực tiễn cách mạng phong phú, ngôn ngữ gần gũi, diễn đạt chặt chẽ, lôgích, dễ hiểu, thuyết phục; nội dung cuốn sách phản ánh sự kế thừa truyền thống văn hóa đấu tranh dựng nước gắn liền với giữ nước và bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần làm sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa quân sự Việt Nam và sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về văn hóa quân sự trong thời kỳ mới. Nội dung cuốn sách được khái quát ở tầm lý luận, nhưng phản ánh tính “hiện thực trực tiếp” rất phong phú, sâu đậm văn hóa quân sự; tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đến toàn Đảng, toàn quân, toàn dân những giá trị cốt lõi của văn hóa quân sự Việt Nam và những định hướng khoa học để tiếp tục giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong thời kỳ mới.

1. Những giá trị cốt lõi của văn hóa quân sự Việt Nam qua Cuốn sách

Về giá trị truyền thống yêu nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta qua các cuộc kháng chiến cứu nước lâu dài, gian khổ, toàn quân, toàn dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, vô cùng hào hùng, to lớn và vẻ vang. Thực tiễn đó đã phản ánh giá trị văn hóa yêu nước của nhân dân ta, dân tộc ta. Yêu nước đã thể hiện trong hoạt động quân sự, đã lan tỏa sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ cả trong thời chiến và thời bình, đó là: “toàn quân khắc phục mọi khó khăn, thách thức, thực hiện tốt chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân”(1).

Trong kháng chiến chống quân xâm lược, cán bộ, chiến sĩ luôn nắm vững tư tưởng cách mạng tiến công, chủ động, mưu trí, dũng cảm, băng qua mưa bom bão đạn và thủ đoạn chiến tranh tàn bạo của kẻ thù, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, thông minh, sáng tạo để chiến thắng kẻ thù, dù chúng có vũ khí, trang bị kỹ thuật rất hiện đại. Trong mọi hoàn cảnh, cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, gian khổ, sẵn sàng dâng hiến tuổi thanh xuân, hy sinh vì Tổ quốc, lập nên những chiến công hiển hách để đất nước được độc lập, thống nhất, dân tộc ta được trường tồn, nhân dân có cuộc sống hòa bình, hạnh phúc.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến động rất phức tạp, toàn quân luôn kiên định, vững vàng, “dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cũng luôn một lòng một dạ trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, xứng đáng với lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân”(2), thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; chủ động phát hiện, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không bị động, bất ngờ, tạo nền tảng ngăn ngừa nguy cơ xung đột, giữ vững môi trường hòa bình “trong ấm, ngoài êm”, ổn định để phát triển đất nước.

Yêu nước còn biểu hiện ở việc mọi cán bộ, chiến sĩ ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong, “chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, gian khổ, lập nhiều thành tích xuất sắc trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và các nhiệm vụ khác; tích cực nghiên cứu khoa học, vươn lên làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại”(3); quản lý chặt chẽ trên không, trên biển, khu vực biên giới, đất liền, không gian mạng, nhất là địa bàn chiến lược; sử dụng lực lượng, phương tiện tuần tra, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của các nước trên Biển Đông; kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Yêu nước được thể hiện sâu đậm ở các phong trào hành động cách mạng như: “tuổi trẻ toàn quân xung kích vươn lên chiếm lĩnh, xác lập những đỉnh cao mới trong học tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, rèn luyện kỷ luật, kỷ cương, xây dựng chính quy, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch Covid-19... Không ít đồng chí đã lập công xuất sắc và anh dũng hy sinh, đó là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng”(4).

Về giá trị nhân văn, nhân đạo. Đây là nét tiêu biểu, độc đáo, phản ánh truyền thống nhân văn, nhân đạo Việt Nam được thể hiện ngay từ: “Mục tiêu chiến đấu của Quân đội chính là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam - vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân”(5). Dù khó khăn, gian khổ, vất vả đến đâu toàn quân luôn đoàn kết, thống nhất, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bởi vì, mọi cán bộ, chiến sĩ đã khắc sâu lời Bác Hồ dạy, luôn đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trong tình thương yêu đồng chí, đồng đội; hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường ngày cũng như khi ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí.

