Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

COI TRỌNG "THỜI GIAN" VÀ "TRÍ TUỆ" VÀ TẦM NHÌN TƯƠNG LAI

 



 Theo Chinhphu.vn - Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm 3 nước Trung Đông với tinh thần mở đường, tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, coi trọng "thời gian" và "trí tuệ" và Tầm nhìn tương lai

"Thời gian" và "Trí tuệ" là những định hướng quan trọng được người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm trong suốt chuyến thăm tới ba nước. Tư duy, tầm nhìn chiến lược, hướng tới tương lai cũng là những ấn tượng đậm nét trong các hoạt động của Thủ tướng Chính phủ, ngay từ tên gọi các sự kiện, địa điểm như Hội nghị Sáng kiến đầu tư tương lai, Bảo tàng Tương lai và con đường phát triển trong tương lai mà ba nước cũng như Việt Nam đã xác định.

Theo Thủ tướng, con đường phát triển của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với ba nước, trong đó các nhà Lãnh đạo có những điểm chung về tầm nhìn, tư duy đổi mới và phát triển; coi trọng "thời gian", coi trọng "trí tuệ", cùng chung khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, Nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao và ấn tượng với sự phát triển vượt bậc, những kỳ tích, thành công ngoạn mục trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, "biến những gì không thể thành có thể" của ba quốc gia. Cùng nhìn về tương lai, với khát vọng không ngừng vươn lên, UAE đang nỗ lực hiện thực hóa "Tầm nhìn UAE 2031", "Tầm nhìn UAE 2071", Qatar triển khai chiến lược "Tầm nhìn 2030" và Saudi Arabia thực hiện chiến lược "Tầm nhìn 2030".

Trong khi đó, Việt Nam đang nỗ lực hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm: đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước), trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng, Việt Nam và các nước cần cùng đồng hành, truyền cảm hứng, sát cánh cùng nhau, hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trên hành trình hiện thực hóa tầm nhìn và khát vọng phát triển, hướng tới tương lai phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Đặc biệt, qua tiếp xúc với các nhà lãnh đạo ba nước, Thủ tướng Chính phủ nhiều lần chia sẻ ấn tượng mạnh mẽ về tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, cách thức quản trị và định hướng, giải pháp phát triển đất nước, cũng như phương châm hành động quyết liệt, xác định nhiệm vụ công việc rõ ràng, coi trọng thời gian, trí tuệ của lãnh đạo các nước. Đây cũng là những kinh nghiệm quý báu mà Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo.

Đơn cử, thủ tục lập doanh nghiệp chỉ mất 5 phút đã giúp UAE có 1,5 triệu doanh nghiệp niêm yết, tăng gấp 3 lần so với con số 500.000 doanh nghiệp cách đây 3 năm. Bảo tàng Tương lai Dubai (UAE) thể hiện tham vọng phá vỡ giới hạn thông thường về vật lý và tư duy. Bảo tàng Quốc gia Qatar là một trong những công trình trong dự án tổng thể nhằm biến Doha thành một thủ đô văn hóa nổi tiếng thế giới.

"Thời gian không đợi ai cả, còn tư duy, tầm nhìn, trí tuệ phải vượt qua chính mình thì mới làm được việc lớn", Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ.

Với tâm thế như vậy, chuyến thăm đã khẳng định tư duy mới, tầm nhìn chiến lược mới, quyết tâm cao, cam kết mạnh mẽ, hành động quyết liệt của lãnh đạo Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác nhiều mặt, góp phần nâng tầm quan hệ với 3 nước nói riêng và vùng Vịnh, Trung Đông – Bắc Phi giàu tiềm năng nói chung.

Việc chính thức nâng cấp quan hệ đã đưa UAE trở thành Đối tác toàn diện đầu tiên của Việt Nam tại Trung Đông, mở ra không gian phát triển mới cho quan hệ hai nước, mở rộng mạng lưới Đối tác Toàn diện của Việt Nam lên 14 nước. Việt Nam với Saudi Arabia và Qatar cũng nhất trí thúc đẩy sớm nâng quan hệ lên tầm cao mới trong thời gian tới, qua đó góp phần thúc đẩy Việt Nam tăng cường quan hệ với các đối tác quan trọng khác ở khu vực.

Chuyến thăm làm sâu sắc hơn sự tin cậy chính trị, củng cố quan hệ tốt đẹp giữa Lãnh đạo cấp cao Việt Nam với các nhà Lãnh đạo cấp cao và Hoàng gia ba nước. Các nước đã dành sự tiếp đón chu đáo, trọng thị với nhiều biệt lệ dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam; theo đó, các nước đối tác hiểu hơn về Việt Nam, không chỉ là một đất nước với nền văn hóa phong phú, đặc sắc, lịch sử hào hùng, quật cường trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ mà còn có khát vọng lớn lao và đang trên đà vươn lên mạnh mẽ, đóng góp cho việc gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Khẳng định không có giới hạn nào trong quan hệ với Việt Nam, Quốc vương Qatar cho biết Qatar luôn mở cửa cho các hoạt động hợp tác với Việt Nam. Tổng thống UAE khẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng của UAE tại châu Á và hợp tác với Việt Nam là một trong những quan tâm chính của UAE. Trong khi đó, Bộ trưởng Đầu tư Saudi Arabia khẳng định Hoàng thái tử, Thủ tướng Saudi Arabia và Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có cuộc hội đàm mang tính "lịch sử".

