Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (*)

 

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (*)

Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên _Ảnh: Tư liệu

Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên _Ảnh: Tư liệu

1. AI là sự mô phỏng hoạt động trí tuệ con người bằng máy móc, đặc biệt là hệ thống máy tính[1]. Đây là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer science) và sản phẩm này do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi giống với con người. Cụ thể, trí tuệ nhân tạo giúp máy tính có thể tổng hợp, phân tích, mô phỏng những hoạt động tư duy giống con người như: suy nghĩ, phân tích, học hỏi, lập luận, tự thích nghi,… để giải quyết các vấn đề qua giao tiếp[2]. Các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo là những ứng dụng máy tính mô phỏng hành vi của con người bằng cách học các mẫu dữ liệu và thông tin chuyên sâu khác nhau[3]. Một số ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể đưa ra các kết quả đa dạng nhờ xử lý và thu thập những dữ liệu có sẵn để tạo nội dung, biên tập, chỉnh sửa, thay thế nội dung,... được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây tự tạo nội dung, đó là: Ứng dụng tạo văn bản[4] (tự động tạo văn bản qua tương tác với người sử dụng): Điển hình cho các ứng dụng này là ChatGPT (viết tắt của Chat Generative Pre-training Transformer), đây là một ứng dụng có thể xử lý các tương tác để truyền tải ngôn ngữ tự động, ứng dụng giúp thay thế con người trả lời các câu hỏi, được đào tạo để đưa ra câu trả lời giống một cuộc hội thoại thông thường như người thật. Ngoài ra, một số ứng dụng tự tạo nội dung khác có thể tạo/chỉnh sửa ảnh[5], tạo/chỉnh sửa âm thanh[6], tạo video[7]. Những ứng dụng này giúp người dùng giảm thời gian biên tập nội dung so với các hoạt động tạo nội dung truyền thống. Người dùng có thể sử dụng ứng dụng để tăng hiệu suất công việc, tiết kiệm thời gian xây dựng các nội dung có mục đích cá nhân hoặc thương mại, áp dụng linh hoạt trong các ngành Khoa học - Kỹ thuật, giáo dục, báo chí, quảng cáo, âm nhạc, hội họa, điện ảnh...

Mặc dù có nhiều tác động tích cực đến đời sống xã hội, tuy nhiên các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo đang đặt ra nhiều nghi vấn về các vấn đề liên quan đến an toàn thông tin, vấn đề về đạo đức xã hội, quyền con người, các hoạt động chính trị,… Vấn đề được các chuyên gia quan tâm ở đây đó là sự “thiếu công bằng” trong các thuật toán (có khả năng dẫn đến các hành vi phân biệt đối xử, thành kiến về chủng tộc và giới tính,…), sự vi phạm quyền riêng tư của người dùng, khả năng định hướng người dùng bởi các nội dung được tạo ra như văn bản, âm thanh, video…[8]. Dư luận trên mạng xã hội, nhiều ý kiến cho rằng mặc dù các câu hỏi đưa ra từ ứng dụng có thể chính xác hoặc không, tuy nhiên việc trải nghiệm với tâm lý chờ đợi câu trả lời từ một ứng dụng trí tuệ nhân tạo khiến đa số người dùng hứng khởi, tò mò. Tuy nhiên cũng có trường hợp người dùng cảm thấy lo ngại, trong đó liên quan đến hành lang pháp lý cũng như tiềm ẩn nhiều rủi ro và nghiêm trọng hơn khi nhiều người thực sự tin những thông tin đưa ra từ các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo.

2. Các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo hiện có nhiều tiềm năng phát triển và vẫn có thể được cải thiện hơn nữa để áp dụng vào đời sống, xã hội. Các công nghệ này vẫn còn có thể được cải tiến hơn nữa về độ chính xác nhờ cập nhật về công nghệ, bổ sung về mặt dữ liệu, nâng cấp về mặt hạ tầng, do đó trong tương lai gần sẽ trở thành một công cụ đắc lực cho nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Tuy nhiên, về bản chất, ứng dụng này vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào các thuật toán, dữ liệu đầu vào do con người cung cấp, do đó các sản phẩm được tạo ra từ các ứng dụng trí tuệ nhân tạo hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu đầu vào của con người và chưa có khả năng sinh ra tri thức mới. Một số tác động tiêu cực của các ứng dụng trên là:

Nguy cơ mất an toàn thông tin: Trên MXH xuất hiện nhiều quảng cáo mời gọi cài đặt ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, phần lớn những liên kết này đều dẫn đến ứng dụng giả mạo, không có giá trị pháp lý và có thể chứa phần mềm gián điệp. Khi phần mềm này được cài đặt trên điện thoại hoặc các thiết bị điện tử, nguy cơ bị lộ lọt, mất thông tin cá nhân hoặc bị giám sát.

Khi thiết lập và sử dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, người dùng phải đăng ký tài khoản và sử dụng số điện thoại đ kích hoạt tài khoản. Việc đăng ký tài khoản cá nhân trên ứng dụng này đều phải cung cấp thông tin cá nhân như: Họ tên, tui, số điện thoại, địa chỉ email... Những thông tin này được liên kết với các ng dụng như: Facebook, Zalo, Instagram hoặc liên kết với các ứng dụng tiện ích, giao dịch thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến khác. Dựa vào đây, phương thức tự học của các chương trình có thể sẽ vừa thu thập thông tin cá nhân và vừa có thể "đánh dấu" hồ sơ cá nhân riêng biệt với từng người sử dụng phục vụ nhiều mục đích phân tích dữ liệu về đặc điểm, sở thích, tính cách hoặc ngành nghề...

