Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Phương án sáp nhập các ủy ban của Quốc hội và cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội

 Sáng 1/12, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng thông báo chuyên đề về các nội dung chính, trọng tâm việc triển khai tổng kết Nghị quyết 18. Theo phương án định hướng được nêu sẽ giảm 4 ủy ban của Quốc hội và 1 cơ quan trực thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và một số nội dung quan trọng

Trình Trung ương phương án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong quý I/2025

Phương án giảm 4 cơ quan Đảng, 25 ban cán sự đảng, 16 đảng đoàn trực thuộc Trung ương

Phương án nghiên cứu sắp xếp, sáp nhập các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

 

Phương án nghiên cứu sáp nhập các cơ quan của Quốc hội

Đồng chí Lê Minh Hưng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương thông tin về định hướng phương án nghiên cứu đề xuất sáp nhập, kết thúc hoạt động của một số cơ quan của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể:

- Sáp nhập Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính - Ngân sách.

- Sáp nhập Ủy ban Xã hội và Ủy ban Văn hóa, Giáo dục

- Sáp nhập Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Pháp luật.

- Kết thúc hoạt động của Ủy ban Đối ngoại, chuyển các nhiệm vụ về Bộ Ngoại giao, các ủy ban của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội.

- Nghiên cứu chuyển Ban Dân nguyện thành Ban Giám sát và Dân nguyện.

- Nghiên cứu tinh gọn mô hình Tổng thư ký, phó tổng thư ký và Ban Thư ký Quốc hội; nghiên cứu chuyển các vụ chuyên môn của Văn phòng Quốc hội về trực thuộc các Ủy ban của Quốc hội và các ban của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

- Kết thúc hoạt động của Viện Nghiên cứu Lập pháp, chuyển chức năng, nhiệm vụ về các cơ quan liên quan của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Nghiên cứu kết thúc hoạt động của Truyền hình Quốc hội, chuyển chức năng, nhiệm vụ liên quan về Đài Truyền hình Việt Nam; Quốc hội chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và biên chế.

- Không bố trí chức danh ủy viên thường trực, ủy viên chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; các ủy ban của Quốc hội có chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, đại biểu Quốc hội chuyên trách.

Đồng chí Lê Minh Hưng cho hay khi thực hiện theo phương án này, giảm 4 ủy ban của Quốc hội và 1 cơ quan trực thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Phương án với Mặt trận Tổ quốc và các hội

Đối với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các tố chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ.

Đồng chí Lê Minh Hưng nêu rõ việc rà soát lại tất cả hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo hướng tinh gọn, sáp nhập, kết thúc hoạt động, chỉ giữ lại những cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ cần thiết.

- Rà soát, sắp xếp lại các cơ quan báo, tạp chí trực thuộc MTTQ Việt Nam và các tố chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo hướng sáp nhập, kết thúc hoạt động của một số báo, tạp chí không thật sự cần thiết.

- Nghiên cứu, đề xuất sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm đầu mối bên trong, tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý.

 Đồng chí Lê Minh Hưng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương

 Địa phương thực hiện theo phương án tương tự như Trung ương

Đối với các địa phương, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng chỉ rõ cấp ủy, Ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và chủ động nghiên cứu.

- Đề xuất sáp nhập, giải thể một số ban, cơ quan, ban chỉ đạo của cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện; cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện tương tự như ở Trung ương.

- Kết thúc hoạt động của các đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy khối cấp tỉnh; lập 2 đảng bộ trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh.

Trong đó Đảng bộ cơ quan Đảng, đoàn thể, tư pháp cấp tỉnh, gồm:

- Các tố chức đảng trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, HĐND, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ cấp tỉnh; có cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc đặt tại cơ quan cấp ủy cấp tỉnh.

- Đảng bộ chính quyền cấp tỉnh, gồm các tổ chức đảng trong các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND cấp tỉnh, một số doanh nghiệp Nhà nước (tuy theo quy mô, tính chất quan trọng của đảng bộ doanh nghiệp) (doanh nghiệp khác chuyển về trực thuộc cấp ủy cấp huyện).

- Có cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc đặt tại cơ quan UBND cấp tỉnh.

- Đảng ủy chính quyền cấp tỉnh ngoài các chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh, còn bao gồm chức năng, nhiệm vụ của ban cán sự đảng như hiện nay.

- Lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện đối với hoạt động của UBND cấp tỉnh và các cấp ủy (chi bộ) trực thuộc.

- Dự kiến đề xuất chuyển một số nhiệm vụ công tác đảng vụ của đảng ủy chính quyền cấp tỉnh (tương đương cấp huyện) về đảng ủy các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (cấp cơ sở), một số nhiệm vụ sẽ do ban đảng cấp ủy cấp tỉnh thực hiện.

- Ban Bí thư quy định về chức năng, nhiệm vụ, tố chức bộ máy, mối quan hệ công tác của 2 đảng ủy nêu trên.

Cùng với việc tổng kết và đề xuất mô hình tổ chức bộ máy mới theo các nội dung gợi ý, định hướng nêu trên, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải chủ động.

Như nghiên cứu, đề xuất sắp xếp các cơ quan, đơn vị, tổ chức khác thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, quyết liệt thực hiện sắp xếp đầu mối bên trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức để bảo đảm tinh gọn bộ máy, phù hợp với tình hình, đặc điểm của cơ quan, đơn vị, địa phương.