Nhiều văn kiện quan trọng đã được thông qua nhân chuyến công tác, trong đó có Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - UAE lên Đối tác toàn diện, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (CEPA) giữa Việt Nam-UAE, Thông cáo chung giữa Việt Nam và Qatar, 33 văn bản hợp tác trong các lĩnh vực thương mại - đầu tư, tài chính, năng lượng, đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng, giáo dục - đào tạo, thể thao, hợp tác giữa các doanh nghiệp…

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Tổng thống UAE Sheikh Mohammed bin Zayed Al Nahyan nhất trí 06 trọng tâm ưu tiên hợp tác, chỉ đạo khẩn trương xây dựng các chương trình hành động triển khai ngay khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Hoàng Thái tử, Thủ tướng Saudi Arabia thống nhất đưa hợp tác kinh tế thành trụ cột chính trong quan hệ song phương, đưa Saudi Arabia trở thành một trong các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam và nhất trí xác định trụ cột "hợp tác tương lai" của hai nước là đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Qatar cùng thống nhất đánh giá quan hệ Việt Nam - Qatar đã bước vào một giai đoạn mới, sâu sắc và toàn diện hơn, xác định hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư là một trụ cột quan trọng. Hai bên nhất trí thúc đẩy thương mại, ưu tiên các mặt hàng thế mạnh của nhau như nông sản, thủy sản, giày dép, dệt may... của Việt Nam và các sản phẩm dầu khí, năng lượng, hóa chất của Qatar.

Trên cơ sở củng cố nền tảng tin cậy chính trị - ngoại giao, cùng với thúc đẩy trọng tâm hợp tác về kinh tế - thương mại - đầu tư, Thủ tướng Chính phủ và các Nhà lãnh đạo các nước cũng nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền của mỗi nước và duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển ở hai khu vực và thế giới.

VIỆT TÂN ĐANG CỐ TÌNH TRI ÂN KẺ BÁN NƯỚC CẦU DANH “NGÔ ĐÌNH DIỆM”

 

 Các phần tử của tổ chức khủng bố Việt Tân đang tìm cách để tri ân Ngô Đình Diệm nguyên là tổng thống của chế độ cũ “Miền Nam công hòa” từ năm 1955 đến năm 1963. Một tên bán nước cầu danh, làm bù nhìn cho Mỹ đàn áp nhân dân Việt Nam, lại được Việt Tân tôn sùng như một vị “Tổng Thống ái quốc đáng kính”.

Những tội ác của tên tổng thống bù nhìn Ngô Đình Diệm với đất nước, con người Việt Nam đã quá sâu sắc. Chúng ta thấy ở Miền Nam trong thời gian 1954 -1963 ở Miền Nam. Hình ảnh của Ngô Đình Diệm gắn liền với cái “máy chém” lê đi khắp miền Nam. Với câu nói nổi tiếng: “Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót” của Diệm, với kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực khiến cho hơn “300 ngàn người” bị sát hại, cùng với hơn nửa triệu người bị bắt giam và tra tấn một cách hết sức dã man. Độc ác hơn, Diệm thân làm tổng thống, nhưng lại đồng lõa với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Chất độc da cam (diosin) của Mỹ đã sát hại hàng triệu nạn nhân và cho đến ngày nay vẫn còn gây hại cho con người (những nạn nhân của chất độc da cam), có hại cho đất đai, cây cối, mùa màng, sinh vật trong vùng bị ảnh hưởng.

Với những tội ác như thế sao Việt Tân có thể xem Ngô Đình Diệm là một “tổng thống đáng kính”? sao có thể so sánh ngang với lãnh tụ Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, được cả dân tộc Việt Nam tôn kính, cả thế giới ngưỡng mộ? Đúng như câu nói “Một chiếc áo không làm nên thày tu” nhắc nhở chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đừng vội đánh giá người khác thông qua hình thức bề ngoài.

Như vậy, có thể thấy ông Diệm mặc “áo dài truyền thống dân tộc” lại là một tên bán nước cầu danh, sát hại đồng bào dã man. Còn vị lãnh tụ Hồ Chí Minh với bộ áo bốn túi, giản dị, lại là một lãnh tụ đáng kính của dân tộc Việt Nam, một người giành trọn đời để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Do đó, không thể coi Ngô Đình Diệm sánh ngang với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Từ cột mốc chủ quyền Trường Sa

Tuy không có tiếng sóng rì rào, ào ạt; tuy không có mặt biển xanh mênh mông, thơ mộng; tuy không có chiến sĩ hải quân treo súng đứng gác... nhưng tôi vẫn bồi hồi, xúc động khi đứng trước cột mốc chủ quyền Trường Sa được xây dựng tại Lữ đoàn Công binh 131 Hải quân. Cảm xúc ấy thật đặc biệt, nó gần giống với tâm lý bồi hồi lần đầu tôi đặt chân lên đảo Trường Sa Đông làm nhiệm vụ cách đây đã hơn 24 năm.

