Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: TẠI SAO CHÍNH PHỦ ĐỨC CHỈ NHỎ NHẸ NHẮC KHÉO KHI TÌNH BÁO MỸ MẤT CÓC NGƯỜI MỸ Ở BERLIN?

     Chuyên gia nghe lén người Mỹ Jeffrey M. Carney, mật danh "Kid", là quân nhân của không quân Mỹ đóng quân ở Tây Berlin, đã làm gián điệp cho Stasi vào những năm 1980. Sau đó, ông chạy sang Đông Berlin và làm việc trong lĩnh vực trinh sát vô tuyến. Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, người Mỹ đã truy lùng ông vào tháng 4 năm 1991, ông bị mật vụ Mỹ bắt cóc và đưa về Hoa Kỳ!

Carney từng là thành viên của “Nhóm An ninh Điện tử 6912” tại Sân bay Tempelhof và hệ thống radar Marienfelde, cùng nhiều nơi khác. Dù không giữ chức vụ cao nhưng ông được sử dụng vì biết ngôn ngữ Đức và nhờ đó tiếp cận với tài liệu mật. Tại Trạm kiểm soát Charlie vào năm 1982, ông ta đã tìm cách tiếp xúc với các nhân viên của Stasi, những người được cho là đã thuê ông ta làm nguồn tin cho Cơ quan Tình báo Trung ương Đông Đức. Ông ta có mật danh là “Kid”. Sau khi được chuyển về Hoa Kỳ vào năm 1984, ông vào Đại sứ quán CHDC Đức ở Mexico vào năm 1985. Từ đó nó được được đưa lậu từ Mexico đến Cuba và đến CHDC Đức qua Praha. Tại đây, ông ta cũng được điều động làm tình báo viễn thông và được cấp thẻ căn cước CHDC Đức có giá trị đến ngày 15 tháng 12 năm 1999 dưới tên Jens Karney, với nơi sinh giả là Dessau thay vì Cincinnati. Stasi đã mua cho ông một căn hộ ở quận Marzahn của Berlin và giao nhiệm vụ cho ông phân tích các bản ghi âm các cuộc trò chuyện ở Tây Berlin, bao gồm cả các cuộc gọi điện thoại trên ô tô được ghi âm từ vị chỉ huy Mỹ ở Berlin. Ngày 22/11/1985, ông nhận được Huân chương loại Vàng, giấy chứng nhận khen thưởng có chữ ký của Bộ trưởng An ninh Erich Mielke.

Sau khi nước Đức thống nhất, ông làm nghề lái tàu điện ngầm ở Berlin. Theo các báo cáo chưa được xác nhận, những người đào tẩu Stasi đã báo cho cơ quan dịch vụ Hoa Kỳ biết Carney đang ở đâu. Các đặc vụ của cơ quan mật vụ Hoa Kỳ đã bắt cóc ông vào ngày 22 tháng 4 năm 1991 trên con phố gần căn hộ của ông ở số 12 Pintschstrasse ở Berlin-Friedrichshain. Ông ta sau khi bị bắt cóc được đưa đến Hoa Kỳ qua Sân bay Berlin-Tempelhof và Căn cứ Không quân Ramstein. Theo tạp chí "Spiegel", chính quyền Đức đã không được thông báo và chính phủ liên bang Đức vào thời điểm đó (nội các của ông Kohl) chỉ "âm thầm phản đối" việc này. Carney bị kết án 38 năm tù. Thủ tục xét xử này được tiến hành không công khai.

Chỉ sau khi truyền thông Đức đưa tin về vụ việc, chính phủ liên bang Đức (Nội các của ông Kohl) mới trao công hàm phản đối tới Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phản đối việc “cưỡng bức hồi hương” Carney. Theo đánh giá nội bộ của chính quyền Bonn, vụ bắt cóc người đàn ông này rõ ràng là vi phạm luật pháp quốc tế. Quyền chiếm đóng của quân Đồng minh đã hết hạn vào tháng 4 năm 1991 và vụ bắt cóc diễn ra 5 tuần sau đó. Năm 1994 ông chính thức đổi tên thành Jens Karney tại Mỹ.

Theo ước tính sau này, thiệt hại cho cơ quan mật vụ từ các hoạt động gián điệp của ông lên tới 14,5 tỷ USD. Sau khi thống nhất nước Đức, ông nhận được giấy tờ tùy thân của liên bang Đức.

Theo tôi (HNT), chính phủ Đức chỉ là chư hầu của Mỹ, vì vậy người Mỹ muốn làm gì thì làm trên lãnh thổ Đức./.
Yêu nước ST.

THAY ĐỔI LÃNH ĐẠO CẤP CAO NHƯNG THẾ CHẾ CHÍNH TRỊ ỔN ĐỊNH

 THAY ĐỔI LÃNH ĐẠO CẤP CAO NHƯNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ ỔN ĐỊNH 


Để xây dựng Đảng thực sự tiêu biểu về đạo đức, văn minh như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, Đảng ta thời gian qua đã đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm được triển khai bài bản, thường xuyên, liên tục, không ngừng, không nghỉ, đi vào chiều sâu với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào" và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở.

Do thực hiện tốt chủ trương này, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã thu được nhiều kết quả quan trọng, qua đó củng cố niềm tin vững chắc của toàn dân, toàn quân vào sự lãnh đạo của Đảng.


Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định


Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta nhiều lần chỉ rõ: Tham nhũng, tiêu cực “uy hiếp sự tồn vong của chế độ ta”, là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.


Trước thực trạng tham nhũng diễn biến phức tạp, phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020 ngày 12-12-2020 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng (nay là Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực) chỉ rõ: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới theo tinh thần Bác Hồ đã dạy: “Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây”...


Tiếp đó, phát biểu tại phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 20-1-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu phải: “Chấn chỉnh, đấu tranh đẩy lùi, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng sẽ “làm chậm sự phát triển”, làm “hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “nhụt chí”, “làm cầm chừng”, “phòng thủ” trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.


Với chủ trương đúng đắn, kịp thời, từ năm 2013, khi Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng được thành lập, trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được tiến hành ráo riết, quyết liệt; đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực; nhiều vụ án về kinh tế, nhất là các vụ đại án tham nhũng được điều tra, xử lý đúng người, đúng tội. Trong giai đoạn 2013-2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên.


Năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức Đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật hàng chục cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đặc biệt, năm 2023 và nửa đầu năm 2024, nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng đưa ra xử lý, nhiều cựu cán bộ, lãnh đạo ở các bộ, ngành, địa phương bị xử lý hình sự với những mức án nghiêm minh. Hàng loạt các vụ án khác đang được mở rộng điều tra như vụ án Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (giai đoạn 2); vụ án Tập đoàn Phúc Sơn; vụ án xảy ra tại Tập đoàn Thuận An… Kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là minh chứng rõ nét nhất về vai trò lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta.