Tiếp tục nghiên cứu sắp xếp, tinh gọn đơn vị hành chính các cấp.../.

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18 và một số nội dung quan trọng

 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu nội dung Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII; báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng của năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế.

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và một số nội dung quan trọng

Tạo tiền đề, nền tảng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình

Tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế

Trình Trung ương phương án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong quý I/2025

Phương án giảm 4 cơ quan Đảng, 25 ban cán sự đảng, 16 đảng đoàn trực thuộc Trung ương

Phương án sáp nhập các ủy ban của Quốc hội và cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Phương án nghiên cứu sắp xếp, sáp nhập các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

 Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị - Ảnh: Phạm Cường

"Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị tại các điểm cầu toàn quốc,

Hôm nay, mặc dù là ngày Chủ nhật nhưng Bộ Chính trị, Ban Bí thư vẫn quyết định triệu tập Hội nghị toàn quốc để: (1) Quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. (2) Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng của năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025. (3) Các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt về thể chế để phát triển, điều này cho thấy tính khẩn trương, cấp bách và tầm quan trọng của những vấn đề nêu trên.

Các đồng chí đã được nghe đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội báo cáo về kết quả Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, nhất là kết quả xây dựng pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế phát triển đất nước; đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương quán triệt, triển khai các nội dung Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII "về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả". Báo cáo của ba đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đã đề cập tương đối cụ thể đối với từng vấn đề và tôi cho rằng các đồng chí đã hình dung ra những việc cần phải làm trong thời gian tới tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Thưa các đồng chí,

Từ sau Hội nghị Trung ương 10 ngày 20/9/2024 đến nay, cả hệ thống chính trị đã có những chuyển động mạnh mẽ, vận hành với tinh thần mới, vận tốc mới nhằm tạo ra những động lực mới, hiệu năng mới cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Trong khoảng thời gian trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã làm việc rất khẩn trương, tiến hành hơn 10 phiên họp cho ý kiến giải quyết gần 100 vấn đề lớn theo thẩm quyền, trong đó tháo gỡ cơ bản những tồn đọng, vướng mắc và giải quyết nhiều vấn đề mới phát sinh. Quốc hội - Chính phủ - Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp triển khai rất quyết liệt, nhịp nhàng để tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt, rào cản gây khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội, cho cuộc sống, sinh hoạt của người dân... Những việc làm trên bước đầu đã tạo sinh lực mới cho nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, trước mắt là phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch của năm 2024 và năm 2025, tạo đòn bẩy để bứt phá, hoàn thành toàn bộ các mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.

Các đại biểu tham dự Hội nghị - Ảnh: Phạm Cường 

Câu hỏi được đặt ra lúc này là chúng ta đã đủ thế và lực; đã đủ ý chí và quyết tâm để bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh của dân tộc hay chưa? Câu trả lời là: Đã đủ.

Hiện nay đã là thời điểm, thời cơ; là sự cấp thiết, là đòi hỏi tất yếu khách quan cho cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hay chưa? Câu trả lời là: Không thể chậm trễ hơn được nữa.

Tôi nghĩ các phát biểu của Thủ tướng Chính phủ, của Chủ tịch Quốc hội và của Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đã làm rõ những điều trên. Tôi chỉ xin nhấn mạnh thêm 3 vấn đề để các đồng chí nghiên cứu, quán triệt:

1. Về kinh tế - xã hội: Để đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội XIII đã đề ra, chúng ta phải đổi mới tư duy, phải "cởi trói", phải quyết đoán, phải bứt phá, phải vượt lên chính mình. Để vươn tới mục tiêu thu nhập trung bình cao cho người dân vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phải đạt hai con số liên tục trong những năm tiếp theo. Đây là một bài toán rất khó mà chúng ta phải làm. Chỉ có phép giải rút gọn mới ra đáp số kịp thời gian. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội đang tập trung giải quyết những điểm nghẽn và tạo lập những yếu tố nền tảng để đất nước có thể "cất cánh", nhất là các vấn đề liên quan đến cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, hạ tầng năng lượng, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, cải cách thể chế phát triển, thủ tục hành chính... Trước mắt cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu tăng trưởng GDP của năm 2024 và năm 2025, trong đó phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số ngay từ thời gian này, đây là vấn đề chúng ta hoàn toàn có cơ sở để làm được.

Để đạt mục tiêu này, cần tiếp tục tạo đột phá hơn nữa về thể chế phát triển, tháo gỡ hết các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn để khơi thông mọi nguồn lực và cải cách hành chính mạnh mẽ, kiến tạo môi trường thuận lợi để phát triển. Tôi ghi nhận Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV vừa qua bước đầu có sự đổi mới tư duy sâu sắc trong xây dựng pháp luật, với 7 luật, 4 nghị quyết được thông qua, trong đó có 1 luật sửa 4 luật, 1 luật sửa 9 luật để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Tuy nhiên, đây mới là kết quả bước đầu, phía trước còn rất nhiều việc phải làm để khơi thông "điểm nghẽn của điểm nghẽn này". Cần nhận thức rõ, đổi mới thể chế phát triển không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan xây dựng pháp luật, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và của từng cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng, thực thi pháp luật. Phải có "liều thuốc đủ mạnh" để trị căn bệnh cán bộ làm việc hành chính, máy móc; tiêu cực, nhũng nhiễu, "hành dân", "hành doanh nghiệp", có lợi ích cá nhân thì mới làm, cố tình làm chậm công việc, xin ý kiến lòng vòng, đổ lỗi cho thể chế, đổ lỗi cho sợ trách nhiệm…

