Đặc trưng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả
Sự
vận động và phát triển của xã hội kéo theo những đòi hỏi và yêu cầu đổi
mới, cải cách phương thức vận hành, quản trị nhà nước, quản trị quốc
gia thích ứng với từng giai đoạn lịch sử.
Xây
dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trở thành tất yếu khách
quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Tại Việt Nam, đây
cũng là một nội dung quan trọng, có tính cấp thiết đặt ra trong tiến
trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu tới năm
2045, Việt Nam là nước phát triển có thu nhập cao, quốc gia hùng cường,
nhân dân hạnh phúc. Để đạt mục tiêu này, Đại hội XIII của Đảng cũng xác
định rõ: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu
quả”(2) là một trong những nội dung của khâu đột phá đầu
tiên trong ba đột phá chiến lược (hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị
trường định hướng XHCN; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực chất lượng cao và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ) đưa đất nước
phát triển.
Nội
hàm khái niệm quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả không phải là nói
tới mô hình hay kiểu nhà nước mới, mà nói tới phương thức quản trị nhà
nước, quản trị quốc gia theo các nguyên tắc, chuẩn mực mang tính phổ
quát để thích ứng với bối cảnh mới. Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả
ở Việt Nam được hiểu chính là quá trình Nhà nước với vai trò là trung
tâm dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực phổ quát của quản trị tốt, sử
dụng các công cụ, phương tiện, phương thức phù hợp huy động mọi nguồn
lực của quốc gia và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội để ban
hành, tổ chức thực hiện các quyết sách, mục tiêu chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội nhằm đưa quốc gia phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả(3).
Đặc trưng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả mà chúng ta hướng tới là:
- Sự tham gia rộng rãi của người dân và các chủ thể trong xã hội:
Sự
vận động và phát triển của xã hội trong bối cảnh mới đang làm thay đổi,
dịch chuyển các cấu trúc và phương thức vận động của sự phát triển. Mô
hình quản trị hiện đại cần gắn kết đa chiều giữa Nhà nước, xã hội, thị
trường. Từ vị trí trung tâm, Nhà nước đảm nhận vai trò kiến tạo “khung
khổ pháp lý - luật chơi” và “xác lập các thiết chế - sân chơi”, bảo đảm
cho mọi thành phần đều có không gian đóng góp vào sự phát triển của quốc
gia, không chỉ với tư cách là đối tượng quản lý, mà còn là các chủ thể
đồng hành có trách nhiệm, bổn phận vì lợi ích chung.
Trong
nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, vai trò của người dân và các
chủ thể ngoài nhà nước không chỉ giới hạn ở việc tuân thủ các chính
sách, pháp luật, mà còn bao gồm quyền tham gia trực tiếp vào giám sát,
phản biện, đóng góp cho sự phát triển xã hội.
Để
thúc đẩy sự tham gia của người dân, cần thiết lập các cơ chế pháp lý cụ
thể, bảo đảm quyền và trách nhiệm của người dân trong việc giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước, tham gia phản biện, đóng góp ý kiến vào
các quyết sách. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm công khai thông tin
liên quan đến những vấn đề mà người dân quan tâm, bảo đảm tính minh
bạch; từ đó, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin chính xác và
đầy đủ. Đồng thời, việc phản hồi và giải trình từ phía chính quyền về
các ý kiến, kiến nghị của người dân cần được thực hiện kịp thời và
nghiêm túc. Điều này giúp hình thành một kênh đối thoại hai chiều giữa
Nhà nước và người dân, tăng cường niềm tin vào bộ máy công quyền, cũng
như củng cố sự đồng thuận trong xã hội. Sự tham gia chủ động của người
dân sẽ góp phần bảo vệ lợi ích công, ngăn ngừa tham nhũng, lạm quyền, và
tạo sự cân bằng, hài hòa giữa Nhà nước và xã hội trong quá trình thực
hiện các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
- Pháp quyền và trách nhiệm của Nhà nước:
Nhà
nước cần có hệ thống pháp luật đầy đủ, dân chủ và mang tính pháp quyền
cao. Pháp luật phải dựa trên yêu cầu thực tiễn và là công cụ hỗ trợ phát
triển, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi công dân và tổ chức; đồng
thời, bảo đảm kiểm soát quyền lực và duy trì trật tự xã hội.