Ngẩng mặt hướng về phía dòng sông Cấm xuôi ra cửa biển, tôi nhớ những vần thơ dạt dào cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ: “Trước Trường Sa thấy mình bé nhỏ/ Tựa cột mốc chủ quyền thêm vững lòng hơn/ Ngắm rặng mồng tơi, nghe gà cục tác/ Tổ quốc giữa trùng khơi sinh nở, trường tồn..." (Thao thức Trường Sa).

Chờ cho những cảm xúc của tôi vơi lắng, chờ tôi chụp xong bức hình kỷ niệm, Thượng tá Nguyễn Trần Nam, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 131 mới cất lời. Anh mời tôi về phòng khách.

Trên quãng đường vài trăm mét, dưới nắng thu vàng như nghệ phủ đều trên thảm cỏ long lanh những hạt sương mai, anh Nam rỉ rả, công trình cột mốc chủ quyền có tỷ lệ và kích thước đúng bằng cột mốc ở đảo Trường Sa và được khánh thành hồi tháng 6-2024. Nó không chỉ làm đẹp thêm không gian văn hóa mà còn là biểu tượng giáo dục tình yêu biển, đảo quê hương cho thế hệ trẻ. Trong Quân chủng hiện nay, cũng đã có một số đơn vị xây dựng công trình tương tự, nhưng tỉ mỉ và đường nét "mang tính con nhà nghề" thì chỉ có ở Lữ đoàn Công binh 131 Hải quân.

Từ cột mốc chủ quyền Trường Sa

Lữ đoàn 131 Hải quân khánh thành công trình cột mốc chủ quyền Trường Sa. Ảnh: XUÂN DŨNG

- Khi xây dựng công trình này, ngoài những gì như anh đã thuyết minh thì dường như còn mục đích nào đó xa hơn thì phải?

- Đúng đấy, chúng tôi cũng cân nhắc rất nhiều khi quyết định xây dựng cột mốc chủ quyền Trường Sa tại đây.

Không để tôi chờ đợi lâu, Thượng tá Nguyễn Trần Nam kể:

- Nhân chuyến công tác lên vùng cao, một đồng chí lãnh đạo tỉnh Lào Cai đề xuất ý tưởng nên có công trình để ghi dấu mối quan hệ kết nghĩa đã tạo dựng nhiều năm qua với Lữ đoàn. Nhận thấy đây là ý tưởng hay nên lãnh đạo, chỉ huy Lữ đoàn 131 đã bàn bạc và thống nhất triển khai. Sau khi cân nhắc, chúng tôi quyết định thông báo ý tưởng này đến một số địa phương, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đã gắn bó với Lữ đoàn nhiều năm. Thật mừng là chỉ cần nói ý tưởng thôi, chúng tôi đã nhận được sự đồng thuận. Thế nên, từ nguồn hỗ trợ của tỉnh Ninh Bình, Lào Cai, Quận đoàn Hai Bà Trưng (Hà Nội) và một số doanh nghiệp, cùng với tâm huyết, trí tuệ và công sức của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn đã xây dựng lên công trình này. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ trong Lữ đoàn coi cột mốc chủ quyền Trường Sa như là biểu tượng, điểm đến của tình đoàn kết quân dân đã được vun đắp, xây dựng suốt mấy chục năm qua.

Câu chuyện mà Lữ đoàn trưởng Nguyễn Trần Nam kể giúp tôi hiểu hơn về nghĩa cử cao đẹp của những người “kê cao thềm Tổ quốc”. Với họ, hoạt động phân tán, thực hiện nhiệm vụ ở nhiều tỉnh, thành phố mà đa phần là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã là lẽ thường. Ấy nhưng lạ là, dù hoạt động phân tán dài ngày, dù gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ và thiếu thốn, dù phải vật lộn với công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, song họ vẫn trẻ trung, tràn đầy năng lượng, như con thuyền buồm no gió băng băng vượt lên bão tố, phong ba.

Từng công tác từ khi còn là Trung đoàn 131 nên tôi khá am tường, thậm chí thân thiết với đội ngũ chỉ huy của Lữ đoàn hiện nay. Một trong những người tôi quý trọng là Thượng tá Nguyễn Trần Nam. Anh là gương mặt cán bộ tiêu biểu, đại diện cho Lữ đoàn thời hiện tại. Bởi trong tâm tưởng của tôi, anh là người rất trọng việc, dám nghĩ, dám làm và nhiều sáng kiến. Tôi phục anh ở chỗ đã xây dựng cho mình thói quen mắt quan sát, tai lắng nghe, đầu nghĩ, miệng nói, tay làm và làm triệt để.

Nguyễn Trần Nam quê ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Anh chỉ huy nhiều công trình trọng điểm và có thời gian làm bạn với cát, đá, xi măng, sắt, thép nhiều hơn với người bạn đời của mình hiện đang ở TP Hải Phòng.