Đấu tranh quyết liệt, xử lý nghiêm minh để tạo sự ổn định, phát triển


Thực tiễn thời gian qua cho thấy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra rất quyết liệt, nghiêm minh nhưng cũng rất nhân văn, có lý, có tình. Nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao, lãnh đạo quản lý các cấp bị xử lý phải tâm phục, khẩu phục. Đảng đã xử lý nghiêm khắc với kẻ chủ mưu, cầm đầu, tích cực thực hiện hành vi vi phạm, song cũng xem xét toàn diện đối với những người làm công hưởng lương, phụ thuộc, không chủ động, không cố ý hưởng lợi… Điều này khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, góp phần thức tỉnh, cảnh báo, ngăn chặn từng bước và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được nhân dân đồng tình ủng hộ, cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tờ Le Monde (Pháp) số ra ngày 21-6-2022 bình luận: “Cuộc chiến chống tham nhũng của Việt Nam đã tăng tốc mạnh mẽ và giờ đây không loại trừ ai, từ các đại gia ở khu vực kinh tế tư nhân cho tới các đảng viên là quan chức cấp cao”. Đặc biệt, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden bày tỏ ấn tượng trước nỗ lực trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng ta và người đứng đầu Đảng - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tôi hoan nghênh nỗ lực chống tham nhũng và thúc đẩy quản trị tốt của Ngài trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Giải quyết nạn tham nhũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hòa bình và an ninh trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới”.


Tuy nhiên, lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội và một số trang báo phản động, đã tích cực tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo với nhiều lời lẽ bịa đặt nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành quả và quyết tâm phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không dừng lại ở đó, lợi dụng việc một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt, cấp cao xin từ chức, miễn nhiệm hoặc bị bắt để điều tra, làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật, các trang mạng phản động ngay lập tức hướng dư luận thành kết quả của “sự thanh trừng nội bộ”, “tranh giành phe cánh”…, thậm chí đặt vấn đề về trách nhiệm của Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Có thể khẳng định rất rõ rằng, các đối tượng chống phá, cơ hội chính trị cố tình xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn thông tin, gây rối tình hình, tạo hoang mang trong xã hội; phá hoại công tác tổ chức, cán bộ của Đảng. Mục đích cao nhất của chúng là làm bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.


Trong suốt hơn 94 năm lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ trương lựa chọn cán bộ, đảng viên xứng đáng, đủ đức, đủ tài để gánh vác nhiệm vụ cách mạng. Theo đó, Đảng đã từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ kiên trung với Đảng, tận hiếu với nước, với dân; xứng đáng là người “công bộc”, “đầy tớ” của nhân dân; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hy sinh vì lợi ích chung, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Việc cho “thôi chức”, “miễn nhiệm” đối với một số cán bộ, đảng viên là một trong những dấu ấn nổi bật, có tính đột phá khi đánh giá, xem xét cán bộ, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” được triển khai sâu rộng, đồng bộ; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình kết hợp nhuần nhuyễn “vừa xây”, “vừa chống”, làm cho Đảng ngày càng đoàn kết, trong sạch, vững mạnh.


Điểm đặc biệt, dù có thay đổi nhân sự ở cấp nào nhưng nguyên tắc hoạt động, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng luôn nhất quán, bảo đảm tính kế thừa, không bị chi phối bởi bất cứ thế lực nào. Tuy có sự thay đổi đối với cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhưng đó là thay đổi để phát triển, thay đổi cán bộ lãnh đạo cấp cao nhưng thể chế chính trị luôn ổn định; vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được khẳng định. Do đó, những lời lẽ lạc lõng của các thế lực thù địch lợi dụng việc cho “thôi chức”, “miễn nhiệm” đối với một số cán bộ cấp cao để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trở nên vô giá trị. Bằng chứng là gần đây nhất, việc Quốc hội bầu đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội giữ chức Chủ tịch Quốc hội; bầu Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an làm Chủ tịch nước cho thấy sự kiện toàn kịp thời, phát triển liên tục, có sự kế thừa trong công tác cán bộ chủ chốt của Đảng.


*

* *


Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo với tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt” và với phương châm “kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” được tiến hành mạnh mẽ, trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận và là động lực quan trọng phát triển đất nước, để "đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".


Những luận điệu chống phá công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; xuyên tạc việc cho “thôi chức”, “miễn nhiệm” đối với một số cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước là sự chống phá chưa bao giờ ngừng nghỉ của các thế lực thù địch trong âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ để bảo vệ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, để “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời!


Tiến sĩ Lê Văn Phong

Chủ tịch nước tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc cho lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam

 

Ngày 27/5/2014, Bộ Quốc phòng thành lập Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam (GGHB) và cử 2 sĩ quan đầu tiên tham gia thực hiện nhiệm vụ GGHB Liên Hợp Quốc trên cương vị sĩ quan liên lạc tại Phái bộ Nam Sudan.

Trong 10 năm qua, Việt Nam đã cử hơn 800 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị, trong đó có 5 thê đội của bệnh viện dã chiến cấp 2 triển khai tại Phái bộ Nam Sudan, hai thê đội của Đội Công binh triển khai tại khu vực Abyei và 114 lượt sĩ quan triển khai theo hình thức cá nhân. Số lượng cán bộ, sĩ quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Việt Nam cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của Liên Hợp Quốc (LHQ).

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, gần 80 năm qua, QĐND Việt Nam không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà còn góp phần quan trọng vào thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Việc Quân đội tham gia hoạt động GGHB LHQ càng thể hiện rõ hơn vai trò của QĐND trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Ghi nhận thành tích của lực lượng GGHB Việt Nam, tại buổi lễ thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đã trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba cho Cục GGHB Việt Nam; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba cho Đội Công binh số 1 (Cục GGHB Việt Nam).

Sứ giả hòa bình kết nối, chia sẻ yêu thương

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, từ khi trở thành thành viên LHQ năm 1977 đến nay, Việt Nam đã tham gia ngày càng sâu rộng và là thành viên tích cực, có trách nhiệm, là đối tác quan trọng của LHQ và có những đóng góp thiết thực, hiệu quả đối với nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, nhằm bảo vệ nền hòa bình và an ninh trên toàn thế giới. 

