Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024

CHÂN DUNG TƯỚNG LĨNH QUÂN KHU 7 (1945 - 2020): TRUNG TƯỚNG ĐỖ QUANG HƯNG

 CHÂN DUNG TƯỚNG LĨNH QUÂN KHU 7 (1945 - 2020): TRUNG TƯỚNG ĐỖ QUANG HƯNG


Đồng chí Đỗ Quang Hưng, sinh năm 1929, quê quán xã Long Điền, huyện Giá Rai (nay là huyện Đông Hải), tỉnh Bạc Liêu. Đồng chí nhập ngũ năm 1945, làm Thư ký Ủy ban kháng chiến - hành chính xã Vĩnh Hưng, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Từ năm 1947 đến năm 1949, đồng chí là cán bộ tiểu đội, trung đội, rồi Huyện đội phó kiêm Trung đội trưởng Trung đội du kích huyện Vĩnh Lợi. Từ năm 1949 đến năm 1952, đồng chí được bổ nhiệm Giám đốc Trường Huấn luyện tân binh, Tỉnh đội Bạc Liêu.


Từ năm 1952 đến năm 1954, đồng chí là Huyện đội phó kiêm Đại đội trưởng Đại đội 553 Huyện đội Cà Mau, Tỉnh đội Bạc Liêu. Từ năm 1954 đến năm 1957, đồng chí tập kết ra miền Bắc, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 660, Sư đoàn 338. Từ năm 1957 đến năm 1958, đồng chí là Trợ lý Tiểu đoàn huấn luyện, Sư đoàn 338. Năm 1958, đồng chí là học viên Trường Sĩ quan Lục quân.


Năm 1960, đồng chí là Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 90. Năm 1961, đồng chí là Trưởng tiểu ban Tác huấn Trung đoàn 90, Sư đoàn 324. Cuối năm 1961, đồng chí được điều động vào chiến trường miền Nam, làm Tiểu đoàn phó, rồi Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 186, Quân khu 6.


Năm 1963, đồng chí Đỗ Quang Hưng là cán bộ Cục Tham mưu Miền. Năm 1964, đồng chí đảm nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 (Q761), tham gia Chiến dịch Bình Giã (2-12-1964 - 3-1-1965). Trong Chiến dịch Bình Giã, đơn vị của đồng chí đóng tại ở Nam Xuân Sơn, Đông ấp chiến lược Bình Giã có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng địa phương Bà Rịa, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, diệt gọn từ 1 đến 2 tiểu đoàn lực lượng tổng trù bị và cơ giới của địch, liên tục chiến đấu thu hút địch, hỗ trợ cho phong trào chính trị phá mảng mở vùng. Sau gần 100 ngày đêm chiến đấu liên tục, đồng chí Đỗ Quang Hưng cùng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 đã góp phần vào thắng lợi to lớn của Chiến dịch Bình Giã.


Năm 1965, đồng chí được điều động về Sư đoàn 9, lần lượt đảm nhiệm Tham mưu phó đến Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Sư đoàn 9. Thời gian này, Mỹ và ngụy quyền triển khai chiến lược “Chiến tranh cục bộ” với sự tham gia trực tiếp của quân Mỹ và quân đồng minh. Trước đối tượng tác chiến mới, dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Miền, đồng chí Đỗ Quang Hưng cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 trực tiếp tham gia chiến đấu, góp phần làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965-1966 và 1966-1967). Đặc biệt, ngày 26-11-1965, đồng chí cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 tổ chức lực lượng tiêu diệt quân Mỹ tại Dầu Tiếng. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, Quân giải phóng loại khỏi vòng chiến đấu một trung đoàn quân ngụy Sài Gòn và 25 cố vấn Mỹ... Trận đánh ngày 26-11-1965 và một số trận đánh Mỹ ở miền Đông Nam Bộ được Bộ Chỉ huy Miền tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm và phổ biến nhanh nhất phương châm “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Tư tưởng dám đánh Mỹ, kết hợp với yêu cầu thực tế hạn chế tối đa hỏa lực - chỗ mạnh nhất của quân Mỹ, trở thành tư tưởng phổ biến đối với mọi lực lượng chiến tranh nhân dân, dưới nhiều hình thức.


Năm 1968, đồng chí Đỗ Quang Hưng đảm nhiệm Tham mưu phó Sư đoàn 9; tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Trong đợt 1, đồng chí cùng Ban Chỉ huy Sư đoàn 9 chỉ huy đơn vị tiến công Trung tâm huấn luyện Quang Trung; đánh địch ở vùng ven thành phố, ngăn chặn Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn ở Đồng Dù, không cho chúng kéo về Sài Gòn; tiến công Chi khu quân sự Thủ Đức và khu kho Long Bình, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn thủy quân lục chiến. Trong đợt 2, thực hiện chủ trương trên, Sư đoàn 9 có nhiệm vụ cùng các tiểu đoàn mũi nhọn tiến vào các khu vực đông dân trong nội thành Sài Gòn, phát động quần chúng nổi dậy phá rã bộ máy kìm kẹp của địch từ quận trở xuống.