Giá trị nhân văn, nhân đạo thể hiện sâu sắc, sinh động ở mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân. Hình ảnh bộ đội dầm mình trong bão lũ, vượt qua những thác ghềnh, băng mình qua dòng nước chảy xiết để đem lương thực, thuốc tới tận tay đồng bào gặp nạn đã trở thành biểu tượng sâu sắc về lòng quả cảm trong thời bình, thể hiện tình quân dân bền chặt. Trong mọi hoàn cảnh, Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc; xây dựng đời sống văn hóa và nông thôn mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; chủ động tham gia xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống phức tạp, nhất là ở các địa bàn chiến lược. Khi dịch bệnh xuất hiện, toàn quân đã triển khai các chốt kiểm soát chặt chẽ đường mòn, lối mở trên biên giới đất liền và trên hướng biển; huy động lực lượng, phương tiện, doanh trại để làm khu cách ly và vào giữa tâm dịch để tham gia điều trị, giúp đỡ người bệnh, cung cấp lương thực, thực phẩm cho người dân; “một số cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, xứng đáng là Quân đội của dân, do dân, vì dân, đã tô đẹp thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”(6).

Giá trị nhân văn, nhân đạo còn thể hiện sinh động ở tinh thần quốc tế vô sản trong sáng của quân đội cách mạng. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa kết thúc thắng lợi, với bản chất và truyền thống tốt đẹp, Quân đội ta đã thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot, để lại hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân nước bạn.

Trong thời kỳ mới, quán triệt và thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, giá trị nhân văn, nhân đạo được lan tỏa sâu rộng thông qua hoạt động hội nhập quốc tế về lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Tổng Bí thư nhấn mạnh: “công tác hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng có nhiều đổi mới, sáng tạo, đi vào chiều sâu, cả song phương và đa phương, đạt hiệu quả thiết thực, trở thành một trong những trụ cột đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”(7). Trên trường quốc tế, Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế đánh giá cao Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, có nhiều đóng góp tích cực tại Cộng hòa Trung Phi, Nam Xuđăng.

Về nghệ thuật quân sự độc đáo. Kế thừa, phát triển, vận dụng sáng tạo, hiệu quả nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Tổng Bí thư khẳng định: Bám sát thực tiễn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, “nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7-1954 đến tháng 5-1975, đó là Đảng ta đã thực hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhằm một mục tiêu chung là hoàn thành độc lập, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội”(8).

Về phương pháp cách mạng, Tổng Bí thư nêu rõ: “Đảng ta đã kiên định phương pháp cách mạng bạo lực tổng hợp, gồm hai lực lượng chủ yếu là lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang được tiến hành trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, kiên trì thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công... với phương châm: “đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, kéo địch xuống thang từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”(9).

Nghệ thuật quân sự còn được thể hiện độc đáo ở sự phát triển đến đỉnh cao của chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang ba thứ quân rất đặc sắc gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích, tự vệ được xây dựng vững mạnh và bố trí rộng khắp. Trong tác chiến, bộ đội chủ lực là lực lượng chủ yếu và triển khai hiệp đồng quân, binh chủng chặt chẽ với quy mô lớn; nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa “thế, lực, thời, mưu” trong tác chiến được thực hiện sáng tạo, hiệu quả, hình thành thế khó khăn, bất ngờ cho địch về sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta.

Chính sự quán triệt và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự độc đáo vào chiến đấu chống quân xâm lược nên càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, lập nên những chiến công lẫy lừng; từ những trận then chốt trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tiêu diệt “Siêu pháo đài bay B.52”, làm phá sản cái gọi là “Uy thế của không lực Hoa Kỳ”; sáng tạo cách đánh đặc công nước độc đáo, táo bạo, hiệu quả; làm nên huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển... Cùng với đó, công tác đảng, công tác chính trị đã thực hiện tốt việc giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, củng cố niềm tin và phương pháp tư duy quân sự khoa học cho bộ đội; giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí; giữa chính trị và quân sự; sức mạnh to lớn của sự đoàn kết, góp phần to lớn để chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược. “Thắng lợi đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định nhất là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phát huy cao độ nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam”(10).

