Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận

 

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”,  thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. 

Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...

Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.

Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....

Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.

Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.

Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.

Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ. 

Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...

Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.

Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả... 

Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...

Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.

Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ.

Không có chuyện “đu dây”

 

Sau hàng loạt sự kiện đối ngoại thành công gần đây, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố, mở rộng. Công tác đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam đã đạt được những kết quả toàn diện, quan trọng, trở thành điểm sáng nổi bật; tạo bước phát triển mới về chất trong cục diện đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trước thành công đó của Việt Nam, một số cá nhân, tổ chức phản động, các thế lực thù địch bày tỏ sự tức tối và càng ra sức chống phá. Chúng lợi dụng internet, thông qua các trang mạng xã hội, một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt để xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Việt Nam; trắng trợn bịa đặt rằng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”; nền ngoại giao của Việt Nam "cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. 

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch đưa ra lập luận rằng, để “dân chủ” hơn nữa, Việt Nam cần bỏ chính sách quốc phòng “4 không”. Luận điệu xuyên tạc trên vô cùng nguy hại khi nó làm cho số ít người không có thông tin đầy đủ về tình hình Việt Nam thời gian gần đây hoang mang, dao động; thậm chí có thể gây chia rẽ, hiểu sai lệch về quan hệ Việt Nam với các nước, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh trong trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã đưa ra lập luận rõ ràng để phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

 

Phóng viên (PV): Đề nghị đồng chí làm rõ sự sai trái trong các khái niệm “đu dây”; "ngoại giao cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc... mà các thế lực thù địch xuyên tạc về chính sách đối ngoại của Việt Nam?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Thứ nhất, không biết họ nói những khái niệm đó là gì, nhưng với những nước nhỏ mà không dựa trên lợi ích quốc gia, không dựa trên những đan xen hai bên cùng có lợi, không dựa trên luật pháp quốc tế thì “đu dây" là cực kỳ nguy hiểm. Đu dây theo tôi hiểu, tức là anh đu bên này một tí, anh đu bên kia một tí và anh rất dễ rơi vào thế kẹt giữa sự cạnh tranh của các nước lớn. Việt Nam không phải kiểu đó. Quan điểm rõ ràng của Việt Nam là: Tôi có lợi ích khi hợp tác với anh, anh có lợi ích khi hợp tác với tôi và nếu các bên song trùng lợi ích thì nhân cái hợp tác đó lên.

Thứ hai, tôi chơi với anh A, tôi cũng chơi với anh B trên nguyên tắc chung, khi có khác biệt thì phải giải quyết bằng đối thoại trên tinh thần các bên tôn trọng lợi ích của nhau. Tôi không đi với bên này để chống bên kia. Ví dụ, tôi quan hệ với Trung Quốc là vì lợi ích của tôi, của Trung Quốc và của chung hai bên. Tôi quan hệ với Mỹ cũng vậy, cũng vì lợi ích của Mỹ, lợi ích của Việt Nam, hai bên phải đan xen lợi ích thì mới thiết lập quan hệ ngoại giao.

“Đu dây" là gió chiều nào theo chiều ấy, thiên bên này một tí, thiên bên kia một tí. Việt Nam không có quan điểm như vậy. Trong nhiều năm làm công tác ngoại giao, tôi đôi khi được các bạn quốc tế nhắc rằng, Việt Nam đôi lúc còn "hơi cứng" trong quan hệ, một số trường hợp còn chưa uyển chuyển. Nguyên nhân là vì chúng ta giữ vững nguyên tắc trong thảo luận một số vấn đề thì có động chạm đến lợi ích quốc gia; nguyên tắc của luật pháp quốc tế hay vấn đề về thể chế chính trị.

Phải mất 10 năm cân nhắc để nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ, trong khi đó, ngay từ khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, thế thì "đu dây" ở chỗ nào? Trong những lần trả lời phỏng vấn trước đây, cá nhân tôi không thích sử dụng khái niệm cân bằng quan hệ với các nước lớn. Không phải là vấn đề cân bằng, mà là tôi quan hệ với tất cả nước lớn, dựa trên lợi ích quốc gia, hai bên cùng có lợi và tất nhiên phải dựa trên luật pháp quốc tế.

Còn nếu hiểu cân bằng theo cách hiểu cơ học, là nếu tôi đi 50 với nước này, thì tôi phải đi 50 với nước kia là không đúng. Lợi ích quốc gia sẽ quyết định không gian hợp tác giữa hai nước. Ví dụ Việt Nam quan hệ với Pháp, chúng ta thấy tiềm năng địa chính trị của Pháp ở châu Âu; còn với Trung Quốc, ngoài quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn, với thế mạnh về chuỗi cung ứng hàng hóa, nguyên liệu, hạ tầng... Trong khi đó, với Mỹ thì chắc chắn là khoa học-công nghệ. Mỗi nước có thế mạnh riêng, làm sao có thể xuất sang nước này 50% thì cũng xuất sang nước kia 50% theo cách hiểu thô thiển là cân bằng được.

Và như vậy, câu chuyện "đu dây" hay cân bằng nước lớn, nếu cứng nhắc những nguyên tắc cố định theo kiểu cơ học như vậy sẽ không phản ánh đúng sự độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.

PV: Như vậy có thể hiểu, ngoại giao với các nước lớn cần có tầm nhìn và chiến lược?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Về đối ngoại hay ngoại giao, có hai thành tố quan trọng: Tầm nhìn chiến lược và thủ thuật. Tầm nhìn chiến lược là gì? Nói đại thể, tại sao từ những năm 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy phải thiết lập quan hệ với các nước lớn, trong đó có Mỹ. Đấy là tầm nhìn chiến lược. Còn chỉ để nhằm ứng xử với những cạnh tranh quyết liệt của các nước lớn thì đó là một phần thủ thuật thôi.

PV: Nếu các nước lớn, các đối tác đặt điều kiện thì mới hợp tác, chúng ta phải làm gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trong quan hệ quốc tế, những câu chuyện đặt điều kiện là chuyện thường xuyên. Bởi vì hai bên có lợi ích song trùng và cả những lợi ích không song trùng.

Ví dụ, việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với những điều khoản có thể chưa thực sự phù hợp, nhưng mình phải chấp nhận khi đạt được lợi ích chung lớn hơn. Đấy là khi điểm cộng có tổng bằng dương cho lợi ích quốc gia, không gây hại và không ảnh hưởng tới vấn đề cốt lõi thì phải tiến hành chứ.

Cho nên, trong quan hệ với các nước, luôn tồn tại câu chuyện khác biệt, nhưng vẫn có song trùng, chúng ta phải có cách tiếp cận để giữ được cái cốt lõi của mình nhưng vẫn tranh thủ được thuận lợi từ đối tác.

PV: Trong gần 40 năm đất nước đổi mới, ấn tượng của đồng chí với công tác ngoại giao là điều gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Điều tôi ấn tượng nhất có lẽ là chúng ta tham gia vào môi trường quốc tế một cách tự tin, chúng ta đã vững mạnh hơn rất nhiều. Ngoại giao vừa đóng góp hiệu quả vào việc phát triển đất nước, đồng thời vừa tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho hòa bình và phát triển. Vị thế Việt Nam đã lên rất nhiều.