Thực hiện nhiệm vụ, đồng chí cùng Ban Chỉ huy Sư đoàn 9 chỉ huy đơn vị chuyển về hướng Tây, Tây Nam Sài Gòn lấy vùng nông thôn Long An, Gia Định làm vị trí bàn đạp tiến vào thành phố. Kết thúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí cùng Ban Chỉ huy Sư đoàn 9 chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần vào thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.


Năm 1969, đồng chí Đỗ Quang Hưng là Hiệu trưởng Trường Quân chính Sơ cấp Miền (gọi tắt H12). Năm 1971, đồng chí được bổ nhiệm Tư lệnh C30. Năm 1972, đồng chí được chỉ định làm Tư lệnh phó Sư đoàn 9. Thời gian này, cùng với cán bộ, chiến sĩ sư đoàn, đồng chí tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ (1-4-1972 - 19-1-1973) và chỉ huy chiến đấu chống địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, chặn đứng âm mưu lấn đất, giành dân của chính quyền Sài Gòn sau Hiệp định Pari.


Năm 1974, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập một số đơn vị chủ lực ở B2 như thành lập thêm Sư đoàn 4, Sư đoàn 6, Sư đoàn 8 của Quân khu 7, Quân khu 8, Quân khu 9, Sư đoàn 3 của Miền và binh đoàn chiến lược của Bộ (Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4) chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng. Đồng chí Đỗ Quang Hưng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 3. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (26-4-1975 - 30-4-1975), Sư đoàn 3 nằm trong đội hình Đoàn 232, tham gia chiến đấu ở hướng Tây và Tây Nam. Theo phương án tác chiến, Sư đoàn 3 tiến công Đức Hòa - Hậu Nghĩa. Ngày 26-4-1975, Sư đoàn 3 triển khai xong và hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. 17 giờ ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Trên hướng Tây Nam và Nam, Binh đoàn cánh Tây Nam cắt đứt hoàn toàn đường 41, kìm chân Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 của ngụy, mở đường cho Sư đoàn 9 của ta vào vị trí tập kết tiến hành đột kích Bàu Công - Mỹ Hạnh (Đức Hòa). 3 giờ ngày 27-4-1975, Sư đoàn 3 mở cửa đánh chiếm đầu cầu khu vực An Ninh - Lộc Giang, tổ chức vượt sông Vàm Cỏ, áp sát địch, bảo đảm cho Sư đoàn 9 và binh khí kỹ thuật qua sông.


10 giờ 10 phút ngày 29-4-1975, Sư đoàn 3 giải phóng thị xã Hậu Nghĩa, diệt Chi khu Đức Hòa, bức rút Chi khu Đức Huệ (14 giờ 30 phút) và Căn cứ Trà Cú (18 giờ 20 phút), mở bến vượt sông Vàm Cỏ Đông. Sau khi hoàn thành đánh chiếm khu vực Hậu Nghĩa, hai bên sông Vàm Cỏ, Sư đoàn 3 triển khai lực lượng tiêu diệt lực lượng biệt động quân và bảo an, bảo đảm cho đơn vị vượt sông thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu theo quy định; tiêu diệt làm tan rã toàn bộ Sư đoàn 22 và lực lượng biệt động quân, chiếm mục tiêu Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát lúc 10 giờ 30 phút và phát triển hợp điểm tại Dinh Độc Lập. Hướng Tây và Tây Nam hoàn thành nhiệm vụ; góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 

Sau ngày 30-4-1975, đồng chí Đỗ Quang Hưng cùng đơn vị thực hiện nhiệm vụ quân quản tại thành phố Sài Gòn. Năm 1977, đồng chí Đỗ Quang Hưng được điều chuyển giữ chức Phó Giám đốc Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn này, Đảng bộ và nhân dân Thành phố vừa tập trung giải quyết các hậu quả chiến tranh vừa tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng cả nước đối phó với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam… Tình hình an ninh trật tự ở địa bàn Thành phố trong giai đoạn này cực kỳ căng thẳng, phức tạp. Đồng chí cùng Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Công an Thành phố lãnh đạo lực lượng công an Thành phố Hồ Chí Minh liên tục tiến công trấn áp, phá rã hàng trăm tổ chức nhen nhóm phản động, truy bắt nhiều tên đầu sỏ nguy hiểm, phá tan nhiều âm mưu chuẩn bị gây biến động chính trị, hoạt động vũ trang. Qua đó, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.


