Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2024

CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 Thứ nhất, xuyên tạc Việt Nam nhu nhược, làm ngơ trước những vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Các đối tượng thù địch, phản động lợi dụng những sự kiện như: tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; Mỹ và các nước đồng minh ngày càng can dự sâu hơn vào vấn đề Biển Đông; sự cố môi trường do Formosa gây ra đối với các tỉnh miền Trung; nước ngoài triển khai trên thực địa, tăng cường các biện pháp nhằm gia tăng sức mạnh quân sự và thực hiện ý đồ kiểm soát, hiện thực hóa các yêu sách phi pháp tại Biển Đông; tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục kiểm soát, ngăn cản, xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, vùng biển giáp ranh giữa Việt Nam và Indonesia; tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt trái phép hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng quản lý biển của các nước bắt giữ, xử lý… để tung ra các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; gây hoang mang dư luận, đánh lạc hướng dư luận; “tung hỏa mù” hòng “che mắt” và gây mất niềm tin trong nhân dân. Chúng tung ra những “khẩu hiệu” sặc mùi gây hấn và kích động nhằm  ý đồ - mục đích: kêu gọi những người nhẹ dạ, thiếu chín chắn, bất mãn tham gia biểu tình, gây rối nhằm tạo sự chia rẽ, bất ổn trong nước cũng như làm phức tạp mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước láng giềng trong khu vực; sâu xa hơn là hô hào biểu tình gây bạo loạn lật đổ...

Thứ hai, vừa xuyên tạc vừa “khuyến cáo” Việt Nam “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây bất ổn chính trị, mất đoàn kết trong nước và quốc tế, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Chúng lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ hầu hết yêu sách chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc để tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây mất ổn định, mất đoàn kết trong nước và quốc tế làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cùng với đó, chúng tung ra các bài viết, bình luận, phỏng vấn của những “chuyên gia” từ hải ngoại với những “luận điểm trọng tâm” là phê phán Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được. Vì thế, chỉ có “một viễn cảnh tươi đẹp” cho Việt Nam là cần phải liên minh với Mỹ để “giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”(!)

Thứ ba, lợi dụng vấn đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo để xuyên tạc, gắn với những vấn đề chính trị khác như công tác nhân sự Đại hội Đảng toàn quốc; các “mật ước bán nước”...

Chúng “dựng chuyện” trên một số nền tảng mạng xã hội như Youtube, rêu rao rằng một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam “im lặng” “thỏa hiệp” với nước ngoài để đổi lấy vị trí cao trong Đảng; chúng tìm mọi cách kích động nhân dân “hãy lên tiếng”, “hãy tham gia biểu tình”, “hãy tẩy chay Trung Quốc...

Thứ tư, tối ưu hóa, đa dạng hóa các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, phản động trên không gian mạng.

Cùng với tăng cường các nội dung xuyên tạc, chống phá trên các cơ quan báo chí hải ngoại lâu nay vẫn đưa tin tức thiếu thiện chí về Việt Nam như: BBC, RFAVOA, RFI.... các tổ chức phản động lưu vong như “Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều Đại Việt”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên” cùng những hội nhóm trá hình trong nước như “Lập Quyền Dân”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Tập hợp Quốc dân Việt”… đã không ngừng duy trì và phát triển các website,  tăng cường đưa ra những thông tin bịa đặt, bình luận bát nháo, hình ảnh cắt ghép... để xuyên tạc về vấn đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. “Cộng hưởng” với những giọng điệu chống phá đó là những tài khoản mạng xã hội trở thành những “trợ thủ đắc lực” trong tuyên truyền xuyên tạc, chống phá, vi pham pháp luật Việt Nam.

Nhiều website phản động, chống phá Việt Nam được “nuôi dưỡng” khá mạnh về tài chính, có hệ thống máy chủ, đội ngũ kỹ thuật và chuyên gia bảo mật riêng. Vì thế, “việc của chúng” chỉ là ra sức tung tin, phát tán các tài liệu xuyên tạc tình hình biển, đảo; thủ đoạn quen thuộc của chúng vẫn là lợi dụng, tranh thủ những “điểm nóng” trên Biển Đông để “nhai đi nhai lại” các giọng điệu bóp méo, bịa đặt, ngụy tạo về quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo...