Có những lúc, có những thời điểm ngoại giao tạo ra động lực mới, thậm chí là dẫn dắt. Ví dụ, việc “phá vây” ngoại giao thành công đã tạo được không gian để phát triển. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã “phá vây” thành công. Năm 1991 là Hiệp định Paris về Campuchia; chúng ta bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Năm 1994-1995 là giai đoạn vào ASEAN, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Có thể khẳng định, khi được sự ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là các nước lớn, đã tạo ra bước đột phá.

Như vậy, ngoại giao có vai trò định hướng hội nhập và mang tính dẫn dắt. Có thể lấy ví dụ thời điểm dịch Covid-19 mấy năm vừa rồi. Đó là thời gian khó khăn về dịch bệnh, kinh tế thế giới đứng trước bờ vực suy thoái, cạnh tranh nước lớn quyết liệt, nhiều nước không dám quan hệ với xung quanh. Chính thời điểm khó khăn này lại là những năm đối ngoại Việt Nam đột phá. Tôi nghĩ rằng không phải ngẫu nhiên mà tất cả nước lớn và những nước quan trọng nhất lại cung cấp cho Việt Nam lượng vaccine lớn như vậy để phòng, chống dịch.

Trong bối cảnh đầy cạnh tranh, Việt Nam vẫn sử dụng tốt ưu thế, vị thế của mình, đan xen lợi ích với các đối tác, từ đó thiết lập và nâng cấp quan hệ với những nước mà thậm chí giữa họ đang cạnh tranh với nhau. Ví dụ cụ thể chính là việc giữ được quan hệ tốt đẹp với các nước lớn như Mỹ, Nga và Trung Quốc; tranh thủ được nguồn lực từ các nước này, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững quan điểm, đường lối đối ngoại của mình, tạo sự ổn định và môi trường thuận lợi nhất cho phát triển.

Không chỉ với các nước lớn, hiện Việt Nam đang có quan hệ tốt với tất cả những trung tâm quan trọng của thế giới, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mô hình sang phát triển xanh, bền vững, dựa trên đổi mới và sáng tạo. Đối ngoại thể hiện vai trò mở đường, đưa khoa học kỹ thuật mới, công nghệ cao của thế giới về cho đất nước.

PV: Làm tốt công tác đối ngoại chính là góp phần tạo ra sức mạnh mềm. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh mới, đồng chí có thể lý giải sâu hơn về điều này?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Bây giờ Việt Nam đã có sức mạnh mềm và chúng ta phải biết cách nhân lên sức mạnh mềm thì mới tạo ra sức hấp dẫn của chính chúng ta. Không phải chỉ là vấn đề vị thế chung chung, sức mạnh mềm còn có thể tạo ra cơm áo, tiền bạc.

Lấy ví dụ, nếu các khâu liên quan đến thủ tục, thể chế bị trì trệ, chắc chắn các dự án lớn, tập đoàn lớn, nhỏ của các quốc gia sẽ không hài lòng và ta sẽ mất cơ hội. Vì thế, chúng ta phải khắc phục ngay, có môi trường thông thoáng, hạ tầng tốt, con người có trình độ cao, được những người làm công tác ngoại giao quảng bá tốt, nhất định các nhà đầu tư chất lượng cao sẽ tới đầu tư.

PV: Để có thể phản bác kịp thời quan điểm sai trái của các thế lực phản động, là người kinh qua nhiều vị trí công tác trong ngành ngoại giao, đồng chí chia sẻ kinh nghiệm gì với thế hệ cán bộ trẻ?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trước hết, phải xác định rất rõ thông tin mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Đánh giá đúng các nguy cơ, thường xuyên cảnh giác, làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc, từ đó có biện pháp ngăn chặn. 

Lấy ví dụ, trước đây lo ngại quá trình hội nhập có thể bị hòa tan, nhưng thực tế gần 40 năm đổi mới chứng minh chúng ta tham gia và hội nhập với thế giới mà chúng ta vẫn đứng vững. Chúng ta được lợi rất nhiều, thậm chí là vững hơn, nhận thức tốt hơn.

Thế giới đang chuyển động rất sâu sắc, có cả thuận lợi và tạo động lực nếu chúng ta bắt kịp thì sẽ vươn lên, mà không bắt kịp thì tụt hậu càng xa. Ngoại giao cũng phải thích ứng để đủ sức nhân lên vị thế của Việt Nam. Ngoại giao bây giờ phải biết đặt câu hỏi điều gì tốt cho sự phát triển của đất nước. Nhà ngoại giao cũng phải hiểu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh... cái gì thì tốt cho Việt Nam, liệu có bị lệ thuộc không.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Nhanh chóng làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo

 

Tối 1-12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Chuỗi sự kiện và điện gió ngoài khơi của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Cổ phần dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) tổ chức tại Trung tâm công nghiệp năng lượng và hậu cần kỹ thuật PTSC ở TP Vũng Tàu.

Cùng dự sự kiện có: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trần Hồng Minh; Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nguyễn Hoàng Anh; Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu Phạm Viết Thanh; lãnh đạo các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố và các đối tác trong và ngoài nước của Petrovietnam và PTSC.

Trước những yêu cầu cấp bách về chống biến đổi khí hậu, điện gió ngoài khơi nổi lên như một trong những lĩnh vực có tiềm năng phát triển lớn nhất. Nắm bắt xu hướng này, với sứ mệnh tiên phong trong lĩnh vực năng lượng, ngay từ năm 2019, Petrovietnam và một số đơn vị thành viên, nổi bật là PTSC, đã tập trung đánh giá, nghiên cứu để điều chỉnh, bắt kịp các xu hướng, tận dụng tối đa thế mạnh. Trong đó, định hướng xu hướng dịch chuyển sang năng lượng xanh, sạch thông qua nâng cao tỷ trọng khí, sản xuất H2 và đặc biệt là phát triển điện gió ngoài khơi.

Để chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng cho cuộc đua năng lượng tái tạo ngoài khơi, Petrovietnam đã và đang chủ động xây dựng chuỗi cung ứng nội địa bao gồm các đơn vị thành viên có nhiều tiềm năng, nhất là các đơn vị chủ lực của Petrovietnam về thiết kế, chế tạo, xây lắp và vận hành các công trình dầu khí biển như PTSC, Vietsovpetro, PETROCONS... với năng lực, kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng sẵn có, đã được Tập đoàn giao nhiệm vụ nghiên cứu, thành lập tổ hợp phát triển chuỗi giá trị năng lượng tái tạo, tăng cường khả năng hợp tác, phát huy năng lực của nhau, phối hợp tìm kiếm cơ hội tham gia vào các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi trong và ngoài nước.

