Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

“Nay chúng ta cũng già trẻ một lòng, trường kỳ kháng chiến, chúng ta nhất định sẽ đánh tan giặc Pháp”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi đội lão du kích, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, ngày 5 tháng 5 năm 1948. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đang trên đà thắng lợi với các chiến thắng Việt Bắc, Thu Đông năm 1947 và đang chuẩn bị mọi điều kiện để chuẩn bị cho tổng phản công. Bác khẳng định: “Tổ tiên ta đời Trần, vì già trẻ một lòng trường kỳ kháng chiến, mà đánh tan giặc Nguyên. Nay chúng ta cũng già trẻ một lòng, trường kỳ kháng chiến, chúng ta nhất định sẽ đánh tan giặc Pháp”. Lời dạy của Bác đã cổ vũ, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, không phân biệt nam hay nữ, già hay trẻ đều một lòng, một dạ quyết tâm trường kỳ kháng chiến đánh thắng thực dân Pháp xâm lược giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, thực hiện lời Bác dạy, quân và dân ta đã luôn đoàn kết, tin tưởng, kiên định với đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, uy tín và vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao trên trường quốc tế.

Vinh dự, tự hào được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, Quân đội ta luôn trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản, rèn luyện ý chí chiến đấu, đoàn kết một lòng, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong giai đoạn hiện nay, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy truyền “quyết chiến, quyết thắng”, toàn quân tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, đề cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Tích cực tham gia vận động, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sưu tầm

“Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”.

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập năm 1950.

Trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng chế độ xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác huấn luyện và học tập. Từ việc xác định mục đích của việc học tập, Người đề ra yêu cầu, địa chỉ rõ ràng để mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên phấn đấu học tập, rèn luyện thường xuyên, hướng tới mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Lời dạy của Người có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, xác định rõ tầm quan trọng của việc học tập, nhất là học ở nhân dân, đó là môi trường học tập rộng lớn nhất, toàn diện nhất và hiệu quả nhất. Nhân dân không chỉ là đối tượng lãnh đạo, mà còn là người thầy lớn, giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên tiếp cận những kiến thức bổ ích, thiết thực trên mọi phương diện công tác và trong cuộc sống, vì “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, khi mọi tri thức đều có thể được số hóa, được cập nhật qua các phương tiện truyền thông hiện đại một cách nhanh chóng, phong phú, đa dạng, thì lời Bác dạy vẫn còn nguyên giá trị đối với việc học tập, nhất là học ở nhân dân. Trong xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, những ý kiến và trí tuệ của nhân dân luôn được Đảng, Nhà nước ta coi trọng, gợi mở ra nhiều điều mới mẻ, sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề quan trọng của đất nước, trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân ủng hộ, dân giúp đỡ”.

Quân đội nhân dân Việt Nam, một đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, càng thấm nhuần hơn nữa lời dạy của Người trong nhiệm vụ học tập, nâng cao trình độ tư duy lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, làm chủ vũ khí, phương tiện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân càng phải gần gũi nhân dân, giúp đỡ nhân dân, dựa vào nhân dân và học hỏi nhân dân, để xứng đáng với tình cảm, sự quý trọng của nhân dân giành cho “Bộ đội Cụ Hồ”.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn gương mẫu đi đầu trong tự học, tự rèn, học tập suốt đời; gần gũi với cấp dưới, với bộ đội, khiêm tốn, chân thành học hỏi cấp dưới, học hỏi nhân dân, nhất là những điều còn thiếu; thật sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết, xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Sưu tầm

“Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội năm 1969.

Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang huy động cao nhất mọi nguồn lực, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo Bác, có quyết tâm cao mới có hành động dũng cảm, có phương pháp tốt mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ; quyết tâm một, biện pháp phải 10 mới đi đến thành công. Vì vậy, Người nhắc nhở cán bộ quân đội trước hết phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn, phải học tập để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao trình độ về mọi mặt, làm cho ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Đây là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ quân đội phải luôn triệt để chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích hơn nữa trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, lời dạy của Người về lòng quyết tâm và ý thức trách nhiệm của cán bộ quân đội càng có ý nghĩa và giá trị nhân văn sâu sắc. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội luôn phát huy tốt tính tiền phong, gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Cán bộ luôn gần gũi bộ đội, quan tâm xây dựng động cơ, quyết tâm cao cho bộ đội; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Sưu tầm

“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Đây là những điều căn dặn hệ trọng, Bác Hồ viết bổ sung lần cuối trong bản “Di chúc” của Người, được đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam công bố tại Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1969.

Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng. Đó không chỉ là lực lượng trực tiếp gánh vác và giải quyết những nhiệm vụ hiện tại, mà còn là đội ngũ kế cận, nguồn bổ sung năng lực để kế thừa và tiếp tục phát triển sự nghiệp của những thế hệ đi trước.

Sự nghiệp cách mạng là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều nhiệm vụ, giai đoạn khác nhau, đòi hỏi sự hy sinh, cống hiến của nhiều thế hệ. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta luôn quan tâm giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ cách mạng cho đời sau, nhất là thế hệ trẻ; coi trọng giáo dục, rèn luyện toàn diện về mọi mặt, chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện để thế hệ trẻ nâng cao trình độ, ổn định cuộc sống, nghề nghiệp và tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Lời căn dặn về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau thể hiện sự sâu sắc trong tầm nhìn và tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ nhìn hiện tại mà còn hướng về tương lai; không chỉ dành tâm huyết cho sự nghiệp cách mạng trước mắt, mà còn chăm lo vun trồng cái gốc của sự nghiệp đó để nó trở nên vững bền. Luận điểm đó chứa đựng thế giới quan khoa học, cách mạng và biện chứng của một lãnh tụ cách mạng, phản ánh tầm nhìn xa, trông rộng của một nhà hiền triết, một nhà văn hóa lớn; đã trở thành một chân lý của cách mạng.

