Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2024

VÌ SAO PHẢI XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN Ở NƯỚC TA

 Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, với sức mạnh tổng hợp cao và khả năng đề kháng mạnh mẽ, được xem là phương án hiệu quả nhất để ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ xung đột và chiến tranh, kể cả trong bối cảnh chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Chiến tranh, dù là sử dụng vũ khí thông thường hay công nghệ cao, đều gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế, chính trị và nhân mạng, ảnh hưởng đến ổn định và hòa bình thế giới. Do đó, mục tiêu ưu tiên là duy trì ổn định và hòa bình cho đất nước mà không cần tiến hành chiến tranh, hay nói cách khác là "đánh thắng chiến tranh ngay khi nó chưa xảy ra". Theo Tôn Tử, hành động không đánh mà làm cho kẻ địch khuất phục là cách sáng suốt nhất.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tư tưởng cơ bản, bao trùm nhất của tổ tiên ta là "Giữ nước từ khi nước chưa nguy". Trong thời đại Hồ Chí Minh, qua gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã phát triển tư duy từ quân sự sang quốc phòng, từ chiến tranh sang giữ nước mà không cần chiến tranh, và đã chỉ rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Để hiện thực hóa tư tưởng và quan điểm này, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, phát triển cao trong các điều kiện mới. Đây là nền quốc phòng của dân, do dân và vì dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ, được xây dựng toàn diện cả về tiềm lực và lực lượng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước và sự làm chủ của nhân dân.

Nền quốc phòng này không chỉ hiện đại hóa mà còn phát huy tối đa các giá trị truyền thống và cốt cách văn hóa Việt Nam, kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nền an ninh nhân dân giúp giữ cho đất nước ổn định và phát triển, kịp thời phát hiện và triệt tiêu các nguy cơ từ bên trong có thể gây đột biến. Nền quốc phòng này cũng đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu và hành động phá hoại của thế lực thù địch nước ngoài, giải quyết các tranh chấp và bất đồng bằng các giải pháp hòa bình dựa trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế.

Như vậy, có thể khẳng định: Chỉ có xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình mới tạo điều kiện để ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ chiến tranh, kể cả chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao. Đây là lựa chọn tối ưu nhất đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chính là cơ sở chủ yếu để tiến hành và chiến thắng trong chiến tranh nhân dân, ngay cả khi đối mặt với chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Có thể khẳng định, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, Việt Nam sẽ theo đường lối chiến tranh nhân dân - một cuộc chiến toàn diện, dựa trên sức mạnh của toàn bộ đất nước. Mọi người dân đều là chiến sĩ, sử dụng mọi loại vũ khí từ đơn giản, thô sơ đến hiện đại. Các hình thức tác chiến linh hoạt như du kích, chính quy, đánh bên sườn, phía sau, đánh sâu, đánh hiểm... đều phát huy tối đa hiệu quả, có thể chế ngự được ưu thế của vũ khí công nghệ cao. Điều này chỉ có thể đạt được dựa trên nền tảng của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng vững chắc và không ngừng hiện đại hóa từ thời bình.

Vũ khí công nghệ cao tuy có tính chính xác cao, nhưng chúng hoạt động theo những quy luật nhất định, dựa trên nhận dạng địa hình và mục tiêu. Nhờ chiến tranh nhân dân, chúng ta có thể làm thay đổi quy luật, biến dạng địa hình, dịch chuyển mục tiêu, và thậm chí tạo ra mục tiêu giả. Hệ thống phòng không nhân dân rộng khắp sẽ hạn chế được hiệu quả của vũ khí công nghệ cao, tiêu diệt được các loại máy bay và tên lửa hành trình của địch. Trong trường hợp địch sử dụng tác chiến điện tử mạnh, ta vẫn có khả năng chế áp được hiệu quả trinh sát của chúng; và nếu chỉ huy, hiệp đồng của chúng bị gián đoạn, ta vẫn có thể tiếp tục chiến đấu hiệu quả.

