Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2024

Không thể xuyên tạc quyền tự do báo chí tại Việt Nam

 Những năm qua, sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của hệ thống báo chí, truyền thông trong nước đã phản ánh rất rõ những thành tựu đáng ghi nhận của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân.

Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước tác nghiệp tại Trung tâm Báo chí Đại hội XIII của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước tác nghiệp tại Trung tâm Báo chí Đại hội XIII của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Việt Nam đã, đang tham gia và nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình về vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí theo Hiến chương Liên hợp quốc và các nghị định, hiệp ước quốc tế, khu vực liên quan.

Tuy nhiên, một số cá nhân và tổ chức thù địch, phản động vẫn luôn tìm cách để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do báo chí như một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Không có gì đáng ngạc nhiên, vào đầu tháng 5/2024, theo thông lệ, tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) lại công bố báo cáo thường niên về “Chỉ số tự do báo chí năm 2024”.

Tổ chức này xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí - thuộc nhóm các nước “có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới”.

Đây không phải là lần đầu RSF đưa ra những nhận định hoàn toàn phiến diện, thiếu khách quan, thiên kiến và quy chụp về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, bất chấp thực tế đời sống báo chí ở nước ta ngày càng phát triển chuyên nghiệp, sôi động và hiệu quả.

Giống như mọi lần, những quy kết vô căn cứ trong báo cáo của tổ chức này không đưa ra được bất cứ bằng chứng có tính xác thực nào ứng với các tiêu chí được chính họ đưa ra là “thực hiện các hoạt động giúp thúc đẩy tự do báo chí của thế giới” mà chỉ dựa vào những thông tin thiếu khách quan từ một nhóm người có định kiến với nhà nước sở tại về quan điểm, đường hướng hoạt động báo chí hoặc một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, có hành vi vi phạm pháp luật, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị.

Những nội dung mang tính bịa đặt trong bản báo cáo đã tạo cơ hội cho những phần tử thù địch, cực đoan trong và ngoài nước công kích, chống phá Việt Nam.

Thực tiễn đã chứng minh, trong suốt tiến trình phát triển của đất nước, việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và các quy định của pháp luật, phù hợp với các quy định của quốc tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Cụ thể tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.

Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam những năm qua rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực...

Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, đến năm 2023, cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000.

Với sự hỗ trợ của công nghệ, hệ thống báo điện tử đang hoạt động ngày càng mạnh mẽ, tạo ra sự tương tác tích cực đối với bạn đọc. Hợp tác quốc tế trong truyền thông cũng đang được tăng cường.

Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Công tác đào tạo, trao đổi, hợp tác về báo chí trong và ngoài nước ngày càng được quan tâm. Không chỉ vậy, mạng xã hội cũng là một kênh thông tin tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông.

Mọi công dân đều được quyền phát ngôn, thảo luận các vấn đề của đời sống. Đây là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất cho vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm.

Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, tự do báo chí không có nghĩa là bất chấp mọi quy định pháp luật. Tự do phải trong khuôn khổ luật pháp quốc gia. Không chỉ riêng báo chí mà bất kỳ lĩnh vực nào khác của đời sống cũng phải hoạt động theo tinh thần thượng tôn pháp luật.

Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13, khoản 2).

Đồng thời tại khoản 3, Điều 25 về Quyền và nghĩa vụ của nhà báo, Luật Báo chí quy định, nhà báo có nghĩa vụ thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.

Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí ở Việt Nam lấy mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Người làm báo luôn gắn trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, không phải là tự do tùy tiện theo ý chí cá nhân.

Do đó khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mọi công dân đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, không làm ảnh hưởng hay xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Thực chất thủ đoạn xuyên tạc tình hình nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận của Việt Nam không phải là mới. Đây là kịch bản cũ thường xuyên được RSF và một số tổ chức nhân danh dân chủ, nhân quyền áp dụng, rêu rao để vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Mặt khác, qua đó kích động, tuyển lựa hỗ trợ các thành phần chống đối trong nước tiến hành những hoạt động công kích Đảng, Nhà nước, cơ quan công quyền dưới vỏ bọc “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do” nhằm phục vụ cho mục đích đen tối của mình.

Một thực tế không thể phủ nhận là ở Việt Nam, không người nào bị kết án tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những trường hợp bị xử lý hình sự đều do thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của Nhà nước, cũng như các tổ chức, cá nhân, gây bất bình trong dư luận.

Việc bắt giữ, xử lý hình sự một số đối tượng nhân danh “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định chính trị là cần thiết và đúng với quy định pháp luật. Tuy nhiên các thế lực thù địch đã lợi dụng những vụ việc này để rêu rao vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí hòng chống phá Việt Nam.

Chúng cố tình gắn mác cho những đối tượng cực đoan, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là “nhà báo độc lập”, hay “nhà báo tự do”, cho dù các đối tượng này không hề làm việc cho một cơ quan báo chí nào ở Việt Nam, không được Bộ Thông tin và Truyền thông ở Việt Nam cấp thẻ theo luật định.

Từ đây các đối tượng ra sức bóp méo tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, kêu gọi các tổ chức quốc tế lên án Việt Nam.