Thứ nhất, Nhà nước phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Nhưng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền cần được tiếp cận theo hướng: Nhà nước pháp quyền là nhà nước “tiết kiệm pháp luật”, không
được lạm dụng pháp luật. Luật ban hành phải xuất phát từ nhu cầu của
thực tiễn, nhằm tạo khuôn khổ thể chế để kiến tạo, hỗ trợ cho sự phát
triển, không phải lạm dụng pháp luật để cản trở, kìm hãm sự phát triển
xã hội.
Thứ hai, phải
xem pháp luật là tối thượng. Mọi chủ thể trong xã hội phải luôn có tinh
thần thượng tôn pháp luật, phán quyết bằng pháp luật và bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi công dân, tổ chức.
Thứ ba, pháp luật thực sự dân chủ.
Thứ tư,
có cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực của Nhà nước. Thiết kế pháp
luật nhất là về bộ máy nhà nước, không chỉ là trao quyền cho cơ quan nhà
nước hoạt động, mà còn là phương thức để kiểm soát quyền lực của các cơ
quan nhà nước. Bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải được
kiểm soát, hợp pháp, hợp lý và hướng tới sự bảo vệ giá trị công, lợi ích
công. Không có tư lợi, vụ lợi, “lợi ích nhóm”, tham nhũng trong hoạt
động xây dựng và thực thi pháp luật.
Thứ năm,
bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính chuyên nghiệp và một hệ
thống tư pháp độc lập, nhằm tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp
luật và bảo đảm công lý được thực thi.
Thứ sáu,
tôn trọng, bảo đảm và hiện thực hóa pháp luật. Chú trọng hướng tới tính
khả thi, tính hợp lý, tính hiệu quả và các điều kiện để pháp luật được
thực hiện.
Thứ bảy,
pháp luật bảo đảm duy trì trật tự và ổn định đất nước, người dân sống
một cuộc sống hạnh phúc. Pháp luật sinh ra là để bảo vệ quyền con người,
quyền công dân. Pháp luật để trừng trị hành vi cố tình vi phạm, không
phải nhằm mục đích cai trị, cai quản con người. Hình thành hệ thống pháp
luật để tạo khung khổ pháp lý với mục đích tạo điều kiện để công dân
được bảo vệ, được sáng tạo, và phát huy tốt nhất năng lực của mình.
Điều
kiện của nguyên tắc pháp quyền trong quản trị quốc gia là trách nhiệm
của Nhà nước trong việc xác lập và bảo đảm nền chính trị dân chủ; nhận
thức của công dân về dân chủ, pháp luật và đạo đức được nâng cao; cải
cách hệ thống lập pháp, hệ thống tư pháp và hoàn thiện hệ thống giám
sát, phản biện xã hội.
- Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình:
Trong
bối cảnh mới với công nghệ số và sự tham gia rộng rãi của người dân và
toàn xã hội, mọi thứ không còn là bí mật, mọi hoạt động của cơ quan nhà
nước, cán bộ, công chức cần vận hành theo nguyên tắc “tối đa hóa công
khai” và “tối thiểu hóa bí mật”. Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước cần
vận hành theo nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình,
đặc biệt trong việc ra quyết sách và cung cấp thông tin liên quan đến
lợi ích của người dân. Trách nhiệm giải trình giúp gia tăng niềm tin và
sự tham gia của xã hội; đồng thời, tạo môi trường lành mạnh, ngăn ngừa
tình trạng thông tin sai lệch, tin giả.
