Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

Nâng cao tính đảng và phát huy vai trò của người đứng đầu trong xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

 

Nâng cao tính đảng và phát huy vai trò của người đứng đầu trong xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

TS NGUYỄN MẠNH THẮNG
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7
06:17, ngày 17-12-2023

TCCS - Trước yêu cầu, thách thức của thời kỳ đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Đảng là rất đúng đắn, đã làm thay đổi cơ bản về tổ chức, quản lý và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp, tạo động lực mới để phát triển; qua đó, quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh, đi vào thực chất hơn. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải nâng cao tính đảng và vai trò của người đứng đầu trong xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa với số lượng ngày càng tăng nhanh như hiện nay.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình sắp xếp, hoạt động và đổi mới doanh nghiệp

Thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp đa sở hữu, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm nguồn vốn khác trong xã hội để phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và xây dựng cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp nhà nước; bảo đảm hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; từng bước đổi mới thiết bị, công nghệ, máy móc hiện đại, mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng tích lũy và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động.

Tính từ năm 2011 đến nay, tổng số doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa là 631 doanh nghiệp(1), thu hút hàng trăm nghìn lao động, có đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề, đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ mới. Quản trị doanh nghiệp được cải thiện, cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch hơn. Thực tế nhiều năm qua, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã nỗ lực khơi dậy tiềm năng, nội lực, khám phá thị trường, thúc đẩy tinh thần dám nghĩ, dám làm và đổi mới các hình thức quản lý phù hợp với năng lực vốn có của mình. Sự hợp tác lành mạnh, hiệu quả giữa các loại hình doanh nghiệp đã làm tăng năng lực xã hội, cả về tri thức, khoa học - kỹ thuật, công nghệ và năng lực sáng tạo của đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật và người công nhân.

Các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được hình thành do tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nên đều được kế thừa tổ chức đảng (đảng bộ hoặc chi bộ) và các đoàn thể quần chúng từ doanh nghiệp nhà nước chuyển sang. Tuy nhiên, do có sự thay đổi về chế độ sở hữu và cơ chế quản lý, nên nhận thức của một số cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí của tổ chức đảng trong loại hình doanh nghiệp này còn chưa đúng mức; nội dung và phương thức hoạt động chậm được đổi mới, còn lúng túng, hiệu quả thấp.

Để phù hợp với cơ chế quản lý mới, nhiều đảng bộ, chi bộ cơ sở đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định phương thức lãnh đạo và mối quan hệ phối hợp giữa cấp ủy và hội đồng quản trị, ban giám đốc, bảo đảm đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp là hạt nhân chính trị, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên, người lao động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm vai trò lãnh đạo chính trị của tổ chức đảng, chức năng quản lý của hội đồng quản trị, sự chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành sản xuất, kinh doanh của tổng giám đốc (giám đốc).

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7 Nguyễn Mạnh Thắng phát huy trí tuệ của tập thể trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao_Ảnh: Tư liệu

Nhận rõ vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong nền kinh tế đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng trong loại hình doanh nghiệp này, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ và xây dựng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanh nghiệp khu vực tư nhân(2). Nhờ đó, trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, nhiều tổ chức đảng đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và các mối quan hệ công tác với hội đồng quản trị, ban giám đốc, từng bước khắc phục tình trạng buông lỏng lãnh đạo của tổ chức đảng trong doanh nghiệp; phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên và người lao động thực hiện hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ở những doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, hoạt động của tổ chức đảng chưa phát huy được hết vai trò lãnh đạo, nhất là ở những nơi mà chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc không tham gia cấp ủy hoặc không phải là đảng viên.

Do đó, nhiều vấn đề đang đặt ra và cần có giải pháp, như cần phát huy vai trò lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ cơ sở như thế nào; thực hiện mối quan hệ giữa cấp ủy với đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc để bảo đảm thực chất, hiệu quả đối với những doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối,...?

Nâng cao tính đảng và phát huy vai trò của người đứng đầu trong xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa - Kết quả và nhiệm vụ chủ yếu

Người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm cao nhất của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương đó. Người đứng đầu được trao thẩm quyền sử dụng một số quyền lực để thi hành chức trách, nhiệm vụ được giao. Đó là quyền lực của tập thể và họ là người đại diện cho quyền lực của tập thể để thực thi công vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Quyền lực mà họ đang nắm giữ, đang thực thi, không phải là của cá nhân họ và do vậy, để phòng, tránh nguy cơ “tha hóa quyền lực”, người đứng đầu phải luôn đề cao và giữ nghiêm tính đảng của người đảng viên.

Tính đảng của cán bộ, đảng viên được hiểu là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng, mục tiêu cách mạng của Đảng; sự tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật; là những chuẩn mực đạo đức cách mạng trong mọi cử chỉ, hành vi, lời nói trong các hoạt động xã hội. Trong bất kỳ giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, việc nâng cao tính đảng của người cán bộ, đảng viên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhằm tạo ra sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; sự thống nhất, đoàn kết trong hành động; bảo đảm vai trò tiên phong và là tấm gương sáng có sức thu hút, động viên, dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ.

Nhận thức được vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng đó, nhiều  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao tính đảng, phát huy vai trò của người đứng đầu trong công tác xây dựng Đảng và đạt được những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Công tác xây dựng Đảng luôn được chú trọng và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trên các mặt công tác.