Thấm nhuần lời căn dặn của Người, cấp uỷ, tổ chức đảng, chính uỷ, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức và năng lực công tác tốt, tác phong làm việc khoa học; có số lượng và cơ cấu hợp lý, cân đối và đồng bộ; thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, bảo đảm kế thừa, liên tục vững chắc trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ… đã trực tiếp góp phần quan trọng vào kết quả lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Sưu tầm

“Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Không tham nhiều, không nhồi sọ. Dạy một cách thiết thực. Lý luận gắn chặt với thực hành”

“Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Không tham nhiều, không nhồi sọ. Dạy một cách thiết thực. Lý luận gắn chặt với thực hành”

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục chi bộ và cốt cán ở nông thôn, năm 1954.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc hơn 80 năm thực dân Pháp đô hộ và tiến hành việc cải cách ruộng đất. Do vậy, yêu cầu đặt ra phải sớm xây dựng những cán bộ cốt cán gương mẫu, nhất là ở nông thôn để làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đạt được nguyện vọng của quần chúng. Phương pháp giáo dục dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, lí luận gắn với thực hành của Người thực sự đem lại hiệu quả tích cực, không gây áp lực, mang đến sự hào hứng và nhu cầu học tập thiết thực cho người học, để hiểu biết thêm, nâng cao thêm trình độ, gắn lý thuyết đã học vào giải quyết các công việc do thực tiễn đặt ra. Lời Bác dạy, là những chỉ dẫn quan trọng về phương pháp trong giáo dục, huấn luyện cán bộ, coi trọng cán bộ cấp huyện, xã, góp phần không nhỏ vào việc đào tạo một đội ngũ cán bộ cốt cán, thạo việc, tư tưởng thông, lập trường vững, giải quyết tốt các công việc mà Đảng và Nhà nước giao phó và các vấn đề phát sinh từ thực tiến…

Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong giai đoạn đổi mới hiện nay, công tác giáo dục, nhất là giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên ở cơ sở, chi bộ, được cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, địa phương coi là công việc thường xuyên, gắn với chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ… đã có nhiều chuyển biến quan trọng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng.

Sưu tầm

“Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch”

Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngày 08 tháng 5 năm 1954 khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07 tháng 5 năm 1954 đã kết thúc hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp xâm lược đối với nước ta và cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới và trở thành chân lý của thời đại: “Một dân tộc dù nhỏ bé, nếu biết quyết tâm, đoàn kết chiến đấu và có một đường lối đúng thì có thể đánh bại được bất cứ tên đế quốc sừng sỏ nào”. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi thêm một trang sử oanh liệt trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, nối tiếp những thắng lợi trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, được ví như những chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX.

Ngay sau ngày vui lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong, đồng bào Tây Bắc; đồng thời căn dặn quân và dân ta chớ kiêu ngạo, khinh địch… thể hiện tầm nhìn và dự báo chiến lược của Bác đối với cách mạng nước ta. Khắc ghi lời Bác dạy, quân và dân ta luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không chủ quan, khinh địch, không tự kiêu, tự đại với những chiến công và thành tích, đã viết tiếp vào trang sử vàng dân tộc một chiến thắng vĩ đại trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, thu giang sơn về một mối, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

Ngày nay, hòa bình, hữu nghị, hợp tác là xu thế chủ đạo, song tình hình thế giới, khu vực vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định, đất nước ta đứng trước thời cơ và thách thức mới. Thấm nhuần lời căn dặn của Bác năm xưa cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn chủ động quán triệt nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, nhất là đường lối quân sự, quốc phòng, đề cao cảnh giác, nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ và khả năng chiến đấu, làm chủ các loại vũ khí trang bị, chủ động phát hiện và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh, trật tự, tạo môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước.

Sưu tầm

“Lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động”

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ II, năm 1958.

Lời dạy của Người đối với sinh viên Việt Nam diễn ra trong bối cảnh miền Bắc đang thực hiện Kế hoạch 3 năm lần thứ hai (1958- 1960). Cùng với các lĩnh vực khác, trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, cũng có những vấn đề mới trong thực tiễn đặt ra, đòi hỏi phải kịp thời chấn chỉnh, định hướng; Bác đã chỉ rõ: “Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không thực hành thì cũng là tri thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”. Lời dạy của Người chỉ ra phương châm giáo dục đào tạo bao hàm cả lý luận và thực tiễn, lý thuyết với thực hành, Người xác định lao động là quyền, là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc. Ai cũng phải tùy khả năng của mình mà tự nguyện, tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà. Mỗi người phải nhận rõ: Lao động là vinh quang, lao động chân tay hay lao động trí óc đều là vẻ vang, đáng quý. Do vậy, học tập phải kết hợp với lao động, sản xuất…

Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện, đào tạo trong quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc với việc ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác huấn luyện, công tác giáo dục đào tạo và được cụ thể hóa thành 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện; trong đó, xác định lý luận liên hệ với thực tiễn, lý thuyết đi đôi với thực hành, lấy thực hành làm chính. Kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện, kiểm tra và diễn tập các cấp có bắn đạn thật để không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết quả công tác huấn luyện, đào tạo được xác định là một tiêu chí quan trọng, là thước đo để đánh giá năng lực lãnh đạo, chỉ huy của cấp ủy, chỉ huy các cấp. Bên cạnh việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, quân đội luôn coi trọng và tiến hành có hiệu quả chức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong tình hình mới.

Sưu tầm

“Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập năm 1950.

Trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng chế độ xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác huấn luyện và học tập. Từ việc xác định mục đích của việc học tập, Người đề ra yêu cầu, địa chỉ rõ ràng để mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên phấn đấu học tập, rèn luyện thường xuyên, hướng tới mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Lời dạy của Người có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, xác định rõ tầm quan trọng của việc học tập, nhất là học ở nhân dân, đó là môi trường học tập rộng lớn nhất, toàn diện nhất và hiệu quả nhất. Nhân dân không chỉ là đối tượng lãnh đạo, mà còn là người thầy lớn, giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên tiếp cận những kiến thức bổ ích, thiết thực trên mọi phương diện công tác và trong cuộc sống, vì “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, khi mọi tri thức đều có thể được số hóa, được cập nhật qua các phương tiện truyền thông hiện đại một cách nhanh chóng, phong phú, đa dạng, thì lời Bác dạy vẫn còn nguyên giá trị đối với việc học tập, nhất là học ở nhân dân. Trong xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, những ý kiến và trí tuệ của nhân dân luôn được Đảng, Nhà nước ta coi trọng, gợi mở ra nhiều điều mới mẻ, sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề quan trọng của đất nước, trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân ủng hộ, dân giúp đỡ”.

Quân đội nhân dân Việt Nam, một đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, càng thấm nhuần hơn nữa lời dạy của Người trong nhiệm vụ học tập, nâng cao trình độ tư duy lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, làm chủ vũ khí, phương tiện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân càng phải gần gũi nhân dân, giúp đỡ nhân dân, dựa vào nhân dân và học hỏi nhân dân, để xứng đáng với tình cảm, sự quý trọng của nhân dân giành cho “Bộ đội Cụ Hồ”.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn gương mẫu đi đầu trong tự học, tự rèn, học tập suốt đời; gần gũi với cấp dưới, với bộ đội, khiêm tốn, chân thành học hỏi cấp dưới, học hỏi nhân dân, nhất là những điều còn thiếu; thật sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết, xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Sưu tầm

“Nay chúng ta cũng già trẻ một lòng, trường kỳ kháng chiến, chúng ta nhất định sẽ đánh tan giặc Pháp”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi đội lão du kích, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, ngày 5 tháng 5 năm 1948. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đang trên đà thắng lợi với các chiến thắng Việt Bắc, Thu Đông năm 1947 và đang chuẩn bị mọi điều kiện để chuẩn bị cho tổng phản công. Bác khẳng định: “Tổ tiên ta đời Trần, vì già trẻ một lòng trường kỳ kháng chiến, mà đánh tan giặc Nguyên. Nay chúng ta cũng già trẻ một lòng, trường kỳ kháng chiến, chúng ta nhất định sẽ đánh tan giặc Pháp”. Lời dạy của Bác đã cổ vũ, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, không phân biệt nam hay nữ, già hay trẻ đều một lòng, một dạ quyết tâm trường kỳ kháng chiến đánh thắng thực dân Pháp xâm lược giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, thực hiện lời Bác dạy, quân và dân ta đã luôn đoàn kết, tin tưởng, kiên định với đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, uy tín và vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao trên trường quốc tế.

Vinh dự, tự hào được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, Quân đội ta luôn trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản, rèn luyện ý chí chiến đấu, đoàn kết một lòng, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong giai đoạn hiện nay, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy truyền “quyết chiến, quyết thắng”, toàn quân tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, đề cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Tích cực tham gia vận động, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sưu tầm

Tình yêu và lòng biết ơn vô hạn.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn.

Bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện mối quan hệ “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đều là sai lầm, mục đích chính cũng là phủ nhận, tách rời nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, trong suốt quá trình đổi mới, các văn kiện, nghị quyết của Đảng đều khẳng định vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và trong quá trình đổi mới nói riêng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng rút ra bài học số một sau 15 năm đổi mới là: Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó văn kiện khẳng định vị trí quan trọng của Cương lĩnh năm 1991: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh, một trong những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Điều này chứng tỏ luận điệu của các thế lực phản động cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập và tách rời với Chủ nghĩa Mác-Lênin”… chỉ là một sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối.

“Công trạng của cá nhân chủ yếu là nhờ tập thể mà có. Vì vậy người có công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn”

Là lời căn dặn của Chủ tịch trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các tổng cục vào tháng 5 năm 1957.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc rèn luyện đội ngũ cán bộ của Đảng nói chung, cán bộ quân đội nói riêng về “đức” và “tài”; trong đó, Bác luôn lấy “đức” làm gốc và đề cao đức tính khiêm tốn. Bởi khiêm tốn là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người. Người khiêm tốn luôn là người biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công, thành tích của cá nhân, cũng không bao giờ chấp nhận một tinh thần chủ bại mang nhiều mặc cảm của cuộc đời đối với mọi người. Khiêm tốn sẽ giúp mỗi người có được sự tỉnh táo, để nhận thức chân lý một cách đúng đắn, khách quan; đồng thời nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của mọi người. Khiêm tốn luôn là một đức tính tốt mà mỗi người cần trau dồi, rèn luyện, đặc biệt đối với người cán bộ, đảng viên, những người lập được thành tích, công trạng lớn.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn đề cao và thực hành đức tính khiêm tốn trong sinh hoạt, học tập, công tác và chiến đấu, trở thành một nét đẹp văn hóa ẩn sâu trong nhân cách người quân nhân cách mạng, trở thành lời thề danh dự “… thắng không kiêu, bại không nản” được nhân dân luôn tin tưởng, yêu mến, dành tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” cán bộ, chiến sĩ toàn quân nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thi đua “rèn đức, luyện tài”, tích cực “tự soi, tự sửa”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”, đoàn kết tốt, khiêm tốn, học hỏi, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đối với đội ngũ cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị học và làm theo Bác luôn gương mẫu, đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đề cao tính khiêm tốn, học hỏi, rèn luyện tác phong lãnh đạo, chỉ huy dân chủ, quần chúng, luôn tôn trọng và chân thành lắng nghe, tiếp thu sự phê bình từ cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tự kiêu, tự đại, độc tôn chân lý, cửa quyền, hách dịch, thờ ơ, vô cảm…