Trong thời kỳ mới, nghệ thuật quân sự được bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn, Tổng Bí thư chỉ rõ: “Nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn bài học của cha ông ta: “Dựng nước đi đôi với giữ nước”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nghĩa là, kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất; “kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”(11). Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, bảo đảm luôn giữ thế chủ động trong mọi tình huống. Tích cực nghiên cứu phát triển khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật quân sự và công nghiệp quốc phòng; từng bước ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào hoạt động quân sự, nhất là trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu có hiệu quả. “Vận dụng sáng tạo cách đánh và nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam, những kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trước đây vào điều kiện tác chiến hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu các cuộc chiến tranh gần đây do chủ nghĩa đế quốc tiến hành ở một số nước để bổ sung phương án tác chiến, tìm ra cách đánh thích hợp với điều kiện cụ thể của Quân đội ta”(12).

Về giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, nét đặc sắc, độc đáo, tiêu biểu trong văn hóa quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Kể từ khi ra đời đến nay, trong mọi hoàn cảnh, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã lập nên những chiến công vang dội trong chiến đấu, lao động, sản xuất, công tác và vinh dự được nhân dân ghi nhận, tin yêu đặt cho tên gọi rất cao quý và thiêng liêng, đặc sắc là “Bộ đội Cụ Hồ”. Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” được phản ánh sinh động thông qua các hoạt động của bộ đội, được Tổng Bí thư khái quát: “Hình ảnh người chiến sĩ quân đội lăn lộn trên thao trường, dầm mình trong mưa giông, bão tố, vật lộn với giặc lửa, chịu đựng gian khổ, hiểm nguy, quên mình cứu dân, bảo vệ tài sản của đồng bào trong thiên tai, hỏa hoạn; những chiến sĩ ngày đêm chiến đấu, công tác thầm lặng từ các bản làng hẻo lánh, các vùng rẻo cao đến hải đảo xa xôi, cống hiến sức lực, trí tuệ, tài năng và cả xương máu của mình, canh giữ biên giới, đất trời, biển khơi; những chiến sĩ hy sinh khi làm nhiệm vụ; những doanh nhân làm kinh tế giỏi; những thầy thuốc tận tụy vì người bệnh... còn đọng mãi trong tâm trí của nhân dân”(13).

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện ở sự thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong quan hệ với nhân dân, mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn thể hiện nghĩa nặng tình sâu, tôn trọng nhân dân, học tập nhân dân, bảo vệ và giúp đỡ nhân dân, tích cực củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc, tham gia có hiệu quả phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống văn hóa, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn chiến lược; với đồng chí, đồng đội thì đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau; với kẻ thù thì luôn cảnh giác, khôn khéo và cương quyết; với nhiệm vụ được giao thì trách nhiệm cao, kỷ luật nghiêm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh và linh hoạt, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ.

Như vậy, trong suốt quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Quân đội đã kế thừa truyền thống kiên cường, anh dũng của dân tộc, không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, thường xuyên bổ sung, làm giàu giá trị văn hóa quân sự Việt Nam, xứng đáng với lời khen của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Hiện nay, trước những biến động phức tạp, khó lường của khu vực và thế giới, việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa quân sự Việt Nam được Tổng Bí thư đặc biệt quan tâm, qua đó góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

2. Định hướng cơ bản giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong thời kỳ mới

Thứ nhất, giữ vững định hướng chính trị trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa quân sự thời kỳ mới. Tổng Bí thư khẳng định: “vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta là một tất yếu khách quan, là nhân tố quyết định sự phát triển, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù”(14). Sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng từ khi Quân đội thành lập thực hiện theo cơ chế, phương thức chặt chẽ đã bảo đảm trong mọi hoàn cảnh Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, gắn bó máu thịt với nhân dân, “ngày càng phát triển mạnh hơn, uy tín cao hơn và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng sâu sắc, tỏa sáng hơn”(15).

Cần đặc biệt quan tâm xây dựng Đảng bộ Quân đội luôn trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tổng Bí thư yêu cầu Đảng bộ Quân đội phải luôn mẫu mực về mọi mặt, làm gương trong toàn Đảng, thật sự trong sạch, vững mạnh, có tính chiến đấu cao, đoàn kết chặt chẽ, lãnh đạo toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc, của Quân đội, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng danh là Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, bách chiến, bách thắng, lập nhiều chiến công mới, làm giàu và lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa quân sự.