Vũ khí công nghệ cao có uy lực mạnh, nhưng kẻ địch không thể có đủ số lượng để tấn công và phá hủy tất cả mục tiêu trên khắp đất nước Việt Nam. Với nền quốc phòng hiện đại, chúng ta có thể tiêu diệt được bộ phận lực lượng, phương tiện công nghệ cao của địch, như đã từng bắn rơi máy bay B.52 của Mỹ vào năm 1972. Nhưng quan trọng hơn, nhờ vào thế trận chiến tranh nhân dân, chúng ta có điều kiện để bảo toàn lực lượng, tồn tại sau các đòn tiến công hỏa lực mạnh bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Trong chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tồn tại sau các đòn tiến công cũng là thắng lợi, bởi nếu Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội vẫn còn, Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu để giành chiến thắng. Và nếu kẻ địch chỉ tiến công bằng vũ khí công nghệ cao mà không có hành động trên bộ, thì cũng chưa thể khuất phục được Việt Nam; trong khi đó, nếu kẻ địch tiến công trên bộ, đây chính là lúc chiến tranh nhân dân phát huy hiệu quả cao nhất.

Với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, đường lối duy nhất đúng đắn chính là tiến hành chiến tranh nhân dân. Một cuộc chiến tranh nhân dân đúng nghĩa không thể bị đánh bại, kể cả khi đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc chiến đó, cần có sự xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình. Vì thế, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vẫn là đường lối xây dựng quốc phòng, an ninh đúng đắn trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

LHQ-ST

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 Trước tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(3). Do đó, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc “Đẩy mạnh học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong thời gian tới, cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cấp ủy đảng các cấp cần tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động này để mọi người có nhận thức đầy đủ, sâu sắc, coi việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nhu cầu tự thân, tự nguyện, tự giác thực hiện. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, lan tỏa những cá nhân thực hiện tốt việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để nhân rộng những tấm gương điển hình tiên tiến, tạo động lực và cổ vũ cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả cuộc vận động này.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức thực hiện việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo hướng thiết thực, hiệu quả. Việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được triển khai trong thời gian dài nên để thu hút được đông đảo sự tham gia của toàn xã hội, cần tạo thêm một luồng sinh khí mới với việc đổi mới nội dung, hình thức thực hiện. Các nội dung thực hiện cần gắn với những nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua những hình thức phong phú, phù hợp với từng chủ thể thực hiện. Theo đó, việc đánh giá hiệu quả thực hiện cũng cần có những tiêu chí riêng, tránh rập khuôn máy móc nhưng cũng tránh tùy tiện, qua loa. Ngoài ra, cần gắn việc thực hiện học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị khác như vấn đề “tự soi”, “tự sửa”, tự chịu trách nhiệm”, “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Điều đó làm cho việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thực chất, hiệu quả hơn, tránh lối hình thức, xáo mòn.

Ba là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu lợi dụng việc xuyên tạc, phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để chống phá Đảng, Nhà nước. Gần đây, một thực tế không thể phủ nhận là các thế lực thù địch ngày càng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng theo chiều sâu. Đó là bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn xuyên tạc, phủ nhận cả những hoạt động của Đảng ta trong việc lan tỏa, tôn vinh đóng góp của Người với dân tộc. Biểu hiện rõ nét nhất là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận việc Đảng ta đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, cần nhạy bén hơn nữa trong việc nắm bắt những thông tin sai trái, xấu độc về vấn đề này, kịp thời định hướng, tuyên truyền cho nhân dân theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực” để tránh việc bị các luận điệu sai trái chiếm lĩnh thông tin. Ngoài ra, cần tổ chức đấu tranh phản bác có hiệu quả với những luận điệu sai trái về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, nhất là trong những thời điểm đất nước có những sự kiện chính trị quan trọng để tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa tính đúng đắn trong những chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, có thể khẳng định việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Điều đó một mặt làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục ăn sâu, bám rễ hơn nữa vào đời sống tinh thần, tư tưởng và tiếp tục trở thành “kim chỉ nam” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, điều đó cũng góp phần củng cố, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong bối cảnh mới; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu hơn nữa, nhân lên những điều tốt đẹp, lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội./.