Cuối năm 1997, Thiếu úy Nam xách ba lô về đơn vị và làm Trung đội trưởng Trung đội Xe-máy của Đại đội 8 (Tiểu đoàn 883, Trung đoàn 131). Trung đội do anh quản lý có 18 quân nhân, nhưng có tới 23 đầu xe-máy. Nhận thấy việc bảo dưỡng chưa chuẩn mực, đúng bài, hiệu quả thấp nên anh Nam rất trăn trở. Sau nhiều đêm suy tính, cuối cùng anh bắt tay vào soạn giáo án chi tiết, đồng thời tổ chức huấn luyện cho bộ đội. Ngay lập tức, Thiếu úy Nam vấp phải những ý kiến không đồng thuận từ một số đồng chí là nhân viên chuyên môn kỹ thuật và các cán bộ kiêm nhiệm; có những suy nghĩ, hoài nghi về sự thành công. Nhưng rồi thấy Trung đội trưởng Nam nhiệt tình, say mê và trách nhiệm với công việc nên họ cũng ủng hộ. Những đồng chí quân nhân chuyên nghiệp lớn tuổi gương mẫu thực hiện trước để chiến sĩ trẻ noi theo. Tiếng lành đồn xa, rồi giáo án huấn luyện của Nguyễn Trần Nam được lấy làm chuẩn cho Trung đoàn. Đến nay, bộ giáo án ấy đã được chỉnh lý cho phù hợp với các quy định mới, nhưng điều đáng nói là tinh thần huấn luyện và bảo dưỡng xe-máy ở Lữ đoàn 131 vẫn được duy trì đều đặn.

Chuyện về cột mốc chủ quyền Trường Sa giữa chúng tôi lan sang vấn đề sáng tạo của Lữ đoàn 131 và nhiều nhất là trong xây dựng công trình.

Anh Nam kể, khi làm khung trưởng xây dựng một công trình, không may chiếc máy húc bị lầy và ngập sâu trong nước thủy triều, Lữ đoàn lệnh cho anh trong hai ngày phải đưa được lên để bảo dưỡng, sửa chữa. Trong điều kiện phương tiện cứu kéo rất thiếu thì việc di chuyển chiếc máy nặng mấy chục tấn là không thể khả thi.

Sau khi dân chủ lắng nghe ý kiến tập thể, anh Nam quyết định sử dụng các téc trữ nước ngọt làm phao nổi để nâng chiếc máy lên và dùng những phương tiện hiện có để kéo ra khỏi vũng lầy. Khi thủy triều rút, anh cho bộ đội cố định thân téc vào thân máy xúc. Khi thủy triều lên, những chiếc téc đã trở thành phao nổi kéo chiếc máy khỏi vị trí. Chưa đầy hai ngày, chiếc máy đã được kéo lên và vận chuyển về bờ. Cũng vẫn phương pháp này, anh đã tổ chức cứu kéo thành công một chiếc máy xúc khác.

Một trong những công trình ghi đậm thương hiệu “Công binh 131” là thi công đường tuần tra biên giới tại huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014. Anh Nam kể, thời tiết ở Quan Sơn rất thất thường, ban ngày nắng đến rát mặt, nhưng ban đêm lại khá lạnh. Bộ đội đến làm nhiệm vụ cơ bản ở vùng ven biển nên khó tránh khỏi bỡ ngỡ. Nhiều anh em sợ tiếp xúc với đồng bào dân tộc thiểu số, sợ đêm tối. Khi đó sóng điện thoại ở đấy tậm tịt nên mỗi lần báo cáo về chỉ huy Lữ đoàn phải đi “hứng sóng” cả giờ đồng hồ. Có cuộc đàm thoại gián đoạn cả chục lần... Việc tiếp phẩm là cực kỳ khó khăn và vô cùng đắt đỏ. 10 ngày đầu, anh Nam phải sử dụng cả một trung đội vừa gánh vừa vác đi bộ 15km mang thực phẩm về cho bộ đội. Ký hợp đồng với người dân làm tiếp phẩm thì giá cao gấp rưỡi, gấp đôi so với dưới huyện.

Trong một lần rà phá bom, mìn, vật nổ phục vụ cắm tuyến, mở đường tuần tra biên giới, trên đường về, một tổ bị lạc trong rừng. Anh Nam đã chỉ huy bộ đội vận dụng mọi kỹ năng, kinh nghiệm và hiểu biết về địa hình quân sự để tổ chức tìm kiếm suốt đêm. Anh chia anh em làm nhiều tổ, mỗi tổ có một chỉ huy và rà theo các ô đánh dấu trên bản đồ. Rất may, đến gần sáng thì tìm thấy anh em và đưa về lán an toàn. Anh tâm sự, ở cương vị mới, tuy không được cùng bộ đội lăn lộn ngoài công trường, không thường xuyên đối chọi với sóng gió biển khơi nhưng tinh thần hướng về bộ đội thì không đổi.

Hiện nay, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 131 chủ trương lấy “công trường làm thao trường”, gắn huấn luyện với thi công. Việc này đã đáp ứng hai mục tiêu, vừa rèn bộ đội vừa xây dựng công trình đạt tiến độ vừa hiệu quả và chất lượng. Việc bố trí ca, kíp và xoay vòng hợp lý; tăng cường kèm cặp giữa người có tay nghề cao với người có tay nghề thấp, giữa người có kinh nghiệm và người mới đã cho những kết quả rất khả quan.