Đặc biệt, những nỗ lực của Petrovietnam trong việc phát triển lĩnh vực điện gió ngoài khơi đã được minh chứng trong những năm gần đây, khi PTSC - đơn vị thành viên của Tập đoàn, đã chủ động tham gia cung cấp dịch vụ điện gió, điện gió ngoài khơi cho nhiều nhà thầu trong và ngoài nước và đã đạt được những thành công hiện hữu.

PTSC đã có những bước chuyển dịch mạnh mẽ sang lĩnh vực năng lượng tái tạo, điển hình là việc đấu thầu quốc tế, trúng thầu hợp đồng chế tạo và cung cấp 33 chân đế điện gió ngoài khơi dự án CHW2204 cho khách hàng Orsted (Đan Mạch); tiếp đó, PTSC trúng thầu cung cấp chân đế trụ điện gió cho dự án điện gió ngoài khơi của khách hàng quốc tế tại thị trường châu Á - Thái Bình Dương. PTSC cũng bắt đầu bước vào giai đoạn khởi công chế tạo 4 trạm biến áp ngoài khơi (OSS) cho dự án điện gió ngoài khơi Baltica 02 tại biển Baltic - một trong những dự án điện gió lớn nhất trên thế giới.

Việc Petrovietnam - PTSC trở thành đối tác, nhà cung cấp dịch vụ cho các đối tác quốc tế đã khẳng định năng lực của Tập đoàn trong chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo ngoài khơi không chỉ cho Việt Nam mà trên toàn thế giới; đồng thời cũng là cơ sở để Petrovietnam hướng tới các mục tiêu phát triển trong giai đoạn sắp tới theo tinh thần Kết luận 76 của bộ Chính trị. Đó là xây dựng Petrovietnam trở thành Tập đoàn Công nghiệp - năng lượng quốc gia hàng đầu đất nước, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế; giữ vai trò nòng cốt, chủ lực, đầu tàu, có tiềm lực mạnh về tài chính và trình độ khoa học tiên tiến; có sức cạnh tranh cao, thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển ngành dầu khí…

Tại sự kiện, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện các nghi thức các dự án do PTSC thực hiện gồm: Hạ thủy và bàn giao chân đế điện gió ngoài khơi dự án CHW2204; Lễ khởi công các trạm biến áp - dự án Baltica 02; Lễ khởi công giàn CPP - dự án Lô B. Cũng tại đây, dưới sự chứng kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Công ty PTSC và các đối tác trao Hợp đồng FSO Lạc Đà Vàng và Hợp đồng chế tạo và cung cấp chân đế điện gió ngoài khơi.

Thị sát các khu vực chế tạo chân đế điện gió ngoài khơi nằm trong Trung tâm công nghiệp năng lượng và hậu cần kỹ thuật PTSC, phát biểu tại sự kiện, bày tỏ vui mừng tham dự chuỗi 5 sự kiện quan trọng của ngành Dầu khí Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng và ghi nhận những bước tiến vượt bậc của Prtrovietnam và PTSC trong việc triển khai các dự án dầu khí chiến lược và các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là các dự án điện gió ngoài khơi.

Nhắc lại cách đây gần 2 năm, Thủ tướng Chính phủ đã làm việc với lãnh đạo và giao nhiệm vụ cho Tập đoàn Petrovietnam và Tập đoàn Viettel vượt qua khó khăn, phát triển xứng tầm nhiệm vụ thời kỳ mới. Trong đó, Petrovietnam phải xử lý những tồn tại, yếu kém, tổ chức tái cơ cấu các dự án kéo dài như Nhiệt điện Thái Bình, chuỗi dự án điện khí Lô B… Đến nay các dự án này đã được xử lý, khởi động trở lại và hoạt động hiệu quả, góp phần cùng Petrovietnam đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách của cả nước.

Cho rằng, với tổng giá trị hợp đồng trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi mà PTSC đã và đang triển khai khoảng 2 tỷ USD, đảm bảo việc làm đến 2029, Petrovietnam đã hình thành Tập đoàn năng lượng, không chỉ phát triển dầu khí, phát triển năng lượng, bao gồm điện gió, điện ngoài khơi, Thủ tướng nhấn mạnh phương châm “đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã thực hiện phải có sản phẩm cụ thể” và “thời gian, trí tuệ, sự quyết đoán có ý nghĩa quyết định mang lại thành công”.

Thủ tướng Chính phủ cho biết, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tuy nhiên với tốc độ phát triển như những năm vừa qua, mục tiêu này khó đạt được. Do đó, nhiệm vụ của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, toàn dân, doanh nghiệp là phải tăng tốc, bứt phá, với mức tăng trưởng GDP 2 con số.

Yêu cầu Petrovietnam phải tăng tốc, bứt phá hơn nữa, phấn đấu đạt mức tăng trưởng 15-20%/năm để cùng cả nước đạt các mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, Thủ tướng tin tưởng với truyền thống, cơ đồ, tiềm lực đã tạo dựng và với tinh thần “biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành có thể”, Petrovietnam nói chung và PTSC nói riêng tích cực thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, phát huy tiềm năng về năng lượng tái tạo, góp phần vào xu thế phát triển của thế giới.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị đến năm 2026, Petrovietnam nhận chuyển giao công nghệ sản xuất turbine điện gió, cánh quạt gió… từ đó làm chủ toàn bộ công nghệ phát triển điện gió ngoài khơi, hình thành ngành công nghiệp năng lượng tái tạo. Cùng với đó, Tập đoàn phải phát triển hạ tầng, tái cấu trúc quản trị theo mô hình mới, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ giai đoạn phát triển mới.

Cho biết, trách nhiệm của Chính phủ là kiến tạo, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các Bộ, ngành cùng Chính phủ xây dựng cơ chế, chính sách cho Tập đoàn phát triển trên cơ sở Petrovietnam đề xuất; các bộ, ngành cùng tập đoàn đề xuất các cơ chế, chính sách, nhất là sửa Luật 69, cố gắng ban hành quý I-2025 theo tinh thần “cởi trói cho doanh nghiệp”, sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và một số luật khác; các bộ, ngành như Bộ Công Thương tiếp tục cụ thể hoá một số Nghị định bằng hình thức rút gọn.

Với định hướng xây dựng Trung tâm công nghiệp năng lượng tại Bà Riạ - Vũng Tàu, Thủ tướng giao Petrovietnam cùng với Bộ Công Thương rà soát, xây dựng Nghị định tháo gỡ vướng mắc; Bà Rịa - Vũng Tàu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển; phối hợp với các Bộ, ngành điều chỉnh, xây dựng quy hoạch; phát triển hạ tầng theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".

Cảm ơn và mong muốn các đối tác nước ngoài hợp tác hiệu quả với Petrovietnam với tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, Thủ tướng chỉ đạo Petrovietnam tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khai thác dầu khí với các đối tác nước ngoài, mục đích cuối cùng là mang lại lợi ích chung cho Tập đoàn, cho đất nước, góp phần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, phát triển xứng tầm là tập đoàn năng lượng quốc gia.