Sưu tầm

Phê phán quan điểm đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Thời gian gần đây lại rộ lên nhiều bài viết, video clip tán phát trên các trang báo nước ngoài bằng tiếng Việt, mạng xã hội… với luận điệu cho rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời” và đưa ra lời khuyên:
“Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ cần duy nhất tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng là đủ”, phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành Chủ nghĩa Hồ Chí Minh thông qua việc “tẩy sạch, làm sạch Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Luận điệu này nhằm xuyên tạc, chống phá, hòng đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Nhận diện, vạch trần thủ đoạn này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Xây dựng phong cách của cán bộ lãnh đạo theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách người cán bộ cách mạng 

Thứ nhất, phong cách dân chủ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Mỗi cán bộ, đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Người phê phán cách làm việc mệnh lệnh: “Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”. Khi bàn về “cách lãnh đạo”, Người luôn căn dặn cán bộ phải hết sức tránh căn bệnh quan liêu, xa dân, không biết tranh thủ ý kiến của dân, thiếu dân chủ trong tập thể: “Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh... Họ chỉ làm theo ý kiến họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn”. Người chỉ rõ cách khắc phục bệnh quan liêu, xa dân, thiếu tin tưởng dân là: “Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu nguyên nhân những nhược điểm của cán bộ ta là: “Vì nhiều lẽ. Mà trước hết là vì: cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực...”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thường xuyên nhắc nhở cán bộ phải rèn luyện cho được phong cách làm việc dân chủ, đó là khi đưa ra quyết định phải dựa trên tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, không được tự mình quyết theo ý chí chủ quan: “Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm”. Dân chủ không có nghĩa là dân chủ chung chung, mà phải sâu sát, tỉ mỉ, phải dựa trên ý kiến của tập thể: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc”.

Thứ hai, phong cách làm việc khoa học, gắn lý luận và thực tiễn.

Người cán bộ cách mạng phải có tác phong làm việc khoa học, thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa lý luận và thực tiễn. Phải học tập lý luận gắn liền với thực tế công việc; trình độ lý luận là nhận thức và hiểu biết những tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và những kinh nghiệm được đúc rút, khái quát. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta đi trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Theo quan điểm của Người, năng lực của mỗi cán bộ bao gồm cả trình độ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo trong quá trình xử lý giải quyết các tình huống thực tế. Đây là những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ.

Đồng thời, cái “tài” của cán bộ thể hiện ở khả năng lãnh đạo, khả năng thực hiện nhiệm vụ được giao, khả năng tổ chức quản lý cũng như nghệ thuật hướng dẫn hành động, thuyết phục, cảm hóa con người… Phong cách làm việc khoa học, gắn lý luận với thực tiễn là biểu hiện cao nhất và đòi hỏi cán bộ phải luôn thấm nhuần tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hết lòng phụng sự Đảng, Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Là “Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” và nguyện “Trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Nhân dân, với cách mạng, với Đảng”, là tiêu chuẩn số một của cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, phong cách quyết đoán, tự phê bình và phê bình, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thiết lập kỷ cương, kỷ luật. Để có được tinh thần đoàn kết, kỷ luật nghiêm thì cán bộ lãnh đạo phải tránh xa chủ nghĩa cá nhân, tính tự do, vô kỷ luật và luôn có ý thức đấu tranh “quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chấp hành và rèn luyện kỷ luật”. Người cho rằng, kỷ luật của Đảng phải chặt chẽ, nghiêm minh, là điều kiện quan trọng để đảm bảo Đảng thật sự là khối đoàn kết, thống nhất trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức. Bởi vì, kỷ luật của Đảng là kỷ luật của tình đồng chí, của người chung lý tưởng nhằm đảm bảo thống nhất, tập trung cao trong Đảng, đặt mục tiêu vì lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên hết, trước hết. Kỷ luật phải trở thành thói quen, phong cách sống hàng ngày của từng cán bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Trên dưới đều phải giữ kỷ luật. Phải kiểm thảo từ dưới lên, từ trên xuống. Cấp nào cũng phải kiểm thảo. Phải làm cho tất cả mọi người đội viên, cũng như cán bộ đều thấm nhuần, thì mới có kết quả”. Ngày 26/01/1946, Người ký ban hành Quốc lệnh quy định về 10 điểm thưởng, 10 điểm phạt. Quốc lệnh khẳng định, giữ vững kỷ cương, kỷ luật là vấn đề trọng đại, liên quan đến vận mệnh quốc gia, dân tộc: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân bao giờ cũng đi ngược lại với lợi ích của tập thể, của Đảng, phản lại quyền lợi của nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân dẫn dắt cán bộ đến chỗ tự cao, tự đại, tự cho mình những đặc quyền, đặc lợi, tự do vô kỷ luật từ đó sẽ đưa cán bộ đến chỗ bị tha hóa về đạo đức lối sống dẫn đến mất niềm tin ở Nhân dân. Cán bộ cách mạng phải nghiêm túc tự phê bình và phê bình, mục đích của tự phê bình và phê bình là tìm ra những ưu điểm mà quan trọng là tìm ra những nhược điểm đang từng ngày từng giờ đẻ ra “bệnh tật” nguy hiểm làm mất niềm tin ở nhân dân, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Đảng, làm suy yếu lòng tin của quần chúng nhân dân đối với cán bộ.