Năm 1979, đồng chí Đỗ Quang Hưng được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Quân khu 7, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Mặt trận 479. Năm 1981, đồng chí làm Tư lệnh Mặt trận 779. Năm 1983, đồng chí làm Phó Tư lệnh Quân khu 7, Tư lệnh Mặt trận 479. Năm 1988, đồng chí làm Tư lệnh Mặt trận 779. Trong thời gian này, đồng chí cùng với Bộ Tư lệnh Mặt trận 479 và Mặt trận 779, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trực thuộc, phối hợp các đoàn Chuyên gia truy quét tàn quân địch, đánh địch phản kích ở cả chiến trường biên giới và nội địa; giúp nhân dân Campuchia khắc phục hậu quả chế độ diệt chủng và phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống; xây dựng thực lực cách mạng và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở cơ sở.


Tháng 10-1989, thực hiện Quyết định số 08-QĐ/QP về việc tổ chức các đoàn Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng tổ chức 2 đoàn Chuyên gia K2B và K4B sang giúp bạn. Đồng chí Đỗ Quang Hưng được chỉ định làm Trưởng đoàn Chuyên gia K4B. Với tư cách Trưởng đoàn, đồng chí cùng cán bộ, chiến sĩ và Chuyên gia Đoàn K4B tích cực chủ động giúp bạn trong việc điều chỉnh, tổ chức, bố trí lại lực lượng; củng cố cơ sở, tạo thế và lực có lợi cho bạn trong giai đoạn đấu tranh mới; giúp bạn vượt qua được những khó khăn, thử thách, giữ vững và phát triển thành quả cách mạng của dân tộc. Bạn đã trưởng thành trên nhiều mặt, nhất là tinh thần tự chủ, tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước. Qua đó, góp phần giữ vững tình đoàn kết quốc tế trong sáng giữa hai quân đội và hai dân tộc Việt Nam - Campuchia.


Năm 1991, sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia về nước, đồng chí Đỗ Quang Hưng được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu 7. Năm 1994, Tư lệnh Bùi Thanh Vân đột ngột qua đời, đồng chí Đỗ Quang Hưng được chỉ định làm quyền Tư lệnh Quân khu 7. Năm 1995, đồng chí Đỗ Quang Hưng trở lại giữ chức Phó Tư lệnh cho đến khi nghỉ hưu năm 1998.


Từ năm 1999, mặc dù nghỉ hưu, đồng chí tiếp tục tích cực hoạt động tại Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, cùng tập thể Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh góp phần quan trọng vào việc bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của Đảng, trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 31-5-2009, đồng chí qua đời do tuổi cao sức yếu. Suốt cuộc đời cống hiến cho cách mạng, đồng chí Đỗ Quang Hưng được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhì; 3 Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất; 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất do Nhà nước Campuchia trao tặng, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Cách mạng tháng Mười Nga mở ra con đường giải phóng và phát triển trên thế giới ngày nay

 107 năm trước, dưới sự lãnh đạo của chính Đảng tiền phong do V.I. Lênin vĩ đại đứng đầu, quần chúng công - nông Nga đã làm nên một sự kiện làm rung chuyển toàn thế giới: Cách mạng tháng Mười năm 1917 thành công, khai sinh chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người.

Lãnh tụ V.I.Lênin diễn thuyết ở Quảng trường Đỏ, Moscow năm 1917 

Bắt đầu từ tháng Mười Nga năm 1917 đã chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế và chính trị thế giới, mở ra kỷ nguyên mới của phát triển và tiến bộ xã hội. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bộc lộ rõ rệt nhất những hạn chế không thể vượt qua. Nền văn minh vật chất sung mãn do chủ nghĩa tư bản tạo ra đã được xây dựng bằng nước mắt và máu của quần chúng lao động khắp toàn cầu; sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp người này phải được đánh đổi bằng sự bần cùng hoá của nhiều quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác; sự hưng thịnh của một số cường quốc phải được đánh đổi bằng hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, biến hàng trăm quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh thành hệ thống thuộc địa đáng hổ thẹn của chủ nghĩa thực dân... Như kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu bức bách của lịch sử là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, mở ra chân trời mới cho mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội.

Từ chiếc nôi nước Nga và Liên Xô, cách mạng vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành thắng lợi ở nhiều không gian địa chính trị trọng yếu; chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, đối trọng hữu hiệu trên nhiều lĩnh vực với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Giương cao lá cờ búa liềm thắm hồng sắc màu cách mạng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn Nga thực sự nắm quyền làm chủ, xây dựng chính quyền Xô viết, biến chủ nghĩa xã hội từ mơ ước và lý luận thành hiện thực sinh động ở Nga và sau đó trên toàn Liên bang chiếm 1/6 diện tích địa cầu.

Dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ La tinh. Cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội đã thực sự là lực lượng mở ra và thực thi mục tiêu giải phóng và phát triển cho nhân loại trong những thập kỷ sôi sục đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Chủ nghĩa tư bản đã buộc phải chung sống hòa bình với chủ nghĩa xã hội, chấp nhận chủ nghĩa xã hội là một trong những lực lượng quyết định xu hướng vận động của thế giới trong thế kỷ XX.

Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới. Trong suốt thế kỷ XX, các dân tộc trên thế giới đã vùng lên giải phóng khỏi các chế độ quân chủ, phát xít, thực dân, đế quốc; xác lập nền cộng hòa với chủ quyền đối nội, đối ngoại không thể bác bỏ; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ. Dưới sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng tháng Mười Nga mở ra, hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ (từ 1492) đã hoàn toàn sụp đổ trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ. Bản đồ thế giới đã được vẽ lại từ Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.

Động lực và cảm hứng từ Cách mạng tháng Mười Nga tiếp tục tạo nên xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn trong bối cảnh thế giới ngày nay. Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Đó là sự phát triển trong hoà bình và tự do; phát triển hài hoà giữa vật chất và tinh thần; phát triển trong công bằng và dân chủ; phát triển bền vững và nhân văn; sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người. Mục tiêu phát triển hiện đại tự nó đặt ra yêu cầu tiếp tục giải phóng, giải phóng triệt để hơn khỏi con đường và chế độ tư bản chủ nghĩa trong mọi biến thái khác nhau của chúng.

Ngay từ chính các trung tâm tư bản chủ nghĩa đã không ngừng cất lên biết bao lời cảnh tỉnh, phê phán rằng chủ nghĩa tư bản là “một thế giới không thể chấp nhận được” (René Dumond), nó “chứa đựng nhiều vết loét không thể cứu chữa” (Henry Kissinger), nó sẽ rơi vào “cuộc khủng hoảng toàn cầu” (George Soros), vì vậy, loài người sẽ phải vận động đến “làn sóng văn minh thứ ba” (Alvin Toffler), đến một “xã hội hậu tư bản” (Peter Drucker),v.v... Chủ nghĩa tư bản, dưới hình thức hiện đại nhất của nó là chủ nghĩa tự do mới, đã bị phê phán quyết liệt ngay từ bên trong và ở quy mô toàn cầu. Lao động toàn thế giới đang năng động đấu tranh vì những phương án thay thế chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn cầu.

Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội chúng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cộng sản thế giới tích cực đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và cải cách chính sách phát triển trên mọi lĩnh vực. Những nguyên lý và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin được nhận thức đầy đủ hơn; những kinh nghiệm thành công và những hạn chế, vấp váp của chủ nghĩa xã hội được xác định một cách chân thực hơn; những xu thế vận động của thế giới hiện đại được lĩnh hội kịp thời, khách quan hơn. Nhờ vậy, các quốc gia xã hội chủ nghĩa không những thoát khỏi khủng hoảng, mà còn đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Với tính cách là sản phẩm của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Chính vì chân lý sáng tỏ này, mà nhiều trí tuệ lớn như Jacques Derrida, Noam Chomsky, Joseph Stiglizt, Dinoviev…, giống như Albert Enstein, Paul Satre, Bertral Roussel…, trước kia, đều biểu thị sự đồng tình không che dấu với chủ nghĩa cộng sản, công khai đánh giá Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI và Cách mạng Tháng Mười Nga là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại.

Cách mạng tháng Mười Nga như ánh mặt trời soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập, tổ chức, rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị phát xít, thực dân, phong kiến, khai sinh chế độ xã hội mới, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Gần 10 năm sau, quân và dân Việt Nam làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, mở đầu quá trình phi thực dân hóa trên toàn thế giới; và ngày 30 tháng 4 năm 1975, kỷ nguyên độc lập, tự do của Việt Nam đã được hoàn thành trọn vẹn với thắng lợi mang tầm vóc thời đại trước đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền, Bắc - Nam thống nhất một nhà. Kiên định lá cờ Cách mạng tháng Mười Nga, Đảng và nhân dân Việt Nam đã giành nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong kỷ nguyên đổi mới và phát triển từ năm 1986 đến nay. Chủ nghĩa xã hội Việt Nam thông qua đổi mới đã trụ vững, ra khỏi khủng hoảng và phát triển đầy sinh lực, đưa đất nước ra khỏi tình trạng chậm phát triển, trở thành nền kinh tế trong tốp 40 và tốp 20 nền thương mại lớn nhất thế giới ngày nay.