Nguy cơ mất an ninh trật tự: Tội phạm có thể lợi dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo để phục vụ cho các mục đích phạm tội như: lừa đảo chiếm đoạt tài sản (thông qua việc chiếm đoạt tài khoản cá nhân), bán khống tài khoản, tư vấn các hoạt động phạm pháp như chế tạo thuốc độc, bom mìn, thủ thuật vượt qua các hoạt động an ninh, chnh sửa, cải thiện mã độc... Ngoài ra, khi cán bộ, đảng viên sử dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể làm lộ lọt các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị khi cung cấp dữ liệu cho những ứng dụng này để biên tập, nghiêm trọng hơn có thể gây mất an toàn thông tin cho hệ thống nội bộ.

Liên quan đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, những ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo trên có thể mang lại những tác động tiêu cực sau:

Thời điểm ChatGPT và các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo được cộng đồng mạng quan tâm, các thế lực thù địch lợi dụng các ứng dụng này để tạo làn sóng dư luận, lan truyền, phát tán tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động chia rẽ sắc tộc, tôn giáo, gây mất ổn định trật tự - an toàn xã hội...; cắt ghép các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc vào các tương tác với các ứng dụng này, kết hợp với các công cụ mạng xã hội để lan truyền các thông tin xấu độc, kêu gọi một số thành phần xấu vào chia sẻ, bình luận trên các trang thông tin điện tử gây hoang mang dư luận.

Đối với một số câu hỏi về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, lịch sử Việt Nam, các nội dung “được tạo ra” từ các sản phẩm trí tuệ nhân tạo hầu hết đáp ứng được yêu cầu và có độ chính xác nhất định; tuy nhiên, ngoài những câu trả lời mang tính khái quát đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, các hồi đáp của ChatGPT có phần một chiều, đặc biệt là các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Có thể nói nguồn dữ liệu đầu vào của các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo vẫn có thể được kiểm soát, kiểm duyệt bởi người tạo dựng nên hệ thống do tính sở hữu về mặt hạ tầng, dữ liệu và thuật toán của người xây dựng nên. Nếu có thực sự dữ liệu và các thuật toán không mang tính khách quan, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị có thể tận dụng tính không minh bạch và tính “không công bằng” của thuật toán để tăng cường các hoạt động can thiệp mà khó có thể phát hiện hoặc kiến nghị đối với các nội dung sinh ra bởi các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo. Nghiêm trọng hơn khi các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo được phát triển thành một ứng dụng mang tính cộng đồng, nó sẽ trở thành một công cụ để tuyên truyền các thông tin sai sự thật, xấu độc và thiếu kiểm chứng nhằm chống phá chính quyền các nước đối lập về chính trị, trong khi đó thông tin thực sự tốt lại có thể bị sàng lọc và kiểm duyệt.

Với số lượng người dùng lớn và dự báo sẽ tiếp tục tăng, các thế lực thù địch đang lợi dụng ChatGPT và các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo để tạo dư luận, lan truyền, phát tán thông tin sai sự thật bằng cách lồng ghép các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc vào các tương tác với các ứng dụng này, kết hp với các công cụ mạng xã hội để lan truyền các thông tin xấu độc. Trên không gian mạng, chúng đã, đang và sẽ sử dụng một số phương thức, thủ đoạn chủ yếu như sau:

Đối với các chương trình tạo văn bản, các câu trả lời không mang tính cập nhật, sai lệch thông tin, phần lớn không trích dẫn nguồn dẫn: Các thế lực thù địch đã chỉnh sửa kỹ thuật để lồng ghép các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc vào tương tác với ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, sau đó lợi dụng mạng xã hội để lan truyền các thông tin trên không gian mạng; ca ngợi, tán dương các ứng dụng có sử dụng trí tuệ, nhân tạo sẽ làm thay đổi về công tác truyền thông hiện nay như: xuyên tạc việc ChatGPT và các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể đưa ra thông tin hoặc đáp án “khách quan” hơn các thông tin do Đảng, Nhà nước ta tuyên truyền; lợi dụng việc thông tin mang tính thiếu cập nhật để đưa ra các thông tin sai sự thật, có lợi cho các hoạt động chống phá; việc đưa ra dữ liệu không xác thực, thiếu kiểm chứng; các đối tượng cố tình đặt những câu hỏi mang tính điều hướng, cung cấp dữ liệu sai sự thật để ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo đưa ra những kết quả theo ý đồ riêng; lợi dụng tính năng huấn luyện trong quá trình trao đổi để huấn luyện ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ cho mục đích tuyên truyền thông tin sai sự thật, chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; lợi dụng khả năng tạo ra một lượng lớn văn bản một cách nhanh chóng và thuyết phục để phổ biến tin tức không chính xác, thậm chí là tin giả mạo trên quy mô lớn.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng  - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc _Ảnh: Tư liệu

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng  - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc _Ảnh: Tư liệu

Đối với các chương trình tạo/chính sửa ảnh, âm thanh, video: Các thế lực thù địch có thể chỉnh sửa ảnh, âm thanh, video chứa nội dung xấu độc và ghép vào hình ảnh, tiếng nói, video của các lãnh đạo để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc, sau đó lợi dụng mạng xã hội để lan truyền các thông tin này trên không gian mạng; lợi dụng khả năng tự động hóa việc tạo nội dung, ảnh, âm thanh, video có thể được xây dựng một cách dễ dàng, phục vụ tuyên truyền các nội dung độc hại bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau.

3. Trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo để tạo ra các nội dung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa như trên, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao cảnh giác của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với những thông tin xấu độc, tin giả, sai sự thật là sản phẩm của các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo.

Tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân về cơ hội và thách thức khi sử dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, đặc biệt tuyên truyền rõ về những hạn chế, những xu thế độc hại về trí tuệ nhân tạo, tránh thu hút sự quan tâm của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Bảo đảm dòng thông tin chất lượng, chính xác, kịp thời từ truyền thông chính thống là thông điệp chủ đạo, tin cậy về các chủ đề liên quan đến các ứng dụng về trí tuệ nhân tạo mà dư luận xã hội quan tâm.

Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nhất là cho cán bộ, đảng viên. Trang bị cho cán bộ, đảng viên kỹ năng tự bảo vệ thông tin cho cá nhân, tổ chức; cách thức chắt lọc, tiếp nhận thông tin một cách đúng đắn, phù hợp; nâng cao khả năng nhận diện với các thông tin xấu độc, nguy hại đối với bản thân và xã hội do các ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo ra.

Hai là, các bộ, ngành cần khẩn trương hoàn thiện các quy định về quản lý nhà nước trên không gian mạng, đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng, đề xuất ban hành cơ chế, chính sách thu hút các tập đoàn, công ty công nghệ tham gia phát triển các ứng dụng, chương trình trí tuệ nhân tạo để đất nước có thể tiến tới tự chủ về lĩnh vực này, triển khai đồng bộ, có hiệu quả Quyết định số 127/QĐ-TTg, ngày 26/1/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về phát triển trí tuệ nhân tạo đến năm 2030. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, đó là: “Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư[9].

Ba là, phát huy vai trò và sự vào cuộc của các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để đảm bảo hạn chế được những tác động tiêu cực do các ứng dụng này đem lại; tổ chức đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu lợi dụng các ứng dụng trên để tạo ra các nội dung tuyên truyền phá hoại cách mạng Việt Nam; phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm minh, đảm bảo yếu tố răn đe nghiêm khắc đối với những tổ chức, các nhân lợi dụng các ứng dụng trên có hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, tận dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo vào thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bên cạnh việc hạn chế những tác động tiêu cực, cần tăng cường nghiên cứu, ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ lực lượng thực hiện công tác báo chí, truyền thông, đó là: Ứng dụng để phục vụ khai thác, cung cấp thông tin từ các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo để xây dựng tin, bài viết về các sự kiện, chủ đề đang được dư luận quan tâm... phục vụ công tác phủ xanh, lan tỏa thông tin tích cực; đồng thời giảm thiểu thời gian biên tập, tận dụng nguồn nhân lực, đa dạng hóa các sản phẩm tuyên truyền từ bài viết, hình ảnh, âm thanh, video nhờ các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo. Tận dụng tính năng “tự học” và nguồn hạ tầng cơ sở dữ liệu lớn của các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân để tăng cường thông tin tích cực, tạo dựng “kho dữ liệu xanh” phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của thế lực thù địch./.

TS. Lê Đức Cảnh - Ngô Thanh Long 

Văn phòng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương

Phê phán luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Phê phán luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý.

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

Theo qdnd.vn

Chọn người tài, đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng

 

Chọn người tài, đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng

Trong phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ 16 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, ngày 26/7/2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng  yêu cầu tuyệt đối không để lọt vào cấp ủy khóa mới những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền. (Ảnh: TTXVN)

Trong phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ 16 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, ngày 26/7/2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng yêu cầu tuyệt đối không để lọt vào cấp ủy khóa mới những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền. (Ảnh: TTXVN)

TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC CHUẨN BỊ NHÂN SỰ ĐẠI HỘI

Mở đầu bài viết, Tổng Bí thư nhấn mạnh về tầm quan trọng của cán bộ: “… Trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, ở bất kỳ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ bao giờ cũng đóng vai trò quyết định; công tác cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Đây là sự khẳng định mang tính kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.

Tổng Bí thư nêu rõ: “Công tác cán bộ chịu sự quy định của đường lối chính trị, phục vụ nhiệm vụ chính trị; cho nên đồng thời với chuẩn bị đường lối chính trị phải tích cực chuẩn bị và tiến hành đường lối tổ chức và chiến lược cán bộ”.

Từ quan điểm đó, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Việc chuẩn bị nhân sự Đại hội có vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là nhân tố bảo đảm cho thành công của Đại hội và triển khai thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đại hội”.

Nhấn mạnh vị trí, tầm quan trọng của công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV, Tổng Bí thư khẳng định: “Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ Đại hội Đảng, là bộ tham mưu chiến đấu, hạt nhân lãnh đạo chính trị và là trung tâm đoàn kết, thống nhất cao của toàn Đảng, toàn dân tộc. Đây là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, là tinh hoa của Đảng, đòi hỏi phải thật sự vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ và có uy tín cao để giải quyết những công việc ở tầm chiến lược, xử lý kịp thời, đúng đắn, có hiệu quả những tình huống phức tạp có quan hệ đến sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, sự sống còn của chế độ”.