Thứ tư, phong cách làm việc tận tụy, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Cán bộ phải thực sự là công bộc của dân, có quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân được biểu hiện trong cách ứng xử, giao tiếp với dân, ở hành vi sinh hoạt hàng ngày của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, cán bộ cách mạng thì phải thực sự là người đầy tớ của Nhân dân, không màng danh lợi, không ham phú quý, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân, thực sự tôn trọng quyền làm chủ của Nhân dân. Cán bộ lãnh đạo phải là người thấu hiểu và nhạy cảm, có khả năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Người nói: “Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu… Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng. Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của Nhân dân, của những người “không quan trọng”. Đó là biểu hiện ở chính tâm và thân dân. Chính tâm là tấm lòng của người cán bộ trong sáng, chính trực. Muốn giáo dục người khác có lòng liêm chính thì trước hết cán bộ phải thực sự liêm chính: “Tự  mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn giúp người khác chính là vô lý”. Thân dân là gần gũi với dân, không cửa quyền, hách dịch, xa dân thể hiện ở tính thân thiện, cởi mở, quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, có thân thiện, cởi mở, quan hệ mật thiết với Nhân dân thì mới “thu phục nhân tâm, xây dựng lòng tin” của Nhân dân. Cán bộ muốn “thu phục nhân tâm, xây dựng lòng tin” ở Nhân dân thì điều quan trọng trước tiên là phải gương mẫu, mẫu mực cả về đạo đức, lối sống và tác phong công tác. Đồng thời, phải tăng cường giáo dục, thuyết phục để quần chúng nhân dân hiểu ra mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thấy rõ được cái đúng, cái sai, thấy được cái lợi trước mắt và cái lợi lâu dài nếu như họ theo Đảng, theo cách mạng, ủng hộ cách mạng. Để làm được điều đó, cán bộ phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” để ra lệnh, ra oai…: “Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản”. Cán bộ phải nắm vững quan điểm giai cấp, phải thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng, phải luôn luôn giữ gìn đạo đức, tác phong gần gũi với dân, luôn là “công bộc của dân”, tu dưỡng tính đảng, tích cực rèn luyện trong hoạt động thực tiễn.

Vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách của cán bộ lãnh đạo

Một là, xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ.

Cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng phải nhận thức đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, biết lắng nghe ý kiến của tập thể. Biểu hiện của phong cách lãnh đạo dân chủ là người lãnh đạo sử dụng quyền lực của mình, đồng thời tôn trọng, lắng nghe ý kiến cấp dưới, tạo điều kiện để cấp dưới tham gia vào việc chung, phát huy sáng kiến, khuyến khích cấp dưới đóng góp tài năng, sự tâm huyết vì công việc chung. Phong cách lãnh đạo dân chủ vừa có tính khoa học, vừa thể hiện phẩm chất đạo đức, nhân cách, năng lực và trình độ của người lãnh đạo.

Người lãnh đạo cung cấp đầy đủ thông tin giúp cho cấp dưới hiểu được mục đích, ý nghĩa của công việc chung. Người lãnh đạo thúc đẩy và phát huy tinh thần trách nhiệm, truyền cảm hứng sáng tạo cho cấp dưới, để họ phát huy sáng kiến; giúp cấp dưới thân thiện, trao đổi thông tin rộng rãi, là cách người lãnh đạo thu hút được các thành viên tham gia thảo luận ý kiến, xây dựng và cùng nhau lựa chọn các phương án quyết định vì mục đích chung đã đặt ra. Sử dụng phong cách lãnh đạo dân chủ cho phép người lãnh đạo khai thác sáng kiến chung của tập thể cấp dưới, từ đó cùng nhau tìm ra và lựa chọn phương án tối ưu nhất, có lợi nhất cho tập thể để đưa ra quyết định.

Hai là, xây dựng phong cách lãnh đạo khoa học.

Trong quá trình lãnh đạo, điều hành, người lãnh đạo thể hiện được mục đích, kế hoạch làm việc rõ ràng, đặt mục tiêu kế hoạch làm việc một cách sát hợp và có trọng tâm, trọng điểm. Khi xem xét để ra quyết định, người lãnh đạo bám sát thực tiễn, phải điều tra, nghiên cứu, phân tích toàn diện trên cơ sở việc gì cũng cần phân tích rõ ràng, thấu đáo, cẩn thận rồi mới ra quyết định và điều hành tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn để đem lại kết quả thiết thực nhất.

Phong cách lãnh đạo khoa học thể hiện tư duy khoa học và cách lãnh đạo điều hành hiệu quả ở người lãnh đạo trong giải quyết công việc dựa trên dữ liệu khách quan, trên nền tảng thực tế để lựa chọn phương án tối ưu nhất, khả thi và phương án ấy phải phù hợp với tầm nhìn chiến lược lâu dài của tổ chức chứ không phải vì cái lợi trước mắt mà làm tổn hại đến lợi ích to lớn, toàn cục. Đối với phong cách lãnh đạo khoa học là: người lãnh đạo giải quyết công việc khoa học, lấy lợi ích chung của đất nước và nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; quan tâm đến phát triển phát triển tầm nhìn, chiến lược toàn cục; khơi dậy niềm tự hào cống hiến, để cấp dưới thể hiện trách nhiệm và năng lực của mình; phân cấp, phân quyền cho cấp dưới chủ động và chịu trách nhiệm trước cấp trên và tập thể về kết quả công việc; giải quyết công việc dựa trên dữ liệu khách quan, trên nền tảng thực tế để lựa chọn phương án tối ưu nhất; coi trọng sự sáng tạo và đổi mới, lấy kết quả công việc đánh giá sự thành công của cấp dưới.

Ba là, xây dựng phong cách quyết đoán, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.

Người lãnh đạo nghiêm túc tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh, dám làm, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết, kiên trì, chủ động vượt qua khó khăn, thách thức. Biểu hiện của phong cách quyết đoán, giữ vững kỷ cương, kỷ luật là người lãnh đạo dám đương đầu với những áp lực khó và mới, không nản chí trước bất kỳ khó khăn, thách thức nào. Người lãnh đạo quyết liệt khi chỉ đạo, điều hành công việc; sử dụng quyền lực lãnh đạo linh hoạt; tinh thần trách nhiệm cao, quả cảm đối với công việc, bám sát đến cùng để đạt mục tiêu đã đề ra; dám chịu trách nhiệm đến cùng khi xử lý tình huống khó khăn, thách thức; quyết liệt trong phê bình và tự phê bình; thể hiện vai trò, trọng trách đối với nhiệm vụ được giao với tư cách là người đứng đầu; luôn nỗ lực hoàn thành trách nhiệm chung đem lại lợi ích lớn, biết hy sinh lợi ích cá nhân, gia đình; khích lệ, động viên cán bộ, đảng viên cống hiến hết mình vì mục tiêu đã đề ra; làm việc hăng say và bản thân dành nhiều thời gian cống hiến hết mình vì nhiệm vụ chung.