LHQ-ST

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam nên tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người chính là tài sản tinh thần quý giá của cả dân tộc ta. Do vậy, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không chỉ đưa ra các luận điệu chống phá thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh mà còn xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Các luận điệu xuyên tạc, chống phá về chủ trương này tập trung trên những bình diện chính sau:

Một là, có ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng qua chỉ là sự “bắt chước”, “sao chép” chủ nghĩa Mác - Lênin và khi áp dụng vào Việt Nam chỉ là sự “khiên cưỡng”, “gán ghép” nên việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chỉ mang tính hình thức theo kiểu “hô hào khẩu hiệu”! Để lý giải điều này, các thế lực thù địch viện dẫn rằng chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những năm 40, 50 của thế kỷ XIX dựa trên tiền đề kinh tế - xã hội của các nước châu Âu khác xa so với Việt Nam. Do đó, Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam là “không phù hợp”. Có ý kiến còn cáo buộc rằng sở dĩ Việt Nam trong suốt gần hết thế kỷ XX rơi vào cảnh “nồi da nấu thịt” là do Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì thế, việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là “một sự phi lý”!

Hai là, có ý kiến cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện nay, thực tiễn đã thay đổi nên tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không còn phù hợp, từ đó cho rằng việc Bộ Chính trị đề ra Chỉ thị 05-CT/TW là “sai lầm”, “sẽ không có kết quả”. Ở góc độ này, một số phần tử cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đề cao sự sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn lãnh đạo đất nước tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng lại bài xích việc Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Họ cho rằng “đó là sự phi lý về mặt lịch sử”, “trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”!

Ba là, với chiêu bài “hạ bệ thần tượng”, có thế lực thù địch còn cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là một con người hoàn thiện” vì “chỉ biết sống vì dân tộc”, “xem nhẹ gia đình”. Có kẻ còn cố tình bóp méo, xuyên tạc khi đánh đồng hai khái niệm “học tập ” và “ bắt chước ”. Họ cho rằng, học tập Hồ Chí Minh thì phải “bắt chước” giống Người, từ hình thức ăn mặc đến lời nói, việc làm, lối sống. Có kẻ còn cáo buộc, vu khống rằng “Càng thi đua học tập theo gương Hồ Chí Minh, càng lộ nhiều quan chức tham nhũng” hay “Học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là vô bổ, tốn ngân sách, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác định hướng không được tự do khám phá và thể hiện khả năng bản thân”!

Có thể nhận thấy, những luận điệu trên lộ rõ ý đồ chống phá, không chỉ với mục tiêu xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà còn phủ nhận giá trị, ý nghĩa tích cực của cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động. Do đó, cần hết sức cảnh giác trước luận điệu chống phá này.

LHQ-ST


Việt Nam luôn bảo đảm người dân được thụ hưởng các quyền con người

 Ngày 7/5 vừa qua, tại Trụ sở Liên hợp quốc tại Geneva (Thụy Sĩ), đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu đã tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Tại Phiên đối thoại, cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao thành tựu về nhân quyền của Việt Nam.

Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. (Ảnh: TTXVN)

Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. (Ảnh: TTXVN)

Ngay từ khi giành được độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Kể từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm thúc đẩy và bảo đảm quyền con người được thực hiện.

Từ một quốc gia phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, và góp phần vào duy trì an ninh lương thực trong khu vực và thế giới. Từng nằm trong nhóm các nước nghèo nhất thế giới, nhưng Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất.