Nhìn chung, các đảng bộ doanh nghiệp, từ tập thể cấp ủy đến mỗi đảng viên, luôn đoàn kết và nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình. Đoàn kết giữa bí thư và các thành viên trong cấp ủy, đoàn kết giữa đảng viên, người lao động và đồng nghiệp ở các phòng ban, đơn vị làm việc, công tác; đoàn kết với các đơn vị thành viên, chính quyền và nhân dân địa phương luôn được đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chú trọng và coi đó là nội dung trọng tâm trong hoạt động của tổ chức đảng và lãnh đạo doanh nghiệp. Đoàn kết trước hết là ở sự thống nhất mục tiêu, kế hoạch nhân sự, sản xuất kinh doanh hằng năm, hằng quý, hằng tháng của doanh nghiệp trên cơ sở công khai, minh bạch để thống nhất trong hành động, nâng cao quyết tâm hành động. Vì vậy, các đảng bộ xác định rõ, tổ chức cơ sở đảng luôn là nền móng của Đảng, có vai trò hạt nhân chính trị cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc và người lao động.

Trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, để nâng cao vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng, thì điều quan trọng là cấp ủy, người đứng đầu và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác nêu gương và năng lực thực thi công việc hoàn thành nhiệm vụ, để quần chúng, người lao động noi theo. Trong cơ chế mới, để đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh, cấp ủy và hội đồng quản trị luôn nỗ lực tạo sự đồng thuận cao trong việc nâng cao năng lực thực hiện công việc cho mọi cán bộ, đảng viên và người lao động, tạo điều kiện cho mỗi người tự giác học tập, như mở các lớp tập huấn về luật pháp, nghiệp vụ kinh doanh. Nhờ đó, năng lực giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh và đề ra chủ trương, nghị quyết của thành viên cấp ủy được nâng cao, sát với thực tế, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của mình, tạo sự đồng thuận cao giữa cấp ủy và hội đồng quản trị. Xác định sức thuyết phục của cán bộ, đảng viên đối với quần chúng, người lao động là năng lực công tác, hiểu biết phù hợp với thời đại khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, hiểu đúng và làm việc theo pháp luật, nên doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ cho cán bộ ở các phòng, ban. Nhờ đó, quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong thời kỳ kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh được thuận lợi hơn, đạt hiệu quả thiết thực.

Đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn tích cực đổi mới công tác quản trị nhân sự, từ vấn đề nhân sự trong công tác cán bộ, sắp xếp lại và kiện toàn đội ngũ cán bộ từ cấp doanh nghiệp đến các phòng, ban phù hợp với cương vị lãnh đạo, yêu cầu chuyên môn của từng vị trí công việc. Việc học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên trong nhiều doanh nghiệp đã trở thành phong trào, có tính tự giác cao. Hằng năm, các đảng ủy doanh nghiệp nhà nước cổ phẩn hóa chú trọng công tác phát triển đảng, cử quần chúng ưu tú học lớp tìm hiểu về Đảng, các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới.

Xây dựng và tạo lập được mối quan hệ tốt giữa cấp ủy, bí thư cấp ủy với hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp.

Nhờ có sự đồng thuận giữa cấp ủy và hội đồng quản trị trong đánh giá năng lực làm việc của từng người, có chế độ khen thưởng công bằng, minh bạch đối với những người làm việc có hiệu quả thường xuyên hoặc đột xuất, nên không khí, môi trường làm việc, tinh thần phấn đấu, cống hiến cho doanh nghiệp, vì sự phát triển của doanh nghiệp của cán bộ, đảng viên, người lao động càng rõ nét, khởi sắc. Thực tế tại nhiều  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cho thấy, đội ngũ đảng viên đảm nhận hầu hết vị trí quan trọng ở các phòng, ban và lãnh đạo doanh nghiệp, nên tính đảng được phát huy và thể hiện ở ý thức trách nhiệm đối với công việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên này. Trong bối cảnh cán bộ, người lao động thường xuyên thay đổi công việc do nhu cầu cá nhân hoặc từ nguyên nhân khách quan, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chủ động công tác nhân sự, bảo đảm đội ngũ cán bộ tại chỗ đủ tiêu chuẩn và năng lực để bổ sung, thay thế, đề bạt kịp thời, không để xảy ra sự hụt hẫng về cán bộ quản lý.

Tại các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, công tác lãnh đạo, quản lý của hội đồng quản trị và đảng ủy các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đều được thực hiện tốt; đảng viên và người lao động dù ở vị trí, cương vị nào đều luôn tuân thủ, chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy chế, kỷ luật hoạt động của doanh nghiệp mình. Với tinh thần “chi bộ là gốc rễ của Đảng trong quần chúng, chi bộ tốt thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều được thi hành tốt”, các chi bộ thường xuyên đổi mới nội dung sinh hoạt, bảo đảm thiết thực, sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, tuân thủ định hướng chiến lược hoạt động của doanh nghiệp mà hội đồng quản trị đã đề ra. Mọi đảng viên đều có thể đóng góp ý kiến vào việc sản xuất, kinh doanh, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích người lao động. Đảng viên thực hiện tốt, nghiêm các quy định về những điều đảng viên không được làm. Trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không ngừng bịa đặt, xuyên tạc chống phá Đảng trên không gian mạng, cấp ủy, đảng viên trong đảng bộ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn quán triệt sâu sắc, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng và không tham gia phát tán, truyền bá tin tức không phù hợp, chưa được kiểm chứng. Các chi bộ không ngừng đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, chú trọng tuyên truyền những điểm mới trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đảng viên yên tâm với công việc, người lao động say mê lao động và cống hiến, biến lời nói thành hành động. Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn xác định, việc học tập, lao động hiệu quả, theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là thước đo chuẩn mực đạo đức, phẩm chất của cán bộ, đảng viên.