Thứ năm, thông qua mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi cách móc nối, cấu kết với một số cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất; lôi kéo, mua chuộc, tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ bên trong...

Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ để tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước. Dưới danh nghĩa “đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “yêu nước”,... các đối tượng ở nước ngoài cấu kết với số đối tượng trong nước tìm cách hình thành, phát triển cái gọi là “xã hội dân sự” cùng các tổ chức, hội nhóm bất hợp pháp. Trong đó, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Ngoài ra, chúng còn tìm cách tiếp cận, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đang làm việc trong các bộ phận trọng yếu, cơ mật để cung cấp tài liệu, thông tin bí mật quốc gia cho chúng sử dụng chống phá Việt Nam.

LUẬN CỨ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc là cuộc chiến lâu dài.

Bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc là cuộc chiến lâu dài.

Một là, thực tế đã chứng minh rằng, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. “Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”(1).

Vì thế, cần khẳng định rằngViệt Nam thường xuyên lên tiếng hoặc lên án đối với các hành vi, hoạt động xâm lấn trái phép trên Biển Đông của Trung Quốc và các nước khác trong khu vực; phản đối công khai, rộng rãi và vận động dư luận quốc tế, sự ủng hộ của các nướctăng cường trao đổi, tích cực đối thoại song phương. Trong một số trường hợp, Việt Nam đã gửi Công hàm phản đối, bày tỏ lập trường rõ ràng, nhất quán của Việt Nam...

Trước sau như một, chủ trương giải quyết của Việt Nam là: “Mọi hoạt động trên biển cần được tiến hành dựa trên cơ sở của UNCLOS 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển, tại các vùng biển được xác lập theo công ước. Việt Nam mong các nước sẽ nỗ lực đóng góp, thực hiện mục tiêu, nguyện vọng chung của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, về việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, thượng tôn pháp luật ở Biển Đông”.

Hai là, Việt Nam ngày càng hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nhận thức rõ tầm quan trọng, vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và nhất quán về biển, đảo. Với việc thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW (khóa X), ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, lần đầu tiên chúng ta có một Chiến lược biển toàn diện, tầm nhìn rộng, bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường... Cùng với đó, Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như: Bộ Luật Hàng hải năm 1991; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991; Luật Dầu khí năm 1993; Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997; Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 1998; Luật Biển Việt Nam 2012; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015...

Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 8, khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định các mục tiêu tổng quát như: đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương...

Ba là, Việt Nam luôn ý thức rất rõ, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hiện nay, phải luôn tự chủ, độc lập, tự cường, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, chứ không thể chỉ dựa vào việc liên minh quân sự với một cường quốc.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ chủ trương: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.

Đảng ta cũng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Theo đó, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Quan điểm thống nhất, xuyên suốt của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác.

Bốn làtrong giai đoạn mới, Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị không ngừng điều chỉnh, tăng cường, bổ sung các giải pháp hiệu quả, phù hợp hơn để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển cũng như loại bỏ các thông tin xấu độc, chống phá. Xác định binh chủng thông tin - tuyên truyền là một trong những mũi nhọn xung kích, cùng với các binh chủng khác giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc gia - dân tộc.

Theo đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin - tuyên truyền, chú trọng hơn nữa đến công tác thông tin đối ngoại, trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc: 1) Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo2) Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, minh bạch các chính sách, chính xác hóa và cụ thể hóa thông tin về tình hình biển, đảo của Việt Nam. 3) Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông internet trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, tăng cường bảo đảm an ninh mạng và áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình biển Đông nói chung và vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng.../.