Các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã khá đầy đủ. Bây giờ là lúc phải hành động. Trên cơ sở chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước và sự điều tiết của Trung ương, các địa phương phải trăn trở, suy nghĩ "trên chính mảnh đất của mình", phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo để phát triển; từng cơ quan, đơn vị, địa phương phải đặt ra mục tiêu phấn đấu cụ thể để đóng góp vào hoàn thành mục tiêu chung của đất nước. Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu thực hiện nhiệm vụ trên tinh thần đặt lợi ích chung lên trên hết, mạnh dạn đổi mới, sáng tạo, đột phá, dũng cảm hy sinh để đất nước phát triển.

Tôi cho rằng ngoài nỗ lực của Đảng, Chính phủ, Nhà nước thì rất cần sự hưởng ứng, vào cuộc của người dân, phải giải phóng sức lao động, sức sản xuất, phải huy động được nguồn vốn vật chất và tinh thần trong Nhân dân và người dân phải cảm nhận được Nhân dân là người hưởng thụ những thành quả đó thì mọi người sẽ chung sức đồng lòng cùng thực hiện. Phát triển kinh tế cần gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tạm, nhà dột nát... thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Các đại biểu tham dự Hội nghị - Ảnh: Phạm Cường  

2. Về đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV: Đại hội đảng các cấp từ các chi bộ cơ sở, đến cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và các cơ quan Trung ương phải là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, thảo luận về tầm nhìn và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước vươn mình giàu mạnh trong kỷ nguyên mới. Các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã được Trung ương xây dựng công phu, kỹ càng, khoa học. Dự thảo Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới đã được biên tập nhiều lần, đến nay đã đủ điều kiện để gửi đại hội đảng các cấp đóng góp ý kiến. Dự thảo tóm tắt 4 văn kiện này sẽ được gửi đến cấp cơ sở trước ngày 15/12/2024; Dự thảo đầy đủ sẽ gửi đến cấp huyện, cấp tỉnh và các cơ quan Trung ương trước ngày 31/3/2025. Nhiệm vụ của cấp ủy các cấp là sớm tổ chức cho cán bộ, đảng viên, nghiên cứu, đóng góp ý kiến vào các Văn kiện trên. Điều quan trọng là từ nội dung Dự thảo các Văn kiện của Đại hội XIV, cấp ủy các cấp lấy đó làm cơ sở xây dựng nội dung báo cáo chính trị, phương hướng nhiệm vụ công tác cho các văn kiện của cấp mình; xác định cụ thể những mục tiêu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương mình, đóng góp vào mục tiêu chung của đất nước trong giai đoạn tới. Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức đảng, các nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức, các tầng lớp nhân dân để bổ sung, hoàn thiện các Văn kiện để trình Đại hội XIV với tinh thần Văn kiện phải bám sát hơi thở cuộc sống, phải ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện. Văn kiện phải trở thành "Sách giáo khoa", thành "Từ điển" để khi cần thì "tra" vào đó và sẽ thấy ngay "ánh sáng soi đường". Hạn chế tối đa việc phải tiếp tục ban hành các nghị quyết, chỉ thị tiếp theo để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.

Cấp ủy các cấp cần tập trung chuẩn bị nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ mới theo đúng các nội dung đã được hướng dẫn, chuẩn bị thật tốt đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu phát triển mới. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự học hỏi để "nâng mình lên" để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của đất nước, nếu không đáp ứng được thì tự nguyện đứng sang một bên để người khác làm. Phải hết sức lưu ý khắc phục những "căn bệnh" của công tác cán bộ trước Đại hội như: Người không tái cử thì giữ an toàn, thủ thế, không dám triển khai cái mới; nhân sự dự kiến tham gia cấp ủy khóa mới thì giữ mình, không muốn va chạm, sợ mất phiếu; tính toán cho người thân, người quen, người "cánh hẩu" với mình vào các vị trí lãnh đạo hoặc dùng "thủ thuật tổ chức" để gạt người mà mình không thích... Công tác tổ chức cán bộ là công tác của Đảng, do vậy các cấp ủy đảng phải thực hiện thật nghiêm túc Điều lệ Đảng cũng như các quy định của Đảng, của pháp luật về công tác cán bộ.

3. Về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị: Như Tôi đã đề cập trong một số bài viết, bài nói, đây là vấn đề rất cấp bách, bắt buộc phải làm, càng làm sớm càng có lợi cho dân, cho nước vì đã nhiều Đại hội của Đảng từ các nhiệm kỳ trước từng đặt ra vấn đề này, đặc biệt là từ Đại hội XII đến nay. Điều đó cho thấy Đảng đã nhìn ra và thấy cần phải thực hiện nhưng quá trình triển khai chưa đạt mục tiêu đề ra. Đây thực sự là vấn đề khó, thậm chí rất khó vì khi tiến hành tinh gọn bộ máy sẽ liên quan đến tâm tư, tình cảm, nguyện vọng và đụng chạm tới lợi ích của một số cá nhân, tổ chức. Do vậy dù đã được chuẩn bị kỹ, bài bản như báo cáo của đồng chí Lê Minh Hưng và nhiều hướng dẫn thực hiện công tác này đã được gửi tới các đồng chí nhưng chắc chắn việc triển khai tại nhiều đơn vị sẽ gặp khó khăn, thậm chí sẽ có cả những lực cản. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tiến hành vì muốn có một cơ thể khỏe mạnh, đôi khi chúng ta phải "uống thuốc đắng", phải chịu đau để "phẫu thuật khối u".