Tính đến tháng 10-2024, tiến độ thi công trên các công trường của Lữ đoàn đều đạt kế hoạch, bảo đảm chất lượng, bền vững và an toàn tuyệt đối. Đây là thành tích tạo đà cho Lữ đoàn hướng tới những nhiệm vụ quan trọng và khó khăn hơn trong thời gian tới.

Tôi tin, sức trẻ ở Lữ đoàn 131 sẽ tiếp tục được phát huy. Rồi đây, họ sẽ gặt hái được nhiều thành tích xứng đáng hơn nữa.

 

Lãnh đạo cần hiểu sâu, nắm chắc nhiệm vụ của mình

Trong một hội nghị mới đây, đồng chí Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh nêu vấn đề, đó là hiện nay có lãnh đạo sở và cán bộ chủ trì một số lĩnh vực của thành phố khi được hỏi về nhiệm vụ của ngành mình, cơ quan mình thì báo cáo là không nắm được, vì “đã giao cho cấp phó phụ trách”. Vấn đề này khiến dư luận quan tâm, bàn luận. Có hai lý do cơ bản để giải thích cho hiện tượng này: Thứ nhất, cán bộ có hạn chế về năng lực thực tiễn trong xử lý và giải quyết công việc ở vai trò lãnh đạo, quản lý; thứ hai, cán bộ thiếu trách nhiệm, thờ ơ, đùn đẩy, né tránh, tranh công đổ lỗi.

Cán bộ lãnh đạo cần tầm vượt thoát

Trong thực tế hiện nay, cán bộ rơi vào tình trạng như nêu ở trên đang xuất hiện ở khá nhiều ngành, nhiều cơ quan, đơn vị, lĩnh vực, thế nên một số người đã nói đùa rằng, những lãnh đạo ấy chẳng khác gì “chuyên viên nhận thêm phụ cấp lãnh đạo”. Những cán bộ lãnh đạo trưởng thành từ chuyên môn nhưng lại thiếu tư duy, trình độ quản lý, chỉ huy sẽ dẫn đến hiện tượng làm lãnh đạo nhưng vẫn với tư duy cũ, sa đà vào một số lĩnh vực mà mình giỏi, bỏ qua những lĩnh vực mà mình không giỏi và “giao phó” cho người khác, nhất là đối với những việc khó, việc phức tạp.

Thực tế là, công việc của người lãnh đạo đòi hỏi một năng lực hoàn toàn khác với người làm chuyên môn sâu, nhất là về tư duy tham mưu, chỉ đạo. Họ cần phải có tư duy bao quát, toàn diện, nhưng cũng lại phải cụ thể, tỉ mỉ, vì vậy, cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ trì cần phải có tầm vượt thoát khỏi tư duy của chuyên môn, như vậy mới có thể làm thay đổi mang tính đột phá ở đơn vị mình, ngành mình.

Lãnh đạo cần hiểu sâu, nắm chắc nhiệm vụ của mình
Ảnh minh họa. Nguồn: qdnd.vn  

Trong hầu hết quy định phân công nhiệm vụ trong bộ máy lãnh đạo quản lý các cấp, người đứng đầu bao giờ cũng là người chịu trách nhiệm chung về lĩnh vực được giao, đồng thời sẽ đảm nhiệm trực tiếp một số nhóm nhiệm vụ, lĩnh vực cụ thể. Vì vậy, một nguyên tắc bắt buộc đối với cán bộ lãnh đạo là khi đã nhận nhiệm vụ thì phải hiểu sâu và bao quát được toàn bộ lĩnh vực mà ngành mình, đơn vị mình phụ trách.

Do vậy, cán bộ cấp trưởng, chủ trì sẽ khác với công việc của cấp phó hoặc của cán bộ chuyên môn. Bản chất công việc của lãnh đạo quản lý là điều hành trên cơ sở tạo dựng các thể chế, chính sách để huy động, phân bổ nguồn lực sao cho phù hợp. Người đứng đầu có thể không nắm một cách cụ thể, chi tiết tất cả vấn đề, nhưng nhất định phải nắm được mấu chốt, nội dung cốt lõi, cơ bản của lĩnh vực, vấn đề về hệ thống nhiệm vụ mà mình đang được giao.

Hiện nay, trong một số trường hợp, lĩnh vực, việc lựa chọn lãnh đạo quản lý tuy vẫn “đúng quy trình” nhưng kết quả thực hiện nhiệm vụ lại chưa như ý muốn. Thậm chí có người làm việc gì kết quả cũng chỉ “làng nhàng”, nhưng vì nhiều lý do, họ vẫn được cất nhắc làm lãnh đạo, do đó, họ không nắm chắc nhiệm vụ là điều dễ hiểu. Sở dĩ như vậy là vì, việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý hiện nay đôi khi còn chưa thực sự coi trọng năng lực lãnh đạo như một điều kiện cần. Trong khi đó, năng lực lãnh đạo của cán bộ lại chưa được đưa vào quy trình bổ nhiệm như một tiêu chí có tính định lượng, mà hiện nay, đánh giá tiêu chí này cơ bản mang tính định tính. Do vậy sẽ có hiện tượng “lọt lưới” hoặc là “ngồi nhầm ghế” lãnh đạo, chủ trì.