Bốn là, xây dựng phong cách làm việc tận tụy, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.

Người lãnh đạo phải giữ mối liên hệ mật thiết, sâu sát, gần gũi với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Biểu hiện của phong cách này là phải khách quan, minh bạch trong kiểm tra, giám sát các nhiệm vụ của tổ chức, biết dựa vào quần chúng nhân dân để giám sát, kiểm tra. Đối với phong cách lãnh đạo sâu sát, gần gũi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân: người lãnh đạo luôn tạo được bầu không khí tâm lý đoàn kết, dân chủ, gần gũi giữa các thành viên trong tập thể; trong tiếp xúc công việc luôn tạo cảm giác gần gũi, thân mật với cán bộ và người dân; sâu sát trong kiểm tra, giám sát mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên; thân thiện, gần gũi không tạo khoảng cách khi tiếp xúc với cấp dưới và được người dân tin tưởng, quý mến; xử lý công việc có lý, có tình theo nguyên tắc chung; khích lệ, động viên cán bộ, nhân viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; biết chia sẻ với khó khăn của cán bộ, nhân viên.

Học tập tốt những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng phong cách của cán bộ cách mạng chính là thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên cũng như nâng cao tính tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý thực sự là “công bộc” của dân để cống hiến, phát huy trí tuệ và tài năng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Sưu tầm

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Sang giai đoạn cách mạng mới, hiện nay bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của nước ta gặp cả những thuận lợi và khó khăn thử thách đan xen chịu sự chi phối tác động của nhiều nhân tố mới.

Trong bối cảnh tình hình thế giới hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, là nguyện vọng, đồng thời là mục đích của cộng đồng quốc tế. Cục diện thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn, các nước điều chỉnh chiến lược theo hướng đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Các nước lớn đang tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh lợi ích diễn biến phức tạp, vừa mang lại cơ hội, vừa đặt các nước khác, nhất là các nước nhỏ trước nhiều khó khăn, thách thức. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Bối cảnh mới của quốc gia - dân tộc hiện đại còn mở rộng thêm các lợi ích quốc gia - dân tộc, như: hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển, tự do lưu thông hàng hóa, tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do khai thác tài nguyên phù hợp với luật pháp quốc tế. Cũng như các quốc gia - dân tộc khác, Việt Nam còn chủ động và tích cực tham gia giải quyết những vấn đề chung của nhân loại, như chống chiến tranh, ứng phó với biến đổi khí hậu, dịch bệnh; các thách thức an ninh phi truyền thống (an ninh biển, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh tiền tệ, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố...) mà không một quốc gia nào tự mình đủ sức gánh vác. Cùng với đó thế giới đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe doạ bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Môi trường chính trị, kinh tế, an ninh thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang gia tăng, tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ tài nguyên, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng và các thách thức an ninh phi truyền thống diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực với nhiều đặc điểm mới.

Do điều kiện không gian sinh tồn ngày càng bị thu hẹp, việc mở rộng lợi ích quốc gia - dân tộc của nước này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích quốc gia - dân tộc của nước khác. Để giảm thiểu các mâu thuẫn, xung đột, lợi ích quốc gia - dân tộc cho phù hợp với luật pháp quốc tế, không quốc gia nào tự đặt ra lợi ích vượt ra ngoài quy định của luật pháp quốc tế mà đe dọa đến lợi ích của quốc gia khác và ảnh hưởng đến lợi ích của toàn nhân loại. 

Khu vực Đông Nam Á và Biển Đông đang trở thành nơi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam đang đặt ra nhiều thách thức lớn, việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và lợi ích chiến lược biển, đảo giữa các nước trong khu vực; cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung Quốc và can dự của các nước lớn khác; an toàn, tự do hàng hải và hàng không trong khu vực ngày càng phức tạp.

Ở trong nước, những bên cạnh thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới tạo ra thế và lực mới cho công cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những năm qua, Việt Nam vẫn còn gặp những khó khăn, thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc đó là: Kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. Trong công tác quản lý xã hội còn để xảy ra nhiều vụ cán bộ lãnh đạo có chức, có quyền suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, tham ô, tham nhũng, lãng phí gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Trong giai đoạn hiện nay, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc cao nhất của Việt Nam là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ gắn liền với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo hộ lợi ích chính đáng và hợp pháp của công dân cũng như doanh nghiệp Việt Nam trong nước và ở nước ngoài; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc...

Thực tiễn cho thấy, trên cơ sở nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, Việt Nam luôn nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà nước ta tham gia, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng, khu vực và quốc tế. Đồng thời, chủ động tích cực đề xuất sáng kiến xây dựng, định hình các thể chế đa phương trên nguyên tắc cùng có lợi, với phương châm chuyển mạnh từ “tham dự” sang “chủ động tham gia”; “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, nhất là trong quá trình xây dựng và định hình các quy tắc, cơ chế hợp tác và những luật lệ mới, củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới./.

.ankhe.28.

“Việc gì cũng phải có lãnh đạo thì mới thành công”

“Việc gì cũng phải có lãnh đạo thì mới thành công”.

 Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị đổi công toàn quốc năm 1955. Đây là thời kỳ phong trào tổ đổi công đang phát triển mạnh, rất cần  thiết có sự tổng kết, trao đổi kinh nghiệm giữa các các khu, tỉnh, huyện, xã, các tổ trưởng tổ đổi công trên toàn miền Bắc và một số địa phương ở miền Nam. Bác ghi nhận, đánh giá cao và khẳng định vai trò to lớn của công tác lãnh đạo, chỉ đạo nói chung, lãnh đạo, chỉ đạo phong trào tổ đổi công nói riêng, đồng thời, định hướng phương châm, nguyên tắc, phương pháp tổ chức của các tổ chức đảng, nhất là trong công tác lãnh đạo phong trào xây dựng tổ đổi công – bước đầu tiên đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa.

Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta đã không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trên thực tiễn và được hiến định vững chắc trong các bản Hiến pháp trước đây và trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013 “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội…”

Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn liền với sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam – đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là nguyên nhân và cũng là kết quả giúp cho Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo trước đây và đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trong trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại giai đoạn hiện nay. Mọi hoạt động quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật… trong quân đội đều được đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo, điều hành của người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp.

Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, chống phá quân đội với việc hô hào đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp năm 2013, cổ vũ cho việc “phi chính trị hóa quân đội”… đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc củng cố, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động của đơn vị, của bộ đội; cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu trước cấp dưới, trước bộ đội, để bộ đội học tập và noi theo.

Sưu tầm

Lời Bác dạy

     “Công trạng của cá nhân chủ yếu là nhờ tập thể mà có. Vì vậy người có công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn”.

    Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các tổng cục vào tháng 5 năm 1957.

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc rèn luyện đội ngũ cán bộ của Đảng nói chung, cán bộ quân đội nói riêng về “đức” và “tài”; trong đó, Bác luôn lấy “đức” làm gốc và đề cao đức tính khiêm tốn. Bởi khiêm tốn là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người. Người khiêm tốn luôn là người biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công, thành tích của cá nhân, cũng không bao giờ chấp nhận một tinh thần chủ bại mang nhiều mặc cảm của cuộc đời đối với mọi người. Khiêm tốn sẽ giúp mỗi người có được sự tỉnh táo, để nhận thức chân lý một cách đúng đắn, khách quan; đồng thời nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của mọi người. Khiêm tốn luôn là một đức tính tốt mà mỗi người cần trau dồi, rèn luyện, đặc biệt đối với người cán bộ, đảng viên, những người lập được thành tích, công trạng lớn.

    Học tập và làm theo lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn đề cao và thực hành đức tính khiêm tốn trong sinh hoạt, học tập, công tác và chiến đấu, trở thành một nét đẹp văn hóa ẩn sâu trong nhân cách người quân nhân cách mạng, trở thành lời thề danh dự “… thắng không kiêu, bại không nản” được nhân dân luôn tin tưởng, yêu mến, dành tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

    Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” cán bộ, chiến sĩ toàn quân nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thi đua “rèn đức, luyện tài”, tích cực “tự soi, tự sửa”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”, đoàn kết tốt, khiêm tốn, học hỏi, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đối với đội ngũ cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị học và làm theo Bác luôn gương mẫu, đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đề cao tính khiêm tốn, học hỏi, rèn luyện tác phong lãnh đạo, chỉ huy dân chủ, quần chúng, luôn tôn trọng và chân thành lắng nghe, tiếp thu sự phê bình từ cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tự kiêu, tự đại, độc tôn chân lý, cửa quyền, hách dịch, thờ ơ, vô cảm…

Sưu tầm

“Toàn dân đoàn kết muôn năm. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”

“Toàn dân đoàn kết muôn năm.

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”

Là lời kêu gọi đồng bào Cao Đài, Hòa Hảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đăng trên Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 917, ngày 03 tháng 5 năm 1948.

Trong bối cảnh một số đồng bào theo đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo bị thực dân Pháp và các giáo sĩ phản động mua chuộc, lôi kéo, bắt làm lính, chống lại cách mạng, đi ngược lại lợi ích và truyền thống tốt đẹp của dân tộc… sau khi được vận động, giáo dục đã thức tỉnh, quay súng trở về với cách mạng, với Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lời kêu gọi để kịp thời biểu dương những anh em đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo lầm đường theo địch, nay đã tỉnh ngộ; đồng thời, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân xâm lược.

Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn, chiến thắng giặc ngoại xâm và giành thắng lợi có ý nghĩa lịch trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng bào theo các tôn giáo đã đoàn kết cùng đồng bào cả nước thực hiện ước nguyện của Bác Hồ là xây dựng đất nước ta “Sánh vai với các cường quốc năm châu”. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận đều chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng đường hướng hành đạo riêng, phù hợp với  đạo lý của mình, như: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo; “Sống Phúc âm phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc” của Hội thánh Tin Lành; “Nước vinh, Đạo sáng” của Cao Đài… tất cả vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã luôn đoàn kết, gắn bó với nhau như ruột thịt, trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ nhau, lúc thường cũng như lúc ra trận; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, vùng miền… Đây chính là nhân tố có vị trí quan trọng bậc nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc xây dựng tinh thần đoàn kết gắn bó giữa cán bộ với chiến sĩ, đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo trong tình thương yêu đồng chí, đồng đội, thực hiện toàn quân một ý chí. Bên cạnh đó, quân đội còn luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, làm tốt công tác dân vận, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch tuyên truyền, chống phá chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước… góp phần quan trọng xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, yêu mến dành tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Sưu tầm

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch

Nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta kiên quyết đấu tranh với các tổ chức, cá nhân có hành vi lan truyền, tiếp tay, cổ súy những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ. Đồng thời, những biểu hiện thờ ơ, vô cảm, né tránh không dám đấu tranh với các quan điểm xấu, độc cũng cần được nhận diện và lên án vì những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam vì mục tiêu con người, tiến bộ xã hội sâu sắc

 KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam vì mục tiêu con người, tiến bộ xã hội sâu sắc

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là một nội dung trọng tâm, được khẳng định một cách nhất quán, xuyên suốt, rõ ràng về mặt lý luận và thực tiễn xây dựng, vận hành. Đây là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT có sự quản lý của nhà nước pháp quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của KTTT vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc cơ bản và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt là sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Phát triển KTTT định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt nam, là thành quả lý luận, thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.