Tôi đề nghị các cấp, các ngành từ Trung ương tới cơ sở phải xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong thực hiện chủ trương này. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Đây không chỉ là vấn đề về quy mô hay số lượng, mà sâu xa hơn là phải tạo sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống chính trị. Các đồng chí cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan cần gương mẫu, chủ động, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao theo tinh thần "vừa chạy vừa xếp hàng"; "Trung ương không chờ cấp tỉnh, cấp tỉnh không chờ cấp huyện, cấp huyện không chờ cơ sở"; "Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng". Từng cấp, từng ngành bám sát kế hoạch để tổng kết và đề xuất mô hình cơ quan, đơn vị mình bảo đảm đúng tiến độ (bộ, ngành phải hoàn thành trong tháng 12/2024); hướng tới mục tiêu chung là hoàn thành và báo cáo Trung ương Phương án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong quý I/2025.

Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp từ Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội và kết hợp trực tuyến tới 14.535 điểm cầu cấp huyện, cơ sở, các cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc, các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương với hơn 1,3 triệu đại biểu tham dự - Ảnh: Phạm Cường 

Triển khai thực hiện khẩn trương nhưng bảo đảm thận trọng, chắc chắn, giữ vững nguyên tắc, tiếp thu ý kiến từ tổng kết thực tiễn, các chuyên gia, nhà khoa học, kể cả kinh nghiệm nước ngoài... để đề xuất tinh gọn tổ chức bộ máy tối ưu nhất. Thực hiện nghiêm nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực; các cơ quan, tổ chức trước đây đã sắp xếp bước đầu, cũng phải rà soát đề xuất sắp xếp lại bên trong; kiên quyết xóa bỏ các tổ chức trung gian; cải cách tổ chức bộ máy phải gắn với quán triệt, thực hiện có hiệu quả các chủ trương về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phân cấp phân quyền mạnh mẽ cho địa phương, đẩy mạnh cải cách hành chính, chống lãng phí, chuyển đổi số quốc gia, xã hội hóa các dịch vụ công... Yêu cầu chung là bộ máy mới phải tốt hơn bộ máy cũ và đi vào hoạt động ngay; không để ngắt quãng công việc, không để khoảng trống về thời gian, không để bỏ trống địa bàn, lĩnh vực; không để ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của xã hội, của người dân...

Việc tinh gọn tổ chức bộ máy đi đôi với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Tinh giản không có nghĩa là cắt giảm một cách cơ học, mà là loại bỏ những vị trí không cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả, từ đó tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực then chốt, những con người thực sự xứng đáng và phù hợp. Không để cơ quan nhà nước là "vùng trú ẩn an toàn" cho cán bộ yếu kém. Với yêu cầu cao hơn khi triển khai tổ chức mới, phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lại cán bộ trước và sau khi sắp xếp lại tổ chức. Từng cơ quan, đơn vị phải thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng và chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy; bảo đảm công bằng, công khai, khách quan, không để phát sinh phức tạp. Bộ Chính trị đã có chủ trương tạm dừng việc bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử giữ chức vụ cao hơn đối với các cơ quan, đơn vị thuộc diện dự kiến phải sắp xếp, tinh gọn (trừ những trường hợp thật sự cần thiết); tạm dừng việc tuyển công chức từ ngày 01/12/2024 cho đến khi hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo định hướng của Trung ương. Đề nghị cấp ủy các cấp quán triệt, thực hiện tốt nội dung này.

Các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng dư luận, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và toàn hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong Nhân dân về chủ trương, yêu cầu, nhiệm vụ tinh gọn tổ chức bộ máy trong tình hình mới. Đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc việc thực hiện chủ trương này; xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng việc sắp xếp tổ chức, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và cơ quan, tổ chức.

Thưa toàn thể các đồng chí,

Công việc phía trước rất bộn bề, khẩn trương. Thời gian không chờ đợi chúng ta. Đất nước đang đứng trước cánh cửa lịch sử bước vào kỷ nguyên vươn mình. Những công việc chúng ta làm hôm nay, sẽ quyết định tương lai. Chậm trễ là có lỗi với Nhân dân. Tôi đề nghị các đồng chí từ Trung ương đến cơ sở có mặt tại Hội nghị hôm nay phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao nhất để hoàn thành sớm việc tinh gọn tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị; góp phần tăng tốc, bứt phá vượt các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2024, 2025 và cả nhiệm kỳ Đại hội XIII; chuẩn bị thật tốt đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn."

VỮNG TIN VẬN DỤNG ĐỂ ĐƯA VIỆT NAM VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH!