Có thể thấy rằng, cái gọi là “tự do báo chí” mà những phần tử thù địch muốn tuyên truyền, cổ xúy thực chất là đề cao quan điểm cá nhân nhưng không đi kèm với trách nhiệm xã hội, khuôn khổ pháp luật và đạo đức, bất chấp những hậu quả xảy ra với cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Đây là điều không thể chấp nhận được bởi trong một xã hội tiến bộ, tự do ngôn luận, tự do báo chí không thể nằm ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc. Mọi hành vi phá hoại đất nước, gây mất an ninh trật tự xã hội nhân danh tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải bị ngăn chặn và loại bỏ.

Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng khẳng định: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

Trước đó, trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 cũng nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Rõ ràng sẽ không có quốc gia nào ủng hộ tự do báo chí nếu đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, xã hội. Như tại Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận cũng đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc, trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự); đồng thời, việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.

Hệ thống các quy định pháp luật của nước ta luôn tương thích với các quy định quốc tế trong vấn đề tự do báo chí. Nền báo chí cách mạng Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.

Do đó, những luận điệu xuyên tạc, thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ, bịa đặt tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, hay các bảng xếp hạng thiếu căn cứ của một số tổ chức, cá nhân không thể phủ nhận, bóp méo những thành tựu to lớn mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được./.

LHQ-ST

Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tôn giáo

 Thời gian qua, Việt Nam tiếp tục có nhiều nỗ lực nhằm bảo đảm quyền con người, trong đó luôn quan tâm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đảng, Nhà nước cũng tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tìm ra hướng đi chung, xóa bỏ những định kiến, cách nhìn nhận, đánh giá không chính xác của một số cá nhân, tổ chức về tình hình tôn giáo tại Việt Nam.

Lễ hội “Xuân yêu thương” của các Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Lễ hội “Xuân yêu thương” của các Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Cùng với quá trình phát triển và đổi mới của đất nước, đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt Nam có nhiều chuyển biến, từ đây đặt ra yêu cầu Đảng, Nhà nước phải làm tốt hơn nữa công tác tôn giáo và đoàn kết dân tộc trong tình hình mới. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã và đang hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo cho nhân dân mà trọng tâm là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Từ cơ sở của đạo luật này, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị định quan trọng, gần nhất là Nghị định số 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29/12/2023 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Không chỉ vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng được lồng ghép trong các văn bản pháp luật quan trọng khác như Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và mới đây là Luật Đất đai năm 2024. Qua đó, nhiều vấn đề mới đã được ban hành nhằm củng cố, nâng cao quyền của người theo tôn giáo đang sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam như quyền bày tỏ niềm tin, tín ngưỡng của phạm nhân; chính sách nhà nước giao đất có hạn mức không thu tiền sử dụng đất đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tôn giáo…

Nhờ chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam tiếp tục phát triển ngày một sinh động và đa dạng. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện có hơn 27 triệu người Việt Nam đang sinh hoạt trong 38 tổ chức, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành trực thuộc 16 tôn giáo. So với năm 2022, số lượng người Việt Nam theo tôn giáo đã tăng gần 56.000 người, chức sắc tăng 814 người, cơ sở thờ tự tăng 142 địa điểm. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo, tính riêng năm 2023 Nhà xuất bản Tôn giáo đã xuất bản 2.400.000 bản kinh sách, tài liệu liên quan bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và các tiếng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo sửa chữa, cải tạo và xây mới cơ sở tôn giáo. Tính đến nay, số lượng cơ sở tôn giáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi toàn quốc đạt hơn 70%. Nhiều cơ sở thờ tự được xây dựng, tôn tạo khang trang, quy mô để bà con an tâm sinh hoạt tinh thần.

Những kết quả nêu trên đã cho thấy một bức tranh Việt Nam đa tôn giáo nhưng luôn chung sống thân thiện, hợp tác, đoàn kết trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một số cá nhân, tổ chức vẫn giữ cái nhìn, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Từ thực tế này, thời gian qua, Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại tôn giáo một cách toàn diện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Trong đó, phải kể đến việc công bố Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, các hoạt động tăng cường đối thoại quốc tế, xóa bỏ những hiểu nhầm, bác bỏ những luận điệu thiếu thiện chí liên quan đến các vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam.

Năm 2023, Ban Tôn giáo Chính phủ đã tạo điều kiện cho hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài. Ở chiều ngược lại, cơ quan chức năng đã cấp phép cho gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Các ban, bộ, ngành và chính quyền địa phương đã hỗ trợ cấp phép cho các tổ chức tôn giáo đăng cai, tổ chức các sự kiện lớn như Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu của Giáo hội Công giáo Việt Nam; Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo châu Á vì hòa bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Lễ hội “Xuân yêu thương” của các Hội thánh Tin lành Việt Nam…

Trên diễn đàn quốc tế, trong năm 2023, Bộ Nội vụ đã tiếp 14 đoàn khách quốc tế đến tìm hiểu về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Từ ngày 10-22/10/2023, Đoàn liên ngành và chức sắc tôn giáo do Thứ trưởng Nội vụ Vũ Chiến Thắng đứng đầu đã thăm Hoa Kỳ để trao đổi về chính sách tôn giáo và thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Trong chuyến thăm này, đoàn đã làm việc với các đại diện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Đại sứ lưu động về tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, Phó Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ… Qua đó, thống nhất cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin thông qua cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Hoa Kỳ và qua kênh đối thoại với Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ). Song song với hoạt động này, Đoàn cũng tổ chức gặp và làm việc bàn tròn, tọa đàm với cá nhân và lãnh đạo các tổ chức tôn giáo Hoa Kỳ tại cơ sở tôn giáo.