Đảm bảo quyền con người, vì mục tiêu phát triển con người, tất cả vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong KTTT ở Việt Nam; gắn kinh tế với xã hội, đảm bảo sự phát triển của xã hội, vì mục tiêu phát triển con người. Điều đó thể hiện bản chất tốt đẹp, tính nhân văn của chế độ xã hội; thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “nền kinh tế, trong đó sự phát triển là thực sự vì con người chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người; cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”.

Mỗi chính sách kinh tế được xây dựng, thực hiện đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội, mỗi chính sách xã hội nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế.

Kinh tế thị trường Việt Nam vận hành đầy đủ, đồng bộ theo kinh tế thị trường

 Kinh tế thị trường Việt Nam vận hành đầy đủ, đồng bộ theo kinh tế thị trường

Thực tiễn quá trình đổi mới gần 40 năm qua cho thấy, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế. Đó là: Đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do sản xuất, kinh doanh, lưu thông những hàng hóa mà pháp luật không cấm, các chủ thể kinh tế cạnh tranh bình đẳng, hệ thống các loại thị trường phát triển ngày càng đồng bộ; vai trò của nhà nước về quản lý kinh tế đã được đổi mới, quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường.

Trong điều kiện đó, các quy luật của KTTT được vận hành đồng bộ. Những vấn đề cơ bản của KTTT như sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào, các chủ thể kinh tế cạnh tranh, tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa cơ bản do thị trường quyết định. Thị trường đóng vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất, phân phối, trao đổi, lưu thông, tiêu dùng, giá cả, tiền tệ, cung – cầu, điều tiết hoạt động của các chủ thể kinh tế, huy động và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế.

Các yếu tố bảo đảm định hướng XHCN của nền KTTT gắn với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phát triển nhanh, bền vững. Từ thực tiễn đó, tại phiên điều trần vừa qua, phía Việt Nam nêu rõ các lập luận, thông tin, số liệu khẳng định nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn đáp ứng tốt các tiêu chí của quy chế KTTT. Việc xem xét, công nhận Việt Nam là nền KTTT là yếu tố quan trọng tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn.

Đánh giá về nền KTTT Việt Nam, luật sư Eric Emerson từ Công ty luật Steptoe LLP có trụ sở tại Washington (Mỹ) khẳng định, Việt Nam đã đáp ứng đủ 6 tiêu chí mà Bộ Thương mại Mỹ sử dụng để công nhận một nền KTTT. Việt Nam đã chứng minh hiệu quả hoạt động của mình trên các yếu tố theo luật định tốt hoặc thường tốt hơn các nền kinh tế đã được áp dụng quy chế KTTT. Là chính khách, học giả có nhiều năm gắn bó với Việt Nam, cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius – Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ-ASEAN đánh giá: “Việt Nam đã là nền KTTT rồi. Việt Nam đáp ứng tốt các tiêu chí quan trọng như khả năng chuyển đổi của tiền tệ và sẵn sàng để được công nhận một cách chính xác. Doanh nghiệp Mỹ đầu tư mạnh tay vào Việt Nam vì nhận thấy tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế này”.

Trong quá trình đổi mới, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế hiện đại, cho tới nay, đã có 72 nước công nhận Việt Nam có nền KTTT, trong đó có các nền kinh tế lớn, hiện đại như Anh, Canada, Australia, Nhật Bản… Việt Nam tham gia 16 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và nhiều định chế kinh tế đa phương lớn như WTO, CTPPP… với hơn 60 đối tác trải rộng khắp toàn cầu.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

NGOẠI GIAO CÂY TRE CỦA VIỆT NAM


4 TRÁNH:

1. Tránh xung đột về quân sự

2. Tránh bị cô lập về kinh tế

3. Tránh bị cô lập về ngoại giáo

4. Tránh bị lệ thuộc về chính trị.

4 KHÔNG:

1. Không tham gia liên minh quân sự

2. Không liên kết với nước này để chống nước kia

3. Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác

4. Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

9K:

1. Kiên quyết

2. Kiên trì

3. Khôn khéo

4. Không khiêu khích

5. Kiềm chế

6. Không nổ súng trước

7. Không mắc mưu khiêu khích

8. Không để nước ngoài lấn chiếm biển đảo

9. Không để xảy ra xung đột.

4 GIỮ: 

1. Giữ vững chủ quyền quốc gia

2. Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển

3. Giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác

4. Giữ vững ổn định chính trị trong nước.

St

Khen thưởng 4 “Người hùng” đập tường cứu nạn nhân trong vụ cháy ở Trung Kính

 KHEN THƯỞNG 4 "NGƯỜI HÙNG" ĐẬP TƯỜNG CỨU NẠN NHÂN TRONG VỤ CHÁY Ở TRUNG KÍNH❤️


Yêu nước là một điều hiển nhiên, anh hùng là phản xạ tự nhiên không hề toan tính, sẵn sàng xông vào nơi nguy hiểm không màng đến tính mạng bản thân. 


Họ không bao giờ kịp suy nghĩ, kết quả có thể là họ sẽ phải ra đi mãi mãi, có thể họ sẽ cứu được mạng người khác. 


Yêu nước hay anh hùng đều xuất phát một cách hết sức tự nhiên, không bao giờ quan tâm đến sự được mất của bản thân.


Họ làm việc mà lương tâm mách bảo không hề nghĩ rằng họ được khen thưởng hay được nổi tiếng. Chỉ là người tốt việc tốt thì nó lan tỏa nhanh như tia chớp trong thời đại 4.0.

St