Thứ hai, gắn kết chặt chẽ giữa giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa quân sự với công tác giáo dục chính trị trong Quân đội. Tổng Bí thư đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; bảo đảm trong mọi hoàn cảnh, Quân đội luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy, sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Công tác giáo dục chính trị phải làm cho toàn quân luôn có bản lĩnh chính trị kiên định, tinh thần cách mạng tiến công, vững vàng trước mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đề cao cảnh giác, tuyệt đối không để bất ngờ, bị động trong mọi tình huống; tạo cơ sở để: “Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục viết nên những trang sử oanh liệt, hào hùng, làm rạng rỡ non sông, đất nước. Đảng, Nhà nước, nhân dân ta vô cùng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và mong các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lập nhiều chiến công, thành tích to lớn hơn nữa, xứng đáng với truyền thống hào hùng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, Quân đội ta là một Quân đội anh hùng”(16).

Về nội dung, biện pháp thực hiện, Tổng Bí thư yêu cầu, cần tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bản chất giai cấp và nhiệm vụ xây dựng Quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân; đối tượng, đối tác trong tình hình mới. Coi trọng bồi đắp giá trị, chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ mới và đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, đạo đức cách mạng, tình yêu thương đồng chí, đồng đội, quan hệ máu thịt quân - dân, khát vọng vươn lên cho cán bộ, chiến sĩ trong thời kỳ mới; “tích cực tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, xây đắp niềm tin chiến thắng trong cán bộ, đảng viên, toàn quân, toàn dân ta, cổ vũ mạnh mẽ chủ nghĩa anh hùng cách mạng”(17).

Thực hiện tốt công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, niềm tin, đạo đức, lối sống văn hóa cho bộ đội gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Để giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa quân sự trong giáo dục chính trị, Tổng Bí thư yêu cầu: “Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội để không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tinh thần chiến đấu”(18); luôn nắm vững nguyên tắc lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị sát với thực tiễn, đúng định hướng, nguyên tắc của Đảng, luôn là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ “nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng(19) trong quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, đa dạng hóa các hoạt động văn hóa để làm giàu và lan tỏa giá trị văn hóa quân sự trong thời kỳ mới. Đây là nội dung được Tổng Bí thư rất quan tâm, đó là: cần coi trọng xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tạo sự chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần, góp phần giữ vững và lan tỏa sâu rộng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền qua báo chí, truyền thông, hoạt động văn học, nghệ thuật, hướng vào giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, những bài học kinh nghiệm trong dựng nước và giữ nước của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, giá trị nhân văn, nhân đạo, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”... Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, phát huy truyền thống đánh giặc của ông cha, vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam phù hợp với các loại vũ khí, khí tài trang bị hiện có; kết hợp chặt chẽ tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận để phát triển nghệ thuật quân sự và văn hóa quân sự Việt Nam phù hợp thời kỳ mới.

Không ngừng nâng cao chất lượng công tác dân vận; thường xuyên củng cố mối quan hệ, gắn bó máu thịt với nhân dân ngày càng bền chặt. Thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ, biện chứng giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Ra sức củng cố “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.

Tổng Bí thư định hướng: “tổ chức tốt các phong trào thi đua hành động cách mạng, xung kích, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị của Quân đội;... Đẩy mạnh phong trào “Thanh niên quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả”(20); định hướng cho thanh niên quân đội ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng đổi mới, sáng tạo, tích cực nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào hoạt động quân sự, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Tổng Bí thư yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ phải luôn đoàn kết, thống nhất cả về ý chí và hành động, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, đề cao trách nhiệm, không ngừng đổi mới về phương pháp, tác phong công tác, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung. Cán bộ, chiến sĩ phải ra sức học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực, trình độ, hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ; sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”; ra sức giữ gìn và lan tỏa phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong nhân dân.

Thứ tư, chủ động nhận diện, đấu tranh kiên quyết, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch, đẩy lùi không để các yếu tố phản văn hóa xâm nhập vào môi trường quân sự. Hiện nay, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, trong đó Quân đội là một trọng điểm, với những âm ưu, thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc. Vì vậy, Quân đội phải đi đầu trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái; kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ các thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; chủ động, nhạy bén đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội; chủ động phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội.