         Ph.Ăngghen (1820-1895) là nhà tư tưởng kiệt xuất đã cùng C.Mác xây dựng nên một học thuyết khoa học và cách mạng. Một trong những đóng góp to lớn của Ph.Ăngghen là tư duy biện chứng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều này đã cho chúng ta những gợi mở quan trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay!

Quan điểm về khả năng “phát triển rút ngắn”
Cùng với C.Mác, trên cơ sở luận giải một cách khoa học về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử, Ph.Ăngghen đã khẳng định đến một giai đoạn phát triển nhất định, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng một chế độ xã hội khác - chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Mặc dù chế độ xã hội chủ nghĩa là tương lai chung của lịch sử loài người nhưng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi dân tộc khác nhau, tùy theo những điều kiện lịch sử cụ thể.
Không chỉ khẳng định con đường tất yếu của các nước tư bản phát triển ở phương Tây là tiến lên chủ nghĩa xã hội mà cuối những năm 80, 90 của thế kỷ XIX, Ph.Ăngghen còn quan tâm đến vận mệnh của các nước tiền tư bản. Khi nghiên cứu về nước Nga, Ph.Ăngghen đã nhìn thấy khả năng một nước tiền tư bản như nước Nga có thể đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội với một số điều kiện nhất định như “nông dân không canh tác riêng lẻ mà canh tác tập thể”, “nông dân không phải trải qua chế độ trung gian là chế độ sở hữu manh mún tư sản về ruộng đất”.
Như vậy, theo Ph.Ăngghen, điều kiện của nước Nga khi muốn đi lên chủ nghĩa xã hội là phải có mầm mống của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Ngoài ra, Ph.Ăngghen còn nhấn mạnh thêm khả năng phát triển “rút ngắn” sẽ giúp cho các nước có thể tránh được phần lớn những tai ương, đau khổ mà trước đó ông gọi là “khe núi Capdia” của chủ nghĩa tư bản: “Các nước không những có thể mà còn chắc chắn… rút ngắn một cách đáng kể quá trình phát triển lên xã hội xã hội chủ nghĩa và có thể tránh được phần lớn những đau khổ và những cuộc đấu tranh mà ở Tây Âu… phải trải qua”[1] .
Quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã cho thấy rất rõ tư duy biện chứng của Ph.Ăngghen. Một mặt, Ph.Ăngghen đã quán triệt quan điểm phát triển khi khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều giai đoạn, với sự tích lũy về lượng để tạo ra biến đổi về chất, song mặt khác, Ph.Ăngghen cũng nói rõ thêm khả năng phát triển “rút ngắn” của các nước tiền tư bản khi tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Với quan điểm này, Ph.Ăngghen đã tiếp tục làm rõ thêm quan điểm của C.Mác về sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Quan điểm của Ph.Ăngghen về khả năng “phát triển rút ngắn” sau này được V.I.Lênin nêu thành khả năng “không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” để tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước, các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc, chậm phát triển.

Những gợi mở từ tư duy biện chứng
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có quan điểm của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội và kế tục sự lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt gần 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, vừa trên cơ sở vận dụng, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có quan điểm của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vừa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam cũng như mơ ước, khát vọng của nhân dân ta về một xã hội tốt đẹp, hướng đến con người. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam qua gần 40 năm đổi mới là một bằng chứng thực tiễn giàu sức thuyết phục khẳng định việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.
Với những kết quả to lớn đã đạt được, cùng với tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế đang ngày càng được nâng cao, Việt Nam đã và đang tích lũy những điều kiện chín muồi để bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, với mục tiêu tổng quát: “Phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao... Phấn đấu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Đây là mục tiêu rất rõ ràng, vừa trên cơ sở nhận định, đánh giá khách quan về những kết quả Việt Nam đã đạt được trong gần 40 năm đổi mới; đồng thời là sự kết tinh ý chí, khát vọng, niềm tin của dân tộc Việt Nam về một giai đoạn phát triển bứt phá của đất nước trong những năm tiếp theo.
Trong bối cảnh hiện nay, một mặt chúng ta phải luôn kiên trì, kiên định với sự lựa chọn của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, mặt khác phải kiên quyết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch khi xuyên tạc, phủ nhận sự lựa chọn đó của Đảng ta. Vận dụng tư duy biện chứng về chủ nghĩa xã hội của Ph.Ăngghen cho mỗi chúng ta thêm niềm tin, ý chí, sức mạnh để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới./.
-------------------------
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.632.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH NHƯNG KHÔNG TẠO GÁNH NẶNG CHO NỀN KINH TẾ!