Trong các cuộc gặp gỡ này, đại diện phía Hoa Kỳ cũng như các chức sắc tôn giáo Hoa Kỳ đã phần nào ghi nhận những thành tựu, kết quả đạt được của Việt Nam trong công tác tôn giáo. Đáng chú ý, tại dịp này, mục sư Franklin Graham, Chủ tịch Hiệp hội truyền giáo Billy Graham đã khẳng định mong muốn đảm nhận vai trò “đại sứ tôn giáo” cho Việt Nam để chia sẻ, giải thích cho chính giới và các tổ chức của phía Hoa Kỳ, vận động cho Việt Nam sớm ra khỏi SWL (Danh sách theo dõi đặc biệt của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo).

Nổi bật trong chính sách đối ngoại tôn giáo của Việt Nam từ năm 2023 đến nay phải kể đến những bước tiến trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican. Cụ thể vào tháng 7/2023 hai bên đã thống nhất Quy chế hoạt động của Đại diện Thường trú và Văn phòng Đại diện Thường trú ở Việt Nam. Ngày 23/12/2023, Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Marek Zalewski làm Đại diện Tòa thánh Vatican thường trú tại Việt Nam. Ngày 31/1/2024, Tổng Giám mục Marek Zalewski đã đến Việt Nam đảm nhiệm chức vụ này. Đồng thời tại cuộc gặp giữa Đoàn liên ngành và chức sắc tôn giáo diễn ra vào tháng 10/2023, Đại diện Tòa thánh Vatican tại Liên hợp quốc, Tổng Giám mục Gabriele Caccia đã tuyên bố ủng hộ Việt Nam ra khỏi danh sách SWL, thúc đẩy quan hệ nhà nước giữa Việt Nam và Tòa thánh trong thời gian tới. Mới đây, từ ngày 9-14/4/2024, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican Paul Richard Gallagher đã có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam. Trong lần đầu đến Việt Nam, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Gallagher đã rất ấn tượng về thành tựu phát triển kinh tế và đối ngoại Việt Nam mà trong đó có sự đóng góp không nhỏ của cộng đồng Công giáo Việt Nam. Đồng thời, ông tin tưởng với sự hiểu biết lẫn nhau, đối thoại chân thành, quan hệ Việt Nam-Tòa thánh sẽ đạt được những phát triển mới.

Những kết quả nêu trên là minh chứng không thể phủ nhận khi đề cập vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thành tích ấy đến từ nỗ lực của toàn thể hệ thống chính trị khi luôn kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng tôn giáo, từ đó chủ động giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo thiết thực, ý nghĩa. Mặc dù vậy, những tháng gần đây, các hoạt động lợi dụng quyền tự do tôn giáo để chống phá của các hội, nhóm phản động, cực đoan có chiều hướng gia tăng. Các đối tượng không giấu giếm mục đích tạo bất lợi cho Việt Nam tại phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, cũng như ngăn Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách SWL.

Bằng cách xuyên tạc một số vụ án như “Tịnh thất Bồng Lai”, “Ân đàn đại đạo”, “tín ngưỡng Dương Văn Mình”, các đối tượng chống phá cố tình hướng lái dư luận, quy kết Việt Nam “bách hại những cộng đồng tôn giáo độc lập [mà] không tuân thủ sự kiểm soát của nhà nước”, bất chấp sự thực đây là những vụ án đã được xét xử công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội. Song song đó, các tổ chức chống phá cũng lợi dụng triệt để nhận thức chủ quan, hành xử thiếu kinh nghiệm của một số cán bộ khi thực thi pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, các vụ việc này chỉ mang tính đơn lẻ, xuất phát từ sai lầm cá nhân của người làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng. Dẫu vậy các hội, nhóm cố tình vu khống Nhà nước Việt Nam “ép” người dân “bỏ đạo” bằng cách xây dựng, áp dụng các chính sách, pháp luật để “ngăn cản họ trong việc thực thi niềm tin tôn giáo một cách độc lập”.

Trên thực tế, sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đi vào đời sống, Việt Nam có thêm 3 tổ chức tôn giáo mới được công nhận. Số lượng điểm nhóm được cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung tăng theo thời gian ở tất cả các tôn giáo. Hiện tại cả nước có gần 4.000 điểm sinh hoạt tôn giáo, trong đó có 67 điểm, nhóm sinh hoạt tôn giáo dành cho người nước ngoài. Con số này cao hơn đáng kể khi đối sánh với số lượng 2.600 điểm nhóm được cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung trước năm 2018 (thời điểm Luật Tín ngưỡng, tôn giáo chính thức có hiệu lực).