Cán bộ phải biết mình có gì và thiếu gì

Hiện tượng cán bộ chủ trì thiếu năng lực nhưng vẫn lãnh vị trí đứng đầu sẽ dẫn đến không đủ khả năng nắm bắt và làm tròn trách nhiệm trong công tác, từ đó cũng có thể xảy ra sự né tránh, đùn đẩy, đổ thừa trách nhiệm cho cấp dưới, khiến công việc trì trệ, không hiệu quả.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ (...). Chớ nên “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau” (...). Phải "chí công vô tư" và có tinh thần "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Đó là đạo đức của người cộng sản”(*).

Thời phong kiến đã có chuyện mua quan, bán chức. Nghĩa là người mua chức bỏ ra một khoản tiền để mua chức vụ và được làm quan. Họ coi đó là cuộc “đầu tư danh lợi”, vì thế sẽ không sốt sắng chăm lo công việc mà chỉ lo vơ vét, hoàn vốn, kiếm lời và tái đầu tư ở vị trí cao hơn. Ngày nay, nếu lãnh đạo quản lý chỉ chăm lo vun vén cá nhân mà thờ ơ với công việc, thiếu trách nhiệm với vị trí, chức trách được giao thì cũng không khác gì những “ông quan mua chức” ngày xưa.

Bởi vậy, việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ cần phải làm cho nghiêm, cho đúng, việc giám sát công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ cũng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, thành thực ở tất cả các lĩnh vực. Trong thực tế, ở nhiều cơ quan, đơn vị hiện nay, việc đánh giá hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ trì còn chung chung, xuê xoa, xuôi chiều mà chưa mang tính cá nhân hóa. Các báo cáo về công tác lãnh đạo, quản lý còn khá cứng nhắc, hình thức và mang tính tập thể cao. Quy định và thực thi trách nhiệm giải trình trước tập thể, nhân dân cũng còn hạn chế, vẫn rơi vào tình trạng “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Thế nên cái yếu, cái hạn chế của một số cán bộ chủ trì chậm được khắc phục, thậm chí có cán bộ còn không biết mình có điểm yếu để tự khắc phục. 

Hệ lụy đầu tiên của hiện tượng trên là công việc trì trệ, không đáp ứng được yêu cầu phát triển, làm mất cơ hội hoặc làm giảm hiệu quả từ nguồn lực đầu tư. Hậu quả lớn hơn là làm suy giảm động lực làm việc của tập thể, làm mất niềm tin của nhân dân.

Khắc phục hiện tượng nêu trên cần tiếp tục rà soát, hoàn chỉnh cơ chế lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ để bảo đảm luôn chọn được người đủ tâm, tầm, tài bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Đồng thời tiếp tục nghiên cứu, bổ sung điều kiện về đo lường, đánh giá có tính định lượng năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức của cán bộ, coi đó là tiêu chí quan trọng, quyết định của quy trình bổ nhiệm.

Bên cạnh đó, cần tăng cường sự giám sát hoạt động lãnh đạo bảo đảm tính thường xuyên, liên tục qua thực hiện quy chế về trách nhiệm giải trình, qua kênh góp ý và sự hài lòng của người dân đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là người cán bộ lãnh đạo phải biết kiểm soát mình, phải biết mình mạnh gì, yếu gì để tự học tập, bồi dưỡng, không ngừng tự nâng cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành, xứng tầm với công việc, nhiệm vụ mà tổ chức tin tưởng giao phó.

 

Bác bỏ luận điệu sai trái “ở Việt Nam quyền lực nhà nước không thuộc về nhân dân”

Những luận điệu và thủ đoạn phản ánh sai lệch về quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay đều xuất phát từ những tổ chức, cá nhân chống cộng cực đoan, chống chủ nghĩa xã hội và cơ hội về chính trị. Động cơ và mục đích chính trị của họ cũng không ngoài mục đích phủ nhận thành quả của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong gần 80 năm qua.

1. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả hệ thống chính trị vào cuộc thực thi quyền lực nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời luôn thống nhất trong lãnh đạo tổ chức thực hiện, nhằm góp phần bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Chủ trương đó không phải là khẩu hiệu suông, càng không phải là việc “đấu đá, triệt hạ phe cánh” như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trước mỗi kỳ đại hội Đảng, các đối tượng chống phá lại đơm đặt, dựng chuyện và xuyên tạc rằng: “Ở Việt Nam quyền lực nhà nước không thuộc về nhân dân”.