Sản xuất sợi quang tại Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện (Postef)_Ảnh: TTXVN

Gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và người đứng đầu trong các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa thường xuyên duy trì nền nếp công tác kiểm tra, giám sát. Trước hết, cấp ủy, bí thư cấp ủy luôn nhận thức rõ: Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy; qua đó, giúp đảng viên nâng cao ý thức chính trị, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, uốn nắn, không để xảy ra tình trạng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật... Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, của doanh nghiệp, ngay từ đầu các nhiệm kỳ, cấp ủy, ban thường vụ đảng ủy tiến hành xây dựng quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ. Một mặt, công tác kiểm tra được cụ thể hóa thành mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, xử lý những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa chủ đầu tư và quyền lợi khách hàng, bảo đảm hài hòa quyền lợi, đúng pháp luật với các địa phương nơi dự án triển khai,... Mặt khác, cấp ủy luôn lắng nghe ý kiến của tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, phòng, ban nghiệp vụ. Công đoàn và đoàn thanh niên chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên cán bộ, đoàn viên, người lao động tích cực hưởng ứng, tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Tổ chức đảng, công đoàn và đoàn thanh niên phối hợp chặt chẽ, tạo ra sức mạnh cộng hưởng, vừa giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh, vừa đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động và giữ vững sự ổn định của doanh nghiệp, giúp cho đảng bộ doanh nghiệp có được vai trò, uy tín cao đối với chủ đầu tư và người lao động.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa còn nhiều bất cập, hạn chế. Đó là việc một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chủ trương về công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa; từ đó, hoạt động của tổ chức đảng ở những nơi này chậm đổi mới, nội dung chưa hấp dẫn và phương thức hoạt động ít nhiều còn mang tính hình thức. Thời gian tới, để nâng cao tính đảng và tăng cường xây dựng Đảng trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, cấp ủy, người đứng đầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh.

Cấp ủy và ban giám đốc doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Phối hợp chặt chẽ, nâng cao tinh thần đồng thuận giữa người đứng đầu với cấp ủy và các phòng, ban chuyên môn trong quản lý, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ xây dựng chiến lược đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay.

Hai là, nâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của bí thư đảng ủy, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp.

Chú trọng xây dựng những quy định gắn với trách nhiệm người đứng đầu trước doanh nghiệp, đoàn thể, người lao động. Để nâng cao được tính đảng trong đảng bộ các doanh nghiệp, thì điều quan trọng là phải phát huy hiệu quả vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cả về năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, ý thức pháp luật. Muốn phát huy tốt, khẳng định vai trò của mình, người đứng đầu, tập thể cấp ủy và lãnh đạo phải bám sát cuộc sống, không ngừng đổi mới sáng tạo, đặt lợi ích tập thể, lợi ích người lao động lên trên hết, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Theo đó, một yêu cầu không thể thiếu đối với người đứng đầu là phải hết sức quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ lãnh đạo các cấp.

Quyền lực và trách nhiệm là hai mặt của một vấn đề trong công tác cán bộ; do đó, cấp ủy khi phân công và giao nhiệm vụ cho cán bộ thì phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu công việc.

Ba là, chú trọng công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, nâng cao tính đảng cho cán bộ, đảng viên

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ như hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên do thiếu trách nhiệm, nên thờ ơ, thậm chí cổ xúy cho những thông tin tiêu cực; vì vậy, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải đẩy mạnh đấu tranh chống tin tức xuyên tạc, xấu, độc, nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Để tổ chức đảng trong doanh nghiệp phát triển tương xứng và hiệu quả, đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa phải luôn chú trọng công tác phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên, lấy ý thức trách nhiệm với tập thể, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao và có uy tín trong quần chúng làm tiêu chuẩn và thước đo hàng đầu trong kết nạp đảng viên.

Nâng cao tính đảng xuất phát từ yêu cầu tự thân của Đảng, nhằm luôn giữ vững bản chất, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Tính đảng cần được nhận thức không chỉ là giá trị tự thân của mỗi đảng viên, mà còn là niềm tự hào của gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xã, thôn xóm để mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự giác nỗ lực, phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cao cả mà mình đã lựa chọn. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng. Củng cố và nâng cao hơn nữa tính đảng sẽ nhân thêm sức mạnh nội lực của Đảng; đồng thời, tạo ra thế và lực mới trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta giành thêm những thắng lợi mới.

Bốn là, tuân thủ nghiêm tính tổ chức và tính kỷ luật của Đảng, của doanh nghiệp.

Tăng cường kiện toàn và thắt chặt tính tổ chức, quán triệt, duy trì nghiêm khắc tính kỷ luật nhằm tạo sự chủ động trong công tác xây dựng Đảng, thực hiện đồng bộ và triệt để các giải pháp nhằm tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức cũng như hành động của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng, người đứng đầu phải biết lắng nghe ý kiến đóng góp, nhắc nhở của cấp ủy, tổ chức đảng; kịp thời điều chỉnh hành vi và ứng xử trong quan hệ với tổ chức đảng, cấp ủy và trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ với thẩm quyền và chức trách của mình.

Đặc điểm, phạm vi hoạt động của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, liên quan rất nhiều đến quy định của pháp luật, đồng thời có nhiều mối liên hệ với chính quyền các địa phương, lợi ích của người dân. Do đó, các doanh nghiệp này phải luôn nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Ngoài ra, việc thường xuyên tiếp xúc, đối thoại với người dân là một trong những yêu cầu quan trọng của công tác lãnh đạo, quản lý, nhằm kịp thời giải quyết vướng mắc, khó khăn ngay từ đầu, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho địa phương hay các cơ quan quản lý của Nhà nước.