Đáng tiếc, một số tổ chức, cơ quan theo dõi tình hình tôn giáo thế giới ở các quốc gia, tổ chức liên chính phủ như Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) vẫn tiếp tục sử dụng những cứ liệu sai sự thật, không chính xác làm nguồn tham khảo cho các báo cáo, đánh giá của mình. Việc làm này không những tự làm giảm giá trị và tính khách quan của các bản báo cáo mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến những cố gắng, công sức của Việt Nam với công tác đối ngoại giữa các cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo. Có thể khẳng định, từ trước đến nay, Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn về lĩnh vực tôn giáo với các cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế để cùng tìm ra hướng giải quyết cho những vấn đề còn khác biệt. Tuy nhiên, điều này phải được thực hiện trên nền tảng của sự tăng cường hiểu biết, tinh thần đối thoại cởi mở, hợp tác chặt chẽ và tôn trọng lẫn nhau./.

LHQ-ST

Không để bộ đội “ngóng” chính sách

 

Trong khi nhiều đơn vị rất nhanh chóng xây dựng, ban hành quy chế, hướng dẫn thực hiện Hướng dẫn số 3641/HD-TM ngày 14-11-2023 của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam về việc giải quyết cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng (sau đây gọi chung là quân nhân) nghỉ tranh thủ, đi về hằng ngày thì một số đơn vị lại chậm trễ trong việc này, khiến bộ đội phải “ngóng” quy định, chậm được hưởng chính sách. Trang Ý kiến chiến sĩ nêu vấn đề này.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, sau khi Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam ban hành Hướng dẫn số 3641/HD-TM nêu trên, nhiều đơn vị cấp quân khu, quân chủng đã rất nhanh chóng xây dựng văn bản hướng dẫn để các đơn vị trực thuộc triển khai, áp dụng. Cụ thể như: Ngày 28-11-2023, Bộ Tham mưu Quân khu 3 ban hành Hướng dẫn số 4126/HD-TM; ngày 13-12-2023, Quân chủng Phòng không-Không quân ban hành Quy chế số 6400/QC-PKKQ; ngày 15-12-2023, Bộ Tham mưu Quân khu 2 ban hành Hướng dẫn số 6323/HD-TM; ngày 17-1-2024, Quân khu 5 ban hành Quy chế số 135/QC-QK...

Trên cơ sở những quy chế, hướng dẫn này, các đơn vị trực thuộc tiếp tục căn cứ vào tình hình thực tế để xây dựng quy định riêng cụ thể hơn; tiến hành thống kê danh sách quân nhân đủ điều kiện và tổ chức sinh hoạt toàn thể cán bộ, quân nhân để thông qua; giải quyết cho quân nhân nghỉ tranh thủ, đi về hằng ngày sau khi viết cam kết chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, quy định của địa phương nơi cư trú, quy định về an toàn giao thông, quy định thời gian đi và về. Theo chia sẻ, đánh giá của nhiều quân nhân và chỉ huy các đơn vị, việc cấp trên giải quyết cho quân nhân nghỉ tranh thủ, đi về hằng ngày là chủ trương mang tính nhân văn sâu sắc, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Nhờ thế, anh em có điều kiện giải quyết việc chung, việc riêng một cách hợp lý; có thêm thời gian, điều kiện chăm lo, xây dựng hạnh phúc gia đình; góp phần giải quyết tốt tư tưởng bộ đội và khích lệ, động viên quân nhân thêm yên tâm công tác, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Không để bộ đội “ngóng” chính sách
Lữ đoàn 955, Vùng 4 Hải quân phối hợp huấn luyện hiệp đồng, đổ bộ đường biển. Ảnh: TRỌNG VĨNH 

Tuy nhiên, như Trang Ý kiến chiến sĩ phản ánh trên số báo ra ngày 20-5-2024, đến giữa tháng 5 vừa qua, một số đơn vị mới chỉ dừng lại ở bước sao lưu, quán triệt Hướng dẫn số 3641/HD-TM vì cấp trên trực tiếp chưa có hướng dẫn thực hiện.

Thông thường, khi cơ quan cấp Bộ Quốc phòng ban hành một văn bản liên quan đến quy định, chế độ, chính sách... thì các đơn vị cấp quân khu, quân chủng, binh chủng và tương đương sẽ căn cứ vào đó để nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn các đơn vị trực thuộc xây dựng quy định cụ thể để triển khai, thực hiện cho phù hợp với điều kiện thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ, tính chất đặc thù của đơn vị mình. Vì thế, nếu không có văn bản hướng dẫn của cấp trên trực tiếp, đơn vị cơ sở không thể xây dựng quy định để triển khai thực hiện và áp dụng. Như thế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đơn vị cũng như đối tượng thụ hưởng, chịu tác động trực tiếp là bộ đội. Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, có khi không phải chờ đến lúc chỉ huy đơn vị quán triệt thì bộ đội đã nắm được nội dung các quy định, chế độ, chính sách mới; việc bộ đội ở các đơn vị thông tin, trao đổi với nhau cũng rất thuận tiện nên nếu đơn vị này triển khai, đơn vị kia chưa thực hiện thì rất dễ nảy sinh tâm lý so sánh, gây giảm sút niềm tin nơi người chỉ huy; đây cũng là cách thể hiện sự quan tâm, động viên thiết thực nhất đối với bộ đội.