Sự thật lịch sử và quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam đã bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, chống phá đó.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, thiết lập nên những thiết chế căn bản đầu tiên của một nhà nước dân chủ nhân dân-khởi đầu của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Điều 1 của Hiến pháp năm 1946 khẳng định tính chất của Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Trong suốt quá trình cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân tổ chức, xây dựng hệ thống quyền lực ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh và thực hành tư tưởng: “Nước ta là nước dân chủ/ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân/ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân/ Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân/ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân/ Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra/ Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên/ Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Như vậy, có thể thấy, từ những văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước và người đứng đầu Nhà nước ta đã xác nhận, hệ thống chính trị XHCN nước ta luôn khẳng định chủ thể thật sự, chủ thể đích thực và chủ thể tối cao của Nhà nước và của tất cả quyền lực nhà nước là nhân dân. Điều này có nghĩa rằng, ở Việt Nam, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân và cho dù bất cứ cơ quan, cá nhân nào nắm giữ thì quyền lực nhà nước cũng đều có nguồn gốc từ sự ủy quyền của nhân dân. Không có thứ quyền lực nhà nước nào có nguồn gốc tự thân, nằm ngoài sự trao quyền, ủy quyền của nhân dân.

2. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và quyền lực nhà nước, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng hiện thực hóa chủ trương “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội. Đảng thực thi quyền lực chính trị của các giai tầng xã hội mà mình đại diện bằng cách tác động vào Nhà nước, để thông qua Nhà nước hiện thực hóa quyền, lợi ích và ý chí của các giai tầng xã hội.

Trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, đường lối lãnh đạo thực hiện lĩnh vực này. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến.

Hiến pháp năm 2013 hiến định: “1) Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; 2) Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện những quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2). Về hình thức: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6). Để bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, Điều 8 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”.

Những năm qua, trong đời sống chính trị-pháp lý ở Việt Nam, việc kiểm soát quyền lực nhà nước đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và của các cơ quan Quốc hội, đại biểu Quốc hội được quan tâm tăng cường; công tác thanh tra, kiểm tra phục vụ quản lý nhà nước trong bộ máy hành pháp đã được đẩy mạnh, góp phần không chỉ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn trực tiếp đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhất là vai trò, quyền làm chủ của nhân dân đã được bảo đảm thực thi thực chất, đầy đủ theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, dân thụ hưởng”. Công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng đã được kết hợp chặt chẽ với việc thực thi các cơ chế thanh tra, kiểm soát bằng pháp luật. Công tác phòng, chống tham nhũng, chống tha hóa quyền lực được tiến hành đồng bộ, bài bản, ngày càng hiệu quả. Việc xử lý các hành vi, đối tượng tham nhũng bảo đảm nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, có lý, có tình, kết hợp “xây” và “chống”, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, làm gì; không còn tư tưởng “hạ cánh an toàn”, làm bước nào chắc bước đó, vi phạm đến đâu, xử lý đến đó, kỷ luật Đảng trước, kỷ luật hành chính, hình sự sau; bảo đảm phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ.

Với bước đi có lộ trình, phù hợp và kiên quyết, Việt Nam đã đạt được kết quả to lớn trong công tác phòng, chống tham nhũng. Qua đó, xử lý dứt điểm, kịp thời, nghiêm minh trước pháp luật nhiều vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, trong đó, có nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, điều đó cho thấy, sự quyết tâm của Đảng đối với xử lý tham nhũng, tiêu cực trong thực thi quyền lực nhà nước, góp phần củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân.

3. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là kết quả thực hành tư tưởng pháp quyền xã hội chủ nghĩa sáng suốt và rõ ràng, được định hướng bởi lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về mọi mặt, được Nhà nước Việt Nam hiện thực hóa trong các chính sách và luật pháp; được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thực thi hiệu lực và hiệu quả; được nhân dân và các đoàn thể chính trị-xã hội trực tiếp giám sát, tham gia, quản lý bằng những cơ chế, chính sách phù hợp.

Như vậy, cả lịch sử hình thành nhà nước, xây dựng, hiến định những tư tưởng pháp quyền XHCN đầu tiên đến quá trình tổ chức hiện thực hóa, thực thi trong đời sống chính trị, xã hội và pháp lý; cùng với sự bổ sung, phát triển ở những giai đoạn tiếp theo cho thấy, ở Việt Nam quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là sự tiếp nối mà còn là một sự bổ sung, phát triển và khẳng định sự kiên định nhất về chủ trương, đường lối thực thi quyền lực nhà nước của nhân dân, hoàn toàn không có sự xa rời và đối nghịch với tư tưởng pháp quyền XHCN mà Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng đã đề ra, đó là xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.

Những luận điệu và thủ đoạn phản ánh sai lệch về quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay đều xuất phát từ những tổ chức, cá nhân chống cộng cực đoan, chống chủ nghĩa xã hội và cơ hội về chính trị. Động cơ và mục đích chính trị của họ cũng không ngoài mục đích phủ nhận thành quả của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong gần 80 năm qua. Mưu đồ sâu xa là lợi dụng bàn luận về những vấn đề dân chủ của đất nước, lợi dụng việc góp ý vào chủ trương, đường lối, chính sách, nhất là văn kiện của các kỳ đại hội Đảng để xuyên tạc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc xây dựng chế độ và Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay.