         Theo Ph.Ăngghen “Người lính sẽ có sức mạnh vượt trội nếu có kỹ thuật chiến đấu tốt và mang theo bên mình một chiếc áo giáp, một thanh kiếm bảo vệ”. Đảng ta luôn thấu suốt phương châm “người trước súng sau”. Bên cạnh xây dựng bản lĩnh chính trị và tinh thần cho bộ đội, Quân đội đã từng bước đầu tư mua sắm những trang thiết bị, vũ khí hiện đại, nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc! 
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại. Đây là một chủ trương lớn, đặc biệt quan trọng liên quan đến nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước. Vì thế, việc xây dựng quân đội hiện đại cần có lộ trình phù hợp với khả năng của nền kinh tế đất nước. Từ nay đến năm 2030, Đảng và Nhà nước ưu tiên một số lực lượng như phòng không, không quân, thông tin liên lạc, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, lực lượng không gian mạng và cơ yếu tiến thẳng lên hiện đại. Từ đó, tạo tiền đề, nền tảng đến năm 2030, toàn quân tiến lên hiện đại.
Trung tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng phân tích: "Chúng ta mong muốn xây dựng quân đội hiện đại ngay, nhưng hiện nay, điều kiện, khả năng kinh tế của nước ta chưa thể đáp ứng luôn được. Do vậy, chúng ta phải lựa chọn theo hướng ưu tiên một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến lên hiện đại trước. Chúng ta phải thực hiện từng bước chứ không thể nóng vội và đốt cháy giai đoạn. Xây dựng quân đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhưng không tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế."
Hiện nay, hình thái chiến tranh đã khác nhiều so với chiến tranh truyền thống, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai nếu có xảy ra sẽ là chiến tranh công nghệ cao mà đối phương sẽ sử dụng những vũ khí hiện đại, thông minh, tàng hình, tốc độ siêu thanh có sức hủy diệt lớn, độ chính xác cao. Để đối phó và đánh chặn những loại vũ khí này, chúng ta cũng cần phải có những vũ khí hiện đại.
Mặt khác, hình thái chiến tranh ngày nay cũng đã được mở rộng, ngoài tác chiến trên bộ, trên biển, trên không, còn có các hình thức tác chiến trong vũ trụ, trong môi trường điện từ và trên không gian mạng. Một đội quân không thể đem giáo mác, gậy tầm vông để tác chiến với máy bay ném bom tàng hình và tàu chiến sân bay trên biển. Vì thế việc tập trung nguồn lực cho việc hiện đại hóa quân đội phù hợp với tiềm lực và khả năng của nền kinh tế là yêu cầu khách quan, tất yếu.
Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: "Nguyên tắc bất di bất dịch là nhất định phải tìm mọi giải pháp tốt nhất có thể để bảo vệ Tổ quốc, thế nhưng cách thức thực hiện thì không thể nhất nhất như một. Thời đánh Pháp khác, gậy tầm vông có thể đánh được, thời đánh Mỹ đã bắt đầu khác rồi, nhưng đến thời nay, để bảo vệ Tổ quốc vùng biển, vùng trời thì không thể mang những thiết bị thông thường ra để đánh nhau ở trên trời, trên biển được. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay còn vấn đề về không gian mạng, bảo vệ Tổ quốc phải từ sớm, từ xa, có nghĩa là từ khi chưa xuất hiện, hoặc có khả năng xuất hiện thì mình có thể nắm chắc được và dập tắt nó."
Việc chúng ta đầu tư kinh phí mua sắm, trang bị cho quân đội những vũ khí thế hệ mới đều được Việt Nam công khai với Liên Hợp Quốc và cộng đồng quếc tế. Hiện đại hóa quân đội, Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng và khả năng phòng thủ của đất nước. Chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự, không phát triển quân đội để chạy đua vũ trang, không phát triển quân đội để làm phương hại và đe dọa tới hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.
Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Sỹ Lộc, Phó Tư lệnh Quân đoàn 3 lý giải rõ hơn về điều này: "Xây dựng quân đội hiện đại để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, phải làm cho đất nước có môi trường hòa bình, ổn định để thu hút đầu tư, để tập trung phát triển kinh tế, làm cho dân giàu, nước mạnh thì quốc phòng cũng vững mạnh. Và tôi muốn nói thêm một điểm này, chúng ta xây dựng quân đội hiện đại từ năm 2030 là nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, chứ không phải là nhằm mục đích phô trương sức mạnh quân sự."
Con người và vũ khí là hai yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Trong hai yếu tố này, con người vẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối và mang tính quyết định. Vũ khí đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ cho người chiến sĩ. Thấu triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênnin về xây dựng Quân đội, chúng ta cần phát triển hài hòa, song hành vừa đầu tư phát triển con người vừa ưu tiên mua sắm trang bị vũ khí cho quân đội.
Theo Đại tá Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Văn Phai, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự, mọi biểu hiện coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa vai trò của con người và vũ khí đều rơi vào chủ quan và sai lệch trong nhận thức: "Tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hay con người, đều rơi vào quan điểm siêu hình, làm suy yếu và ảnh hưởng đến sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Mặt khác cũng cần lưu ý là trong quan điểm về vũ khí, thì cũng cần phải tránh những quan điểm quá nhấn mạnh về vũ khí hiện đại, vũ khí thông minh, vũ khí, công nghệ cao mà xem nhẹ đi vũ khí truyền thống và ngược lại."
Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta luôn có phương án và sẵn sàng chuyển trạng thái của quân đội từ thời bình sang thời chiến, chuyển địa phương vào trạng thái quốc phòng, trong bất kỳ tình huống nào, khi độc lập, chủ quyền lãnh thổ của đất nước bị xâm phạm, chúng ta huy động sức mạnh của toàn dân để bảo vệ đất nước. Để thực hiện được điều đó, cần tiếp tục đầu tư kinh phí mua sắm, trang bị cho Quân đội những vũ khí, trang bị hiện đại phù hợp với tiềm lực của nền kinh tế đất nước, đủ sức đánh trả và đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./.
Theo VOV
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: SỰ QUAN TRỌNG CỦA VIỆC HỌC TẬP!