Lưu ý Petrovietnam, PTSC phải phối hợp các cơ quan liên quan tốt hơn nữa; bứt phá hơn nữa, đột phá hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, vượt qua chính mình để phát triển, Thủ tướng tin tưởng Tập đoàn tiếp tục đoàn kết, phát triển ở vị trí cao hơn, rộng hơn, mang lại hiệu quả nhiều hơn, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

 

 

 

 

Tư duy lý luận của Đảng về xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay

 TCCS - Trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc xác định mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là vấn đề chưa có tiền lệ. Giai đoạn 1954 - 1986, mô hình CNXH của Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu mô hình CNXH của Liên Xô. Đến Đại hội VII (năm 1991), Đảng bước đầu xác định những đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam. Đây là lần đầu tiên nhận thức của Đảng về các đặc trưng của mô hình CNXH được thể hiện một cách hệ thống. Tại Đại hội XI (năm 2011), đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng rõ. Sự định hình và dần hoàn thiện các đặc trưng mô hình CNXH của Việt Nam là một minh chứng sinh động về sự phát triển tư duy lý luận của Đảng. 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) lần đầu đề ra những đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn của Việt Nam

Trước đổi mới, nhận thức của Đảng về mô hình CNXH ở Việt Nam còn rập khuôn, máy móc, giáo điều theo mô hình của Liên Xô, chưa xuất phát đầy đủ từ hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của thực tiễn đất nước ta. Những khuyết tật, hạn chế của mô hình CNXH này là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước rơi vào tình trạng khó khăn, lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn 1975 - 1986. Chính vì thế, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới, từng bước đổi mới tư duy lý luận về mô hình CNXH, đánh dấu bước chuyển to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mô hình CNXH ở Việt Nam.

Sau 5 năm đưa đường lối đổi mới vào thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đã tổng kết: “Qua thực tiễn, chúng ta có thêm những nhận thức mới và kinh nghiệm quan trọng về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm nước ta”(1). Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc thông qua Cương lĩnh năm 1991 trong bối cảnh Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu tan rã càng thể hiện bản lĩnh chính trị, trí tuệ của Đảng trước những thách thức hiểm nghèo. Đảng khẳng định: “Sau Đại hội VII, sự tan rã của Liên Xô đã tác động sâu sắc đến nước ta. Đông đảo cán bộ và nhân dân lo lắng, một số người dao động, hoài nghi về tiền đồ của CNXH. Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các thị trường truyền thống bị đảo lộn. Trong khi đó, Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận. Một số thế lực thù địch đẩy mạnh những hoạt động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật đổ. Nước ta một lần nữa lại đứng trước những thử thách hiểm nghèo. Đảng và nhân dân ta kiên trì đường lối đổi mới, ra sức thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, vượt qua khó khăn, trở ngại, giành nhiều thắng lợi to lớn”(2). Từ tư duy rập khuôn, máy móc, giáo điều, đến Đại hội VII, tư duy của Đảng có những bước chuyển biến rõ rệt, thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ. Việc thừa nhận nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường và hội nhập với kinh tế thế giới có thể được xem là một đột phá quan trọng về tư duy của Đảng khi xây dựng mô hình CNXH.

Nhiều nội dung lý luận, thực tiễn được Cương lĩnh đặt ra, trong đó có nội dung quan trọng là xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. Lần đầu tiên, cụm từ “Những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa”(3) được đưa vào Văn kiện của Đảng. Đây là một bước phát triển lý luận mang tính đột phá của Đảng, trình bày căn bản quan điểm của Đảng ta về chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân phấn đấu xây dựng.

Đảng xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gồm 6 đặc trưng cơ bản(4), là những đặc trưng bản chất hay mục tiêu cơ bản của CNXH ở Việt Nam mà nhân dân ta xây dựng và hướng tới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tất cả những đặc trưng trên đều gắn bó mật thiết với nhau, vừa làm tiền đề, vừa làm cơ sở của nhau. Việc thực hiện thắng lợi nội dung này sẽ tác động tích cực tới việc thực hiện có kết quả các nội dung khác. Quá trình xây dựng đồng thời các nội dung đó sẽ đưa đất nước ta từng bước tiến tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Cùng với việc Cương lĩnh năm 1991 xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhận thức của Đảng về CNXH đã tiệm cận tới những nét bản chất của CNXH trong điều kiện Việt Nam. Mô hình CNXH ở Việt Nam lần đầu tiên được nhận diện và khắc phục bước đầu tư duy máy móc, giáo điều, rập khuôn theo mô hình Liên Xô trước đây. Mặc dù chưa hoàn toàn đầy đủ, song các đặc trưng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quan hệ đối nội và đối ngoại đã tạo cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa thành chế độ xã hội có cơ sở hạ tầng phù hợp với kiến trúc thượng tầng, đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đây là lần đầu tiên, trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng đã khái quát được một hệ thống tư tưởng, quan điểm chỉ đạo vừa nhằm mục đích thúc đẩy công cuộc đổi mới tiến lên, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, đáng chú ý là giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về mô hình CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) tiếp tục có nhận thức mới về mô hình CNXH của Việt Nam, với việc lần đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên CNXH. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) với việc định hình ngày càng sáng rõ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tư duy, nhận thức mới về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Đảng tiếp tục được phát triển, thể hiện rõ nét trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI (năm 2011). Với Cương lĩnh năm 2011, Đảng có bước phát triển nhận thức về các đặc trưng để phù hợp với thuộc tính, bản chất CNXH Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 xác định 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(5).

So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh năm 2011 tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các nội dung phản ánh trong 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời  điều chỉnh, bổ sung, phát triển để có được 8 đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Nhận thức mới của Đảng được thể hiện ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Cương lĩnh 2011 bổ sung thêm 2 đặc trưng: (i) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; (ii) Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Đặc trưng bao trùm, tổng quát thể hiện mục tiêu chung của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc trưng này là kết quả của sự kết hợp quan điểm Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa cần đạt tới. Cụm từ “dân chủ” được Cương lĩnh đặt lên trước các cụm từ “công bằng”, “văn minh” nhằm làm rõ hơn: Dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện bản chất ưu việt, tiến bộ hơn so với dân chủ tư sản, song phải được xây dựng, phát triển thường xuyên và lâu dài, phải coi dân chủ là tiền đề, điều kiện của công bằng, văn minh, khắc phục tư tưởng chỉ coi dân chủ XHCN là động lực, là cái có sẵn sau khi thiết lập chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, ở đặc trưng “do nhân dân làm chủ”, đổi mới trong tư duy của Đảng là nền dân chủ xã hội vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa mang tính nhân dân rộng rãi. Đặc trưng này vừa thể hiện bản chất chính trị ưu việt của CNXH theo quan điểm Mác - Lê-nin, đồng thời tiếp thu quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ: người dân là chủ, dân làm chủ.

Thứ ba, đặc trưng về kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa. Nếu như Cương lĩnh năm 1991 xác định: có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, thì Cương lĩnh 2011 chỉ rõ: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Điểm mới này vừa thể hiện những thành quả của cả 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, vừa làm rõ hơn thái độ nhất quán của Đảng trong thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, khắc phục nhận thức coi nhẹ đối với các thành phần kinh tế thuộc chế độ sở hữu tư nhân.