Trách
nhiệm giải trình bao gồm 2 nội dung là: Năng lực giải trình và chịu
trách nhiệm trước hậu quả xảy ra của cơ quan nhà nước và cán bộ, công
chức khi thực thi công vụ.
Yêu
cầu của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị
quốc gia bao gồm các nội dung: 1- Nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ
quan nhà nước và công chức về hành động và các quyết sách của mình khi
có yêu cầu của các chủ thể: Cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp, của
người dân và xã hội. 2- Cơ chế để bảo đảm người dân và các chủ thể trong
xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước và công chức phải có trách
nhiệm giải trình về hành động và các quyết sách của mình. 3- Nghĩa vụ
cung cấp thông tin một cách khách quan, công bằng, minh bạch và đúng sự
thật về hoạt động của cơ quan nhà nước, của công chức. 4- Nghĩa vụ cung
cấp thông tin theo quy định của pháp luật và bảo đảm quyền tiếp cận
thông tin của các chủ thể trong xã hội. 5- Trách nhiệm của Nhà nước và
công chức về hậu quả của những hành vi và quyết sách của mình.
Khi
Nhà nước và công chức thực hiện được trách nhiệm giải trình sẽ xây dựng
nên một cơ chế thông tin đối thoại, tham vấn thông suốt giữa một bên là
Nhà nước và một bên là công dân và xã hội. Đó cũng là cách thức gia
tăng niềm tin của người dân vào nhà nước liêm chính, nhà nước phục vụ.
Do
đó, cần xem công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình không chỉ là
nghĩa vụ, là sự bị động của chính quyền và cán bộ, công chức, mà còn là
quyền và sự chủ động cung cấp thông tin, giải thích và chịu trách nhiệm
của chính quyền và cán bộ, công chức trước nhân dân, xã hội về những
việc mà chính quyền đã, đang và sẽ làm.
- Quản trị nhằm đáp ứng kỳ vọng của người dân và xã hội ở mức cao:
Kỳ
vọng của bất cứ người dân nào vào chính quyền tập trung ở hệ thống
chính sách an sinh xã hội và các bảo đảm quyền con người, quyền công
dân. Kỳ vọng của người dân và xã hội đề cập đến mức độ mà mọi người có
thể tham gia vào đời sống xã hội và kinh tế của cộng đồng, đem lại hạnh
phúc cho người dân. Người dân luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong các
quyết sách của chính quyền. Chỉ số hạnh phúc, sự thụ hưởng và hài lòng
của người dân cần trở thành chỉ số quan trọng để hoạch định và đánh giá
chính sách.
Trong
kỷ nguyên phát triển từ GDP sang kỷ nguyên hạnh phúc, tiếp cận hạnh
phúc trong phân tích chính sách là một kênh thông tin mới bổ sung cho
cách tiếp cận truyền thống, giúp các nhà hoạch định chính sách có cái
nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trong việc đưa ra những quyết sách điều
hành đất nước. Bảo đảm sự đồng bộ trong xây dựng và thực hiện chính sách
xã hội với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, lao động và việc
làm. Và vì vậy, trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả cần có tư
duy tiếp cận hạnh phúc, đưa các yếu tố, chỉ số đo lường về sự thụ hưởng,
sự hài lòng của người dân trong cả 3 giai đoạn: Hoạch định, thực thi và
đánh giá chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, đáp ứng sự kỳ vọng
của người dân, và củng cố niềm tin của người dân đối với Nhà nước.
Trong
quản trị quốc gia hiện đại, những thay đổi mới về nhu cầu của con người
trong bối cảnh mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc đổi mới và
xây dựng chính sách xã hội. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác
định: “Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù
hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội
và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo
đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của nhân dân. Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã
hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống
của nhân dân”(4). “Phát
triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với
các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân,
bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo
hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền
vững”(5).