Trong quá trình triển khai hoạt động GGHB, Việt Nam đã để lại nhiều ấn tượng và tình cảm tốt đẹp về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, về QĐND và CAND Việt Nam, tô thắm thêm hình ảnh “Bộ đội cụ Hồ” yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân ái, sẵn sàng chung tay giải quyết các vấn đề mà cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến chúc mừng những thành tích vẻ vang của cán bộ, nhân viên Cục GGHB Việt Nam và Lực lượng GGHB LHQ của Việt Nam trong 10 năm qua.

Ông tin tưởng thời gian tới, cán bộ, nhân viên Cục GGHB Việt Nam sẽ tiếp tục đoàn kết thống nhất, chủ động, sáng tạo, nỗ lực không ngừng, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân, QĐND Việt Nam, của LHQ, bạn bè quốc tế và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh, trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường… tác động mạnh mẽ đến tình hình an ninh, chính trị và nền hòa bình thế giới, đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động GGHB LHQ. 

Trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Cục GGHB Việt Nam và Lực lượng tham gia GGHB cần tăng cường công tác nghiên cứu, tham mưu chiến lược với lãnh đạo các cấp để từng bước mở rộng quy mô lực lượng, địa bàn, vị trí tham gia.

Trong đó là các vị trí chỉ huy tại trụ sở LHQ và các phái bộ mà Việt Nam có thế mạnh như lực lượng công binh, quân cảnh, thông tin liên lạc, vận tải quân sự…; tiếp tục duy trì và nâng cao tỷ lệ nữ quân nhân Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ. Trước mắt, tập trung làm tốt công tác chuẩn bị để triển khai thành công Đội Công binh số 3 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 6.

Quân đội cần tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ hơn nữa với công an, các bộ, ban, ngành và các nước, các tổ chức quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ về nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm; nâng cao năng lực để Cục GGHB Việt Nam thực hiện tốt chức năng điều phối quốc gia về tham gia Lực lượng GGHB LHQ.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại tá Phạm Mạnh Thắng, Cục trưởng Cục GGHB Việt Nam điểm lại quá trình hình thành, phát triển và trưởng thành cùng những kết quả hoạt động nổi bật của Cục GGHB Việt Nam trong suốt 10 năm qua. 

Theo đánh giá của chỉ huy phái bộ và các cơ quan của LHQ, lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong thực hiện nhiệm vụ được giao, thể hiện sự chuyên nghiệp, sáng tạo, kỷ luật cao và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với chỉ huy các phái bộ cũng như bạn bè và đồng nghiệp quốc tế. 

Đội Công binh Việt Nam ở khu vực Abyei đã giúp đỡ chính quyền và người dân địa phương bằng những hành động thiết thực như xây dựng và tu sửa đường xá; giúp nhà trường xây dựng, cải tạo lớp học; dạy học tình nguyện; khoan giếng nước tặng khu dân cư địa phương và các trường học; khám chữa bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân địa phương. 

Các thê đội bệnh viện dã chiến cấp 2 ở Nam Sudan đã chăm sóc sức khỏe và điều trị cho nhiều lượt bệnh nhân là nhân viên LHQ và người dân địa phương; áp dụng nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân phù hợp với điều kiện dã chiến thực tế tại địa bàn; tiến hành thành công các ca phẫu thuật phức tạp, vận chuyển cấp cứu đường không nhiều ca bệnh nguy hiểm.

Ban Bí thư: Nhà ở xã hội phải bảo đảm tiêu chuẩn phòng cháy, chữa cháy

 

Thường trực Ban Bí thư Lương Cường ký ban hành chỉ thị của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới.

Theo Ban Bí thư, cả nước đã hoàn thành xây dựng 195.000 căn nhà ở xã hội và có khoảng 374.000 căn nhà ở xã hội đã được chấp thuận đầu tư và khởi công, cấp phép xây dựng. 

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát triển nhà ở xã hội vẫn còn một số hạn chế. Nhiều mục tiêu về phát triển nhà ở xã hội trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 không đạt được.

Theo chỉ thị, địa phương cần đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm.

Chỉ thị nêu rõ, phấn đấu đến năm 2030, cả nước xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. Hoàn thành xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp tại khu vực đô thị.

Cần thực hiện quy hoạch, bố trí các dự án nhà ở xã hội độc lập, hoặc trong các dự án nhà ở thương mại tại các vị trí thuận tiện về giao thông, gắn với các trung tâm công nghiệp, bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu. 

Ban Bí thư lưu ý, có cơ chế, chính sách ưu đãi thực chất, đủ hấp dẫn để thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư, phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng. 

Phát triển đa dạng loại hình nhà ở xã hội và cơ chế, chính sách mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà lưu trú, ký túc xá cho công nhân, người thu nhập thấp khu vực đô thị, học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang với giá phù hợp với khả năng chi trả.

Nhà ở xã hội và nhà ở được Nhà nước hỗ trợ bảo đảm về chất lượng xây dựng, kiến trúc, cảnh quan, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, an ninh, an toàn, phòng cháy, chữa cháy, đồng bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thiết yếu (y tế, giáo dục, văn hóa...). 

Ngăn ngừa, xử lý sai phạm, trục lợi chính sách

Ban Bí thư yêu cầu có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, đúng đối tượng; nâng mức hỗ trợ nhà ở cho người có công và các đối tượng chính sách tại các chương trình mục tiêu.

Thực hiện tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ trong xác định giá nhà ở xã hội. Nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù về nhà ở xã hội cho công nhân và lực lượng vũ trang nhân dân. 

Hoàn thiện pháp luật và tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách để Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tham gia phát triển nhà ở xã hội bằng nguồn tài chính công đoàn. 

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển nhà ở xã hội. Nghiên cứu hình thành quỹ phát triển nhà ở xã hội, hoặc mô hình định chế tài chính phù hợp để phát triển nhà ở xã hội dài hạn, bền vững.

Ban Bí thư lưu ý, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho các địa phương trong phát triển nhà ở xã hội, đi đôi với tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm việc triển khai các dự án nhà ở xã hội. Quản lý, giám sát chặt chẽ việc đầu tư, xây dựng, bán, cho thuê, sử dụng căn hộ các dự án nhà ở xã hội. Có chế tài đủ mạnh, ngăn ngừa, kịp thời xử lý nghiêm những sai phạm, trục lợi chính sách.

 

Khoản nào sẽ thay thế lương đặc thù từ 1/7/2024?

 

Lương mới không thấp hơn lương hiện hưởng

Nghị quyết 01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phân bổ dự toán chi quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức đặc thù ở trung ương như sau:

Khi thực hiện cải cách tiền lương phải áp dụng chế độ tiền lương, phụ cấp, thu nhập thống nhất đồng thời bãi bỏ các cơ chế, chính sách về tiền lương, thu nhập đặc thù đối với các cơ quan, đơn vị quản lý hành chính nhà nước đang áp dụng cơ chế chính sách khoán chi hoặc đang áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù.