     Khi Mạnh Tử còn bé, có lần đang đi học thì bỏ về nhà. Mẹ Mạnh đang dệt vải thấy vậy hỏi Mạnh Tử học tới đâu, Mạnh Tử thưa vẫn như thế, thế là mẹ Mạnh Tử cắt đứt tấm vải đang dệt!
Mẹ Mạnh Tử bảo: “Con bỏ học, cũng như mẹ cắt đứt tấm vải này. Người quân tử lấy học tập để lập danh, chịu khó học hỏi thì biết rộng, cho nên khi ở thì yên ổn, lúc hành động thì không nguy. Nay con bỏ học, khó tránh khỏi lao dịch, không sao thoát khỏi tai ương. Giống như mẹ dệt vải kiếm sống, nhưng nửa chừng bỏ dở không làm tiếp, vậy nhà ta làm sao mà đủ ăn đủ mặc lâu dài? Con gái mà bỏ bê việc nội trợ, con trai mà xao nhãng việc tu đức, nếu không làm trộm cướp thì cũng lao dịch mà thôi” - Trích từ sách GIÁO HUẤN TỪ CỔ NHÂN biên dịch Mặc Am
Qua lời dạy của mẹ Mạnh Tử, chúng ta thấy rằng học vấn không chỉ là một phương tiện để đạt được thành công mà còn là nền tảng vững chắc giúp con người vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Việc mẹ Mạnh Tử cắt đứt tấm vải dệt dở như một phép so sánh mạnh mẽ, nhấn mạnh rằng bỏ dở việc học sẽ dẫn đến những hệ lụy khó lường.
Bài học này không chỉ mang tính giáo dục mà còn phản ánh giá trị truyền thống trong việc coi trọng tri thức và rèn luyện bản thân. Trong xã hội hiện đại, thông điệp này vẫn còn nguyên giá trị, khuyến khích mọi người không ngừng nỗ lực, học hỏi để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Hơn nữa, nó cũng nhấn mạnh rằng mỗi cá nhân có trách nhiệm với bản thân và gia đình, từ đó góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÔM NAY CHÍNH SÁCH SỬA ĐỔI, BỔ SUNG VỚI SĨ QUAN CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH!

     Hôm nay, ngày 1-12-2024, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam chính thức có hiệu lực thi hành!

Luật được Quốc hội khóa XV thông qua tại phiên họp sáng 28-11 trong chương trình làm việc của Kỳ họp thứ Tám.

Điều 11 Luật Sĩ quan Quân đội nhân Việt Nam trước đây chỉ quy định chức vụ của sĩ quan gồm: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Tổng Tham mưu trưởng; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Chủ nhiệm Tổng cục, Tổng cục trưởng, Chính ủy Tổng cục; Tư lệnh Quân khu, Chính ủy Quân khu; Tư lệnh Quân chủng, Chính ủy Quân chủng; Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Chính ủy Bộ đội Biên phòng; Tư lệnh Quân đoàn, Chính ủy Quân đoàn; Tư lệnh Binh chủng, Chính ủy Binh chủng; Tư lệnh Vùng Hải quân, Chính ủy Vùng Hải quân; Sư đoàn trưởng, Chính ủy Sư đoàn; Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh), Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh; Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh, Chính ủy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh; Lữ đoàn trưởng, Chính ủy Lữ đoàn; Trung đoàn trưởng, Chính ủy Trung đoàn; Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện), Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cấp huyện; Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên Tiểu đoàn; Đại đội trưởng, Chính trị viên Đại đội; Trung đội trưởng.

Luật mới đã bổ sung thêm các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Phó tổng Tham mưu trưởng; Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Phó chủ nhiệm Tổng cục, Phó tổng cục trưởng, Phó chính ủy Tổng cục; Phó tư lệnh, Phó chính ủy: Quân khu, Quân chủng, Bộ đội Biên phòng, Quân đoàn; Phó sư đoàn trưởng, Phó chính ủy Sư đoàn; Phó chỉ huy trưởng, Phó chính ủy Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh; Phó chỉ huy trưởng, Phó chính ủy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh; Phó trung đoàn trưởng, Phó chính ủy Trung đoàn; Phó chỉ huy trưởng, Chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự cấp huyện; Phó tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên phó Tiểu đoàn; Phó đại đội trưởng, Chính trị viên phó Đại đội.

Tăng tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan
Một trong những nội dung sửa đổi nhận được sự quan tâm lớn nhất là quy định mới về tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan. Quy định sửa đổi theo hướng tăng tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan để sĩ quan có điều kiện hưởng mức lương hưu 75% theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động.

Trước đây, hạn tuổi cao nhất của sĩ quan phục vụ tại ngũ cấp úy là 46; Thiếu tá là 48 tuổi, Trung tá là 51 tuổi, Thượng tá là 54 tuổi, nam Đại tá là 57 tuổi, nữ Đại tá là 55 tuổi; cấp tướng với nam là 60 tuổi, nữ là 55 tuổi.

Theo quy định mới, hạn tuổi cao nhất của sĩ quan phục vụ tại ngũ cấp úy là 50 tuổi (tăng 4 năm); Thiếu tá là 52 tuổi (tăng 4 năm); Trung tá là 54 tuổi (tăng 3 năm); Thượng tá là 56 tuổi (tăng 2 năm); Đại tá là 58 tuổi (tăng 1 năm với nam, 3 năm với nữ); cấp tướng là 60 tuổi (nam giữ nguyên, nữ tăng thêm 5 năm).