LHQ-ST

VÌ SAO PHẢI XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN Ở NƯỚC TA

 Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, với sức mạnh tổng hợp cao và khả năng đề kháng mạnh mẽ, được xem là phương án hiệu quả nhất để ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ xung đột và chiến tranh, kể cả trong bối cảnh chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Chiến tranh, dù là sử dụng vũ khí thông thường hay công nghệ cao, đều gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế, chính trị và nhân mạng, ảnh hưởng đến ổn định và hòa bình thế giới. Do đó, mục tiêu ưu tiên là duy trì ổn định và hòa bình cho đất nước mà không cần tiến hành chiến tranh, hay nói cách khác là "đánh thắng chiến tranh ngay khi nó chưa xảy ra". Theo Tôn Tử, hành động không đánh mà làm cho kẻ địch khuất phục là cách sáng suốt nhất.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tư tưởng cơ bản, bao trùm nhất của tổ tiên ta là "Giữ nước từ khi nước chưa nguy". Trong thời đại Hồ Chí Minh, qua gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã phát triển tư duy từ quân sự sang quốc phòng, từ chiến tranh sang giữ nước mà không cần chiến tranh, và đã chỉ rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Để hiện thực hóa tư tưởng và quan điểm này, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, phát triển cao trong các điều kiện mới. Đây là nền quốc phòng của dân, do dân và vì dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ, được xây dựng toàn diện cả về tiềm lực và lực lượng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước và sự làm chủ của nhân dân.

Nền quốc phòng này không chỉ hiện đại hóa mà còn phát huy tối đa các giá trị truyền thống và cốt cách văn hóa Việt Nam, kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nền an ninh nhân dân giúp giữ cho đất nước ổn định và phát triển, kịp thời phát hiện và triệt tiêu các nguy cơ từ bên trong có thể gây đột biến. Nền quốc phòng này cũng đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu và hành động phá hoại của thế lực thù địch nước ngoài, giải quyết các tranh chấp và bất đồng bằng các giải pháp hòa bình dựa trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế.

Như vậy, có thể khẳng định: Chỉ có xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình mới tạo điều kiện để ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ chiến tranh, kể cả chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao. Đây là lựa chọn tối ưu nhất đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chính là cơ sở chủ yếu để tiến hành và chiến thắng trong chiến tranh nhân dân, ngay cả khi đối mặt với chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Có thể khẳng định, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, Việt Nam sẽ theo đường lối chiến tranh nhân dân - một cuộc chiến toàn diện, dựa trên sức mạnh của toàn bộ đất nước. Mọi người dân đều là chiến sĩ, sử dụng mọi loại vũ khí từ đơn giản, thô sơ đến hiện đại. Các hình thức tác chiến linh hoạt như du kích, chính quy, đánh bên sườn, phía sau, đánh sâu, đánh hiểm... đều phát huy tối đa hiệu quả, có thể chế ngự được ưu thế của vũ khí công nghệ cao. Điều này chỉ có thể đạt được dựa trên nền tảng của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng vững chắc và không ngừng hiện đại hóa từ thời bình.

Vũ khí công nghệ cao tuy có tính chính xác cao, nhưng chúng hoạt động theo những quy luật nhất định, dựa trên nhận dạng địa hình và mục tiêu. Nhờ chiến tranh nhân dân, chúng ta có thể làm thay đổi quy luật, biến dạng địa hình, dịch chuyển mục tiêu, và thậm chí tạo ra mục tiêu giả. Hệ thống phòng không nhân dân rộng khắp sẽ hạn chế được hiệu quả của vũ khí công nghệ cao, tiêu diệt được các loại máy bay và tên lửa hành trình của địch. Trong trường hợp địch sử dụng tác chiến điện tử mạnh, ta vẫn có khả năng chế áp được hiệu quả trinh sát của chúng; và nếu chỉ huy, hiệp đồng của chúng bị gián đoạn, ta vẫn có thể tiếp tục chiến đấu hiệu quả.