Từ khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, Tổng Bí thư đánh giá một cách khách quan toàn diện cả về ưu điểm và khuyết điểm của đội ngũ này. Về khuyết điểm, Tổng Bí thư chỉ rõ: “Đội ngũ cán bộ của ta hiện nay đông nhưng chưa thật mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ vẫn xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt chỉ tiêu mong muốn. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa toàn diện, có mặt còn hạn chế, yếu kém; không ít cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, thậm chí có người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó, có cả cán bộ cấp cao, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm vụ, vi phạm nguyên tắc và quy chế làm việc, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ khoá XIII đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã phải thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy phiếu bầu, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cấp cao, tuy đã được ngăn chặn nhưng vẫn chưa hoàn toàn bị đẩy lùi. Làm việc gì, giữ chức vụ gì cũng chỉ tính đến lợi quyền, bổng lộc cho cá nhân mình, gia đình mình trước nhất, quên cả thanh liêm, danh dự”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Anh hùng và Chiến sĩ thi đua nông nghiệp năm 1957. (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Anh hùng và Chiến sĩ thi đua nông nghiệp năm 1957. (Ảnh tư liệu)

Những nội dung mà Tổng Bí thư nêu ra thể hiện sự suy nghĩ, trăn trở của người đứng đầu Đảng vì: “Những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của chúng ta, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”.

YÊU CẦU ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẠI HỘI XIV

Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Đại hội XIV sẽ là một dấu mốc rất quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Sau khi điểm qua bối cảnh thế giới và trong nước đang có những diễn biến phức tạp, khó lường và khó đoán định, ẩn chứa cả thời cơ và thách thức đối với nước ta, Tổng Bí thư nêu ra một đặc điểm rất đáng chú ý về đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cấp chiến lược nói riêng chuẩn bị cho nhiệm kỳ Đại hội XIV là: “Đây cũng là thời điểm chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong những năm tháng kháng chiến, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau”.

Sự chuyển tiếp các thế hệ cán bộ là điều tất yếu nhưng quá trình chuyển giao rất cần phải có sự kế thừa và ổn định như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: “Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển(1).

Từ tình hình tư tưởng trong Đảng và tâm trạng trong nhân dân, Tổng Bí thư đặt ra câu hỏi rất cụ thể: “Đảng ta sắp tới dự định lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là cán bộ chủ chốt) thế nào để đủ sức gánh vác nhiệm vụ cách mạng to lớn mà lịch sử giao phó?”

Để trả lời thấu đáo và có sự thuyết phục câu hỏi nêu trên cần phải nhận thức một cách đồng bộ và thông suốt: “Công tác nhân sự Đại hội là vô cùng quan trọng nhưng cũng hết sức phức tạp, khó khăn, nặng nề, đòi hỏi Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cả hệ thống chính trị phải làm việc với tinh thần trách nhiệm rất cao, với quyết tâm, nỗ lực rất lớn, có cách làm thật sự công tâm, khách quan, khoa học, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”.

Cách đây gần 78 năm, ngày 20 tháng 11 năm 1946 trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng bài viết “Tìm người tài đức”. Người khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức”.

NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, CÁCH THỨC TIẾN HÀNH

Tổng Bí thư nêu: “Vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xác định đúng yêu cầu xây dựng Ban Chấp hành Trung ương mà hạt nhân là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt của Đảng”.

Các yêu cầu mà Tổng Bí thư nêu ra là:

Thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV phải là một tập thể thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất cao ý chí và hành động, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có tầm nhìn chiến lược; có trí tuệ, tư duy đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu cho toàn Đảng về tính chiến đấu, tính kỷ luật; gắn bó mật thiết với nhân dân, quy tụ được sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân; đủ uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV cần có số lượng và cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tăng cường số lượng Uỷ viên Trung ương Đảng ở các vị trí, địa bàn, lĩnh vực công tác trọng yếu. Bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển liên tục.

Thứ ba, việc giới thiệu nhân sự, nói chung phải trên cơ sở quy hoạch; giữ vững nguyên tắc, quy chế, quy định, phát huy trách nhiệm, dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan trong đánh giá, giới thiệu, lựa chọn nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ tới. Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ các mặt, uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ và tiêu chí cơ bản để đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ phù hợp với công việc. Chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm...

Về tiêu chuẩn: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV phải thật sự là những đồng chí tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; bảo đảm tiêu chuẩn chung của cán bộ.

Tổng Bí thư yêu cầu cần đặc biệt chú trọng các vấn đề về tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu cao; phẩm chất đạo đức và lối sống trong sáng, gương mẫu, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm; có trí tuệ, tầm nhìn, tư duy chiến lược và kiến thức tương đối toàn diện... Tổng Bí thư hai lần nhắc lại yêu cầu về “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm, gắn bó mật thiết với nhân dân, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động” và kết luận là “phải vừa có Đức vừa có Tài, trong đó Đức là gốc...”.

Cùng với yêu cầu không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn, Tổng Bí thư nhấn mạnh, phải kiên quyết không đưa vào, không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV những người mắc các khuyết điểm: 1) Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; 2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; 3) Để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị; 4) Không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút; 5) Kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính; 6) Vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay.