Về tính chất của hoạt động này, đây là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp, đòi hỏi phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ trí tuệ cao, tinh thần dũng cảm. Do đó, cần bám sát vào thực tiễn để chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, nâng cao sức đề kháng, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Nghiên cứu, nắm chắc các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hiểu rõ âm mưu thâm độc để đấu tranh, vạch trần thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Các cơ quan nghiên cứu, báo chí, văn hóa, văn nghệ cần chủ động nhận diện, đấu tranh kiên quyết, phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chạy chức, chạy quyền, thoái hóa, biến chất. Thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh có hiệu quả những biểu hiện giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; tuyệt đối không để suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tổng Bí thư yêu cầu: “Phải chủ động kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ; phải dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, không sợ khuyết điểm, càng không che giấu khuyết điểm; không nể nang, né tránh, kiên quyết xử lý các vi phạm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật đảng và kỷ luật quân đội”(21).

_________________

 Tư duy mới của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là sự tổng kết, kế thừa, phát huy những quan điểm, tư tưởng và kinh nghiệm rút ra trong các nhiệm kỳ đại hội Đảng trước và quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc; đồng thời, thể hiện tư duy mới, sáng tạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Nghị quyết cần được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Cán bộ, chiến sĩ Vùng 5, Quân chủng Hải quân huấn luyện làm chủ vũ khí, khí tài. Ảnh: qdnd.vn

Về quan điểm, mục tiêu

Với 5 quan điểm gọn, rõ, tư duy của Đảng trong Chiến lược có bước phát triển mới khi đưa quan điểm lên trước mục tiêu, thể hiện cách tiếp cận mang tính logic hơn. Nhận thức, quan điểm về bảo vệ Tổ quốc phải đi trước để làm cơ sở xác định mục tiêu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Theo đó, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan điểm của Chiến lược là khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nhưng lần này đã nhấn mạnh phương châm dựa vào dân, “dân là gốc”, là trung tâm, chủ thể; đặc biệt, đề cao tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Dựa vào dân”, “dân là gốc”, phát huy vai trò của thế hệ trẻ không phải là vấn đề mới trong các văn kiện của Đảng, nhưng đây là lần đầu tiên được đưa vào quan điểm chính thống của Chiến lược. Điều đó thể hiện Đảng ta nhận thức sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống, bài học kinh nghiệm xương máu trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc về vai trò của nhân dân, của thế hệ trẻ. Tư duy đặt thế hệ trẻ vào vị trí trung tâm, chủ thể của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá cao vai trò “tuổi trẻ giữ nước”, vừa là yêu cầu, đòi hỏi cao, giao trọng trách lớn lao, vừa là mong muốn, khát khao, là niềm tin của Đảng, của nhân dân đối với thế hệ trẻ - chủ tương lai của đất nước.

Tư duy mới nổi bật của Đảng lần này là đề cập, nhấn mạnh những vấn đề cần phải “kiên định, kiên quyết và kiên trì”. Đó là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và kiên định với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng cũng như những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi hành vi xâm phạm, hoặc đe dọa xâm phạm, phá hoại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, nền văn hóa, các thành quả cách mạng, môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước nhanh, toàn diện, bền vững. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cơ hội chính trị, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Cùng với đó, phải kiên trì với các lợi ích chiến lược, chính sách quốc phòng “bốn không”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, giải quyết các vấn đề tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; phải kiên trì bám sát thực tiễn, địa bàn, cơ sở, phát hiện, ngăn ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu từ sớm, từ xa mọi nguy cơ xung đột, chiến tranh; thực hiện tốt việc kiên trì phòng ngừa đi đôi với nghiêm trị các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá đất nước; tuyệt đối không nóng vội, chủ quan trong xử lý các vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia - dân tộc.

Trên cơ sở quan điểm đã xác định, tư duy của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc được Chiến lược diễn đạt rành mạch hơn khi khẳng định bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp đổi mới, nền văn hóa...; đồng thời, bổ sung nội dung “bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng...; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong,... dập tắt nguy cơ xung đột quân sự, chiến tranh”. Điều này cho thấy tư duy của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc ngày càng bao quát, toàn diện, rõ nét hơn.

Đối với các mục tiêu cụ thể, trước hết về xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, Chiến lược xác định phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, v.v. Ở mục tiêu này, Chiến lược đã bổ sung thành tố “đội ngũ cán bộ, hệ thống chính trị” thể hiện tính toàn diện, sự đòi hỏi cao hơn, ngang tầm với vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.