- Quản trị tạo sự đồng thuận và công bằng xã hội:
Quản
trị quốc gia hiện đại hướng tới sự đồng thuận cao, dựa trên giá trị
công lý và công bằng xã hội. Đồng thuận này không phải là sự phục tùng,
mà là kết quả của quá trình điều hòa lợi ích giữa các chủ thể trong xã
hội, tạo nền tảng cho xã hội ổn định, phát triển hài hòa.
Cơ
sở của đồng thuận chính là sự tương đồng dựa trên những giá trị, chuẩn
mực chung. Trong quản trị quốc gia, cần có cách thức để tìm được sự đồng
thuận giữa xã hội và chính phủ thông qua các hoạt động nhằm điều hòa
lợi ích của người dân, của các tổ chức và của Nhà nước; có như vậy, mới
thiết lập được một xã hội có tính đồng thuận cao và bảo đảm được lợi ích
của cả cộng đồng.
Quản
trị quốc gia hiện đại hướng tới mục tiêu tạo sự đồng thuận, dựa trên
công lý, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, cơ hội, không phải các giá trị
thực dụng (thiểu số phục tùng đa số). Để đạt được sự đồng thuận, thể chế
phải bảo đảm cho sự công bằng được thực hiện trên thực tế. Nhà nước cần
nhận thức được rằng, mọi người đều có khả năng và cơ hội trở thành
người vượt trội. Thể chế công bằng tạo cơ hội phát triển toàn diện phù
hợp với năng lực và điều kiện của mỗi cá nhân. Không ai bị bỏ lại phía
sau. Không ai bị tụt hậu trong sự phát triển chung của xã hội.
- Trách nhiệm quốc gia trong tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu:
Trong
bối cảnh thế giới hiện nay, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài
cuộc trước những vấn đề toàn cầu, như môi trường, dịch bệnh, an ninh phi
truyền thống... Quá trình toàn cầu hóa cũng làm cho các quốc gia phụ
thuộc lẫn nhau, đan xen các lợi ích trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự
cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia thúc đẩy việc tham gia giải
quyết các vấn đề toàn cầu để nâng cao vị thế, vai trò, tầm ảnh hưởng của
quốc gia trên trường quốc tế. Trách nhiệm quốc gia trong tham gia giải
quyết các vấn đề toàn cầu trở thành đặc điểm quan trọng của quản trị
quốc gia hiện đại, hiệu quả.
Thách
thức đặt ra cho mỗi quốc gia sẽ là làm thế nào để luôn “đặt lợi ích
quốc gia - dân tộc lên trước hết, trên hết” nhưng vẫn tuân thủ những
chuẩn mực, giá trị chung của nhân loại. Không bị kéo theo sự cạnh tranh
của các nước lớn để vẫn giữ được sự tôn trọng, độc lập, chủ quyền, tự
chủ, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Các bên cùng thắng, cùng có lợi
trong môi trường đa chủ thể và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia.
- Quản trị hướng tới mục tiêu phát triển bền vững:
Quản
trị hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở 3 trụ cột: Bền vững về
kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường, vừa đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại, vừa không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả hướng tới mục tiêu phát triển bền
vững yêu cầu chính phủ mỗi quốc gia cần xây dựng: 1- Hệ thống quản lý
phát triển bền vững; 2- Hệ thống pháp luật để phát triển bền vững; 3-
Phát triển bền vững hệ thống khoa học và công nghệ; 4- Hệ thống giáo dục
bền vững; 5- Sự tham gia của cộng đồng vào phát triển bền vững.