CƠ CẤU VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA SỐ LƯỢNG, CHẤT LƯỢNG VÀ CƠ CẤU

Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, Ban Chấp hành Trung ương cần có cơ cấu hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tính kế thừa và phát triển; nhưng không nhất thiết lĩnh vực nào, ngành nào cũng phải có người tham gia Ban Chấp hành Trung ương nếu không đủ tiêu chuẩn; không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn.

Trong cơ cấu của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV cần chú ý bảo đảm tỉ lệ hợp lý đối với cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số; một số nhà khoa học, văn nghệ sĩ, lãnh đạo một số tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia Ban Chấp hành Trung ương.

Rút kinh nghiệm từ các khoá trước, việc xác định số lượng Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV cần căn cứ chủ yếu vào yêu cầu, nhiệm vụ và đòi hỏi của tình hình, căn cứ vào yêu cầu lãnh đạo toàn diện đối với các địa bàn, lĩnh vực công tác, đặc biệt là phải bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn, không thuần tuý chạy theo số lượng.

Mục đích, trách nhiệm của chúng ta là phải xây dựng được một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, một Bộ Chính trị mạnh, một Ban Bí thư mạnh, thật sự đoàn kết, thống nhất cao xung quanh người đứng đầu để đủ sức gánh vác trọng trách, tổ chức toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức phấn đấu, vượt mọi khó khăn, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; đất nước ngày càng phát triển; nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc...

TRÁCH NHIỆM TRONG CÔNG TÁC NHÂN SỰ CHUẨN BỊ CHO ĐẠI HỘI XIV

Thứ nhất, công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương; phải dày công chuẩn bị, phải xác định đây là nhiệm vụ "then chốt" của "then chốt", có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển, vững mạnh của đất nước.

Thứ hai, công tác cán bộ nói chung và công tác nhân sự Đại hội nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng như trên đã nói nhưng cũng cực kỳ phức tạp, khó khăn, vì nó liên quan đến con người, là "công tác con người". Vì vậy, phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan…; lấy tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác, uy tín của bản thân và gia đình làm thước đo chủ yếu.

Muốn thế, phải thật sự phát huy dân chủ trong việc phát hiện, giới thiệu nhân sự đi đôi với xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng và người đứng đầu. Chống tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen, "cánh hẩu", "lợi ích nhóm"; tránh cách làm giản đơn, tuỳ tiện, vô nguyên tắc.

Phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên, nạt dưới, bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai hoạ cho Đảng, là tạo điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn.

Thứ ba, phải kiểm tra, giám sát, đôn đốc thường xuyên. Cách làm là phải thận trọng, làm dứt điểm từng khâu, từng công đoạn, theo một quy trình chặt chẽ; làm đến đâu chắc đến đó, làm nhân sự Ban Chấp hành Trung ương trước, sau đó mới đến nhân sự Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cuối cùng mới đến nhân sự lãnh đạo chủ chốt. Nếu có những công đoạn cần làm đồng thời thì cũng phải xem xét một cách chặt chẽ, chắc chắn, bảo đảm sự đồng bộ, khoa học...

Thứ tư, các đồng chí thành viên Tiểu ban Nhân sự và Tổ Giúp việc của Tiểu ban, hơn ai hết, phải nắm chắc, nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc, chế độ, quy chế và lề lối làm việc; phải là những cán bộ thật sự tin cậy, tuyệt đối trung thành, trung thực, trong sáng, công tâm, khách quan, đặc biệt là phải rất tỉnh táo, tinh tường; tuyệt đối giữ nguyên tắc, quan hệ công tác, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, cá nhân có liên quan; chống các biểu hiện tiêu cực chính ngay trong các cán bộ có trách nhiệm, các đại biểu Đại hội và các thành viên của Tiểu ban và Tổ Giúp việc...

Thứ năm, trong quá trình lựa chọn, bố trí, sắp xếp nhân sự cụ thể, cần thống nhất quan điểm là không quá cầu toàn, không quá tuyệt đối hoá. Điều quan trọng là phải biết phân biệt, đánh giá chính xác bản chất, mức độ các điểm mạnh, điểm yếu để không chọn nhầm người và phải có cách bố trí, sắp xếp nhân sự sao cho phù hợp để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của mỗi thành viên, bổ sung cho nhau... Nguyên tắc của chúng ta là "tập thể lãnh đạo", "lãnh đạo tập thể", "lãnh tụ tập thể". Chúng ta phải chăm lo xây dựng, vun xới, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để mỗi người tự hoàn thiện mình, phát huy mặt tốt, khắc phục mặt yếu; để khi mỗi cá nhân đứng trong cùng một tập thể thì tập thể đó trở nên hoàn thiện hơn, toàn diện, vững mạnh hơn; và mỗi cá nhân cũng trở nên tốt hơn, phát huy được nhiều hơn phẩm chất và năng lực của mình.

Mục đích, trách nhiệm của chúng ta là phải xây dựng được một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, một Bộ Chính trị mạnh, một Ban Bí thư mạnh, thật sự đoàn kết, thống nhất cao xung quanh người đứng đầu để đủ sức gánh vác trọng trách, tổ chức toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức phấn đấu, vượt mọi khó khăn, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; đất nước ngày càng phát triển; nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc...

*         *

*

Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm, chú trọng đặc biệt đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và làm đúng theo những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”(2).