Trong giai đoạn từ năm 1989 tới 2023, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gấp 40 lần. Trong vòng 20 năm kể từ năm 1993, hơn 40 triệu người đã thoát cảnh đói nghèo. Và trong vòng 15 năm kể từ năm 2005, tỷ lệ nghèo đa chiều đã giảm một nửa. Những kết quả trên đây được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Năm 2022, trong chuyến thăm Việt Nam, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã khẳng định những kết quả đó là “minh chứng rõ nét cho sự quật cường và nỗ lực của người dân Việt Nam, và cho các chính sách lấy người dân làm trung tâm của phát triển”.

Liên quan đến Cơ chế UPR, đến nay Việt Nam luôn tham gia đầy đủ các chu kỳ báo cáo và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các khuyến nghị nhận được (các đợt đánh giá định kỳ phổ quát chu kỳ 1, 2 và 3 của Việt Nam đã lần lượt được thực hiện vào tháng 5/2009, 2/2014 và 1/2019).

Trên cơ sở triển khai hiệu quả các khuyến nghị đã được chấp thuận trong chu kỳ 3, Việt Nam đã xây dựng Kế hoạch tổng thể với phân công cụ thể cho các cơ quan liên quan cũng như cơ chế rà soát tiến độ, và đánh giá kết quả. Báo cáo Chu kỳ IV của Việt Nam cho thấy đã có 239 trên tổng số 241 (99,2%) các khuyến nghị được chấp thuận đã được hoàn thành hoặc triển khai một phần.

Cụ thể, Việt Nam đã có những nỗ lực quan trọng để tăng cường các khuôn khổ pháp lý nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người. Đồng thời, tiến trình xây dựng pháp luật ngày càng minh bạch và bao trùm với sự tham gia rộng rãi của người dân. Tiêu biểu như trong quá trình dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, thông qua các kênh trực tiếp và trực tuyến, đã có hơn 12 triệu lượt góp ý và phản hồi về dự thảo.

Trước sự phát triển nhanh chóng của truyền thông đại chúng, internet và mạng xã hội ở Việt Nam đã giúp tăng cường tự do báo chí, tự do ngôn luận, và quyền tiếp cận thông tin.

Trong giai đoạn thực hiện báo cáo Chu kỳ IV, số lượng người sử dụng internet ở Việt Nam đã tăng 21%, đạt hơn 78 triệu người dùng. 25 triệu thuê bao di động được đăng ký mới, và mạng 4G đã bao phủ xấp xỉ 99,8% dân số Việt Nam.

Song song đó Việt Nam luôn đề cao quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, đồng thời thúc đẩy sự bình đẳng giữa các tôn giáo và nghiêm cấm mọi hình thức kỳ thị, phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo. Tháng 12/2023, Tòa thánh Vatican đã bổ nhiệm Đại diện Thường trú đầu tiên và thiết lập Văn phòng đại diện thường trú tại Việt Nam, một bước tiến đáng kể trong quan hệ Việt Nam-Vatican.

Việt Nam cũng quan tâm đến các quyền tự do lập hội, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bình đẳng giới, phát triển bền vững,... Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 72.000 hội đang hoạt động và có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội cũng như góp phần hỗ trợ tích cực đời sống người dân trong nước.

Các gói an sinh xã hội trị giá gần 88.000 tỷ đồng, chiếm 1% GDP quốc gia, đã được phân bổ hiệu quả cho các nhóm cụ thể. Tính đến cuối năm 2023, bao phủ bảo hiểm y tế đã chiếm khoảng 94% dân số Việt Nam… Nếu như năm 2021 chỉ số bình đẳng giới của Việt Nam xếp thứ 87 trong số 146 quốc gia thì đến năm 2023, Việt Nam đã tăng lên 15 bậc, xếp thứ 72.

Theo Báo cáo Phát triển Con người mới nhất của UNDP, xếp hạng chỉ số phát triển con người của Việt Nam tiếp tục tăng từ 115 lên 107. Việt Nam được xếp trong nhóm có chỉ số phát triển con người cao. Những kết quả trên đây cho thấy những nỗ lực không ngừng nghỉ của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người, nhất là trong giai đoạn dịch COVID-19 hoành hành trong những năm vừa qua.