Rất mong rằng, qua việc triển khai Hướng dẫn số 3641/HD-TM của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, các đơn vị sẽ rút kinh nghiệm để tổ chức nghiên cứu, soạn thảo, ban hành quy chế, hướng dẫn một cách nhanh chóng để đơn vị cơ sở triển khai thực hiện, bộ đội được thụ hưởng chính sách quan tâm, ưu đãi của trên một cách nhanh nhất.

Chỉ huy trưởng tận tâm với công việc

 

Tại Đại hội Thi đua Quyết thắng giai đoạn 2019-2024 của LLVT huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ, Chỉ huy trưởng Ban CHQS xã Hòa Khánh Nam là một trong những điển hình tiên tiến được tuyên dương.

Với sự năng động, sáng tạo, trách nhiệm cao, đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xã và triển khai thực hiện tốt công tác quân sự, quốc phòng địa phương.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, Ban CHQS xã Hòa Khánh Nam có một tổ dân quân thường trực làm nhiệm vụ thường xuyên. Khối lượng công việc lớn nhưng dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ, cán bộ, chiến sĩ Ban CHQS xã Hòa Khánh Nam luôn nỗ lực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Chỉ huy trưởng tận tâm với công việc
 Đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ (bên phải) tặng quà, động viên hộ dân nghèo, neo đơn. 

Thực hiện mô hình “Dân quân nắm hộ dân” trong LLVT tỉnh Long An, đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ cho biết: "Ban CHQS xã phân công mỗi đồng chí dân quân thường trực phụ trách khoảng 2.600 hộ dân, nắm về nghề nghiệp, kinh tế, ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Với số hộ và nhân khẩu lớn, các chiến sĩ dân quân đã thông qua ấp đội trưởng, trưởng ấp, lão thành cách mạng, người già, người có uy tín... để nắm địa bàn. Đặc biệt, để được mọi người tin tưởng thì chiến sĩ dân quân phải luôn mẫu mực từ lời nói đến việc làm”.

Trong xã có một người đàn ông thường xuyên uống rượu say, không chí thú làm ăn và hay la lối vợ con, cuộc sống gia đình lục đục, ảnh hưởng tới các hộ dân xung quanh. Đồng chí Đỏ đã phối hợp với các ban, ngành của xã đến vận động người đàn ông này thay đổi lối sống. Bằng uy tín, tấm lòng chân thành, đồng chí Đỏ nhiều lần đến khuyên nhủ, đồng thời trực tiếp vận động các nhà hảo tâm và sự chung tay góp sức của các chiến sĩ dân quân xây tặng gia đình căn nhà tình nghĩa. Thấu hiểu tình cảm của đồng chí Đỏ và các chiến sĩ dân quân, người đàn ông ấy đã thay đổi lối sống, quyết tâm từ bỏ “ma men".

Không chỉ thể hiện tốt vai trò của người chỉ huy trong thực hiện mô hình “Dân quân nắm hộ dân”, đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ còn tích cực tạo ra sự lan tỏa yêu thương từ những hoạt động giúp đỡ người dân gặp khó khăn, hoạn nạn, như xây nhà tình nghĩa quân dân, phiên chợ 0 đồng, phần quà nghĩa tình... Những việc làm thiết thực này đã nâng cao uy tín của người chiến sĩ "sao vuông", được nhân dân tin yêu, ủng hộ, giúp đỡ trong thực hiện nhiệm vụ. Từ năm 2021 đến nay, đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ và Ban CHQS xã Hòa Khánh Nam đã vận động được 4.450 phần quà hỗ trợ người dân gặp khó khăn; vận động làm đường giao thông nông thôn với tổng kinh phí xây dựng hơn 1 tỷ đồng; xây tặng 12 căn nhà tình nghĩa quân dân, nhà tình thương với tổng kinh phí xây dựng hơn 1,3 tỷ đồng.

Đồng chí Nguyễn Thu Vân, Bí thư Đảng ủy xã Hòa Khánh Nam khẳng định: “Đồng chí Nguyễn Bảy Đỏ là cán bộ quân sự mẫu mực. Những đóng góp của đồng chí Đỏ và Ban CHQS xã đã góp phần cùng cấp ủy, chính quyền, nhân dân xây dựng địa phương ngày càng phát triển, văn minh, giàu đẹp; nhân lên những bông hoa đẹp trong phong trào thi đua yêu nước tại địa phương...”.

Lan tỏa những mô hình giúp dân

 

Những năm qua, LLVT tỉnh Bình Thuận có nhiều mô hình, phong trào giúp đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng tình đoàn kết quân dân gắn bó.