Vũ khí công nghệ cao có uy lực mạnh, nhưng kẻ địch không thể có đủ số lượng để tấn công và phá hủy tất cả mục tiêu trên khắp đất nước Việt Nam. Với nền quốc phòng hiện đại, chúng ta có thể tiêu diệt được bộ phận lực lượng, phương tiện công nghệ cao của địch, như đã từng bắn rơi máy bay B.52 của Mỹ vào năm 1972. Nhưng quan trọng hơn, nhờ vào thế trận chiến tranh nhân dân, chúng ta có điều kiện để bảo toàn lực lượng, tồn tại sau các đòn tiến công hỏa lực mạnh bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Trong chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tồn tại sau các đòn tiến công cũng là thắng lợi, bởi nếu Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội vẫn còn, Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu để giành chiến thắng. Và nếu kẻ địch chỉ tiến công bằng vũ khí công nghệ cao mà không có hành động trên bộ, thì cũng chưa thể khuất phục được Việt Nam; trong khi đó, nếu kẻ địch tiến công trên bộ, đây chính là lúc chiến tranh nhân dân phát huy hiệu quả cao nhất.

Với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, đường lối duy nhất đúng đắn chính là tiến hành chiến tranh nhân dân. Một cuộc chiến tranh nhân dân đúng nghĩa không thể bị đánh bại, kể cả khi đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc chiến đó, cần có sự xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình. Vì thế, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vẫn là đường lối xây dựng quốc phòng, an ninh đúng đắn trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

LHQ-ST

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 Trước tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(3). Do đó, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc “Đẩy mạnh học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong thời gian tới, cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cấp ủy đảng các cấp cần tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động này để mọi người có nhận thức đầy đủ, sâu sắc, coi việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nhu cầu tự thân, tự nguyện, tự giác thực hiện. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, lan tỏa những cá nhân thực hiện tốt việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để nhân rộng những tấm gương điển hình tiên tiến, tạo động lực và cổ vũ cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả cuộc vận động này.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức thực hiện việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo hướng thiết thực, hiệu quả. Việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được triển khai trong thời gian dài nên để thu hút được đông đảo sự tham gia của toàn xã hội, cần tạo thêm một luồng sinh khí mới với việc đổi mới nội dung, hình thức thực hiện. Các nội dung thực hiện cần gắn với những nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua những hình thức phong phú, phù hợp với từng chủ thể thực hiện. Theo đó, việc đánh giá hiệu quả thực hiện cũng cần có những tiêu chí riêng, tránh rập khuôn máy móc nhưng cũng tránh tùy tiện, qua loa. Ngoài ra, cần gắn việc thực hiện học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị khác như vấn đề “tự soi”, “tự sửa”, tự chịu trách nhiệm”, “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Điều đó làm cho việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thực chất, hiệu quả hơn, tránh lối hình thức, xáo mòn.

Ba là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu lợi dụng việc xuyên tạc, phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để chống phá Đảng, Nhà nước. Gần đây, một thực tế không thể phủ nhận là các thế lực thù địch ngày càng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng theo chiều sâu. Đó là bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn xuyên tạc, phủ nhận cả những hoạt động của Đảng ta trong việc lan tỏa, tôn vinh đóng góp của Người với dân tộc. Biểu hiện rõ nét nhất là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận việc Đảng ta đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, cần nhạy bén hơn nữa trong việc nắm bắt những thông tin sai trái, xấu độc về vấn đề này, kịp thời định hướng, tuyên truyền cho nhân dân theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực” để tránh việc bị các luận điệu sai trái chiếm lĩnh thông tin. Ngoài ra, cần tổ chức đấu tranh phản bác có hiệu quả với những luận điệu sai trái về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, nhất là trong những thời điểm đất nước có những sự kiện chính trị quan trọng để tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa tính đúng đắn trong những chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, có thể khẳng định việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Điều đó một mặt làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục ăn sâu, bám rễ hơn nữa vào đời sống tinh thần, tư tưởng và tiếp tục trở thành “kim chỉ nam” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, điều đó cũng góp phần củng cố, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong bối cảnh mới; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu hơn nữa, nhân lên những điều tốt đẹp, lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội./.

LHQ-ST