Trong kỷ nguyên đang tới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chắc chắn ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga sẽ tiếp tục soi sáng, tạo động lực to lớn cho Đảng và nhân dân Việt Nam vượt qua mọi thử thách lịch sử, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội./.

Chống lãng phí phải thành văn hóa ứng xử của mỗi người dân

 Hiện nay, đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, là thời điểm để định hình tương lai, gia tăng mạnh mẽ nguồn lực, làm giàu cho đất nước. Do đó, những thông điệp của Tổng Bí thư Tô Lâm về chống lãng phí cần được triển khai quyết liệt, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành “tự giác”, “tự nguyện”, “cơm ăn nước uống, áo mặc hằng ngày”, thành văn hóa ứng xử của mỗi người dân trong thời đại mới.

Chống lãng phí: Mệnh lệnh chính trị cần kíp trước mắt và lâu dài

 Quang cảnh buổi trao đổi.

Trong bài viết “Chống lãng phí”, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ một số dạng thức của lãng phí đang nổi lên gay gắt hiện nay, đó là: Chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn công cuộc đổi mới dẫn đến khó khăn, cản trở việc thực thi, gây thất thoát, lãng phí các nguồn lực. Lãng phí thời gian, công sức của doanh nghiệp, cá nhân khi thủ tục hành chính rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thuận tiện và thông suốt…

Từ hạn chế đó, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, phòng chống lãng phí phải được thực hiện quyết liệt, đồng bộ và với nhiều giải pháp hữu hiệu, đặc biệt là “cần thống nhất nhận thức đấu tranh phòng chống lãng phí là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp; là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp; có vị trí tương đương với phòng chống tham nhũng, tiêu cực…”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đặc biệt nhấn mạnh cần phải tập trung hoàn thiện thể chế phòng, chống lãng phí; ban hành quy định của Đảng nhận diện cụ thể những biểu hiện lãng phí; xử lý nghiêm các cá nhân, tập thể có hành vi, việc làm gây thất thoát, lãng phí tài sản công.

Để nắm bắt cơ hội, đẩy lùi thách thức, gia tăng mạnh mẽ nguồn lực chăm lo cho Nhân dân, làm giàu cho đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu công tác phòng, chống lãng phí cần được triển khai quyết liệt, đồng bộ với những giải pháp hữu hiệu, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở thành văn hóa ứng xử trong thời đại mới với 4 giải pháp cụ thể. Đó cũng chính là nội dung tiếp tục trao đổi của chúng tôi với hai vị khách mời:

- PGS.TS Nguyễn Viết Thông, Nguyên Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương;

- TS Lê Văn Hạnh, Phó Vụ trưởng Vụ Vghiên cứu tổng hợp, Ban Nội chính Trung ương.

PV: Thưa các vị khách mời, trong bài viết “Chống lãng phí” Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ một số dạng thức của lãng phí đang nổi lên gay gắt hiện nay. Những bất cập, hạn chế đó ảnh hưởng như thế nào đến năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, cũng như là ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đến uy tín của Đảng, niềm tin của Nhân dân?

PGS.TS Nguyễn Viết Thông: Tôi đọc bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm thì đồng chí nói rằng là lãng phí phổ biến hiện nay và nó gây ra rất nhiều hệ lụy mà chung quy lại theo đồng chí Tô Lâm thì có hai loại hệ lụy.

Một là hệ lụy về vật chất, hai là hệ lụy về niềm tin. Vật chất thì như chúng ta biết là sự lãng phí làm suy giảm nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, làm giảm hiệu quả sản xuất rồi kể cả tăng gánh nặng chi phí, gây cạn kiệt tài nguyên, kể cả gia tăng khoảng cách giàu nghèo… Hệ lụy về của cải vật chất rất lớn.

Đồng thời trong bài viết thì đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm còn đề cập đến hệ lụy thứ hai, đó là về niềm tin. Khi cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhìn thấy Đảng ta, Nhà nước ta, rồi cán bộ chính quyền các cấp, kể cả cá nhân Nhân dân nữa, lãng phí vẫn còn phổ biến, vẫn còn kéo dài, thậm chí nặng nề và chưa được xử lý nghiêm thì lòng tin của Nhân dân đối với Đảng cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Như chúng ta đã biết, mất niềm tin là mất tất cả. Nên hệ lụy thứ hai mà đồng chí Tổng Bí thư phân tích về niềm tin theo tôi cũng là sự nhìn nhận thẳng thắn, đúng đắn, mà chỉ rõ hệ lụy chúng ta cần phải nhận thức cho đầy đủ và có giải pháp để khắc phục bằng được.