Thứ tư, đặc trưng về xã hội, con người. Điểm mới của Cương lĩnh năm 2011 thể hiện điểm trọng tâm về con người và quan hệ xã hội giữa người với người, giữa con người với xã hội, “có điều kiện phát triển toàn diện” thay cho “có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”. Phát triển toàn diện các lĩnh vực đức, trí, thể, mĩ của cá nhân con người, ngăn ngừa khắc phục tư duy máy móc: phát triển cá nhân là tuyệt đối hóa cá nhân trong quan hệ với tập thể, cộng đồng, xã hội.

Thứ năm, đặc trưng về dân tộc, quan hệ giữa các tộc người trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 làm rõ hơn cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm cả tộc người, cư dân trong nước và cư dân Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời bổ sung thêm nội dung “tôn trọng” để hoàn thiện nội dung bao trùm nhất của chính sách dân tộc là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

Thứ sáu, về quan hệ đối ngoại. Cương lĩnh năm 2011 làm rõ hơn quan hệ hữu nghị, hợp tác không chỉ với nhân dân các nước nói chung, mà là quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới, bao gồm cả các nước, các thể chế chính trị khác nhau trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Những đặc trưng trên là nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một thành tựu phát triển sáng tạo lý luận riêng có của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ nghiên cứu tổng kết thực tiễn thường xuyên từ năm 1991, sau 20 năm thực thi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XI đã quyết định giữ nguyên tên của Cương lĩnh năm 1991 (chỉ ghi thêm bổ sung, phát triển năm 2011). Điều này thể hiện tính nhất quán của Đảng khi xác định vai trò to lớn của Cương lĩnh là nền tảng chính trị tư tưởng cho toàn bộ hoạt động của Đảng, Nhà nước, của toàn xã hội trong quá trình xây dựng CNXH trong suốt thời kỳ quá độ. Theo đó, các đặc trưng thể hiện mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thường xuyên được bổ sung, đổi mới để có những nhận thức mới, nhận thức đúng về các thuộc tính bản chất của CNXH Việt Nam.

Những đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 tiếp tục được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(6).

Để hiện thực hóa được mô hình này là cả một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải đầu tư sức người, sức của to lớn, phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra phù hợp với thực tiễn đất nước. Việc hiện thực hóa các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa góp phần củng cố niềm tin, tạo ra động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, thuận lợi, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

Trải qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 đến Cương lĩnh năm 2011 và đến nay, có thể thấy, tư duy lý luận của Đảng về mô hình CNXH ngày càng sáng rõ hơn. Đảng xác định được mô hình CNXH phù hợp với đặc điểm, thực tiễn của Việt Nam. Những đặc trưng phản ánh các thuộc tính của CNXH ở Việt Nam ngày càng được nhận thức đúng, rõ ràng, thiết thực hơn trên các phương diện liên quan…, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong thời gian tới, cùng với quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tăng cường tổng kết thực tiễn trong quá trình lãnh đạo xây dựng mô hình CNXH ở Việt Nam, Ðảng ta sẽ tiếp tục bổ sung, phát triển hơn nữa lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, góp phần xây dựng được mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn thiện với những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, mang sắc thái riêng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Sự vận động và biến đổi của thế giới hiện nay, của thực tiễn xây dựng CNXH sẽ tiếp tục cung cấp thêm những cứ liệu mới để bổ sung cho nhận thức lý luận của Đảng ta về mô hình CNXH và con đường để thực hiện mô hình đó ở Việt Nam./.

 

 

Mỗi người dân là một “pháo đài” chống các luận điệu sai lệch của kẻ xấu

 


Với những luận điệu phi thực tế, thời gian qua, xuất hiện tình trạng một số kẻ xấu đã đến tận các bản làng vùng cao, vùng sâu, vùng xa để tuyên truyền, lôi kéo người dân thiếu hiểu biết tin theo vào các đạo lạ, tà đạo trái pháp luật.

Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 

Bối cảnh quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ tiên tiến, như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và điện toán đám mây (Cloud)… đã và đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị quốc gia và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với Việt Nam, sự thay đổi này mang lại cả cơ hội và thách thức, khi quốc gia không chỉ phải nâng cao hiệu quả quản trị, mà còn phải nắm bắt thời cơ để đẩy nhanh tốc độ phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Trong bối cảnh này, khát vọng phát triển trở thành động lực thúc đẩy toàn xã hội, nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao, xã hội thịnh vượng và sánh vai với các cường quốc năm châu. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định dấu mốc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng; từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức, đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước XHCN phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại(1). Để hiện thực hóa khát vọng này, hệ thống quản trị quốc gia phải phát huy tối đa vai trò kiến tạo và thúc đẩy toàn diện các lĩnh vực; đồng thời, duy trì sự ổn định và đồng thuận trong xã hội.

Thách thức và cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các tiến bộ này trong quản trị quốc gia nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển. Việc phát triển nền kinh tế số, xã hội số, chính phủ số là trọng tâm để bảo đảm hiệu quả và sự cạnh tranh trong dài hạn. Đây không chỉ đơn thuần là áp dụng công nghệ, mà còn là cách mạng về tư duy, đòi hỏi năng lực thích ứng cao từ hệ thống pháp lý, hạ tầng kỹ thuật đến nguồn nhân lực. Nếu chậm chân trong cuộc đua này, Việt Nam có nguy cơ tụt hậu và bị ảnh hưởng bởi sự phụ thuộc vào các quốc gia đi trước trong lĩnh vực công nghệ số.

Nhu cầu về một phương thức quản trị quốc gia linh hoạt và thích ứng: Theo báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc, các quốc gia hiện nay đang đối mặt với môi trường biến động và phức tạp, đòi hỏi một phương thức quản trị linh hoạt, có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi. Người dân kỳ vọng vào một hệ thống minh bạch, hiệu quả, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh quốc gia chịu tác động bởi biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và những biến động kinh tế - xã hội phức tạp.

Chuyển đổi tư duy quản trị: Từ quản lý đến kiến tạo phát triển: Việt Nam đang chuyển hướng từ quản lý theo kiểu truyền thống sang một nền quản trị dựa trên sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải tạo điều kiện cho các chủ thể khác tham gia sáng tạo và phát triển; đồng thời, khuyến khích hợp tác, sáng tạo và minh bạch trong hệ thống quản trị. Chính phủ hiện đại không chỉ là chủ thể cung ứng dịch vụ công, mà còn là người bảo đảm an sinh xã hội và điều kiện phát triển bền vững.

Bối cảnh nội tại và những thách thức đặc thù của Việt Nam: Việt Nam hiện là một trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu về thu hút đầu tư nước ngoài, nhờ vị thế địa lý và tiềm lực phát triển cao. Tuy nhiên, các thách thức vẫn còn, như tình trạng già hóa dân số và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Chính quyền cần phát huy hiệu quả thời gian còn lại để thực hiện kỳ vọng đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển.