Những quan điểm, thái độ và hành động chính trị phản động, thù địch đó tất yếu sẽ bị thất bại, không chỉ bởi tất cả quyền lực của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay đã thuộc về nhân dân, mà còn bởi sự nhận thức chính trị của nhân dân Việt Nam hiện nay đã phát triển hơn hẳn những giai đoạn trước; đồng thời nhờ vào chính những thành quả cách mạng to lớn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy trong thời kỳ mới

 

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Sáng 6-11, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì và phát biểu khai mạc hội nghị.

 

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì hội nghị.

 

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại hội nghị.

 

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
Quang cảnh hội nghị.

 

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại hội nghị.

 

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

 

Đừng để lời đồn sao nhãng lòng tin

Trên sân Nhà văn hóa thôn Do Lễ, gương mặt bà Sáu lộ vẻ lo lắng. Nhìn trước, ngó sau không thấy ai, bà mới tiến đến hỏi Trưởng thôn Khoa:

- Ông Khoa à, tôi nghe người ta nói, anh Hải làng mình do có ai đó nâng đỡ nên được đề bạt làm phó bí thư xã đấy. Người ta còn bảo "con ông cháu cha" nên mới phát triển nhanh thế, có đúng không ông?

- Bà nghe ở đâu vậy? Cả xã này ai chẳng biết Hải là cán bộ trẻ, có năng lực, tham gia công tác đoàn từ hồi học sinh. Đợt vừa rồi, công tác nhân sự theo đúng quy trình, cả tập thể đều bỏ phiếu tín nhiệm mà bà.

- Thì tôi cũng chỉ nghe nói thôi. Người ta bảo cái gì mà “hậu duệ, quan hệ, tiền tệ...”, ai mà không ngờ cho được!

Đừng để lời đồn sao nhãng lòng tin
 Ảnh minh họa: Xaydungdang.org.vn

Đúng lúc đó thì Hải bước vào, trên tay cầm một tập tài liệu. Nghe được câu chuyện của hai người nhưng anh vẫn nhẹ nhàng: “Cháu chào ông Khoa, chào bác Sáu. Cháu chuyển tài liệu chuẩn bị đại hội đảng bộ xã sắp tới. Cháu nghe chưa đầy đủ câu chuyện, nhưng có phải mấy tin đồn về cháu không bác Sáu?”.

- À, ờ... thì tôi chỉ nghe thôi, chứ cũng không dám khẳng định gì cả. Mà cháu đừng để bụng nhé!

- Bác ơi, cháu không để bụng đâu. Nhưng cháu muốn giải thích một chút. Mọi quyết định về nhân sự đều phải theo nguyên tắc, đúng quy trình, quy định của Đảng. Bản thân cháu luôn nỗ lực phấn đấu, mong muốn được cống hiến chứ cháu không dựa dẫm vào ai đâu ạ!

- Ờ... thì tôi chỉ nghe bà con xóm dưới nói, chứ thật ra tôi cũng không rõ!

Nghe bà Sáu giải thích, ông Khoa cất lời: “Bà Sáu này, thời buổi này bà đừng nghe theo mấy tin đồn thất thiệt. Đấy là chiêu trò của kẻ xấu muốn phá hoại đoàn kết nội bộ thôi. Người ta gọi đó là chiến lược “diễn biến hòa bình” đấy. Họ tung tin xuyên tạc, làm rối loạn tư tưởng bà con khiến mọi người mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý, điều hành của chính quyền nhân dân.

- Đúng rồi đấy bác, những tin đồn như vậy có thể khiến mọi người nghi ngờ lẫn nhau. Không chỉ riêng cháu mà còn ảnh hưởng đến nhiều người khác. Thay vì nghe những lời không có căn cứ, mọi người nên tìm đến thông tin chính thức, hỏi trực tiếp những người có trách nhiệm. Đừng để những kẻ xấu chia rẽ mối đoàn kết thống nhất của làng, xã mình bác nhé!-anh Hải tiếp lời Trưởng thôn Khoa.

- Thế... cháu nói thật chứ? Mà họ tung tin đó làm gì?

- Họ muốn gây chia rẽ nội bộ bác ạ. Nhân sự đại hội là vấn đề nhạy cảm, nếu mình không tỉnh táo, nghe theo lời đồn thì sẽ tạo ra sự hoài nghi, mất lòng tin. Đấy chính là mục đích của kẻ xấu.

Ông Khoa quay sang bà Sáu phân tích thêm: “Bà nghĩ mà xem, nếu mình tin mấy cái tin đồn này thì ai làm lãnh đạo cũng bị hoài nghi hết. Như thế, công việc ở địa phương ai chăm lo, cáng đáng?”.

- Tôi hiểu rồi. Đúng là nghe mấy cái tin không đâu mà cứ tưởng thật. Từ nay tôi sẽ không tin mấy lời không có căn cứ nữa!

- Cháu cảm ơn bác Sáu. Việc chúng ta cần làm là đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau. Mỗi người dân trong làng mình phải là một chiến sĩ, giúp bảo vệ sự ổn định và phát triển của địa phương đấy bác ạ!

- Ừ, bác hiểu rồi. Mình phải tin vào quyết định của Đảng và chính quyền, không để mấy lời đồn gây sao nhãng lòng tin nữa.