 
PGS.TS Nguyễn Viết Thông:  Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm phân tích về niềm tin là sự nhìn nhận thẳng thắn, đúng đắn, chỉ rõ hệ lụy chúng ta cần phải nhận thức cho đầy đủ và có giải pháp để khắc phục bằng được. 

TS Lê Văn Hạnh: Có thể thấy rằng, trong nhận thức của chúng ta, của xã hội, của cán bộ, đảng viên từ trước đến nay thì thường coi tham nhũng tức là lấy của công làm của tư thì là có tội. Còn lãng phí thì chúng ta chưa nhận thức được như vậy. Đến bây giờ chúng ta thấy, Tổng Bí thư Tô Lâm nói rằng lãng phí cũng như tham nhũng. Trước kia Bác Hồ nói rằng là có khi còn có hại hơn tham nhũng. Vì vậy mà cái chung nhất chúng ta có thể thấy rằng là nếu như tham nhũng có hại như thế nào thì lãng phí cũng có hại như vậy.

PV: Dạ vâng, qua những gì mà các vị khách mời đã phân tích thì chúng ta có thể thấy là không chỉ tham nhũng, tiêu cực mà lãng phí cũng chính là một loại giặc nội xâm mà chúng ta cần phải diệt trừ. Trong cuộc chiến này chắc chắn sẽ không hề đơn giản. Theo TS Lê Văn Hạnh, liệu chúng ta đã có đủ cơ sở pháp lý cho cuộc chiến này?

TS Lê Văn Hạnh: Vâng, đúng là cuộc chiến chống lãng phí cũng rất gian nan và không hề đơn giản, cũng không kém gì chống tham nhũng. Nhưng mà chúng ta hoàn toàn có niềm tin để chúng ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này. Bởi chúng ta không chỉ có đầy đủ cơ sở pháp lý mà còn có cơ sở chính trị rất là vững chắc.

Đó là Văn kiện Đại hội XIII đã đề ra chủ trương là phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với một quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, quyết liệt và triệt để hơn. Tầm tư tưởng chỉ đạo cao nhất là Đại hội Đảng đã ghi như vậy rồi. Chúng ta cũng có Nghị quyết rất lớn của Ban Chấp hành Trung ương, đó là Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Hai vấn đề đặt song song và ngang hàng với nhau.

Mới đây, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 27 -CT/TW ngày 25/12/2023 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Vừa rồi đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Trong Quy định này thì Điều 3 có quy định là cán bộ, đảng viên phải tiết kiệm, hiệu quả, không xa hoa, lãng phí thời gian, công sức và các nguồn lực xã hội khác.

 

 

Về cơ sở chính trị chúng ta có rất đầy đủ. Mới đây nhất, Bộ Chính trị đã thông qua chủ trương rất mới, đó là sửa đổi chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, để Ban Chỉ đạo này chống cả tham nhũng, tiêu cực và lãng phí. Như vậy là từ đây phòng chống lãng phí sẽ được đặt ngang hàng với phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Điều này để thấy được sự quyết tâm chính trị rất cao của Đảng. Đặc biệt là chúng ta có một cơ sở chính trị rất vững chắc đó là sự chỉ đạo rất quyết liệt của đồng chí Tổng Bí thư trong bài viết “Chống lãng phí”. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở chính trị để thực hiện.

Còn về cơ sở pháp lý thì chúng ta cũng có đầy đủ. Trước hết đó là Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, quy định rất rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và quy định cả việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong khu vực công, khu vực tư, khu vực ngoài nhà nước. Rồi Bộ Luật hình sự cũng quy định những tội liên quan đến gây thất thoát lãng phí vốn nhà nước, ngân sách nhà nước, tài sản, tài nguyên đến mức phải thành tội phạm.

Như vậy là chúng ta có đầy đủ cơ sở chính trị, đầy đủ cơ sở pháp lý, các quy định về phòng, chống, xử lý trách nhiệm về mặt Đảng, về mặt hành chính và cao nhất là hình sự đối với các hành vi vi phạm đến việc thực hành tiết kiệm, để xảy ra lãng phí. Vấn đề còn lại của chúng ta bây giờ là việc tổ chức thực hiện và thực hiện, làm sao cho hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đề ra.

PV: Thưa PGS.TS Nguyễn Viết Thông, ông có suy nghĩ như thế nào về các giải pháp chống lãng phí mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu ra?