Tuy nhiên với thái độ thù địch, thiếu thiện chí, nhằm thực hiện mưu đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng sự kiện Việt Nam thực hiện Báo cáo quốc gia theo Cơ chế UPR chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc để không ngừng tấn công, đưa thông tin sai lệch về quyền con người ở Việt Nam.

Như việc xuyên tạc rằng: “tình trạng nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tệ đi và lần này cũng như vậy, sau buổi báo cáo này tình trạng nhân quyền vẫn như vậy chứ không thể cải thiện được”. Ngay trong ngày 7/5, khi phái đoàn Việt Nam chính thức tham gia Phiên đối thoại một nhóm người Việt Nam ở nước ngoài do thiếu thông tin, có cái nhìn thiếu thiện chí, cực đoan, phản động đã xuống đường biểu tình trước Trụ sở Liên hợp quốc đưa ra những yêu sách vô lý.

Cuộc biểu tình được tổ chức khủng bố Việt Tân livestream trên mạng xã hội và có sự xuất hiện năng nổ, nhiệt tình của Nguyễn Văn Đài, người đã từng bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội vào tháng 4/2018 xét xử sơ thẩm về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, theo quy định” tại Điều 79,

Khoản 1, Bộ luật Hình sự năm 1999 và phải chịu mức án 15 năm tù và bị phạt quản chế 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt. Tháng 6/2018, Nguyễn Văn Đài đã xuất cảnh sang Đức nhưng với bản chất cố hữu sẵn có từ đó tới nay Nguyễn Văn Đài thường xuyên có những hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Dễ dàng nhận thấy mục tiêu của cuộc biểu tình nói trên là nhằm xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời chống phá Đảng, Nhà nước ta, hạ thấp uy tín của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Tại cuộc biểu tình nói trên các yêu sách đưa ra vẫn lặp lại những luận điệu quen thuộc và vô căn cứ như đòi nhà cầm quyền “ngưng bắt bớ, đàn áp người dân”, “trả tự do cho những người bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm”.

Những người được nhóm biểu tình xướng tên vẫn là những “gương mặt thân quen” trong các chiến dịch xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam, đó là Lê Đình Lượng, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Thúy Hạnh. Nực cười là khi hô vang tên Lê Thị Công Nhân, người điều hành biểu tình còn vô tình hoặc không biết nên gọi nhầm là Phạm Công Nhân, song cả nhóm biểu tình vẫn đồng loạt hô theo mà không một ai lên tiếng đính chính! Thực tế những đối tượng chống phá, phản động được nêu tên tại cuộc biểu tình đều đã được cộng đồng biết đến nhờ các tội trạng được xét xử công khai trước đó. Như với Lê Thị Công Nhân, năm 2007 đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 88 - Bộ luật Hình sự) cùng với Nguyễn Văn Đài và phải chấp hành hình phạt 4 năm tù giam, quản chế 3 năm sau khi chấp hành xong bản án.

Hoặc như đối tượng Lê Đình Lượng đã có hành vi lôi kéo người khác vào tổ chức khủng bố Việt Tân, lợi dụng mạng xã hội đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và xử phạt Lê Đình Lượng 20 năm tù, phạt quản chế bị cáo 5 năm kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù.

Với đối tượng Trần Huỳnh Duy Thức, năm 2010 Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao bác đơn kháng cáo kêu oan, y án 16 năm tù giam, 5 năm quản chế tại địa phương đối với y. Còn Nguyễn Thúy Hạnh, năm 2021 đã bị cơ quan chức năng khởi tố, tạm giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điểm sơ qua một số thông tin như vậy cũng đủ cho thấy các đối tượng mà cuộc biểu tình bênh vực, bảo vệ đều có hành vi vi phạm pháp luật, được xét xử công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội.