Khi cải cách tiền lương vẫn phải thực hiện chuyển xếp vào lương mới nên khi bãi bỏ các cơ chế, chính sách về tiền lương, thu nhập đặc thù vào thời điểm cải cách thì tiền lương mới bao gồm cả phụ cấp của những cán bộ, công chức này có thể thấp hơn so với trước khi cải cách tiền lương.

Theo Bộ Nội vụ, qua rà soát, có 36 cơ quan, đơn vị của một số ngành không còn được hưởng chính sách lương đặc thù. Và nếu xây dựng bảng lương chạy ngang thì có một số cơ quan có thể bị giảm đến 50% lương.

Bên cạnh đó, có khoảng 134.284 cán bộ, công chức thuộc các cơ quan, đơn vị quản lý hành chính nhà nước đang áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù (có tiền lương tăng thêm ngoài chế độ chung từ 0,66 lần đến 2,43 lần), chiếm khoảng 6,78% so với tổng biên chế cán bộ, công viên chức sẽ hưởng tiền lương mới (kể cả phụ cấp) có thể thấp hơn so với trước khi cải cách.

Tuy nhiên, tinh thần tại Nghị quyết 27 về cải cách tiền lương cũng nêu rõ nguyên tắc về việc thực hiện chuyển xếp lương cũ sang lương mới phải bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng.

Do vậy, Chính phủ đã đưa phương án là nếu lương cơ bản cộng phụ cấp mới thấp hơn so với tiền lương hiện hưởng (gồm cả tiền lương tăng thêm) trước cải cách tiền lương thì các đối tượng này sẽ được hưởng lương bảo lưu chênh lệch. Và mức bảo lưu chênh lệch này sẽ giảm tương ứng khi điều chỉnh tăng tiền lương mới hằng năm.

Quy định về hưởng bảo lưu chênh lệch phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 27, bảo đảm sự công bằng giữa các đối tượng hưởng lương trước và sau khi cải cách tiền lương.

Như vậy, khi tiến hành cải cách tiền lương thì lương đặc thù của hơn 130.000 cán bộ, công chức, chưa có thông tin về khoản thay thế lương đặc thù, tuy nhiên lương đặc thù có thể sẽ được bảo lưu để đảm bảo tinh thần của Nghị quyết 27 là khi cải cách tiền lương việc chuyển xếp lương cũ sang lương mới không thấp hơn lương hiện hưởng.

3 đối tượng tiếp tục được áp dụng phụ cấp đặc thù

Theo tiểu mục 3 Mục II Nghị quyết 27-NQ/TW năm 2018, quy định về việc sắp xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (khu vực công).

Cụ thể, sẽ xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương.

Theo đó, sẽ tiếp tục áp dụng những loại phụ cấp sau đây: Phụ cấp kiêm nhiệm; Phụ cấp thâm niên vượt khung; Phụ cấp khu vực; Phụ cấp trách nhiệm công việc; Phụ cấp lưu động; Phụ cấp phục vụ an ninh, quốc phòng; Phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang (quân đội, công an, cơ yếu).

Bên cạnh đó, gộp các loại phụ cấp dưới đây:

- Phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp trách nhiệm theo nghề và phụ cấp độc hại, nguy hiểm (gọi chung là phụ cấp theo nghề).

Phụ cấp này áp dụng đối với công chức, viên chức của những nghề, công việc có yếu tố điều kiện lao động cao hơn bình thường và có chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà nước như giáo dục và đào tạo, y tế, toà án, kiểm sát, thi hành án dân sự, hải quan, kiểm lâm, quản lý thị trường,...

Gộp phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút và trợ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thành phụ cấp công tác ở vùng đặc biệt khó khăn.

Như vậy sẽ tiếp tục áp dụng phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang (quân đội, công an, cơ yếu) khi thực hiện cải cách tiền lương.

 

Bãi bỏ lương cơ sở, đề xuất thay thế bằng "mức tham chiếu"

 

Không còn "mức lương cơ sở" từ 1/7/2024 để tính BHXH

Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) trước Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Nguyễn Thúy Anh cho biết, liên quan việc thay thế "mức lương cơ sở" bằng "mức tham chiếu" trong dự thảo Luật, Nghị quyết số 27-NQ/TW quy định bãi bỏ "mức lương cơ sở" khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương. Như vậy, theo lộ trình thực hiện, từ 1/7/2024, sẽ không còn "mức lương cơ sở" để làm căn cứ điều chỉnh tiền lương đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu và tính hưởng một số chế độ bảo hiểm xã hội.

ội dung này chưa được dự liệu đầy đủ khi Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp 6 nên trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý, qua nhiều lần đề nghị, ngày 15/5/2024, tại Báo cáo số 234/BC-CP, Chính phủ mới đề xuất thay "mức lương cơ sở" bằng "mức tham chiếu" trong dự thảo Luật. Theo đó, dự thảo Luật đã được bổ sung giải thích thuật ngữ "Mức tham chiếu" tại khoản 12 Điều 4 và sửa đổi, bổ sung tại 14 điều, khoản khác.

Theo Điều 4: Mức tham chiếu là mức tiền do Chính phủ quy định dùng để tính mức đóng, mức hưởng một số chế độ bảo hiểm xã hội trong Luật này. Mức tham chiếu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế và phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội.

Do đây là nội dung mới được đặt ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ quan tâm đánh giá tác động và nghiên cứu bổ sung một số nội dung sau trong dự thảo Luật:

- Nguyên tắc cụ thể xác định mức tham chiếu trong dự thảo Luật, theo hướng bảo đảm tuân thủ quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 28-NQ/TW;

- Quy định giao Chính phủ hằng năm báo cáo Quốc hội về việc xây dựng và tổ chức thực hiện mức tham chiếu này đối với các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế;

- Quy định căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của khu vực doanh nghiệp ít nhất bằng 70% tổng tiền lương và các khoản thu nhập khác có tính chất lương của người lao động theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW để hài hòa với khu vực Nhà nước sau cải cách tiền lương, bảo đảm mọi người lao động khi về già có mức lương hưu đủ sống, không thấp hơn mức sống tối thiểu;

- Chỉ đạo việc rà soát bổ sung đầy đủ quy định điều khoản chuyển tiếp trong các chính sách, pháp luật có liên quan đến "mức lương cơ sở" để ban hành hoặc trình ban hành quy định mới.