Năm là, xây dựng quy chế phối hợp, tạo mối quan hệ gắn bó, hài hòa giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) doanh nghiệp.

Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, bí thư cấp ủy với chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc); bảo đảm vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, chức năng quản lý của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc. Cấp ủy chủ động trao đổi với hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp về việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng; ý kiến của cán bộ, đảng viên, người lao động về việc thực hiện nhiệm vụ và chính sách, chế độ trong doanh nghiệp. Hội đồng quản trị, ban giám đốc trao đổi với cấp ủy về hoạt động của doanh nghiệp để cấp ủy thảo luận, ra nghị quyết lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện. Bí thư cấp ủy phải chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và cấp ủy cấp trên về hoạt động của tổ chức đảng, các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp. Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và tổ chức đảng (nếu là đảng viên) khi để xảy ra vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong doanh nghiệp.

Công tác xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa có vai trò phát huy sức sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước với tinh thần phục vụ lợi ích của xã hội, của người dân, góp phần phát triển đất nước. Trên lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, các  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn động viên, cổ vũ cán bộ, đảng viên, người lao động tích cực tìm kiếm và nắm bắt cơ hội do công nghệ và thị trường mang lại. Mặc dù còn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhưng với sự đoàn kết, đồng thuận, quyết tâm cao của cán bộ, đảng viên và người lao động, doanh nghiệp  nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh, đầu tư, phối hợp để phát huy tiềm năng, thế mạnh, nguồn nhân lực, nguồn lực kinh tế, khoa học - công nghệ, nhằm tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị trong Quân đội

Vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có tác động, ảnh hưởng tích cực đến cán bộ, chiến sĩ, cũng như vị thế, vai trò chủ trì về chính trị và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị Quân đội. Vì vậy, học tập và làm theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chủ tịch luôn đề cao vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; theo Người: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”1. Vì vậy, Người cặn dặn các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”2. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Quân đội ta ngay từ những ngày đầu, cùng với việc bố trí đội ngũ cán bộ chính trị để giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu họ phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là tư cách, đạo đức, lối sống và trong công việc để chỉ đạo, động viên, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Đối với cán bộ chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”3. Vô luận ở cấp bậc nào, “người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ”4. Bởi, cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành. Để phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ chính trị, Người chỉ rõ: “Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”5. Về mặt vật chất, chính trị viên phải luôn săn sóc đến đời sống sinh hoạt: ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu của bộ đội. Về mặt tinh thần, chính trị viên phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa và đường lối chính trị trong bộ đội. Mặt khác, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cán bộ chính trị “càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”6.

Thấm nhuần lời dạy của Người, lớp lớp đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội luôn tự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu giữ vững tư cách của người cán bộ chính trị; tuyệt đối trung thành và đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn có hoài bão, lý tưởng sống đúng đắn, lối sống trong sáng, lành mạnh, trung thực, khiêm tốn, giản dị; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân,... luôn là tấm gương mẫu mực để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo.

Trong tình hình mới, đội ngũ cán bộ chính trị tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo nền tảng vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Việc thực hiện tốt vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chính trị không những nâng cao vị thế, vai trò của cá nhân, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị mà còn ngăn ngừa hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết; cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:

Trước hết, cần tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần coi việc thực hiện vai trò nêu gương là một nội dung trọng yếu của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị; một yêu cầu để đảm bảo cho đội ngũ này thực hiện tốt vai trò chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Do vậy, việc xác định những yêu cầu về nêu gương của cán bộ chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải gắn kết chặt chẽ với nội dung các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là: Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v. Trên cơ sở đó, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp trong xây dựng tiêu chí, quy định cụ thể về thực hiện vai trò nêu gương của chính ủy, chính trị viên trong các hoạt động ở đơn vị; đồng thời, làm tốt công tác giáo dục tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng đối với vấn đề này.

Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong quá trình đào tạo tại các học viện, nhà trường. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về giáo dục, đào tạo và thực hiện quan điểm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”7, các cơ sở đào tạo cán bộ chính trị, nhất là Học viện Chính trị và Trường Sĩ quan Chính trị cần nghiên cứu, hoàn thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, chuẩn đầu ra của các đối tượng nhằm đào tạo những chính ủy, chính trị viên có phẩm chất, năng lực toàn diện, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong hoạt động thực tiễn.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, các học viện, nhà trường cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục và đào tạo đối với cán bộ chính trị. Kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với nghiên cứu, cập nhật các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng vào hoạt động giáo dục, đào tạo nhằm thực hiện tốt yêu cầu về trang bị kiến thức, năng lực thực hành với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống, vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị ngay tại trường. Trong đó, coi trọng việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, thực hành nhằm hình thành vững chắc các phẩm chất, nhân cách và vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị trong thực tiễn.