Dù vậy, với những kết quả đã đạt được, được cộng đồng quốc tế công nhận và đánh giá cao, có thể khẳng định mọi âm mưu, thủ đoạn hòng xuyên tạc, chống phá của các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí, cực đoan, phản động sẽ không thể thay đổi được thực tế và thành tựu cũng như những nỗ lực của Việt Nam trong công tác nhân quyền suốt nhiều năm qua.

Thời gian tới, Đảng, Nhà nước ta xác định tiếp tục tập trung xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính công và củng cố dân chủ ở cơ sở; tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; tiếp tục thúc đẩy đối thoại và hợp tác với các nước và các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; đẩy mạnh giáo dục về quyền con người, thông qua đào tạo, nâng cao năng lực cho các cán bộ, công chức, doanh nghiệp và người dân; tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc và các quốc gia; cải thiện khả năng thụ hưởng các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, và văn hóa cho mọi người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương…

Việt Nam cũng khẳng định quan điểm sẵn sàng giải đáp, cung cấp thông tin xác thực, nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt; đồng thời nhấn mạnh không có một mô hình chung cho tất cả các nước, mỗi nước tùy theo đặc thù, điều kiện của mình sẽ có con đường phát triển riêng. Việt Nam tự tin tiếp bước trên con đường đã chọn để xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, người dân được thụ hưởng các quyền con người cơ bản./.

LHQ-ST

Không thể xuyên tạc quyền tự do báo chí tại Việt Nam

 Những năm qua, sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của hệ thống báo chí, truyền thông trong nước đã phản ánh rất rõ những thành tựu đáng ghi nhận của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân.

Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước tác nghiệp tại Trung tâm Báo chí Đại hội XIII của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước tác nghiệp tại Trung tâm Báo chí Đại hội XIII của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Việt Nam đã, đang tham gia và nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình về vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí theo Hiến chương Liên hợp quốc và các nghị định, hiệp ước quốc tế, khu vực liên quan.

Tuy nhiên, một số cá nhân và tổ chức thù địch, phản động vẫn luôn tìm cách để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do báo chí như một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Không có gì đáng ngạc nhiên, vào đầu tháng 5/2024, theo thông lệ, tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) lại công bố báo cáo thường niên về “Chỉ số tự do báo chí năm 2024”.

Tổ chức này xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí - thuộc nhóm các nước “có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới”.

Đây không phải là lần đầu RSF đưa ra những nhận định hoàn toàn phiến diện, thiếu khách quan, thiên kiến và quy chụp về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, bất chấp thực tế đời sống báo chí ở nước ta ngày càng phát triển chuyên nghiệp, sôi động và hiệu quả.

Giống như mọi lần, những quy kết vô căn cứ trong báo cáo của tổ chức này không đưa ra được bất cứ bằng chứng có tính xác thực nào ứng với các tiêu chí được chính họ đưa ra là “thực hiện các hoạt động giúp thúc đẩy tự do báo chí của thế giới” mà chỉ dựa vào những thông tin thiếu khách quan từ một nhóm người có định kiến với nhà nước sở tại về quan điểm, đường hướng hoạt động báo chí hoặc một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, có hành vi vi phạm pháp luật, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị.

Những nội dung mang tính bịa đặt trong bản báo cáo đã tạo cơ hội cho những phần tử thù địch, cực đoan trong và ngoài nước công kích, chống phá Việt Nam.

Thực tiễn đã chứng minh, trong suốt tiến trình phát triển của đất nước, việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và các quy định của pháp luật, phù hợp với các quy định của quốc tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Cụ thể tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.

Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam những năm qua rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực...

Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, đến năm 2023, cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000.

Với sự hỗ trợ của công nghệ, hệ thống báo điện tử đang hoạt động ngày càng mạnh mẽ, tạo ra sự tương tác tích cực đối với bạn đọc. Hợp tác quốc tế trong truyền thông cũng đang được tăng cường.

Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Công tác đào tạo, trao đổi, hợp tác về báo chí trong và ngoài nước ngày càng được quan tâm. Không chỉ vậy, mạng xã hội cũng là một kênh thông tin tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông.

Mọi công dân đều được quyền phát ngôn, thảo luận các vấn đề của đời sống. Đây là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất cho vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm.

Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, tự do báo chí không có nghĩa là bất chấp mọi quy định pháp luật. Tự do phải trong khuôn khổ luật pháp quốc gia. Không chỉ riêng báo chí mà bất kỳ lĩnh vực nào khác của đời sống cũng phải hoạt động theo tinh thần thượng tôn pháp luật.

Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13, khoản 2).

Đồng thời tại khoản 3, Điều 25 về Quyền và nghĩa vụ của nhà báo, Luật Báo chí quy định, nhà báo có nghĩa vụ thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.

Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí ở Việt Nam lấy mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Người làm báo luôn gắn trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, không phải là tự do tùy tiện theo ý chí cá nhân.

Do đó khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mọi công dân đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, không làm ảnh hưởng hay xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Thực chất thủ đoạn xuyên tạc tình hình nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận của Việt Nam không phải là mới. Đây là kịch bản cũ thường xuyên được RSF và một số tổ chức nhân danh dân chủ, nhân quyền áp dụng, rêu rao để vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Mặt khác, qua đó kích động, tuyển lựa hỗ trợ các thành phần chống đối trong nước tiến hành những hoạt động công kích Đảng, Nhà nước, cơ quan công quyền dưới vỏ bọc “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do” nhằm phục vụ cho mục đích đen tối của mình.

Một thực tế không thể phủ nhận là ở Việt Nam, không người nào bị kết án tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những trường hợp bị xử lý hình sự đều do thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của Nhà nước, cũng như các tổ chức, cá nhân, gây bất bình trong dư luận.

Việc bắt giữ, xử lý hình sự một số đối tượng nhân danh “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định chính trị là cần thiết và đúng với quy định pháp luật. Tuy nhiên các thế lực thù địch đã lợi dụng những vụ việc này để rêu rao vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí hòng chống phá Việt Nam.

Chúng cố tình gắn mác cho những đối tượng cực đoan, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là “nhà báo độc lập”, hay “nhà báo tự do”, cho dù các đối tượng này không hề làm việc cho một cơ quan báo chí nào ở Việt Nam, không được Bộ Thông tin và Truyền thông ở Việt Nam cấp thẻ theo luật định.

Từ đây các đối tượng ra sức bóp méo tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, kêu gọi các tổ chức quốc tế lên án Việt Nam.

Có thể thấy rằng, cái gọi là “tự do báo chí” mà những phần tử thù địch muốn tuyên truyền, cổ xúy thực chất là đề cao quan điểm cá nhân nhưng không đi kèm với trách nhiệm xã hội, khuôn khổ pháp luật và đạo đức, bất chấp những hậu quả xảy ra với cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Đây là điều không thể chấp nhận được bởi trong một xã hội tiến bộ, tự do ngôn luận, tự do báo chí không thể nằm ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc. Mọi hành vi phá hoại đất nước, gây mất an ninh trật tự xã hội nhân danh tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải bị ngăn chặn và loại bỏ.

Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng khẳng định: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

Trước đó, trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 cũng nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Rõ ràng sẽ không có quốc gia nào ủng hộ tự do báo chí nếu đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, xã hội. Như tại Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận cũng đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc, trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự); đồng thời, việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.

Hệ thống các quy định pháp luật của nước ta luôn tương thích với các quy định quốc tế trong vấn đề tự do báo chí. Nền báo chí cách mạng Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.

Do đó, những luận điệu xuyên tạc, thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ, bịa đặt tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, hay các bảng xếp hạng thiếu căn cứ của một số tổ chức, cá nhân không thể phủ nhận, bóp méo những thành tựu to lớn mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được./.

LHQ-ST