Thôn Đồng Me, xã Đức Thuận, huyện Tánh Linh (Bình Thuận) là thôn khó khăn nhất của xã Đức Thuận, phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trước đây, nhà văn hóa thôn xuống cấp, thiếu thiết chế văn hóa, ảnh hưởng đến nếp sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Từ thực trạng trên, Ban CHQS huyện Tánh Linh vận động các đơn vị, cá nhân ủng hộ 120 triệu đồng cùng với 80 triệu đồng từ nguồn hỗ trợ của xã Đức Thuận đã nâng cấp nhà văn hóa thôn khang trang, có đủ thiết chế văn hóa. Đây là một trong những công trình, việc làm ý nghĩa trong thực hiện mô hình “LLVT tỉnh tăng cường đoàn kết với tôn giáo, dân tộc” do Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh Bình Thuận triển khai thời gian qua.  

Lan tỏa những mô hình giúp dân

Bộ CHQS tỉnh Bình Thuận phối hợp khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho người dân huyện đảo Phú Quý. 

Bình Thuận là tỉnh ven biển khí hậu nắng nóng quanh năm khắc nghiệt, địa bàn có nhiều đồng bào theo đạo, dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn hạn chế, đời sống khó khăn. Lợi dụng đặc điểm đó, các thế lực thù địch trong thời gian dài sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn lôi kéo, kích động nhân dân gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, có thời điểm thành điểm nóng. Thực hiện mô hình “LLVT tỉnh tăng cường đoàn kết với tôn giáo, dân tộc”, hằng năm, Bộ CHQS tỉnh Bình Thuận tổ chức ký kết chương trình phối hợp với các tổ chức tôn giáo, ban, ngành, địa phương thực hiện các nội dung: Công tác chính sách, an sinh xã hội; xây dựng công trình dân sinh, nhà “Tình nghĩa quân-dân” tặng đối tượng chính sách, người dân khó khăn; chung sức xây dựng nông thôn mới; tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ CHQS tỉnh Bình Thuận có nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, như: Ban CHQS TP Phan Thiết có mô hình “Đồng hành cùng ngư dân”; Ban CHQS huyện Tánh Linh có Phong trào “Chắp cánh ước mơ tới trường”; Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh có mô hình Quỹ “Hũ bít đồng đội”, “Phiên chợ 0 đồng”; Trung đoàn Bộ binh 812 có mô hình “Hũ gạo tình thương”...

Lan tỏa những mô hình giúp dân
Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Bình Thuận trao quyết định tặng nhà "Tình nghĩa quân dân" tặng hộ đồng bào dân tộc thiểu số. 

Thực hiện những mô hình giúp dân sáng tạo, hiệu quả, từ năm 2019 đến nay, LLVT tỉnh Bình Thuận đã xây dựng được 116 căn nhà “Tình nghĩa quân-dân”, trao 35 sổ tiết kiệm tặng đối tượng chính sách, người già neo đơn, trẻ em nghèo, đồng bào có đạo; xây dựng 9 công trình văn hóa, thể thao tại các giáo xứ, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; huy động hơn 62.000 ngày công giúp dân sản xuất, bê tông hóa, làm mới, sửa chữa 60km giao thông nông thôn; nạo vét, khơi thông dòng chảy 156km kênh nội đồng; sửa chữa, nâng cấp 7 cây cầu gỗ, 3 đập nước... Theo Đại tá Ngô Minh Lực, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Bình Thuận, các mô hình, việc làm cụ thể, ý nghĩa của cán bộ, chiến sĩ đã lan tỏa sâu rộng trong các địa phương, thiết thực nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng tình đoàn kết quân dân gắn bó, xây dựng “thế trận lòng dân”, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Trí thức trẻ tình nguyện cống hiến tài năng

 

Với sức trẻ, lòng nhiệt huyết, trình độ, kiến thức khoa học, qua hơn 10 năm thực hiện nhiệm vụ, lực lượng trí thức trẻ tình nguyện (TTTTN) Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 959, Quân khu 9 đã sát cánh cùng cán bộ, chiến sĩ tham gia triển khai nhiều dự án công trình, phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo bền vững, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

“Môi trường quân ngũ là điều kiện tốt để chúng em phấn đấu rèn luyện, không ngừng hoàn thiện nhân cách, phát triển toàn diện...”, đó là tâm sự của em Lâm Ngọc Hân, đại diện cho 27 đội viên TTTTN đến công tác tại Khu KT-QP Tân Hồng (Đồng Tháp) đợt 2 giai đoạn 2021-2030.

Thực hiện chủ trương đưa TTTTN đến công tác tại các khu KT-QP, ngày 29-1-2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 174/QĐ-TTg, giao Bộ Quốc phòng chủ trì triển khai thực hiện Dự án “Tăng cường TTTTN đến công tác tại các khu KT-QP giai đoạn 2010-2020” (gọi tắt là Dự án 174). Từ hiệu quả của Dự án 174, Chính phủ quyết định tiếp tục kéo dài dự án đến hết năm 2030. Được biết, đến năm 2021, Dự án 174 được triển khai trên địa bàn 23 khu KT-QP trong cả nước và đã hoàn thành giai đoạn 1 với 5 đợt; riêng Quân khu 9 đã thực hiện được 7 đợt.