Không quy định cụ thể cấp bậc quân hàm Trung tướng, Thiếu tướng
Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trước đây quy định cấp bậc quân hàm cao nhất cụ thể tới Thiếu tướng.

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ quy định cụ thể cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng với 3 chức danh (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị); Thượng tướng, Đô đốc Hải quân với 14 chức danh (Thứ trưởng không quá 6, Phó tổng Tham mưu trưởng không quá 3, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị không quá 3); Giám đốc, Chính ủy Học viện Quốc phòng.

Cấp bậc quân hàm Trung tướng, Phó đô đốc Hải quân và Thiếu tướng, Chuẩn đô đốc Hải quân không quy định cụ thể đến từng chức danh, mà chỉ quy định số lượng không quá 398.

Luật giao Chính phủ quy định chi tiết vị trí có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng, Phó đô đốc Hải quân, Thiếu tướng, Chuẩn đô đốc Hải quân và cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ, chức danh của sĩ quan là cấp tướng của đơn vị thành lập mới, đơn vị được tổ chức lại, bổ sung chức năng, nhiệm vụ nhưng không vượt quá số lượng tối đa vị trí cấp tướng theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Luật mới cũng bổ sung quy định sĩ quan Quân đội nhân dân biệt phái được bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng tướng.

Với sĩ quan Quân đội nhân dân biệt phái có chức vụ, chức danh cao hơn quy định nêu trên và trường hợp đặc biệt thì được phong, thăng quân hàm cấp tướng do cấp có thẩm quyền quyết định.

Quy định cụ thể hơn trường hợp được xét thăng quân hàm trước thời hạn, sĩ quan biệt phái
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định cụ thể hơn các trường hợp sĩ quan được xét thăng quân hàm trước thời hạn.

Cụ thể, sĩ quan được xét thăng quân hàm trước thời hạn trong trường hợp lập chiến công xuất sắc trong chiến đấu hoặc được khen thưởng trong công tác; hoàn thành thành tốt chức trách, nhiệm vụ mà cấp bậc quân hàm hiện tại thấp hơn cấp bậc quân hàm cao nhất quy định đối với chức vụ, chức danh mà sĩ quan đang đảm nhiệm từ hai bậc trở lên hoặc cấp bậc quân hàm hiện tại thấp hơn cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ chỉ huy, quản lý.

Sĩ quan được xét nâng lương trước thời hạn nếu trong chiến đấu lập chiến công xuất sắc hoặc trong công tác được khen thưởng.

Sĩ quan biệt phái thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và được hưởng quyền lợi như sĩ quan đang công tác trong quân đội; được cơ quan, tổ chức nơi đến biệt phái bảo đảm điều kiện làm việc và sinh hoạt; khi kết thúc nhiệm vụ biệt phái được xem xét, bố trí chức vụ phù hợp; trường hợp bố trí chức vụ thấp hơn chức vụ biệt phái thì được giữ nguyên quyền lợi của chức vụ biệt phái.

Quy định về chăm sóc sức khỏe với sĩ quan và thân nhân sĩ quan tại ngũ
Luật trước đây quy định chế độ chăm sóc sức khỏe với sĩ quan được Quân đội thanh toán viện phí. Luật mới quy định chế độ thanh toán theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

Luật mới cũng bổ sung quy định con đẻ, con nuôi hợp pháp 18 tuổi trở lên của sĩ quan tại ngũ nếu còn đi học phổ thông và không có chế độ bảo hiểm y tế thì được cấp thẻ bảo hiểm y tế.

Cũng trong nhóm quyền lợi về bảo hiểm xã hội còn có thêm quy định sĩ quan khi hết tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất nếu đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên thì được nghỉ hưu. Sĩ quan được hưởng chế độ an điều dưỡng, chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo, chế độ thông tin, hỗ trợ tang lễ khi từ trần.

Nâng hạn tuổi cao nhất của sĩ quan dự bị
Luật trước đây quy định hạn tuổi cao nhất của sĩ quan dự bị cấp úy là 51 tuổi, Thiếu tá là 53 tuổi, Trung tá là 56 tuổi, Thượng tá là 57 tuổi, Đại tá là 60 tuổi, cấp tướng là 63 tuổi.

Luật mới quy định hạn tuối cao nhất của sĩ quan dự bị cấp úy là 53 tuổi (tăng 2 năm), Thiếu tá là 55 tuổi (tăng 2 năm); Trung tá là 57 tuổi (tăng 1 năm); Thượng tá là 59 tuổi (tăng 2 năm); Đại tá là 61 tuổi (tăng 1 năm); cấp tướng giữ nguyên 63 tuổi. Hạn tuổi phục vụ cao nhất của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động.

Địa phương có trách nhiệm bố trí đất làm nhà ở xã hội cho lực lượng vũ trang
Luật mới bổ sung quy định trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc bố trí đất từ quỹ đất dành để phát triển nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở và thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai để bàn giao cho Bộ Quốc phòng làm cơ quan chủ quản, quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư để triển khai thực hiện dự án đầu tư, xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan phù hợp với nhu cầu của Bộ Quốc phòng./.


Yêu nước ST.