Ba là, thường xuyên bồi dưỡng và phát huy vai trong nêu gương của cán bộ chính trị trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị. Kết hợp chặt chẽ giữa “nói” và “làm” là một giá trị nổi bật trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực tiễn cho thấy, hành động nêu gương của người đứng đầu, dù nhỏ đều có tác động, ảnh hưởng lớn đến cấp dưới. Đồng thời, có coi trọng thực hiện vai trò nêu gương thì tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng mới đi vào cuộc sống ở mỗi đơn vị và lan tỏa trong xã hội. Do vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm bồi dưỡng và phát huy tốt vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong các hoạt động thực tiễn, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Cần có cơ chế, chính sách và những biện pháp cụ thể để khích lệ, động viên vai trò nêu gương của họ; đồng thời, uốn nắn, điều chỉnh những nhận thức và biểu hiện sai trái, chưa phù hợp. Đặc biệt, cần phải coi trọng thực hiện tốt vai trò nêu gương của cấp trên đối với cấp dưới cả về lời nói và hành động để khích lệ việc học tập lẫn nhau về nêu gương trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị.

Việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn gương mẫu chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, kỷ luật của Quân đội; đặt lợi ích của tập thể, đơn vị lên trên hết, trước hết. Đồng thời, kiên quyết khắc phục các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, mệnh lệnh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Bốn là, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, “tự soi”, “tự sửa” và kiểm tra, giám sát việc thực hiện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Thực hiện giải pháp này đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; bám sát sự chỉ đạo của trên; học hỏi từ đồng nghiệp để tiến hành tốt tự phê bình và phê bình, ‘‘tự soi, tự sửa’’ hằng ngày, không ngừng hoàn thiện về phẩm chất, đạo đức, lối sống, nhất là vai trò nêu gương trong thực tiễn. Coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tiếp thu những kiến thức trong lãnh đạo, quản lý để không ngừng hoàn thiện phương pháp, tác phong công tác, đáp ứng tốt các yêu cầu về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ chính trị và yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan kiểm tra các cấp cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ chính trị. Nội dung kiểm tra, giám sát cần phải toàn diện cả về tư tưởng chính trị, động cơ, thái độ, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống và việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động. Quá trình thực hiện cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp ủy đảng, người chỉ huy, cơ quan chức năng và các tổ chức quần chúng tham gia; kết hợp chặt giữa công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với công tác quản lý của người chỉ huy các cấp. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức đối thoại dân chủ, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức quần chúng đối với đội ngũ cán bộ chính trị, nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với biểu hiện thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ chính trị có tầm quan trọng đặc biệt trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Vì vậy, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải khắc ghi những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để đội ngũ cán bộ chính trị không ngừng phát huy tốt vai trò gương mẫu của mình, luôn là người giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội./.

Sưu tầm

Hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị ở Việt Nam trong tình hình hiện nay

 

Hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị ở Việt Nam trong tình hình hiện nay

TS NGUYỄN VĂN TUÂN
Viện Khoa học tổ chức, cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương
14:23, ngày 11-02-2024

TCCS - Xây dựng mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam là một quá trình phức tạp, lâu dài, phản ánh sự phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và chính trị của đất nước. Trong điều kiện mới, với việc Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi mô hình tổng thể của hệ thống chính trị tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của tình hình, thực tiễn trong nước và quốc tế.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu Quốc hội tham dự Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV_Ảnh: TTXVN

Mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra

Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị (HTCT) có vai trò, vị trí rất quan trọng, là cơ sở hàng đầu bảo đảm cho những thành tựu to lớn của đất nước. Thời gian qua, xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng và HTCT có nhiều đổi mới, được triển khai thực hiện quyết liệt với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, có trọng tâm, trọng điểm, bước đầu đạt được những kết quả đáng ghi nhận; cụ thể như sau:

Thứ nhất, mô hình tổng thể HTCT Việt Nam bao gồm các bộ phận cấu thành là Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

* Mô hình tổ chức tổng thể của Đảng.

Điều 10, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: “1. Hệ thống tổ chức của Đảng được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước. 2. Tổ chức cơ sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam theo quy định tại Chương VI. Việc lập tổ chức đảng ở những nơi có đặc điểm riêng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương”(1). Hệ thống tổ chức đảng được thành lập theo cấp hành chính lãnh thổ là hệ thống cơ bản, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng ở mỗi cấp và của toàn Đảng. Theo quy định của Điều lệ Đảng, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay bao gồm: Hệ thống tổ chức đảng bộ, chi bộ (từ cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, đảng bộ bộ phận, chi bộ cơ sở); cơ quan lãnh đạo của Đảng các cấp (đại hội, cấp ủy); cơ quan tham mưu giúp việc cấp ủy (các ban đảng - các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy, đơn vị sự nghiệp của Đảng); tổ chức đảng được lập trong các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội (ban cán sự đảng, đảng đoàn).

* Mô hình tổ chức tổng thể của Nhà nước.

Bộ máy nhà nước là tổng thể cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương, được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước. Theo Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam bao gồm: Quốc hội (là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước); Chủ tịch nước (là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp); Chính phủ (là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội), tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân; chính quyền địa phương (được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định). 

* Mô hình tổ chức tổng thể của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Theo Hiến pháp năm 2013, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thứ hai, về số lượng đối với tổ chức bộ máy của ban, bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan trung ương(2).

Đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương (không bao gồm quân đội, công an), tính đến ngày 18-11-2022, có 1.585 cơ quan, đơn vị, giảm 204 tổ chức so với thời điểm 30-6-2017; trong đó, 26 tổng cục thuộc ban, bộ, ngành và tương đương (giảm 18 tổ chức); 280 cục thuộc ban, bộ, ngành và tương đương (tăng 23 tổ chức); 636 vụ thuộc ban, bộ, ngành và tương đương (giảm 102 tổ chức); 643 cục, vụ thuộc tổng cục (giảm 107 tổ chức).