Trí thức trẻ tình nguyện cống hiến tài năng
Các trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 959 trao đổi về chăn nuôi với người dân trong vùng dự án. 

Theo Đại tá Bùi Duy Quân, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 959, trên cơ sở kinh nghiệm rút ra từ các đợt triển khai trước, ở đợt 2 giai đoạn 2021-2030 này, đơn vị đã chủ động kiện toàn Ban quản lý Dự án 174, tổ giúp việc, tham mưu, triển khai xây dựng kế hoạch, tiêu chuẩn, yêu cầu tuyển dụng; phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, giới thiệu, tuyên truyền về mục tiêu, yêu cầu tuyển chọn đối tượng tham gia Dự án 174. Song song đó, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương trong khu KT-QP xây dựng, thống nhất ký kết quy chế phối hợp, quản lý điều hành đội TTTTN, triển khai Dự án 174 đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng tuyển chọn. Đại tá Bùi Duy Quân cho biết: “Nhờ thực hiện chặt chẽ các khâu, các bước, đội viên TTTTN được tuyển chọn có chất lượng chuyên môn cao, phù hợp với nhu cầu sử dụng của các địa phương trong khu KT-QP. Trong đó, đội viên có trình độ đại học chiếm 66,66%, cao đẳng 22,22%, trung cấp 11,12%; đội viên là người dân tộc thiểu số chiếm 3,7% và có 4/27 đội viên là đảng viên”.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, từ năm 2010 đến nay, huyện Tân Hồng (Đồng Tháp) được tăng cường 116 đội viên TTTTN. Qua hơn 10 năm về địa phương, các đội viên TTTTN là những nhân tố tích cực trong công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, giúp nhân dân trong khu KT-QP chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình. Lực lượng TTTTN cũng xung kích trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng; phối hợp cùng các ban, ngành, đoàn thể địa phương làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở; tham gia tập hợp, giáo dục thanh thiếu niên; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức, đoàn thể ở địa phương, nhất là việc tham gia xây dựng chính quyền cơ sở... Đồng chí Đào Ngọc Bích, Phó chủ tịch UBND huyện Tân Hồng cho biết: “Các dự án của Đoàn KT-QP 959 triển khai đã được cấp ủy, chính quyền và toàn thể nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao; đặc biệt, lực lượng TTTTN đóng vai trò nòng cốt trong triển khai các dự án đó. Các dự án đã có đóng góp rất lớn vào việc hoàn thành xây dựng nông thôn mới ở 8/8 xã, trong đó có 1 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; góp phần ổn định và xây dựng "thế trận lòng dân" nơi biên cương, phát triển kinh tế-xã hội, củng cố, xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ huyện, tỉnh trên tuyến biên giới”.

Dự án 174 là mô hình phù hợp với thực tế nhiệm vụ, nhu cầu của các đoàn KT-QP và khu KT-QP, không chỉ tạo việc làm mà còn là cơ hội để TTTTN rèn luyện, lập thân, lập nghiệp. Thời gian qua, đã có nhiều đội viên TTTTN được các địa phương tiếp nhận vào làm việc ở UBND xã, các doanh nghiệp; nhiều đội viên đã trưởng thành về tầm suy nghĩ, kiến thức thực tiễn và năng lực công tác; nhiều đội viên được đứng chân vào hàng ngũ của Đảng... càng khẳng định tính hiệu quả to lớn của dự án.

Thiếu tướng Quách Văn Nhỏ, Phó tư lệnh Quân khu 9 khẳng định: “Để nâng cao hiệu quả của Dự án 174, phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ TTTTN, chúng tôi sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Đoàn KT-QP 959 nâng cao chất lượng công tác tổ chức, quản lý và hoạt động của TTTTN; làm tốt việc tham mưu cho địa phương huy động các nguồn vốn hỗ trợ lồng ghép để triển khai các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững để TTTTN tham gia thực hiện...”. 

 

Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, quốc phòng - an ninh đảm bảo

Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2023; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước những tháng đầu năm 2024, trong tuần làm việc thứ 2 của Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (từ ngày 27 đến 31/5), các đại biểu Quốc hội cho rằng, trong bối cảnh khó khăn chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ đã có những giải pháp, chỉ đạo điều hành quyết liệt, cùng với những quyết sách của Quốc hội đã giúp kinh tế - xã hội nước ta đạt được kết quả rất tích cực. Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao so với các nước trên thế giới và những tháng đầu năm 2024 đạt 5,66%. Bốn trụ cột của nền kinh tế đều tăng trưởng, kinh tế vĩ mô ổn định, quốc phòng, an ninh đảm bảo, đời sống của nhân dân được cải thiện.

Đại biểu Phạm Đình Thanh phát biểu tại phiên thảo luận ngày 29/5.

Đánh thức tiềm năng phát triển của địa phương

Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế địa phương, đại biểu Trần Thị Thu Phước, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum chỉ ra rằng, để đánh thức được tiềm năng phát triển của các địa phương, nhất là các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn thì con đường đúng đắn nhất là phải có sự đầu tư, phát triển mạnh mẽ về văn hóa, du lịch.