PGS.TS Nguyễn Viết Thông: Trong bài viết đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm sau khi phân tích những cái được và chưa được trong cuộc đấu tranh phòng chống lãng phí hiện nay và yêu cầu đặt ra, các điều kiện để đưa đất nước sang kỷ nguyên mới  - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc thì đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu là phải thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp, nhưng mà đồng chí nhấn mạnh 4 nhóm giải pháp trọng tâm đầu tiên. Đó là phải thay đổi nhận thức. Mà để thay đổi nhận thức thì phải bắt đầu từ cấp trên, từ Trung ương cho đến cơ sở. Phải nhận thức được lãng phí là như thế nào? Đấu tranh phòng chống lãng phí ra sao cũng phải nhận thức rõ.

Cuộc đấu tranh này gay gắt lắm. Bác Hồ nói rồi: Giặc nội xâm bao giờ khó đánh hơn giặc ngoại xâm. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia về phòng chống lãng phí. Đây cũng là một cái mới. TS Hạnh đã nói cơ sở pháp lý có rồi, luật có rồi nhưng mà rõ ràng luật bây giờ nhìn lại theo tinh thần mới thì chưa bao quát hết được các hành vi của lãng phí.

Hay lãng phí là gì? Như chúng ta phần đầu đã nói là có nhiều dạng thức nhưng như đồng chí Tổng Bí thư phân tích 5 dạng thức, trong đó có dạng thức về thể chế. Bây giờ nhận thức về thể chế thế nào? Hay là một dạng thức là cơ hội thì phải nhận ra thế nào là lãng phí? Trong Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng phải bổ sung để nhận dạng rõ hơn. Đây cũng là một vấn đề mà đồng chí Tổng Bí thư đã yêu cầu phải tiếp tục nhận thức rõ. Nếu thực hiện nghiêm thì chắc chắn lãng phí sẽ được ngăn chặn và sẽ được đẩy lùi.

Các vị khách mời khẳng định: Nếu thực hiện nghiêm theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm thì chắc chắn lãng phí sẽ được ngăn chặn và sẽ được đẩy lùi. 

PV: TS Lê Văn Hạnh có bổ sung thêm nội dung gì về vấn đề này không?

TS Lê Văn Hạnh: Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII vừa qua thì Đảng đã quyết định sửa đổi chức năng, nhiệm vụ từ Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng thành Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, tức là có thêm chữ “tiêu cực” và trong tiêu cực nó đã bao hàm cả lãng phí. Khi Ban Chỉ đạo ban hành hướng dẫn về các nội dung phòng chống tiêu cực thì trong đó cũng có những hành vi về lãng phí. Nhưng mà do tình hình tham nhũng lúc đó, do yêu cầu nhiệm vụ chính trị lúc đó cho nên Ban Chỉ đạo mới chỉ tập trung vào xử lý phòng chống những hành vi lãng phí có liên quan trực tiếp đến tham nhũng, gắn với tham nhũng, là nguyên nhân hoặc hệ lụy của tham nhũng.

Thực tế là chúng ta thấy rất nhiều vụ án, vụ việc đã được xử lí. Những đối tượng đã bị xử lí về những hành vi đó là thiếu trách nhiệm, gây thất thoát lãng phí. Đó là những cái vừa qua chúng ta đã làm nhưng mà làm được đến mức đã ngang bằng với chống tham nhũng tiêu cực hay chưa thì đó vẫn còn có những hạn chế.

PV: Dạ vâng! Trong bốn nhóm giải pháp đột phá mà PGS.TS Nguyễn Viết Thông vừa nêu thì chúng tôi thấy có một điểm rất là đáng chú ý, đó là phải xây dựng văn hóa chống lãng phí. TS Lê Văn Hạnh thì có quan điểm như thế nào về giải pháp này?

TS Lê Văn Hạnh: Đâu đó, chỗ này chỗ kia, trong thời gian vừa qua, phải nói rằng việc xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Mới đây, Ban Nội chính Trung ương cũng đã tham mưu để xây dựng một chỉ thị của Đảng về xây dựng văn hóa liêm chính trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội.

Trong Chỉ thị này với yêu cầu của Tổng Bí thư như vậy chắc chắn nhiệm vụ phòng chống lãng phí sẽ được gắn chặt và sẽ được nhấn mạnh trong xây dựng văn hóa liêm chính. Trong đó nếu được thông qua thì sẽ có những giải pháp rất quyết liệt để chúng ta sẽ hình thành được văn hóa liêm chính, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhưng nó lại là một nhiệm vụ rất khó khăn và phải kiên quyết, kiên trì, phải làm lâu dài. Bởi vì văn hóa này nó thuộc về ý thức, thuộc về tư tưởng, thuộc về phần người trong mỗi con người, cho nên là ngoài việc chúng ta dùng các sức mạnh cứng như là xây dựng các quy định của pháp luật để bắt buộc phải tuân theo hoặc là xử lý kỷ luật, xử lý hành chính, xử lý theo kỷ luật của Đảng thì văn hóa này còn phải được hình thành bằng sức mạnh mềm. Đó là bằng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, sự nêu gương, trước hết là sự nêu gương của người đứng đầu, của người lãnh đạo các cấp. Như vậy dần dần mới hình thành được văn hóa.