Đối với các đơn vị sự nghiệp, ở thời điểm 30-6-2023 có 1.203 tổ chức, giảm 384 đơn vị so với thời điểm 30-6-2017; trong đó, 833 đơn vị trực thuộc thuộc ban, bộ, ngành trung ương, giảm 22 tổ chức; 132 đơn vị trực thuộc tổng cục, giảm 96 đơn vị; 225 đơn vị trực thuộc cục thuộc ban, bộ, ngành trung ương, giảm 267 đơn vị; có 13 đơn vị trực thuộc cục thuộc tổng cục, tăng 1 đơn vị.

Thứ ba, về sắp xếp tổ chức bộ máy của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Đối với tổ chức hành chính(3), ở thời điểm 30-6-2023 có 14.056 tổ chức, giảm 6.376 tổ chức so với thời điểm 30-6-2019; trong đó, có 2.179 cơ quan, đơn vị, tổ chức cấp tỉnh, giảm 74 tổ chức; 11.877 phòng và tương đương trực thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức cấp tỉnh, phòng, ban cấp huyện, giảm 6.302 tổ chức. Đối với đơn vị sự nghiệp, ở thời điểm 30-6-2023, có 49.063 đơn vị, giảm 6.504 đơn vị so với thời điểm 30-6-2017.

Thứ tư, về thực hiện một số mô hình mới về tổ chức bộ máy.

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Kết luận số 34-KL/TW, ngày 7-8-2018, của Bộ Chính trị, “Về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả””, nhiều cấp ủy đã chủ động triển khai thí điểm thực hiện các mô hình mới về tổ chức bộ máy và đạt được một số kết quả nổi bật như sau: 28 tỉnh hợp nhất đảng bộ khối doanh nghiệp với đảng bộ khối các cơ quan cấp tỉnh(4); 1 tỉnh hợp nhất sở giao thông vận tải với sở xây dựng(5); 57/707 đơn vị cấp huyện thuộc 13 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất ban tổ chức cấp ủy với phòng nội vụ cấp huyện(6); 1 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất ban tổ chức cấp ủy với sở nội vụ cấp tỉnh(7); 52/707 đơn vị cấp huyện thuộc 11 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra cấp ủy với thanh tra cấp huyện(8); 1/63 tỉnh, thành phố thí điểm hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra cấp ủy với thanh tra cấp tỉnh(9); 70/707 đơn vị cấp huyện thuộc 24 tỉnh, thành phố thực hiện hợp nhất văn phòng cấp ủy với văn phòng HĐND và UBND cấp huyện ở những nơi có điều kiện(10); 1/63 tỉnh, thành phố thực hiện tổ chức cơ quan tham mưu giúp việc chung khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; 58/707 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 15 tỉnh, thành phố thực hiện tổ chức cơ quan tham mưu giúp việc chung khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện... 466/707 đơn vị thuộc 14 tỉnh, thành phố thực hiện mô hình trung tâm phục vụ hành chính công, cơ chế một cửa, một cửa liên thông cấp huyện(11).

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, ưu điểm đạt được nói trên, thực tiễn cũng cho thấy, tổ chức bộ máy của HTCT Việt Nam còn những bất cập, hạn chế  như sau:

Một là, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phương thức tổ chức, hoạt động giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức - đoàn thể nhân dân chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp.

Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đánh giá: “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp... Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý, mạnh mẽ và đồng bộ; còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt kết quả thấp”; “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của cấp ủy cấp tỉnh, cấp ủy cấp huyện chưa cụ thể hóa đầy đủ; thiếu quy định khung quy chế làm việc của cấp ủy các cấp”(12).

Các mối quan hệ giữa các tổ chức trong HTCT, nhất là giữa thường vụ cấp ủy và thường trực UBND, giữa một số ban và tổ chức đảng với nhau và với một số cơ quan nhà nước cùng cấp, giữa một số cơ quan nhà nước với nhau và với doanh nghiệp; giữa tập thể cơ quan lãnh đạo và thủ trưởng,... chưa được phân định rõ ràng, rành mạch. Thẩm quyền, trách nhiệm của từng tổ chức, từng cấp, từng ngành chưa được chế định đồng bộ, chặt chẽ, làm cho tổ chức, bộ máy vận hành kém hiệu lực, hiệu quả, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, thưởng phạt không rõ ràng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn thừa nhận: “Việc hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị cho phù hợp với tình hình thực tiễn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu. Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số nơi thiếu kiên quyết, đồng bộ và chưa đạt mục tiêu đề ra; cá biệt có nơi còn nóng vội, chưa có bước đi vững chắc. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thật sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Xây dựng vị trí việc làm còn lúng túng, tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu đề ra”(13).

Hai là, tổ chức bộ máy của các thiết chế trong hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, đầu mối.

Tổ chức bộ máy của Đảng hiện nay chưa thật sự tinh gọn; một số nhiệm vụ, đối tượng, lĩnh vực công tác còn trùng lắp, chưa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Bộ máy tổ chức đảng song trùng với bộ máy chính quyền dẫn đến tình trạng trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, không phát huy tốt vai trò của bộ máy nhà nước trong nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy; đồng thời, làm cho bộ máy trở nên cồng kềnh, lãng phí, kém hiệu quả.

Kết quả trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định vấn đề quan trọng của đất nước chưa đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân. Hoạt động của Quốc hội chưa thực sự chuyên nghiệp, tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tuy đã tăng lên theo từng nhiệm kỳ, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội còn nhiều hạn chế nên chưa đáp ứng khối lượng công việc ngày càng nhiều, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng.

Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, Chủ tịch nước là thiết chế có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, một số quy định của Hiến pháp về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và các cơ quan khác chưa được cụ thể hóa...

Chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước trên một số lĩnh vực chưa rõ; phân định chức năng, thẩm quyền quản lý, điều hành giữa Chính phủ (tập thể Chính phủ) và Thủ tướng Chính phủ chưa thật rõ ràng, rành mạch.

Việc tổ chức hệ thống tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân đã được đổi mới một bước theo Hiến pháp năm 2013, nhưng vẫn còn nhiều bất cập về cấu trúc bên trong. Tòa án cấp huyện dàn đều ở tất cả các huyện, kể cả những huyện có quy mô nhỏ hoặc mới được chia tách; đội ngũ thẩm phán bị dàn mỏng, phân tán, trong khi số lượng còn rất thiếu, có nơi xét xử không hết án, nhưng có nơi lại rất ít án...

Tổ chức chính quyền địa phương còn nặng về bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo, điều hành của Trung ương, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng địa phương. Mô hình tổ chức HĐND và UBND được thiết kế một cách tương đối đồng loạt, chưa thể hiện đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước trên các địa bàn, lãnh thổ khác nhau và gần như không có sự thay đổi từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay. Tổ chức bộ máy của chính quyền tỉnh, thành phố, tuy có sự phân biệt giữa các địa phương có quy mô, tính chất khác nhau, trong quản lý hành chính ở đô thị và ở nông thôn, miền núi, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, nhưng sự khác biệt này vẫn chưa thực sự rõ nét cả về tổ chức và thẩm quyền.

Tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội còn cồng kềnh; một số nhiệm vụ của các tổ chức còn trùng lắp, chồng chéo; có biểu hiện nhà nước hóa về tổ chức (được tổ chức 4 cấp tương ứng các cấp hành chính nhà nước; trong đó, có hai cấp trung gian là cấp tỉnh, cấp huyện), nhiều đầu mối bên trong. Cán bộ làm công tác chuyên trách của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đang bị công chức hóa (ít dành thời gian gắn với phong trào hoạt động ở cơ sở và đoàn viên, hội viên). Việc sử dụng biên chế chưa tiết kiệm.

Ba là, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, chưa theo kịp những biến đổi của phát triển kinh tế - xã hội.

Tính kém hiệu quả của HTCT biểu hiện ở nhiều mặt, nổi bật là tổ chức bộ máy vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, Nhà nước chưa thật đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Mối quan hệ kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp chưa được xác lập rõ ràng. Khả năng tự kiểm soát, tự kiểm tra trong từng tổ chức, cơ quan còn yếu. Sự kiểm tra của Đảng, thanh tra của Nhà nước mới chủ yếu tập trung vào chống vi phạm, mà chưa thật sự chú trọng đến phòng ngừa vi phạm. Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã chỉ ra một trong những nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong tổ chức bộ máy của HTCT là mô hình tổng thể về tổ chức bộ máy của HTCT chưa được hoàn thiện; một số bộ phận, lĩnh vực chưa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương đã đặt ra mục tiêu: “Từ năm 2021 đến năm 2030: Hoàn thành việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn mới”; đồng thời, chỉ ra nhiệm vụ, giải pháp: “Khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”(14).

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ với đại biểu tham dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 18, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị khoá VIII, nhiệm kỳ 2021 - 2026_Ảnh: TTXVN

Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị ở Việt Nam trong thời gian tới

Để hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể HTCT ở Việt Nam, trong thời gian tới, cần chú trọng một số giải pháp sau:

Thứ nhất, thống nhất về nhận thức.

Yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần thống nhất quan điểm và có quyết tâm chính trị lớn ở cấp cao của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, định hướng rõ ràng cũng như lộ trình thực hiện khoa học, hợp lý về một mô hình tổ chức bộ máy mới của HTCT. Cần ban hành các nghị quyết của Trung ương với các hướng dẫn cụ thể tới các cấp, bộ, ban, ngành, địa phương về vấn đề này. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cấp ủy, cán bộ, đảng viên trong hệ thống của Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân về mô hình tổ chức bộ máy mới. Tổ chức thực hiện việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy mới trong thực tiễn, trên tinh thần nghiên cứu, thảo luận, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và triển khai từng bước, làm các nội dung dễ và đã sáng tỏ trước, tiến hành thí điểm các vấn đề phức tạp, khó khăn và tổng kết, đánh giá kỹ càng trước khi thực hiện đồng loạt. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông đại chúng trong tuyên truyền về xây dựng mô hình tổ chức bộ máy mới.

Thứ haihoàn thiện bộ máy của các khối và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Trong thời điểm hiện nay, cần tập trung sắp xếp tinh gọn, hoàn thiện các khối và các cơ quan, tổ chức trong từng khối nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giám sát, phản biện xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Việc sắp xếp, hoàn thiện theo hướng: 1- Bảo đảm sự đồng bộ giữa các khối và giữa các cơ quan, tổ chức trong khối; 2- Phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; 3- Tiếp tục tinh gọn đầu mối, tinh giản biên chế, giảm khâu trung gian; 4- Tăng cường hiệu quả cơ chế phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 5- Tiếp tục phân cấp, phân quyền đi đôi với xác định rõ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu trong bộ máy nhà nước.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế, cơ chế, quy định, chính sách phù hợp.