Liên quan quy định về lương hưu, Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội nhấn mạnh, quy định tại Điều 76 và Điều 77 của dự thảo Luật chỉnh lý liên quan trực tiếp đến hàng triệu người đã, đang và sẽ hưởng lương hưu. Do đó, UBTVQH cần được xem xét một cách toàn diện, thấu đáo trong bối cảnh cải cách tiền lương và cần đánh giá kỹ tác động đối với người hưởng lương hưu ở các thời điểm khác nhau, trong các khu vực, lĩnh vực khác nhau.

Cần nghiên cứu tính toán, điều chỉnh lại "mức tham chiếu"

Tham gia ý kiến về quy định này, đại biểu Trần Thị Thu Phước (đoàn Kon Tum) cho rằng, theo báo cáo của Chính phủ, mức tham chiếu tính bảo hiểm xã hội được tính bằng 1,8 triệu đồng từ ngày 1/7/2024, thay thế cho mức lương cơ sở để thực hiện bảo hiểm xã hội theo quy định tại luật năm 2014 và để thực hiện bảo hiểm xã hội theo quy định của luật sửa đổi này.

Tuy nhiên, dựa theo dự kiến từ ngày 1/7 tiền lương bình quân chung của cán bộ, công chức, viên chức sẽ được tăng khoảng 30%, đại biểu đề nghị cần có sự đánh giá một cách toàn diện và kỹ càng hơn về vấn đề này.

"Sau cải cách tiền lương thực tế thì tiền lương đóng bảo hiểm xã hội từ ngày 1/7/2024 trở đi đối với người thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định đều tăng, do vậy cần nghiên cứu tính toán, điều chỉnh lại mức tham chiếu tính bảo hiểm xã hội cho phù hợp hơn" – đại biểu Phước cho biết.

Đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ (đoàn Hà Tĩnh) cũng cho rằng để tính mức đóng, mức hưởng chế độ bảo hiểm xã hội cần một mức tiền lương cố định làm cơ sở tính toán.

"Mức tham chiếu là chỉ sự thay đổi, sẽ khó áp dụng hay xác định dự toán kế hoạch về bảo hiểm xã hội trung hạn. Bên cạnh đó, báo cáo chưa làm rõ nguyên tắc xác định mức tham chiếu, việc xây dựng mức tham chiếu được thực hiện như thế nào" – đại biểu Thơ nói.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Dương) thì đánh giá mức tham chiếu do Chính phủ quy định để tính mức đóng, mức hưởng chế độ bảo hiểm và mức tham chiếu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng tăng trưởng kinh tế và phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước, của Quỹ bảo hiểm xã hội.

"Quy định như vậy theo tôi rất kịp thời và đồng bộ với việc chúng ta dự kiến cải cách tiền lương vào tháng 7 tới đây và một số yêu cầu về mức tham chiếu được đưa ra trên chỉ số giá tiêu dùng tăng trưởng kinh tế cũng rất phù hợp" – bà Nga phát biểu.

Để đảm bảo quyền lợi của người hưởng các chế độ bảo hiểm, đại biểu đoàn Hải Dương cho rằng nên xem xét quy định ở trong luật định kỳ thời gian để điều chỉnh mức tham chiếu. Ví dụ, như chu kỳ hằng năm hoặc chu kỳ 2 năm một lần. Việc quy định kỳ điều chỉnh mức tham chiếu sẽ nâng cao tính trách nhiệm của các cơ quan và đảm bảo xem xét quyền lợi về bảo hiểm xã hội của người được thụ hưởng thường xuyên, kịp thời. Khi đến hạn định kỳ điều chỉnh thì có thể xem xét điều chỉnh cho phù hợp, có thể là cao hơn, có thể thấp hơn nhưng cũng có thể là vẫn bằng với mức đang đóng.

 

 

 

 

 Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo vấn đề kiểm tra, kỷ luật trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người chỉ rõ: “Khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”[1]. Trong quá trình cách mạng, Đảng động viên toàn bộ lực lượng, thông qua tổ chức, thực hiện đường lối, chủ trương mà Đảng đã đề ra. 

Trong công tác kiểm tra thì chủ yếu là kiểm tra cán bộ thực hiện Điều lệ Đảng và nghị quyết của Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng: “Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài cần phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”, và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên và thực hành ấy đã đến mức nào, thì phải có kiểm tra”[2].

Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như chúng ta đã có ngọn đèn pha, bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng, chín phần mười khuyết điểm trong công việc chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra. Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm.

Kiểm tra bao giờ cũng đi liền với kỷ luật trong Đảng. Hồ Chí Minh coi: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ, đảng viên”[3]. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Kỷ luật của Đảng là “kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”[4]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”[5]. Người yêu cầu đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn “phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân”; họ “tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất thì làm”[6]. Các đảng viên, cán bộ đó “không biết kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”[7].

Theo Hồ Chí Minh, đối với mọi đảng viên cộng sản, khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức, phải báo cáo, phải chấp hành nghị quyết, chỉ thị một cách nghiêm túc, đúng đắn, sáng tạo. 

Hồ Chí Minh yêu cầu những đảng viên giữ vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc, không được châm chước, bao che cho nhau. Trong bất kỳ trường hợp nào, Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật. Củng cố và tăng cường kỷ luật đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Tăng cường kỷ luật đảng không phải là để kỷ luật cho nhiều đảng viên, mà chủ yếu là để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã để lại bản Di chúc lịch sử và dành những lời đầu tiên cho Đảng: “Trước hết nói về Đảng... Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là phản ánh trung thực tinh thần dân chủ và sức chiến đấu của Đảng. Bởi vì: “...một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”[8].

Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp lãnh đạo phải biết nghe, dám nghe và khuyến khích được nghe các ý kiến khác nhau, kể cả ý kiến khác với suy nghĩ lâu nay của mình. Người nhắc lãnh đạo các cấp phải: “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến... Nếu cán bộ không nói năng, không đề ra ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì để nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản”[9].

Hồ Chí Minh khẳng định mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình, đề đạt kiến nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Song khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Đó là quyền tự do phục tùng chân lý. 

Hồ Chí Minh cho rằng, thực tiễn cách mạng luôn vận động và phát triển. Đảng ở trong xã hội và cùng xã hội phát triển. Tuy nhiên, mỗi khi gặp tình hình mới, công tác mới... tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên không khỏi bỡ ngỡ, lệch lạc, hoặc “tả”, hoặc “hữu’, đó là điều bình thường, cho nên thống nhất ý chí, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng. Người thường chỉ dạy: “Nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Để làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho Đảng, toàn thể cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Trung ương, phải tuyệt đối chấp hành nghiêm túc mọi chính sách và nghị quyết của Đảng”[10]. 