Bài viết của Tổng Bí thư một lần nữa khẳng định nội dung này và cũng là lời nhắc nhở đối với toàn Đảng cần phải thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(3)./.

PGS. TS. LÊ VĂN CƯỜNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tổ chức Theo dõi nhân quyền và những chiêu trò vu cáo, đánh lận bản chất

Nhìn vào lịch sử của tổ chức HRW kể từ khi được thành lập cho đến nay có thể thấy, cho dù đã được đổi tên và mang danh nghĩa là tổ chức hoạt động về nhân quyền nhưng hoạt động của HRW vẫn đi theo mục đích cũ và ý đồ chính trị là đưa những thông tin sai sự thật về tình hình dân chủ, nhân quyền cũng như can thiệp vào nội bộ của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dù là tổ chức mang tên gọi về nhân quyền nhưng các hoạt động của tổ chức trên thực chất lại là cái cớ để tổ chức này xuyên tạc, chống phá.

Mỗi khi Mỹ và phương Tây đưa ra những cáo buộc một quốc gia nào đó vi phạm dân chủ, nhân quyền thì HRW cũng tham gia dưới nhiều hình thức như: báo cáo, thông cáo, thư ngỏ… với thủ đoạn đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc sự thật. HRW cũng như một số tổ chức khác mang danh nhân quyền có trụ sở ở Mỹ, Đức, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan… thường sử dụng chiêu bài bảo vệ "dân chủ", "nhân quyền" nhằm khoét sâu mâu thuẫn về sắc tộc, xã hội, tôn giáo của quốc gia cũng như lợi dụng những vấn đề còn tồn tại, hạn chế, yếu kém trong xã hội khác để lấy cớ chống phá, can thiệp. Từ đó, họ câu kết với những đối tượng đối lập, phần tử cơ hội chính trị ở trong nước tiến tới dụ dỗ, mua chuộc dưới chiêu bài hứa hẹn tạo ra chính phủ mới với những quyền lực được trao tay, ảo tưởng về một xã hội văn minh hơn.

Từ đó, hướng đến sự hỗn loạn và mất kiểm soát trong xã hội, gia tăng xung đột giữa người dân và chính phủ, kích động biểu tình đường phố, bạo loạn và thậm chí xung đột vũ trang gây thương vong cho dân thường. Đây không đơn thuần là lôi kéo, dụ dỗ người thiếu hiểu biết, thành phần bất mãn chính trị mà còn có sự tham gia của một số trí thức ảo tưởng về sức mạnh, được đưa ra nước ngoài huấn luyện đào tạo và được đầu tư về vật chất, tài chính để có điều kiện hoạt động gây dựng ngọn cờ chống đối ở trong nước.

Đây không phải chiêu trò mới nhưng hiện nay hoạt động của các tổ chức như HRW ngày càng quyết liệt, tinh vi và nguy hiểm. HRW chụp mũ các giá trị dân chủ, nhân quyền để gây bất ổn xã hội, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, dần dần lật đổ chế độ chính trị hiện tại, đưa xã hội chuyển hướng sang con đường đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

            Việc tổ chức HRW ngày 8/5/2024 cáo buộc Việt Nam phát ngôn sai lạc về quyền của người lao động là sự vu cáo trắng trợn. Đáng nói, HRW chỉ trích điều này ngay sau khi đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 7/5/2024. Thực tiễn cho thấy, dù HRW hay một số tổ chức khác có hành động vu cáo Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, lao động việc làm… thì chính những thành tựu sinh động nêu trên là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc.    

Sưu tầm   

Giữ vững trận địa tư tưởng

 Lợi ích của quốc gia, dân tộc luôn được đặt lên trên hết  

Trong cuộc đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, bên cạnh việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị rất cần sự vào cuộc tích cực của nhân dân. Bởi nếu phát huy được sức mạnh của người dân trong việc nhận diện với các quan điểm, xu hướng tiêu cực để đấu tranh ngăn chặn kịp thời, đồng thời làm tốt công tác tư tưởng sẽ giúp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Phát huy truyền thống vẻ vang, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận

 

TCCS - Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng của dân tộc, ở bất cứ giai đoạn nào, công tác dân vận luôn là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình_Ảnh: TTXVN