Rà soát toàn bộ hệ thống quy định của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các luật và các văn bản của Nhà nước liên quan để sửa đổi, bổ sung phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới, song phải trên cơ sở Điều lệ Đảng, Hiến pháp, Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của từng tổ chức chính trị - xã hội hiện hành. Tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học về tổ chức bộ máy của HTCT và chuẩn bị tốt cho việc sửa đổi Điều lệ Đảng, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội và việc sửa đổi Hiến pháp vào thời điểm thích hợp. Theo dõi, bám sát thực tiễn hoạt động của các tổ chức trong HTCT các cấp được xây dựng theo mô hình tổ chức bộ máy mới, coi trọng đánh giá hiệu quả hoạt động, có chủ trương, giải pháp đúng đắn, điều chỉnh kịp thời nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, bất cập, để các tổ chức đó tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn.

Cần đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tốt (đủ phẩm chất, năng lực, trình độ) thích ứng với mô hình tổ chức bộ máy mới. Đổi mới chính sách cán bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới, kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy mới. Đẩy mạnh xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ theo chức danh cán bộ, bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần cán bộ theo chức danh cán bộ và vị trí việc làm; tiến hành rà soát, xử lý các văn bản hiện hành, xây dựng và ban hành các văn bản mới của Đảng về chính sách cán bộ theo chức danh cán bộ và vị trí việc làm. Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai thực hiện thí điểm các văn bản của Đảng về chính sách cán bộ, nhất là các văn bản mới ban hành, đúc rút kinh nghiệm đối với những quyết định cụ thể của từng loại văn bản; triển khai mạnh mẽ việc trả tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ, công chức theo chức danh cán bộ và vị trí việc làm. Phát huy mạnh mẽ, hiệu quả vai trò của nhân dân tham gia đổi mới chính sách cán bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới, kiện toàn HTCT theo mô hình tổ chức mới.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Tăng cường lãnh đạo ủy ban kiểm tra và các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của mình tiến hành hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát theo quy định, coi trọng hơn việc làm tốt công tác giám sát. Xây dựng chương trình, kế hoạch, xác định nội dung công tác kiểm tra, giám sát hằng quý, hằng năm, nhiệm kỳ; lựa chọn hình thức kiểm tra, giám sát phù hợp và triển khai thực hiện. Thực hiện tốt việc lãnh đạo kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra giám sát theo đúng quy định của Điều lệ Đảng; coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia công tác giám sát, kiểm tra việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy mới.

Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về khoa học tổ chức gắn với điều kiện thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, có tính đến đặc điểm của tình hình thế giới và khu vực.

Thứ tư, đổi mới mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức chính trị - xã hội.

Cần nhận thức rõ vị trí, vai trò và trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong HTCT, Đảng lãnh đạo, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện HTCT gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền bảo đảm quản lý thống nhất, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cấp, các ngành. Xây dựng nhà nước kiến tạo, chính phủ liêm chính, hành động, phục vụ; nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, công khai, minh bạch. Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Xây dựng cơ chế, quy chế phối hợp trên cơ sở phân định rõ ràng, rành mạch chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng; đồng thời, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy mạnh mẽ vai trò, tính tự chủ, năng động, sáng tạo của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Tăng cường sự phối hợp giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước và của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực giám sát, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, tạo sự vận hành đồng bộ, thông suốt của HTCT, mở rộng và phát huy dân chủ trong xã hội, nâng cao chất lượng của cả HTCT.

Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và HTCT, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động nhân dân theo hướng thiết thực, lấy nhu cầu, lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân làm động lực quan trọng cho công tác vận động, tập hợp nhân dân; hướng mạnh về cơ sở, chú ý những nhân tố mới, những cách làm sáng tạo, có ảnh hưởng lan tỏa sâu rộng./,

Nâng tầm tính liêm sỉ, lòng tự trọng của người cán bộ, đảng viên trong văn hoá từ chức

 Quy định 144 tiếp tục làm rõ hơn về văn hóa từ chức và Quy định này sẽ có hiệu lực nếu nâng tầm tính liêm sỉ, lòng tự trọng của người cán bộ, đảng viên và để xã hội giám sát.

Cùng với đó, cán bộ đối chiếu theo quy định của Đảng, soi chiếu bản thân, nếu xét thấy mình đã mắc vi phạm, bị kỷ luật, năng lực không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thì nên tự giác, tự nguyện rời khỏi vị trí, đừng để các cấp có thẩm quyền phải xem xét miễn nhiệm. Đây là hành động cần thiết của những người có lòng tự trọng và cũng là giữ chút liêm sỉ còn sót lại của người cán bộ, đảng viên.

Trên thực tế, thời gian qua, đã có một số cán bộ giữ các chức vụ quan trọng xin từ chức. Phần lớn số cán bộ này từ chức là do có vi phạm, khuyết điểm. Dù việc họ rời vị trí là thể hiện sự chủ động, tuy nhiên việc từ chức sau khi vi phạm bị phát hiện, nhận hình thức kỷ luật thì tính chất, ý nghĩa cũng khác. Vì vậy, văn hóa từ chức cần được xây dựng để khi cán bộ đã mắc vi phạm rồi dù chưa bị phát hiện, nhưng vì tự trọng và danh dự của mình mà tự nguyện từ chức.

Nhưng từ chức rồi thì không có nghĩa là tổ chức sẽ xóa sạch những vi phạm của họ. Anh không thể sử dụng quyền từ chức, khắc phục toàn bộ thiệt hại thì sẽ được vô hiệu hóa hậu quả của các vi phạm. Cần phải căn cứ vào tính chất của từng vi phạm, nặng thì bị trừng trị, nhẹ thì cũng cần có biện pháp răn đe, cùng với đó là thu hồi tài sản tham nhũng nếu có.