 

Đặc trưng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

Sự vận động và phát triển của xã hội kéo theo những đòi hỏi và yêu cầu đổi mới, cải cách phương thức vận hành, quản trị nhà nước, quản trị quốc gia thích ứng với từng giai đoạn lịch sử.

Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trở thành tất yếu khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Tại Việt Nam, đây cũng là một nội dung quan trọng, có tính cấp thiết đặt ra trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu tới năm 2045, Việt Nam là nước phát triển có thu nhập cao, quốc gia hùng cường, nhân dân hạnh phúc. Để đạt mục tiêu này, Đại hội XIII của Đảng cũng xác định rõ: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả”(2) là một trong những nội dung của khâu đột phá đầu tiên trong ba đột phá chiến lược (hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ) đưa đất nước phát triển.

Nội hàm khái niệm quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả không phải là nói tới mô hình hay kiểu nhà nước mới, mà nói tới phương thức quản trị nhà nước, quản trị quốc gia theo các nguyên tắc, chuẩn mực mang tính phổ quát để thích ứng với bối cảnh mới. Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam được hiểu chính là quá trình Nhà nước với vai trò là trung tâm dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực phổ quát của quản trị tốt, sử dụng các công cụ, phương tiện, phương thức phù hợp huy động mọi nguồn lực của quốc gia và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội để ban hành, tổ chức thực hiện các quyết sách, mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đưa quốc gia phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả(3).

Đặc trưng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả mà chúng ta hướng tới là:

- Sự tham gia rộng rãi của người dân và các chủ thể trong xã hội:

Sự vận động và phát triển của xã hội trong bối cảnh mới đang làm thay đổi, dịch chuyển các cấu trúc và phương thức vận động của sự phát triển. Mô hình quản trị hiện đại cần gắn kết đa chiều giữa Nhà nước, xã hội, thị trường. Từ vị trí trung tâm, Nhà nước đảm nhận vai trò kiến tạo “khung khổ pháp lý - luật chơi” và “xác lập các thiết chế - sân chơi”, bảo đảm cho mọi thành phần đều có không gian đóng góp vào sự phát triển của quốc gia, không chỉ với tư cách là đối tượng quản lý, mà còn là các chủ thể đồng hành có trách nhiệm, bổn phận vì lợi ích chung.

Trong nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, vai trò của người dân và các chủ thể ngoài nhà nước không chỉ giới hạn ở việc tuân thủ các chính sách, pháp luật, mà còn bao gồm quyền tham gia trực tiếp vào giám sát, phản biện, đóng góp cho sự phát triển xã hội.

Để thúc đẩy sự tham gia của người dân, cần thiết lập các cơ chế pháp lý cụ thể, bảo đảm quyền và trách nhiệm của người dân trong việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tham gia phản biện, đóng góp ý kiến vào các quyết sách. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm công khai thông tin liên quan đến những vấn đề mà người dân quan tâm, bảo đảm tính minh bạch; từ đó, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin chính xác và đầy đủ. Đồng thời, việc phản hồi và giải trình từ phía chính quyền về các ý kiến, kiến nghị của người dân cần được thực hiện kịp thời và nghiêm túc. Điều này giúp hình thành một kênh đối thoại hai chiều giữa Nhà nước và người dân, tăng cường niềm tin vào bộ máy công quyền, cũng như củng cố sự đồng thuận trong xã hội. Sự tham gia chủ động của người dân sẽ góp phần bảo vệ lợi ích công, ngăn ngừa tham nhũng, lạm quyền, và tạo sự cân bằng, hài hòa giữa Nhà nước và xã hội trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

- Pháp quyền và trách nhiệm của Nhà nước:

Nhà nước cần có hệ thống pháp luật đầy đủ, dân chủ và mang tính pháp quyền cao. Pháp luật phải dựa trên yêu cầu thực tiễn và là công cụ hỗ trợ phát triển, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi công dân và tổ chức; đồng thời, bảo đảm kiểm soát quyền lực và duy trì trật tự xã hội.

Thứ nhất, Nhà nước phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Nhưng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền cần được tiếp cận theo hướng: Nhà nước pháp quyền là nhà nước “tiết kiệm pháp luật”, không được lạm dụng pháp luật. Luật ban hành phải xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, nhằm tạo khuôn khổ thể chế để kiến tạo, hỗ trợ cho sự phát triển, không phải lạm dụng pháp luật để cản trở, kìm hãm sự phát triển xã hội.

Thứ hai, phải xem pháp luật là tối thượng. Mọi chủ thể trong xã hội phải luôn có tinh thần thượng tôn pháp luật, phán quyết bằng pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi công dân, tổ chức.

Thứ ba, pháp luật thực sự dân chủ. 

Thứ tư, có cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực của Nhà nước. Thiết kế pháp luật nhất là về bộ máy nhà nước, không chỉ là trao quyền cho cơ quan nhà nước hoạt động, mà còn là phương thức để kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước. Bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải được kiểm soát, hợp pháp, hợp lý và hướng tới sự bảo vệ giá trị công, lợi ích công. Không có tư lợi, vụ lợi, “lợi ích nhóm”, tham nhũng trong hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật.

Thứ năm, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính chuyên nghiệp và một hệ thống tư pháp độc lập, nhằm tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật và bảo đảm công lý được thực thi.

Thứ sáu, tôn trọng, bảo đảm và hiện thực hóa pháp luật. Chú trọng hướng tới tính khả thi, tính hợp lý, tính hiệu quả và các điều kiện để pháp luật được thực hiện.

Thứ bảy, pháp luật bảo đảm duy trì trật tự và ổn định đất nước, người dân sống một cuộc sống hạnh phúc. Pháp luật sinh ra là để bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Pháp luật để trừng trị hành vi cố tình vi phạm, không phải nhằm mục đích cai trị, cai quản con người. Hình thành hệ thống pháp luật để tạo khung khổ pháp lý với mục đích tạo điều kiện để công dân được bảo vệ, được sáng tạo, và phát huy tốt nhất năng lực của mình.

Điều kiện của nguyên tắc pháp quyền trong quản trị quốc gia là trách nhiệm của Nhà nước trong việc xác lập và bảo đảm nền chính trị dân chủ; nhận thức của công dân về dân chủ, pháp luật và đạo đức được nâng cao; cải cách hệ thống lập pháp, hệ thống tư pháp và hoàn thiện hệ thống giám sát, phản biện xã hội.

- Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình:

Trong bối cảnh mới với công nghệ số và sự tham gia rộng rãi của người dân và toàn xã hội, mọi thứ không còn là bí mật, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cần vận hành theo nguyên tắc “tối đa hóa công khai” và “tối thiểu hóa bí mật”. Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước cần vận hành theo nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, đặc biệt trong việc ra quyết sách và cung cấp thông tin liên quan đến lợi ích của người dân. Trách nhiệm giải trình giúp gia tăng niềm tin và sự tham gia của xã hội; đồng thời, tạo môi trường lành mạnh, ngăn ngừa tình trạng thông tin sai lệch, tin giả.