Suốt chặng đường cách mạng của Đảng, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau:

Một là, trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của Đảng; 

Hai là, trong hoạt động thực tiễn của Đảng nói chung và của ủy ban kiểm tra, đội ngũ cán bộ kiểm tra nói riêng; 

Ba là, trong việc tổng kết, đánh giá công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng hằng năm và các nhiệm kỳ.

Những năm qua, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế, yếu kém, bất cập. Khảo sát, nghiên cứu cho thấy, một số cấp uỷ, tố chức đảng, UBKT các cấp chưa nhận thức đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác này nên chưa tổ chức thực hiện có hiệu quả trong hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp mình. Có nơi, có lúc nhận thức được thì việc vận dụng còn máy móc, giáo điều, chủ quan, duy ý chí, dẫn đến có hành động nóng vội, giản đơn, chạy theo thành tích. 

Một số cấp uỷ và người đứng đầu cấp uỷ học tập và làm theo quan điểm: “Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín”[11] của Hồ Chí Minh còn yếu, dẫn đến nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng chưa đầy đủ nên chưa quan tâm đúng mức, đúng tầm đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, thậm chí còn cản trở việc kiểm tra hoặc không chịu trách nhiệm khi kiểm tra. Bên cạnh đó, việc xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

Thực tiễn cho thấy, việc nhận thức, quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kiểm soát, kỷ luật đảng có thể rút ra ba kinh nghiệm quý báu là: 

Thứ nhất, phải có trình độ nhận thức lý luận và năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn;

Thứ hai, phải có phương pháp đúng đắn, sáng tạo khi làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh;

Thứ ba, phải đề cao trách nhiệm cá nhân và tổ chức, nhất là trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu. Có bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm. Có ý thức chính trị và đạo đức trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là ý thức xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân.

Có thể khái quát về việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng hiện nay là: 

Xuất phát từ thực tế của Đảng, của đất nước và quốc tế ngày nay để chủ động học tập, nhận thức lại, bổ sung, phát triển và thực hành một cách sáng tạo “tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” và những chân lý phổ biến của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật đảng nhằm tổng kết thực tiễn và tiếp tục xây dựng lý luận công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong bối cảnh mới.

Theo đó, có thể tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, các cấp uỷ, tổ chức đảng và UBKT các cấp cần nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng nhằm nắm vững và hiểu được những nội dung cốt lõi và phương pháp luận cơ bản. Trong đó, cần chú ý:

- Nắm tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng là nắm lập trường, quan điểm, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng.

- Hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng không phải là giáo điều, “kinh viện”, nhớ thật nhiều sách, thuộc nhiều câu của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng để trích dẫn “loè thiên hạ”, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đang đặt ra đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong bối cảnh mới hiện nay. Lập trường của Hồ Chí Minh là lập trường cách mạng triệt để, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Quan điểm của Hồ Chí Minh là quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật. Phương pháp của Hồ Chí Minh là phương pháp biện chứng. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống những tư tưởng khoa học, cách mạng làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, trong đó có công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đó không phải là những công thức, khuôn mẫu bất di, bất dịch, giáo điều, trong quá trình nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển cần đặc biệt quan tâm, chú ý làm rõ một số vấn đề sau:

a) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trước kia đã đúng, bây giờ vẫn đúng và về lâu dài sau này vẫn đúng.

b) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trước kia đúng, nhưng điều kiện thực tiễn hiện nay đã thay đổi, không còn phù hợp, cần bổ sung, phát triển hoặc thay đổi.

c) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng mà ngay lúc sinh thời, Hồ Chí Minh đã nhận thấy không thuyết phục, không có tính khả thi, hoặc đã thừa nhận là sai và đã sửa đổi nhưng những người nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, học tập, cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn vẫn chưa biết đến, biết hết.

d) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng mà những người nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, học tập, cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn đã hiểu không đầy đủ, hoặc hiểu sai, hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng.

Đó thực sự là những vấn đề lớn, không thể nóng vội làm ngay, cần dày công, kiên trì, quyết tâm nghiên cứu mới dần dần sáng tỏ được; đồng thời phải từ thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước mới có thể đi đến những kết luận đúng đắn được.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng tăng tính cập nhật, tính thiết thực, tính hấp dẫn, tính chiến đấu, tính giáo dục, tính dẫn đường của lý luận, không bằng lòng với những kết luận có sẵn, không lặp lại đi, lặp lại những câu chữ, những mệnh đề của tư tưởng Hồ Chí Minh khi chưa hiểu thấu đáo quan điểm của Người, chống quy kết, chụp mũ, giáo điều, xét lại.

Ba là, các ban của cấp uỷ, UBKT các cấp phải nêu cao vai trò tham mưu, giúp cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức vận dụng đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng vào hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp mình.

Bốn là, chủ thể và đối tượng kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần quán triệt sâu sắc, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Năm là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Sáu là, xây dựng tổ chức bộ máy kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.

Bảy là, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận và tống kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Mở rộng và tăng cường đối thoại với các đảng cầm quyền ở các nước về công tác kiểm tra, giám sát. Phải bồi dưỡng cho được một đội ngũ cán bộ lý luận chính trị chuyên sâu, có trình độ cao, ngang tầm nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới để giúp Đảng trong việc xây dựng lý thuyết về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong bối cảnh mới.

Cảnh báo các thủ đoạn của tội phạm "tín dụng đen"

 

Cụ thể, các đối tượng tội phạm sử dụng phương thức truyền thống nhưng tinh vi hơn như: Quảng cáo qua tờ rơi (dán trên cột điện, ngã tư, tường nhà); thủ tục cho vay đơn giản không yêu cầu cung cấp giấy tờ tùy thân, không viết giấy vay nợ, chỉ yêu cầu cung cấp hình ảnh cá nhân, số điện thoại của người thân. Một số đối tượng khác hoạt động cá nhân cho vay thông qua quan hệ quen biết...; lãi suất cho vay lớn (khoảng 3.000-10.000 đồng/1 triệu/ngày, tương đương 109%-365%/năm). Nếu khách hàng không trả tiền theo đúng hạn, các đối tượng sẽ giới thiệu khách hàng sang vay tiền của người khác để lấy khoản tiền đó trả cho đối tượng. Hoặc các đối tượng sẽ thường xuyên gọi điện thoại cho khách hàng, người thân, đồng nghiệp đe dọa gây sức ép buộc phải trả tiền.