- Tính hiện đại, hiệu quả xuyên suốt trong quản trị quốc gia:
Quản
trị quốc gia suy cho cùng là hướng đến giải quyết những vấn đề thực
tiễn đặt ra trong điều kiện nhu cầu thì vô hạn nhưng nguồn lực thì luôn
hữu hạn và môi trường biến đổi không ngừng. Trong bối cảnh mà các hành
vi và các mối quan hệ xã hội vận động và phát triển theo hướng cái sau
mới hơn, tiến bộ hơn, hiện đại hơn cái trước đặt ra thách thức cho nhà
quản trị phải có công cụ và phương pháp quản trị hiện đại, phù hợp với
sự vận động và phát triển của xã hội. Khoa học - công nghệ được xem là
chìa khóa, giữ vai trò then chốt cho sự phát triển kinh tế, xã hội của
mỗi quốc gia.
Để
đạt được mục tiêu trên, quản trị quốc gia trước hết cần sự thống nhất
nhận thức đổi mới tư duy về xây dựng quốc gia số thực chất là cuộc cách
mạng về thể chế để nâng cao năng suất và chất lượng, hiệu quả quản trị
điều hành kinh tế - xã hội trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Muốn
vậy, cần tập trung vào hoàn thiện thể chế pháp lý cho việc vận hành
chính phủ số, quốc gia số; nâng cao năng lực của bộ máy và đội ngũ công
quyền; xây dựng nền tảng hạ tầng số quốc gia; hoàn thiện cơ sở dữ liệu
quản trị quốc gia và đẩy mạnh phát triển ứng dụng công nghệ số vào cung
cấp dịch vụ cho chính quyền, người dân, doanh nghiệp.
Hiệu
quả là các kết quả, lợi ích đạt được khi đặt trong mối tương quan so
sánh giữa chi phí và mục tiêu định trước. Quản trị quốc gia hiệu quả
thực chất là việc giải quyết, đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của xã hội
với chi phí thấp nhất, nhưng mục tiêu đạt được cao nhất. Đo lường hiệu
quả quản trị quốc gia xét trên tổng thể các phương diện. Về kinh tế,
là sự phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế thông
qua các chỉ số phản ánh: Sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, thu nhập
bình quân đầu người... Về xã hội, là việc sử dụng hiệu quả các
nguồn lực kinh tế - xã hội để bảo đảm an sinh xã hội, tăng thu nhập cho
người dân, tăng tỷ lệ việc làm, gia tăng các phúc lợi xã hội, chất lượng
cuộc sống, sự hài lòng, hạnh phúc của người dân… Về chính trị,
là năng lực, trình độ huy động mọi nguồn lực quốc gia để thực hiện các
quyết sách chính trị, củng cố niềm tin, gia tăng sự đồng tình, ủng hộ
của người dân và xã hội vào sự lãnh đạo của bộ máy công quyền.
Giải pháp xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Một là, nâng cao nhận thức của mọi chủ thể trong xã hội về khát vọng phát triển quốc gia.
Cần
nâng cao nhận thức và hành động của triệu người như một, mọi chủ thể
trong xã hội cùng chung niềm tự hào, tự tôn dân tộc cùng chung khát
vọng, mục tiêu chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
của dân tộc như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Đó
là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm
quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh
vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no,
hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều
cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại
và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân
giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc
năm châu… đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có
thu nhập cao”(6). Thống nhất được khát vọng, tầm nhìn
phát triển của dân tộc sẽ thay đổi nhận thức và hành động của các chủ
thể, là cơ sở để đoàn kết mọi lực lượng trong xã hội, vượt lên sự khác
biệt, khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân
tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tạo nên
sức mạnh tổng hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, tận dụng thời cơ, vận
hội, chung tay xây dựng quốc gia hùng cường, xã hội phồn vinh, nhân dân
hạnh phúc.
Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.