Trách nhiệm giải trình bao gồm 2 nội dung là: Năng lực giải trình và chịu trách nhiệm trước hậu quả xảy ra của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức khi thực thi công vụ.

Yêu cầu của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị quốc gia bao gồm các nội dung: 1- Nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước và công chức về hành động và các quyết sách của mình khi có yêu cầu của các chủ thể: Cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp, của người dân và xã hội. 2- Cơ chế để bảo đảm người dân và các chủ thể trong xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước và công chức phải có trách nhiệm giải trình về hành động và các quyết sách của mình. 3- Nghĩa vụ cung cấp thông tin một cách khách quan, công bằng, minh bạch và đúng sự thật về hoạt động của cơ quan nhà nước, của công chức. 4- Nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các chủ thể trong xã hội. 5- Trách nhiệm của Nhà nước và công chức về hậu quả của những hành vi và quyết sách của mình.

Khi Nhà nước và công chức thực hiện được trách nhiệm giải trình sẽ xây dựng nên một cơ chế thông tin đối thoại, tham vấn thông suốt giữa một bên là Nhà nước và một bên là công dân và xã hội. Đó cũng là cách thức gia tăng niềm tin của người dân vào nhà nước liêm chính, nhà nước phục vụ.

Do đó, cần xem công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình không chỉ là nghĩa vụ, là sự bị động của chính quyền và cán bộ, công chức, mà còn là quyền và sự chủ động cung cấp thông tin, giải thích và chịu trách nhiệm của chính quyền và cán bộ, công chức trước nhân dân, xã hội về những việc mà chính quyền đã, đang và sẽ làm.

- Quản trị nhằm đáp ứng kỳ vọng của người dân và xã hội ở mức cao:

Kỳ vọng của bất cứ người dân nào vào chính quyền tập trung ở hệ thống chính sách an sinh xã hội và các bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Kỳ vọng của người dân và xã hội đề cập đến mức độ mà mọi người có thể tham gia vào đời sống xã hội và kinh tế của cộng đồng, đem lại hạnh phúc cho người dân. Người dân luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết sách của chính quyền. Chỉ số hạnh phúc, sự thụ hưởng và hài lòng của người dân cần trở thành chỉ số quan trọng để hoạch định và đánh giá chính sách.

Trong kỷ nguyên phát triển từ GDP sang kỷ nguyên hạnh phúc, tiếp cận hạnh phúc trong phân tích chính sách là một kênh thông tin mới bổ sung cho cách tiếp cận truyền thống, giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trong việc đưa ra những quyết sách điều hành đất nước. Bảo đảm sự đồng bộ trong xây dựng và thực hiện chính sách xã hội với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, lao động và việc làm. Và vì vậy, trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả cần có tư duy tiếp cận hạnh phúc, đưa các yếu tố, chỉ số đo lường về sự thụ hưởng, sự hài lòng của người dân trong cả 3 giai đoạn: Hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, đáp ứng sự kỳ vọng của người dân, và củng cố niềm tin của người dân đối với Nhà nước.

Trong quản trị quốc gia hiện đại, những thay đổi mới về nhu cầu của con người trong bối cảnh mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc đổi mới và xây dựng chính sách xã hội. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”(4). “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững”(5).

- Quản trị tạo sự đồng thuận và công bằng xã hội:

Quản trị quốc gia hiện đại hướng tới sự đồng thuận cao, dựa trên giá trị công lý và công bằng xã hội. Đồng thuận này không phải là sự phục tùng, mà là kết quả của quá trình điều hòa lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội, tạo nền tảng cho xã hội ổn định, phát triển hài hòa.

Cơ sở của đồng thuận chính là sự tương đồng dựa trên những giá trị, chuẩn mực chung. Trong quản trị quốc gia, cần có cách thức để tìm được sự đồng thuận giữa xã hội và chính phủ thông qua các hoạt động nhằm điều hòa lợi ích của người dân, của các tổ chức và của Nhà nước; có như vậy, mới thiết lập được một xã hội có tính đồng thuận cao và bảo đảm được lợi ích của cả cộng đồng.

Quản trị quốc gia hiện đại hướng tới mục tiêu tạo sự đồng thuận, dựa trên công lý, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, cơ hội, không phải các giá trị thực dụng (thiểu số phục tùng đa số). Để đạt được sự đồng thuận, thể chế phải bảo đảm cho sự công bằng được thực hiện trên thực tế. Nhà nước cần nhận thức được rằng, mọi người đều có khả năng và cơ hội trở thành người vượt trội. Thể chế công bằng tạo cơ hội phát triển toàn diện phù hợp với năng lực và điều kiện của mỗi cá nhân. Không ai bị bỏ lại phía sau. Không ai bị tụt hậu trong sự phát triển chung của xã hội.

- Trách nhiệm quốc gia trong tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu:

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc trước những vấn đề toàn cầu, như môi trường, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống... Quá trình toàn cầu hóa cũng làm cho các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, đan xen các lợi ích trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia thúc đẩy việc tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu để nâng cao vị thế, vai trò, tầm ảnh hưởng của quốc gia trên trường quốc tế. Trách nhiệm quốc gia trong tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu trở thành đặc điểm quan trọng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

Thách thức đặt ra cho mỗi quốc gia sẽ là làm thế nào để luôn “đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trước hết, trên hết” nhưng vẫn tuân thủ những chuẩn mực, giá trị chung của nhân loại. Không bị kéo theo sự cạnh tranh của các nước lớn để vẫn giữ được sự tôn trọng, độc lập, chủ quyền, tự chủ, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Các bên cùng thắng, cùng có lợi trong môi trường đa chủ thể và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia.

- Quản trị hướng tới mục tiêu phát triển bền vững:

Quản trị hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở 3 trụ cột: Bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường, vừa đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại, vừa không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai. Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả hướng tới mục tiêu phát triển bền vững yêu cầu chính phủ mỗi quốc gia cần xây dựng: 1- Hệ thống quản lý phát triển bền vững; 2- Hệ thống pháp luật để phát triển bền vững; 3- Phát triển bền vững hệ thống khoa học và công nghệ; 4- Hệ thống giáo dục bền vững; 5- Sự tham gia của cộng đồng vào phát triển bền vững.

- Tính hiện đại, hiệu quả xuyên suốt trong quản trị quốc gia:

Quản trị quốc gia suy cho cùng là hướng đến giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong điều kiện nhu cầu thì vô hạn nhưng nguồn lực thì luôn hữu hạn và môi trường biến đổi không ngừng. Trong bối cảnh mà các hành vi và các mối quan hệ xã hội vận động và phát triển theo hướng cái sau mới hơn, tiến bộ hơn, hiện đại hơn cái trước đặt ra thách thức cho nhà quản trị phải có công cụ và phương pháp quản trị hiện đại, phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội. Khoa học - công nghệ được xem là chìa khóa, giữ vai trò then chốt cho sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.