Đối với mục tiêu tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược đặc biệt đề cao sức mạnh của nhân dân, yếu tố dân chủ xã hội chủ nghĩa, niềm tin của nhân dân, đồng thuận xã hội, đặc biệt là mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhấn mạnh đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu này thể hiện sự quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể, trung tâm của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là sự cụ thể hóa tư tưởng “yên dân”, “thế trận lòng dân” vững chắc và vai trò hạt nhân của đoàn kết trong Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Về mục tiêu phát triển kinh tế, Chiến lược xác định đây là thành tố trung tâm, nền tảng vật chất của tiềm lực quốc phòng, sức mạnh nền quốc phòng toàn dân. Theo đó, cùng với đề cập về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh nội dung “chuyển đổi số, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước toàn diện, nhanh, bền vững”. Tư duy phát triển kinh tế “toàn diện, nhanh, bền vững” và đặt mục tiêu “toàn diện” trước “nhanh, bền vững” là sự bổ sung mới có ý nghĩa rất quan trọng. Tính toàn diện của nền kinh tế có thể hiểu là trên tất cả các ngành, thành phần, cơ cấu lĩnh vực, vùng, miền, vĩ mô, vi mô, trong nước, ngoài nước, kinh tế tri thức, kinh tế số;... đồng thời, “toàn diện” trên cả 04 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.

Phát triển văn hóa là một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược, được đề cập sâu, với những nội dung mới, đó là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước; phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa và con người Việt Nam, bảo đảm vừa phát huy giá trị tốt đẹp truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Về phương châm chỉ đạo

Kế thừa các nghị quyết về chiến lược quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định một số phương châm chủ đạo, trước hết là phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây là phương châm đầu tiên, bao trùm, dẫn dắt các phương châm khác trong Chiến lược. Các phương châm được chính thức đề cập trong Chiến lược là giữ “trong ấm, ngoài êm”; “bốn không”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cân bằng, hài hòa lợi ích trong quan hệ với các nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Tư duy mới về phương châm trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc lần này là Đảng ta đưa nội dung chủ động thiết lập tuyến phòng thủ, tạo vành đai an ninh từ xa để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đây là sự kế thừa, phát triển tư duy của Đảng về vai trò phòng thủ quốc gia, phòng thủ dân sự, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố,... với việc phát huy vai trò của tiềm lực, thế trận đối ngoại, huy động nguồn lực quốc tế để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ.

Về nhiệm vụ, giải pháp

Nghị quyết xác định 06 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, nhưng thứ tự có sự điều chỉnh, bổ sung nội hàm rộng hơn và đưa nhiệm vụ, giải pháp “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” lên vị trí thứ hai. Điều này thể hiện tư duy mới của Đảng ngày càng sâu sắc hơn về vai trò của sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân và tư tưởng “yên dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, đây cũng thể hiện sự nhất quán, tính logic hệ thống trong tư duy của Đảng từ quan điểm đến mục tiêu, phương châm cho đến nhiệm vụ, giải pháp về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Với nhiệm vụ giải pháp thứ nhất, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, Chiến lược xác định rõ tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, nhất là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Nội dung chi tiết các nhiệm vụ, giải pháp còn lại đều có kế thừa, cập nhật và bổ sung, phát triển các nhiệm vụ cụ thể trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội, sát hơn với tình hình thực tiễn trong nước cũng như bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

Về tổ chức thực hiện

Tư duy mới của Đảng thể hiện rõ bước đột phá khi chỉ sau 03 ngày ban hành Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Chính trị đã triển khai Kế hoạch thực hiện, làm cơ sở cho các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, xây dựng chương trình hành động, đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt nắm chắc tình hình môi trường chiến lược, quan điểm, mục tiêu, phương châm và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu; đồng thời, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị,... để xác định các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm, cốt lõi, dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, lộ trình, bước đi phù hợp để tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là sản phẩm trí tuệ, thể hiện tư duy mới, sáng tạo của Đảng ta trong bối cảnh quốc tế, trong nước đã và đang có nhiều thay đổi. Đây là những vấn đề cơ bản, quan trọng, lâu dài, có tính định hướng lớn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Quán triệt sâu sắc, nắm chắc nội dung, xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện sát đúng, khả thi, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả là cơ sở quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại tá LÊ VĂN HƯỞNG, Viện Chiến lược quốc phòng