Bước
vào thời kỳ mới với những tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình
trong nước, quốc tế diễn biến nhanh và khó lường, Đảng ta phải giải
quyết một loạt các vấn đề để vừa phát huy vai trò, thẩm quyền và trách
nhiệm, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vừa phát huy vai trò, thẩm
quyền, trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà
nước theo luật định. Cùng với đó, việc phân định chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức đảng và cơ quan nhà
nước cũng như thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể lãnh đạo, người đứng
đầu các cơ quan, tổ chức đảng với người đứng đầu cơ quan nhà nước cũng
phải rõ ràng, rành mạch. Tổ chức bộ máy của các cơ quan đảng cũng phải
được thiết kế, tổ chức một cách tinh gọn nhất, tránh chồng chéo, hoặc
song trùng quyền lực giữa cơ quan của Đảng và của Nhà nước.
Xây
dựng cơ cấu hợp lý cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý trong Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ,
phẩm chất, năng lực nổi trội, có quyết tâm đổi mới sáng tạo, có tâm
huyết, khát vọng cống hiến. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ
chốt, cán bộ cấp chiến lược phải có bản lĩnh, có tâm huyết, có tư duy,
tầm nhìn và khát vọng cống hiến, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, đổi mới sáng tạo,
quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, tinh thông nghề nghiệp, có
tác phong làm việc khoa học, chuyên nghiệp.
Kiên
định đường lối lãnh đạo của Đảng; đồng thời, nâng cao năng lực quản trị
khoa học, bảo đảm dân chủ và quản trị theo pháp luật. Tính khoa học thể
hiện ở việc mọi quyết sách của Đảng phù hợp với quy luật khách quan,
thực tiễn đang diễn ra cũng như dự báo, lấy lợi ích của nhân dân làm
trung tâm. Tính dân chủ thể hiện ở việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là hạt nhân để thực hiện dân
chủ trong xã hội và đoàn kết toàn dân.
Đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng bảo đảm tính chính trị, cách mạng,
hiện đại, thích ứng linh hoạt với thời cuộc. Đảng tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo, giám sát hệ thống quản trị quốc gia và năng lực quản trị của
Nhà nước. Phải liên tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền
của Đảng thích ứng với tình hình và bối cảnh mới trong kỷ nguyên vươn
mình của dân tộc.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật kiến tạo phát triển.
Để
xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, Việt Nam cần tập
trung vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế theo hướng dân
chủ, pháp quyền, kiến tạo sự phát triển theo đúng quan điểm của Đảng về
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân. Cần có sự đột phá về tư duy để giải quyết bài toán thể chế là “điểm
nghẽn” của “điểm nghẽn”(7). Muốn vậy, trước hết cần đổi mới tư duy trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật theo hướng:
- Trong kỷ nguyên mới, thể chế, chính sách, pháp luật là động lực, là nguồn lực kiến tạo cho sự phát triển.
Chính
sách, pháp luật được ban hành là để giải quyết các vấn đề gắn liền với
yêu cầu, đòi hỏi phát sinh từ thực tiễn. Thể chế, chính sách là nguồn
lực kiến tạo sự phát triển. Do đó, phải áp dụng cách tiếp cận thực tế và
thực tiễn trong xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật; bảo đảm phù
hợp với điều kiện thực tế của đất nước, giải đáp các vướng mắc của cuộc
sống và tìm ra con đường phát triển từ thực tiễn. Chủ động trong nghiên
cứu, xây dựng chính sách, pháp luật cho những vấn đề mới, xu hướng mới
để tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành nền kinh tế số, xã hội số,
chính phủ số, quốc gia số.
Xây
dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật cần dịch chuyển từ tư duy quản
lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Dịch chuyển từ tư duy “chọn cho”
sang tư duy “chọn bỏ” trong hoạch định, thực thi chính sách, pháp luật;
để chấm dứt tư duy “xin - cho”, cung cấp kiểu ban ơn, dễ phát sinh những
nhũng nhiễu, tiêu cực trong hoạt động của cơ quan công quyền sang tư
duy “yêu cầu - đáp ứng” hướng tới sự cung cấp dịch vụ, đáp ứng sự hài
lòng và thúc đẩy quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa các chủ thể. Khi xây dựng
chính sách, pháp luật quán triệt quan điểm thay đổi cách tiếp cận từ
đặt nặng vào quy định xác lập “nghĩa vụ” sang chú trọng thiết lập quy
định “bảo vệ và bảo đảm quyền” của các bên liên quan.