Ngoài ra, các đối tượng cho vay lãi nặng lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để hành nghề như sử dụng phần mềm cho vay trực tuyến, ứng dụng di động (app) hay các website quảng cáo, hội nhóm trên mạng... với lãi suất vay dưới 20%/năm, nhưng sau khi "con nợ" mắc bẫy thì tính phát sinh phí quản lý vay, phí hồ sơ, "lãi mẹ đẻ lãi con", lãi chồng lãi và nhiều khoản phí khác buộc người vay gánh lãi suất cao.

Cùng với đó, các đối tượng sử dụng thủ đoạn tinh vi, biến tướng nguy hiểm của "tín dụng đen" là lập các hợp đồng " giả cách" với người vay tín chấp, thế chấp. Người vay cần vay số tiền lớn trong thời gian ngắn để sử dụng và chấp nhận trả lãi suất cao đến khi mất khả năng chi trả sẽ bị buộc chuyển quyền sở hữu tài sản đã thế chấp cho các đối tượng cho vay.

Gắn liền với thủ đoạn trên là thủ đoạn "mua bán nợ". Chủ nợ lập hợp đồng với công ty "mua bán nợ" (một hình thức biến tướng của công ty đòi nợ thuê) liên hệ người vay cố tình chây ỳ không trả nợ thì sử dụng các thủ đoạn quấy rối, khủng bố (tạt sơn, tạt chất bẩn, nước thải, mắm tôm..) để đòi nợ theo hợp đồng.

Để không bị mắc bẫy tín dụng đen, Công an thành phố Hà Nội khuyến cáo, người dân không cung cấp thông tin, hình ảnh, dữ liệu cá nhân lên các trang mạng như: Facebook, Zalo..., cũng như không tham gia vay mượn tiền qua các app điện thoại phổ biến hiện nay.

Người dân không tham gia vào các hoạt động "tín dụng đen", cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự; khi phát hiện trên địa bàn mình cư trú có các đối tượng hoạt động "tín dụng đen" thì kịp thời tố giác với cơ quan Công an các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là các công ty luật núp bóng đòi nợ, cưỡng đoạt tài sản, cửa hàng cầm đồ, kinh doanh tài chính có biểu hiện hoạt động "tín dụng đen", đối tượng nghi vấn liên quan đến hành vi đòi nợ thuê, đổ chất bẩn, chất thải...

Trong trường hợp người thân có vay nợ của các đối tượng "tín dụng đen", khi bị các đối tương gọi điên thoại cho những người thân trong gia đình "khủng bố" đòi nợ thì phải bình tĩnh xử lý, giải thích ngắn gọn về việc không quen biết người vay hoặc không có trách nhiệm với khoản nợ mà các đối tượng đề cập.

Đồng thời, hỏi rõ thông tin đơn vị đòi nợ, nhắc nợ và yêu cầu cung cấp các chứng từ, hợp đồng, thông tin về việc vay nợ của mình. Nên ghi âm cuộc gọi, lưu tin nhắn để làm bằng chứng; thông báo, hướng dẫn cách xử lý cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp của mình khi bị các đối tượng đòi nợ gọi điện, nhắn tin làm phiền với nội dung như trên; sử dụng tính năng có sẵn trên điện thoại để chặn các cuộc gọi, tin nhắn làm phiền của các đối tượng đòi nợ.

Đối với các trang Facebook cá nhân, có thể khóa các bình luận của người lạ. Nếu tình trạng bị làm phiền kéo dài, thậm chí đến mức bị "khủng bố" điện thoại, người dân có thể trình báo đến cơ quan Công an nơi gần nhất để có biện pháp xử lý kịp thời. Tuyệt đối không cung cấp các thông tin của bản thân cho các đối tượng gọi điện đòi nợ, như: Thông tin về giấy tờ tùy thân, quan hệ gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, nơi làm việc, sinh sống...

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh - phương thức tối ưu để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

TS BÙI ĐÌNH TIỆP
Đại tá, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
17:39, ngày 23-05-2024

TCCS - Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là yêu cầu khách quan, chủ trương chiến lược, nhất quán của Đảng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương trên còn là phương thức tối ưu để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

1- Thực tiễn đã cho thấy, dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn mong muốn, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập. Tuy nhiên, xuyên suốt lịch sử của dân tộc, các thế lực ngoại bang luôn tìm mọi cách để thôn tính, xâm lăng, chống phá nước ta. Vì vậy, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh để làm cho “quốc phú - binh cường”; chú trọng giữ vững ổn định ở bên trong và tiến hành bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng để giữ cho “nội yên - ngoại tĩnh” đã trở thành ý thức thường trực, kinh nghiệm quý báu trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Kế thừa, phát huy truyền thống, kinh nghiệm quý báu của dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và luôn quan tâm, chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bộ đội Biên phòng giúp dân vươn khơi bám biển quê hương (ảnh: Dương Xuân Bình)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Sau cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nước ta vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách nặng nề; khi đó, Đại hội IV của Đảng (năm 1976) chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách cần phải tập trung giải quyết là: “Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với việc xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược. Phải kết hợp chặt chẽ nghĩa vụ lao động với nghĩa vụ quân sự để vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế, vừa bảo đảm củng cố quốc phòng một cách vững chắc”(1).

Tuy nhiên, trong khi tình hình kinh tế - xã hội đang khó khăn chồng chất chưa được tháo gỡ, thì ngay sau đó, nước ta lại phải tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược để bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, Đại hội V của Đảng (năm 1982) đã chỉ rõ: Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, “phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện và hiện đại... Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Đó là những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc bảo vệ Tổ quốc”(2). Chính tinh thần cảnh giác, chủ động và sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tạo nên sức mạnh to lớn để chúng ta vượt qua thử thách ngặt nghèo, đánh bại mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, tư duy mới của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng từng bước được hình thành, bổ sung và phát triển. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định: “Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, kiên trì chấp hành và cụ thể hoá đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3).

Tuy nhiên, khi đất nước ta vừa bắt tay vào công cuộc đổi mới, thì các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng dẫn đến sụp đổ...; lúc này, vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã nhấn mạnh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”(4).

Đặc biệt, tháng 7-2003, Hội nghị Trung ương 8 khóa IX ban hành “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó chỉ rõ: Chúng ta kiên định lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước. Do đó, “sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước, trước hết là tiềm lực về chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế; tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân mà mấu chốt là thế trận lòng dân; đẩy mạnh giáo dục quốc phòng; phát triển phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống”(5).

Như vậy, tư duy của Đảng về quân sự, quốc phòng đã có bước phát triển rất quan trọng, đó là “từ tư duy quân sự là chủ yếu sang tư duy về quốc phòng là cơ bản” nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột và xem đây là lợi ích cao nhất của đất nước.