Thực tế chúng ta thấy, hiện nay văn hóa tiết kiệm là cái gì của tư thì chúng ta tiết kiệm, cái gì của công chúng ta chưa quan tâm nhiều lắm, bởi vì của công “cha chung không ai khóc”, cho nên bây giờ cái này phải đặt ngang hàng với nhau cả hai chân, cả văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí ở trong khu vực công, cả văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí trong Nhân dân, trong khu vực tư.

 
TS Lê Văn Hạnh:  Mới đây, Ban Nội chính Trung ương cũng đã tham mưu để xây dựng một chỉ thị của Đảng về xây dựng văn hóa liêm chính trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội.

PVRõ ràng trước yêu cầu tăng cường nguồn lực, khơi dậy sức dân đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống lãng phí đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất khẩn trương, cấp bách. Việc quán triệt quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về xây dựng văn hóa chống lãng phí là một mệnh lệnh chính trị cần kíp trước mắt và lâu dài có ý nghĩa như thế nào thưa các vị khách mời?

PGS.TS Nguyễn Viết Thông: Lần này đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập đến văn hóa trong chống lãng phí. Đây là vấn đề rất lớn, cũng tương tự như trong phong chống tham nhũng, phải xây dựng văn hóa không muốn tham nhũng. Bây giờ phải xây dựng được văn hóa luôn luôn tiết kiệm, trở thành thường trực của mỗi người dân Việt Nam, mỗi con dân đất Việt dù ở cương vị nào cũng có văn hóa chống lãng phí. Đây không chỉ là mệnh lệnh mà là nguyện vọng.

Tôi cũng muốn nói thêm một chút. Chúng ta bàn về phòng chống lãng phí, tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh chống lãng phí là rất cần thiết nhưng phải phân biệt với bủn xỉn, keo kiệt, ti tiện. Bác Hồ đã từng nói: Cái gì không cần chi thì một xu cũng không chi, cái gì cần chi thì bao nhiêu cũng chi. Hiện nay đất nước chúng ta đang phát triển, mà phải có tư duy dài hạn, có tầm nhìn chiến lược. Ví dụ, tới đây Quốc hội sẽ thảo luận về chủ trương mà Ban Chấp hành Trung ương đã cho ý kiến về xây dựng đường sắt tốc độ cao. Điều này phải có tư duy chiến lược như là tốc độ phải 350km/giờ, phải hiện đại, với mức dự toán 67,34 tỉ USD. Đây là số tiền không nhỏ. Nhưng rõ ràng, đây là vấn đề cần chi, phải chi, cần thiết phải làm rồi. Chứ không phải là tiết kiệm, chống lãng phí là không dám đầu tư, phát triển gì cả, kể cả những công trình văn hóa, sân vận động, bảo tàng…. Tới đây phải tiếp tục xây dựng, phải làm như đầu tư nhiều tỷ đồng xây dựng trung tâm triển lãm ở Đông Anh (Hà Nội) đang triển khai rất lớn…

TS Lê Văn Hạnh: Thông điệp mà Tổng Bí thư Tô Lâm đưa ra về chống lãng phí thì rõ ràng là có ý nghĩa như chương trình của chúng ta hôm nay đặt ra. Đó là mệnh lệnh chính trị cần kíp trước mắt và lâu dài. Trước mắt thì tôi thấy cái lớn nhất đó là nó sốc lại nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về tác hại của lãng phí. Nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải chống lãng phí, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang dốc sức, dồn lực thực hiện các mục tiêu rất lớn của đất nước như hiện nay.

Còn ý nghĩa trước mắt mà cũng là ý nghĩa lâu dài nữa đó là chống lãng phí, tiết kiệm sẽ đảm bảo các nguồn lực cho phát triển kinh tế của đất nước với phương châm 5 tự như Tổng Bí thư đề ra. Đó là tự lực, tự chủ, tự cường, tự tin, tự hào. Vấn đề thực hiện mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh như Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, thì không còn cách nào khác là phải đẩy mạnh làm việc này.

Còn ý nghĩa rất lâu dài nữa đó là nâng cao uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng. Rõ ràng, một đảng lãnh đạo mà để không những tham nhũng mà còn lãng phí nhiều như thế này thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín. Thứ hai là nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, làm sao quản lý nhưng phải tạo sự phát triển. Thứ ba nữa là củng cố niềm tin của Nhân dân. Đấy là những tác dụng ý nghĩa rất là lâu dài trong cuộc chiến chống lãng phí hiện nay.