Dịch
chuyển từ tư duy thực hiện pháp luật không chỉ là “trách nhiệm công
vụ”, mà còn hướng tới phải thấm nhuần tư duy “trách nhiệm phục vụ” người
dân, xã hội trong xây dựng và thực hiện pháp luật. Bảo đảm các quy định
đối với Nhà nước, cán bộ, công chức “được phép làm những gì pháp luật
quy định, cho phép”; đối với công dân “được phép làm những gì pháp luật
không cấm”, chấm dứt tư duy “không quản được là cấm” để kiến tạo sự phát
triển.
- Thể chế, chính sách, pháp luật hướng tới sự hạnh phúc của nhân dân.
Hạnh
phúc là giá trị văn hóa cao nhất, là mục tiêu, khát vọng mong đợi mà
mỗi quốc gia muốn đem lại cho mọi người dân trong quá trình tổ chức và
thực thi chính sách. Chỉ số hạnh phúc của người dân, của quốc gia là “dự
báo” cho sự phát triển toàn diện, bền vững của mỗi quốc gia. Từ việc
chỉ chú trọng vào các chỉ số phát triển kinh tế, giờ đây khi tiếp cận
hạnh phúc trong phân tích chính sách, pháp luật, Nhà nước sẽ đặt các chỉ
tiêu kinh tế trong mối tương quan với các tiêu chí về an toàn, an lành,
sự thân thiện, nhân văn, những trải nghiệm và cảm xúc tích cực bên
trong của từng cá nhân trong xã hội. Cách tiếp cận hạnh phúc phải được
thể hiện cả ở giai đoạn xây dựng, hoàn thiện; tổ chức thực hiện và đánh
giá chính sách, pháp luật. Vì vậy, những nhà quản lý, lãnh đạo quốc gia
sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trong việc đưa ra những quyết
sách điều hành đất nước.
- Thể chế, chính sách, pháp luật thiết lập và vận hành bộ máy trong hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả.
Tái
cấu trúc tổng thể bộ máy trong toàn hệ thống chính trị theo đúng tinh
thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng -
hiệu lực - hiệu quả”(8) nhằm mục tiêu cao nhất là tối đa hóa
giá trị tạo ra và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Thiết kế và vận
hành bộ máy trong hệ thống chính trị dựa trên nguyên tắc khoa học tổ
chức, phù hợp thực tiễn và bảo đảm hiệu năng tối ưu của toàn hệ thống.
Đặc biệt, việc thiết kế phải bảo
đảm mỗi tổ chức công trong hệ thống được đặt đúng vị trí, đúng vai trò
và đúng chức năng, để bộ máy công quyền thật sự là một cỗ máy tạo ra giá
trị, kiến tạo sự phát triển bền vững của quốc gia.
Trước hết, tập trung vào sắp xếp lại bộ máy, giảm thiểu đầu mối trung gian, phân
định rõ thẩm quyền, loại bỏ sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, cắt khúc
theo phương châm: Rõ việc, rõ người, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm.
Đồng thời, để tăng tính minh bạch và hiệu lực, cần áp dụng nguyên tắc
trách nhiệm giải trình và cơ chế đánh giá dựa trên kết quả công việc.
Xây dựng và áp dụng các bộ chỉ số đo lường và đánh giá chính xác hiệu
quả hoạt động của tổ chức công.
Ngoài
ra, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền giữa các cấp
chính quyền, với phương châm “địa phương quyết - địa phương làm - địa
phương chịu trách nhiệm”, nhằm gia tăng tính chủ động của địa phương và
tối ưu hóa quá trình ra quyết định. Song song với đó, cần thực hiện
nghiêm việc kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ cương và kỷ luật, kiên
quyết chống tham nhũng, tiêu cực và “lợi ích nhóm” trong quá trình xây
dựng và thực thi chính sách, pháp luật.