Tháng 10-2013, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và dự báo những nhân tố tác động mới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trong đó, xác định củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phải tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Đặc biệt, ngày 16-4-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chiến lược quốc phòng Việt Nam”. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nền quốc phòng vững mạnh để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Về nguyên tắc xây dựng nền quốc phòng, Đảng ta khẳng định: Thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Những nguyên tắc trên thể hiện rõ mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam, đồng thời cho thấy mong muốn, thiện chí của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Trên cơ sở đó, phương châm chỉ đạo được xác định là: Thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến; kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, sự biến động phức tạp của tình hình, sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng. Kiên định phương châm “người trước, súng sau”, lấy con người là trung tâm, trọng tâm trong công tác quốc phòng. Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì kết hợp vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở nắm vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn bớt thù, giữ cân bằng chiến lược với các nước lớn và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước và các tổ chức quốc tế, không để nước ngoài lợi dụng hoặc thỏa hiệp với nhau làm phương hại tới độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Về phương thức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Chiến lược quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn diện, bảo vệ vững chắc hòa bình, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà không phải tiến hành chiến tranh; tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các loại hình tổ chức kinh tế - xã hội và từng vùng, miền. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững trên cả nước, mạnh ở trọng điểm. Thời bình thực hiện sự nghiệp quốc phòng là “của dân, do dân, vì dân”; quốc phòng thời chiến phải “bám trụ, bám dân” để chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Chuẩn bị sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.

Đến Đại hội XIII của Đảng, Đảng chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với phương hướng: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(6). Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại...

Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (tháng 10-2023) tiếp tục ban hành Nghị quyết số 44-NQ/TW, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó xác định: Phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; “… dựa vào dân, lấy “dân là gốc”, khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, lấy “yên dân” là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(7). Đồng thời, tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Cùng với tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và đấu tranh quốc phòng. Năm 2019, trong lần thứ tư công bố Sách trắng quốc phòng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8). Đồng thời, “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược”(9). Đặc biệt, “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”(10).

Về đấu tranh quốc phòng, Việt Nam chủ trương phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng, cả phi vũ trang và vũ trang; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa; không để nước ngoài lợi dụng, thỏa hiệp với nhau hoặc với các thế lực thù địch làm phương hại đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; xử trí linh hoạt, hiệu quả từng tình huống. Điều này cho thấy, mong muốn, thiện chí và lập trường kiên định trước sau như một của Việt Nam trong đối ngoại và đấu tranh quốc phòng là vì một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển, không có xung đột, chiến tranh.

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và trước yêu cầu của thời kỳ mới, ngày 28-4-2023, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Kết luận số 53-KL/TW, về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, trong đó xác định rõ: Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm góp phần tăng cường tiềm lực, khả năng tự lực, tự cường về quân sự, quốc phòng, nâng cao sức mạnh quốc phòng và sức mạnh tổng hợp của đất nước để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại quốc phòng trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước; nâng cao vị thế, vai trò, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

2- Như vậy, trong thời kỳ mới, tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc nói chung, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng có bước phát triển quan trọng và ngày càng hoàn thiện, với phương châm cốt lõi là làm cho đất nước không phải tiến hành chiến tranh mới là quốc phòng tối ưu và càng chuẩn bị tốt nhất cho sẵn sàng chiến tranh thì chiến tranh càng lùi xa. Do đó, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là “thế trận lòng dân” được củng cố ngày càng vững chắc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vẫn tồn tại những bất cập, hạn chế; trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, quyết liệt và toàn diện hơn. Vì vậy, để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.

Đây là nội dung quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, toàn diện. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân thấm nhuần sâu sắc truyền thống đánh giặc, giữ nước kiên cường, anh dũng của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; thấy rõ được giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng, từ đó, phát huy ý thức, trách nhiệm, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững quan điểm về đối tác, đối tượng; biết nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...; nâng cao cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá ngay từ địa phương, cơ sở, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú cùng nhân dân trên địa bàn tuần tra, bảo vệ đường biên, cột mốc_Ảnh: TTXVN

Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hiện nay, do tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng nên sự ảnh hưởng, phụ thuộc và thâm nhập lẫn nhau giữa hoạt động quân sự, quốc phòng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ngày càng gia tăng. Vì vậy, sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang, mà phải thấm sâu và trở thành ý thức thường trực, hành động cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân và trong tất cả các hoạt động, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, phải không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách về xây dựng nền quốc phòng toàn dân; hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; tạo cơ chế để huy động tốt nhất sự đóng góp của các cấp, các ngành, của mọi tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sức ép “chọn bên” ngày càng gay gắt hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền quốc phòng theo hướng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, lấy sức mạnh nội lực là chính; đồng thời, mở rộng hợp tác quốc phòng, tranh thủ có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng nền quốc phòng ngày càng toàn diện, hiện đại cả về lực lượng, thế trận, vũ khí trang bị, khoa học và nghệ thuật quân sự, bảo đảm có đủ tiềm lực, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Ba là, chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Thực tiễn lịch sử của đất nước ta cho thấy, khi nào lòng dân thuận thì thế nước mạnh, lòng dân ly tán thì thế nước yếu. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch hiện nay, thì vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân càng có ý nghĩa quan trọng. Do đó, phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn... Thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo, khoảng cách giữa các vùng, miền; thực hiện tiến bộ, công bằng và bảo đảm an sinh xã hội, làm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đặc biệt, phải luôn coi trọng giữ gìn, bồi đắp mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; thực sự trọng dân, gần dân, sát dân, tin dân, hiểu dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm, chăm lo đến lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xử lý triệt để những vấn đề gây bất bình, bức xúc trong nhân dân. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, thực hiện có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; động viên toàn dân tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc ở tất cả các cấp, các địa bàn, biên giới, biển, đảo và trên các môi trường (trên bộ, trên không, trên biển, không gian mạng), sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng thời bình và chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Bốn là, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

Lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có cơ cấu, tổ chức hợp lý, tinh, gọn, cơ động, có sức chiến đấu cao, có vũ khí, trang bị hiện đại; nâng cao khả năng phòng thủ tác chiến tầm cao, tầm xa, khả năng kiểm soát vùng trời, vùng biển, đảo xa bờ, tác chiến ban đêm, sẵn sàng đánh thắng trong các tình huống xung đột và chiến tranh. Cùng với đó, chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao; đồng thời, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa quân đội với công an và dân quân tự vệ tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, toàn diện các chủ trương, giải pháp để làm cho đất nước mạnh lên về mọi mặt; trong đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh chính là phương thức tối ưu, hiệu quả nhất để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa./.