Bà Phước cho biết, nhiều địa phương, trong đó có Tây Nguyên, tuy có những khó khăn về điều kiện đường sá, sinh hoạt, sản xuất của người dân, nhưng bù lại, những nơi này có những cảnh quan tươi đẹp, nhiều di tích lịch sử, nhiều nét văn hóa đa dạng. Những điều kiện này nếu được quan tâm đầu tư, khai thác, không chỉ góp phần thu hút khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng, phát triển kinh tế, xã hội, mà còn là con đường tất yếu để bảo tồn các di tích lịch sử, danh lam, thắng cảnh.

Do đó, cần quan tâm bố trí đúng, đủ nguồn lực cho Chương trình mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, tầm nhìn 2045. Có cơ chế khuyến khích người đứng đầu các địa phương dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chủ động nỗ lực hết mình để có chính sách, cách làm phù hợp, đột phá, giúp địa phương mình phát triển đi lên cùng đất nước. Quyết tâm cải thiện, đưa người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số của địa phương mình vươn lên thoát nghèo bền vững.

Trong khi đó, đại biểu Phạm Đình Thanh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian tới. Trong đó, về sản xuất nông nghiệp, cùng với việc tiếp tục cơ cấu lại ngành Nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, cần quan tâm đầu tư thỏa đáng để có bước chuyển nhanh từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Có các cơ chế, chính sách linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương tận dụng tối đa lợi thế hiện có phục vụ cho phát triển nông nghiệp đạt hiệu quả cao và bền vững.

Thực hiện tốt công tác đánh giá, phân tích, dự báo, nhất là dự báo về biến đổi khí hậu, bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, từ đó, có định hướng và các giải pháp phù hợp cho từng năm, từng giai đoạn đối với từng vùng, miền. Điều này cũng giúp cho việc phát triển nông nghiệp đạt mức độ an toàn cao, phát huy hiệu quả, chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại trong trường hợp có thiên tai, sự cố xảy ra, khắc phục cho được tình trạng bị động ứng phó trong thời gian qua.

Về phát triển hạ tầng giao thông, cần tập trung giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, có giải pháp cụ thể để chủ động về nguồn vật liệu, đảm bảo đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng giao thông quan trọng quốc gia, giao thông liên kết vùng. Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ, đề án được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 152 ngày 15/11/2022, nhất là đối với nhóm đề án về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển vùng Tây Nguyên.

Quan tâm bố trí thỏa đáng về kinh phí để đầu tư các tuyến cao tốc, hệ thống quốc lộ theo quy hoạch vàng lưới giao thông đã được phê duyệt. Ưu tiên thỏa đáng đối với các tuyến quốc lộ đi qua vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, giúp cho các tỉnh Tây Nguyên phát huy tốt vai trò liên kết vùng, thúc đẩy phát triển vùng Tây Nguyên theo đúng quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về nuôi trồng, phát triển cây dược liệu trong các loại rừng. Chủ trương cho phép nuôi trồng, phát triển, thu hoạch cây dược liệu trong các loại rừng đã được cụ thể hóa tại Điều 248 Luật Đất đai sửa đổi năm 2024...

Huy động tối đa nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Góp ý về vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, đại biểu Đoàn Thị Lê An, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, công trình trọng điểm quốc gia. Đồng thời, rà soát và có giải pháp hiệu quả để thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng theo phương thức đối tác công tư; giải quyết dứt điểm khó khăn, vướng mắc trong các dự án trọng điểm quốc gia.

Nhiều đại biểu Quốc hội đề xuất tập trung đầu tư nguồn lực phát triển 
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Xuất phát từ thực tiễn công tác tại cơ sở và tiếp thu các kiến nghị của cử tri tại địa bàn ứng cử, đại biểu Đoàn Thị Lê An đề nghị, cần quan tâm đến vấn đề đầu tư nguồn lực cho chương trình phát triển điện lưới khu vực nông thôn, hải đảo, đặc biệt là khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội, đặc biệt là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Hoàng Thị Đôi, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La cho biết, theo báo cáo, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều ở các huyện nghèo và dân tộc thiểu số đều đạt chỉ tiêu do Quốc hội và Chính phủ giao. Công tác xóa đói giảm nghèo có tiến bộ, song qua giám sát và nắm tình hình đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy, còn rất nhiều khó khăn, công tác giảm nghèo chưa thực sự bền vững. Chênh lệch mức sống giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mặt bằng chung của cả nước chậm được thu hẹp ở vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. Mức độ tiếp cận các dịch vụ về giáo dục, y tế, văn hóa tuy đã được nâng lên, nhưng so với mặt bằng chung còn thấp. Tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt còn chưa được giải quyết triệt để. Tình hình thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, gây thiệt hại, ảnh hưởng lớn đến kinh tế và đời sống của nhân dân...

Từ thực trạng trên, bà Đôi đề nghị, Chính phủ cần rà soát, đánh giá sát hơn về thực trạng nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Theo đó, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp hơn./.

CĐ, VS (st)