Việc
triển khai đồng bộ các giải pháp “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu
lực - hiệu quả” không chỉ là nhiệm vụ cấp bách, mà còn là nền tảng để
xây dựng một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, vững mạnh, đáp ứng nhu
cầu phát triển và hội nhập của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Những giải
pháp này sẽ giúp phát huy tối đa sức mạnh của hệ thống chính trị, nâng
cao năng lực quản trị của Nhà nước và bảo đảm hiệu quả hoạt động của các
cơ quan công quyền, tạo đà phát triển bền vững để đưa đất nước tiến gần
hơn đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Bốn là, nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức.
Nền
quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức,
không chỉ có năng lực chuyên môn cao, mà còn phải tuân thủ các chuẩn
mực đạo đức, thể hiện trách nhiệm giải trình trước người dân và xã hội.
Nền công vụ được vận hành bởi đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp,
trách nhiệm, năng động và thực tài. Thực hiện đánh giá cán bộ, công chức
dựa trên kết quả công việc thông qua các chỉ số đo lường và thực chất.
Kiên quyết đưa ra khỏi nền công vụ những người không làm được việc. Đội
ngũ cán bộ, công chức trong nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả
phải thực sự là tầng lớp tinh hoa, ưu tú của xã hội để quản trị xã hội.
Có chính sách tiền lương, tạo động lực làm việc, để cán bộ, công chức,
viên chức yên tâm công tác, phát huy giá trị xã hội của nghề công chức,
luôn toàn tâm, toàn ý cho lý tưởng, khát vọng “phụng sự Tổ quốc, phục vụ
nhân dân”.
Năm là, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.
Trước
hết, cần phát triển và ứng dụng các nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết
nối liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, từ Trung ương
đến địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình làm
việc, quản lý dữ liệu, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình ở mức
độ cao, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, không phụ
thuộc vào địa giới hành chính. Việc khai thác trí tuệ nhân tạo, dữ liệu
lớn và các công nghệ tiên tiến sẽ giúp nâng cao năng lực phân tích, dự
báo, hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng, kịp thời. Cùng với đó, cần bảo
đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu quốc gia và xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức có năng lực số, thành thạo về kỹ năng số. Đây là bước đi chiến
lược để nền quản trị quốc gia thích ứng nhanh với bối cảnh chuyển đổi
số, đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại và phát triển bền vững.
Sáu là, huy động sự tham gia của các chủ thể vào quản trị quốc gia.
Huy
động được mọi nguồn lực, mọi chủ thể trong xã hội tham gia vào quản trị
quốc gia là chìa khóa để tối đa hóa sức mạnh tổng hợp của xã hội, thúc
đẩy quản trị hiệu quả, bền vững. Để thực hiện điều này, cần xây dựng cơ
chế pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân, cộng đồng
doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các đoàn thể tham gia đóng góp ý kiến
vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Cùng với đó, đẩy mạnh
công khai, minh bạch thông tin, khuyến khích vai trò giám sát của xã
hội; từ đó, gia tăng sự đồng thuận và trách nhiệm chung. Mỗi chủ thể
trong xã hội, theo vai trò, chức năng của mình, cùng nỗ lực tối đa đóng
góp giá trị cho sự phát triển quốc gia theo phương thức: Xã hội cung cấp
nguồn lực, thị trường phân bổ nguồn lực, Nhà nước kiến tạo thể chế và
điều tiết nguồn lực hợp lý. Mọi chủ thể đồng lòng, chung sức sẽ tạo nền
tảng vững chắc cho khát vọng phát triển quốc gia, phù hợp với thực tiễn
và yêu cầu đổi mới ở Việt Nam./.