Chặng đường 93 năm công tác dân vận của Đảng

74 năm trước, ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Dân vận” đăng trên Báo Sự thật, khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Tác phẩm “Dân vận” không chỉ phản ánh những nội dung cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, mà còn là cuốn cẩm nang hoàn chỉnh nhất về công tác dân vận với những chỉ dẫn đầy đủ, sâu sắc về mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp công tác dân vận đối với các tổ chức chính quyền, đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên… trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Tháng 10-1999, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Dân vận”, Bộ Chính trị khóa VIII đã quyết định lấy ngày 15-10-1930 là Ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng; lấy ngày 15-10 hằng năm là “Ngày Dân vận của cả nước” để cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đẩy mạnh việc học tập, thực hiện những chỉ dẫn của Người về công tác dân vận và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh tinh thần đoàn kết, sáng tạo của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhìn lại lịch sử 93 năm công tác dân vận của Đảng, có thể thấy, ngay sau khi được thành lập, Đảng ta đã nhanh chóng tổ chức ra các đoàn thể cách mạng, hình thành bộ máy và cán bộ làm công tác dân vận. Những cán bộ, đảng viên lớp đầu tiên của Đảng đã không quản gian lao, sẵn sàng hy sinh để thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, tiến hành “ba cùng” với nhân dân, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân lao động và thành lập các tổ chức quần chúng đoàn kết xung quanh Đảng, tạo sức mạnh và động lực cho cách mạng theo tư tưởng “đem sức ta mà giải phóng cho ta” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ ban đầu chỉ với vài ngàn đảng viên, qua các giai đoạn lịch sử, Đảng đã tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân tham gia cách mạng, tạo thành khí thế yêu nước sục sôi, làm nên thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám 1945 - khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và đại thắng mùa Xuân năm 1975 - giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Có thể khẳng định, thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc là thắng lợi của đường lối mở rộng đại đoàn kết toàn dân tộc; là thành công của việc xây dựng lực lượng chính trị ngày càng rộng rãi trong Mặt trận và các đoàn thể, trong lực lượng vũ trang theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân…; là minh chứng rõ ràng nhất về công tác vận động, phát huy sức mạnh, đóng góp của mỗi người dân, tạo thành sức mạnh dân tộc to lớn phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến trường kỳ.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới công tác dân vận, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW, ngày 27-3-1990 “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”. Nghị quyết là bước chuyển kịp thời nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong tình hình mới, phát huy khả năng to lớn của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Năm 1991, tư tưởng này tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, theo đó nhấn mạnh “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”. Giai đoạn này, Đảng ta đã ban hành một hệ thống văn bản liên quan đến công tác dân vận như về vận động các giới, các giai tầng xã hội; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; tăng cường công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp; phát huy vai trò nhân dân tham gia góp ý, giám sát, phản biện góp phần xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân... Trong đó nổi bật là Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Đây là những văn bản hết sức quan trọng, khẳng định vai trò, vị trí của công tác dân vận trong công tác xây dựng Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cán bộ trong hệ thống chính trị, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ hội nhập, phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn đó chính là kết quả của ý chí, quyết tâm cao, sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Hay nói một cách khác, chính nhờ việc phát huy đầy đủ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung nhiều nội dung mới về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận, tập trung đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy cao độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật; thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó xác định Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt. Nghị quyết cũng xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ cần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Để tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Ban Dân vận Trung ương tham mưu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều văn bản quan trọng về công tác dân vận, trong đó trọng tâm là Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Bộ Chính trị, về “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”. Quy chế đã quy định rõ trách nhiệm, cơ chế, phương thức công tác dân vận của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; bổ sung, cụ thể hóa quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu đối với công tác dân vận; nêu rõ trách nhiệm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Ban Dân vận Trung ương cũng đã tham mưu Ban Bí thư ban hành Kết luận số 54-KL/TW, ngày 9-5-2023, về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3-10-2017, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XII về “Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ”; Quyết định số 118-QĐ/TW, ngày 22-8-2023, của Ban Bí thư ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương”. Mới đây nhất, tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, Ban Dân vận Trung ương (cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo) tham mưu giúp Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương đề án Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí với kết quả tổng kết và thống nhất ban hành nghị quyết mới về vấn đề này.

Có thể thấy, chặng đường 93 năm lịch sử vẻ vang ngành dân vận của Đảng được khẳng định thông qua các thành tựu toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội trong thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hệ thống các văn bản quan trọng về công tác dân vận được xây dựng, ban hành đồng bộ, kịp thời và được triển khai thực hiện có hiệu quả, nhất là các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc, tôn giáo, về các giai tầng xã hội, về phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng trong cả nước, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị... Những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và yêu cầu, nhiệm vụ về đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận trong tình hình mới đã làm giàu thêm kho tàng lý luận của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước. Đó cũng là nền tảng, động lực để công tác dân vận ngày càng phát huy vai trò chủ thể và sức mạnh của nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Bùi Thị Minh Hoài thăm hỏi công nhân Khu công nghiệp Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam_Nguồn: vietnamplus.vn

Phát huy truyền thống vẻ vang 93 năm công tác dân vận của Đảng trong giai đoạn mới

93 năm qua, công tác dân vận của hệ thống chính trị không ngừng được đổi mới, chuyển biến tích cực, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, tăng cường đối ngoại và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận, kịp thời thể chế hóa các văn bản của Trung ương và cấp ủy cấp trên phù hợp với thực tiễn địa phương, đơn vị. Ban Dân vận các cấp đã chủ động tham mưu giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận và phối hợp tốt với chính quyền, các cơ quan, ban, ngành tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia tích cực các chương trình mục tiêu quốc gia, phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp có nhiều đổi mới theo hướng gần dân, trọng dân, có trách nhiệm với dân, tập trung cải cách hành chính, thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới, thích ứng linh hoạt với tình hình thực tiễn; hoạt động giám sát, phản biện xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong công tác vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều chuyển biến. Việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước và phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã có sự gắn kết chặt chẽ, tạo sức lan tỏa tích cực trong đời sống xã hội. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, phát huy. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường.

Nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong bối cảnh thế giới và trong nước có những thời cơ, thuận lợi cùng nhiều khó khăn, thách thức lớn đan xen. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng, sự quản lý, điều hành năng động, quyết liệt của Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị, cùng sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân, dịch bệnh COVID-19 đã bị đẩy lùi, kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; các lĩnh vực văn hoá, xã hội, lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân tiếp tục được chú trọng; quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội bảo đảm, đối ngoại được tăng cường, dân chủ phát huy. Nhân dân đồng tình, ủng hộ những chủ trương, quyết sách quan trọng của đất nước trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; phòng, chống và xử lý các vụ, việc tham nhũng, tiêu cực; đối ngoại, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. 

Phát huy những thành quả đạt được, trong nửa cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, những tháng cuối năm 2023 và năm 2024, các cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm về công tác dân vận:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản của Đảng về công tác dân vận, trọng tâm là Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII về công tác dân vận; Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Bộ Chính trị về “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”; Quyết định số 118-QĐ/TW, ngày 22-8-2023, của Ban Bí thư về “Quy chế tổ chức và hoạt động của hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương”. Tiếp tục triển khai đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng các đề án sơ kết, tổng kết và tham mưu ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Trung ương về công tác dân vận, nhiệm vụ trọng tâm là tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị khóa XI về “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền”. Tiếp tục lãnh đạo cụ thể hóa, thể chế hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ” và tổ chức thực hiện hiệu quả trong thực tiễn. Đặc biệt, Ban Dân vận Trung ương và ban dân vận các cấp cần chủ động, sớm có kế hoạch tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, cũng như các văn bản mới của Đảng về công tác dân vận trong toàn hệ thống chính trị.

Hai là, tăng cường công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp, gắn với triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 33/CT-TTg, ngày 26-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ về “Tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới” và pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tập trung nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri, hoạt động tiếp công dân; tăng cường đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân. Quan tâm, chú trọng nâng cao hiệu quả vận động nhân dân thông qua thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng bằng chính sách, pháp luật hợp lòng dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm hài hòa lợi ích nhà nước, doanh nghiệp, người dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật. Đẩy mạnh chuyển đổi số phục vụ người dân và doanh nghiệp. Lấy sự hài lòng của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp.

Ba là, chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo tinh thần Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 26-10-2022, của Ban Bí thư Trung ương Đảng; chú trọng giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Thực hiện tốt việc chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Phối hợp tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2024 - 2029; đại hội công đoàn các cấp và Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2023 - 2028; đại hội hội nông dân các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2023 - 2028; đại hội hội sinh viên Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2023 - 2028.

Bốn là, không ngừng quan tâm, sâu sát cơ sở, nâng cao hiệu quả nắm, đánh giá, dự báo tình hình các tầng lớp nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, các địa bàn trọng điểm để kịp thời tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy về chủ trương, giải pháp công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Chú trọng công tác vận động, tuyên truyền và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và cốt cán trong các tôn giáo. Đa dạng hoá hình thức tuyên truyền, vận động, tương tác với người dân; nâng cao hiệu quả công tác vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các chính sách mới được ban hành. Thường xuyên nắm tình hình đồng bào Việt Nam ở nước ngoài; vận động đồng bào ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ hướng về Tổ quốc, giữ gìn bản sắc văn hóa, nâng cao nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò chủ thể của người dân trong tham gia xây dựng đất nước.

Chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Long An giúp dân cứu lúa _Nguồn: tienphong.vn

Năm là, nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình phối hợp công tác dân vận giữa các ban, bộ, ngành, cơ quan ở Trung ương và địa phương. Thực hiện tốt nhiệm vụ cơ quan thường trực của các ban chỉ đạo các cấp về công tác dân vận. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các văn bản của cấp trên và cấp ủy cùng cấp về công tác dân vận, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Tăng cường lãnh đạo, phối hợp tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng, đào tạo, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn về công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị và cán bộ trực tiếp làm công tác dân vận. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, có năng lực, tâm huyết, kinh nghiệm, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào thi đua “Dân vận khéo” để tạo khí thế, động lực phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Kịp thời phát hiện, tôn vinh và nhân rộng tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiêu biểu trong các phong trào thi đua yêu nước, thi đua “Dân vận khéo”. Tổ chức các hoạt động thiết thực, ý nghĩa, hướng tới kỷ niệm 95 năm Ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng (15-10-1930 - 15-10-2025), 75 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Dân vận” (15-10-1949 - 15-10-2024), 25 năm “Ngày Dân vận của cả nước” (15-10-1999 - 15-10-2024), chào mừng Đại hội thi đua yêu nước ngành dân vận, giai đoạn 2020 - 2025 và các ngày kỷ niệm, sự kiện quan trọng của đất nước.

Trải qua 93 năm lịch sử cách mạng, một trong những bài học kinh nghiệm hết sức sâu sắc trong công tác dân vận được Đảng ta đúc kết, đó là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Tự hào truyền thống vẻ vang 93 năm công tác dân vận của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cơ quan Ban Dân vận Trung ương và ngành dân vận cần không ngừng tự tu dưỡng, thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh; quan tâm, chăm lo lợi ích và đời sống của nhân dân, gắn việc làm tốt công tác dân vận với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; tiếp tục nỗ lực đổi mới công tác dân vận theo hướng sát cơ sở, thực sự “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” để phát huy quyền làm chủ, sức mạnh của nhân dân.

Với bản lĩnh, quyết tâm và đổi mới sáng tạo, từ nay đến cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, công tác dân vận chắc chắn tiếp tục có những bước tiến vững chắc và thành công mới, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030, tầm nhìn 2045, vì sự phát triển thịnh vượng, hùng cường của đất nước, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân./.