Để đạt được mục tiêu trên, quản trị quốc gia trước hết cần sự thống nhất nhận thức đổi mới tư duy về xây dựng quốc gia số thực chất là cuộc cách mạng về thể chế để nâng cao năng suất và chất lượng, hiệu quả quản trị điều hành kinh tế - xã hội trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Muốn vậy, cần tập trung vào hoàn thiện thể chế pháp lý cho việc vận hành chính phủ số, quốc gia số; nâng cao năng lực của bộ máy và đội ngũ công quyền; xây dựng nền tảng hạ tầng số quốc gia; hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản trị quốc gia và đẩy mạnh phát triển ứng dụng công nghệ số vào cung cấp dịch vụ cho chính quyền, người dân, doanh nghiệp.

Hiệu quả là các kết quả, lợi ích đạt được khi đặt trong mối tương quan so sánh giữa chi phí và mục tiêu định trước. Quản trị quốc gia hiệu quả thực chất là việc giải quyết, đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của xã hội với chi phí thấp nhất, nhưng mục tiêu đạt được cao nhất. Đo lường hiệu quả quản trị quốc gia xét trên tổng thể các phương diện. Về kinh tế, là sự phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế thông qua các chỉ số phản ánh: Sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người... Về xã hội, là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế - xã hội để bảo đảm an sinh xã hội, tăng thu nhập cho người dân, tăng tỷ lệ việc làm, gia tăng các phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống, sự hài lòng, hạnh phúc của người dân… Về chính trị, là năng lực, trình độ huy động mọi nguồn lực quốc gia để thực hiện các quyết sách chính trị, củng cố niềm tin, gia tăng sự đồng tình, ủng hộ của người dân và xã hội vào sự lãnh đạo của bộ máy công quyền.

Giải pháp xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Một là, nâng cao nhận thức của mọi chủ thể trong xã hội về khát vọng phát triển quốc gia.

Cần nâng cao nhận thức và hành động của triệu người như một, mọi chủ thể trong xã hội cùng chung niềm tự hào, tự tôn dân tộc cùng chung khát vọng, mục tiêu chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu… đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao(6). Thống nhất được khát vọng, tầm nhìn phát triển của dân tộc sẽ thay đổi nhận thức và hành động của các chủ thể, là cơ sở để đoàn kết mọi lực lượng trong xã hội, vượt lên sự khác biệt, khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, tận dụng thời cơ, vận hội, chung tay xây dựng quốc gia hùng cường, xã hội phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.

Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.

Bước vào thời kỳ mới với những tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình trong nước, quốc tế diễn biến nhanh và khó lường, Đảng ta phải giải quyết một loạt các vấn đề để vừa phát huy vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vừa phát huy vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước theo luật định. Cùng với đó, việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức đảng và cơ quan nhà nước cũng như thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể lãnh đạo, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đảng với người đứng đầu cơ quan nhà nước cũng phải rõ ràng, rành mạch. Tổ chức bộ máy của các cơ quan đảng cũng phải được thiết kế, tổ chức một cách tinh gọn nhất, tránh chồng chéo, hoặc song trùng quyền lực giữa cơ quan của Đảng và của Nhà nước.

Xây dựng cơ cấu hợp lý cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ, phẩm chất, năng lực nổi trội, có quyết tâm đổi mới sáng tạo, có tâm huyết, khát vọng cống hiến. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược phải có bản lĩnh, có tâm huyết, có tư duy, tầm nhìn và khát vọng cống hiến, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, đổi mới sáng tạo, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, tinh thông nghề nghiệp, có tác phong làm việc khoa học, chuyên nghiệp.

Kiên định đường lối lãnh đạo của Đảng; đồng thời, nâng cao năng lực quản trị khoa học, bảo đảm dân chủ và quản trị theo pháp luật. Tính khoa học thể hiện ở việc mọi quyết sách của Đảng phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn đang diễn ra cũng như dự báo, lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm. Tính dân chủ thể hiện ở việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là hạt nhân để thực hiện dân chủ trong xã hội và đoàn kết toàn dân.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bảo đảm tính chính trị, cách mạng, hiện đại, thích ứng linh hoạt với thời cuộc. Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát hệ thống quản trị quốc gia và năng lực quản trị của Nhà nước. Phải liên tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng thích ứng với tình hình và bối cảnh mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ba là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật kiến tạo phát triển.

Để xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, Việt Nam cần tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế theo hướng dân chủ, pháp quyền, kiến tạo sự phát triển theo đúng quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cần có sự đột phá về tư duy để giải quyết bài toán thể chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”(7). Muốn vậy, trước hết cần đổi mới tư duy trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật theo hướng:

- Trong kỷ nguyên mới, thể chế, chính sách, pháp luật là động lực, là nguồn lực kiến tạo cho sự phát triển.

Chính sách, pháp luật được ban hành là để giải quyết các vấn đề gắn liền với yêu cầu, đòi hỏi phát sinh từ thực tiễn. Thể chế, chính sách là nguồn lực kiến tạo sự phát triển. Do đó, phải áp dụng cách tiếp cận thực tế và thực tiễn trong xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật; bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, giải đáp các vướng mắc của cuộc sống và tìm ra con đường phát triển từ thực tiễn. Chủ động trong nghiên cứu, xây dựng chính sách, pháp luật cho những vấn đề mới, xu hướng mới để tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành nền kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, quốc gia số. 

Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật cần dịch chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Dịch chuyển từ tư duy “chọn cho” sang tư duy “chọn bỏ” trong hoạch định, thực thi chính sách, pháp luật; để chấm dứt tư duy “xin - cho”, cung cấp kiểu ban ơn, dễ phát sinh những nhũng nhiễu, tiêu cực trong hoạt động của cơ quan công quyền sang tư duy “yêu cầu - đáp ứng” hướng tới sự cung cấp dịch vụ, đáp ứng sự hài lòng và thúc đẩy quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa các chủ thể. Khi xây dựng chính sách, pháp luật quán triệt quan điểm thay đổi cách tiếp cận từ đặt nặng vào quy định xác lập “nghĩa vụ” sang chú trọng thiết lập quy định “bảo vệ và bảo đảm quyền” của các bên liên quan.

 Dịch chuyển từ tư duy thực hiện pháp luật không chỉ là “trách nhiệm công vụ”, mà còn hướng tới phải thấm nhuần tư duy “trách nhiệm phục vụ” người dân, xã hội trong xây dựng và thực hiện pháp luật. Bảo đảm các quy định đối với Nhà nước, cán bộ, công chức “được phép làm những gì pháp luật quy định, cho phép”; đối với công dân “được phép làm những gì pháp luật không cấm”, chấm dứt tư duy “không quản được là cấm” để kiến tạo sự phát triển.

- Thể chế, chính sách, pháp luật hướng tới sự hạnh phúc của nhân dân.

Hạnh phúc là giá trị văn hóa cao nhất, là mục tiêu, khát vọng mong đợi mà mỗi quốc gia muốn đem lại cho mọi người dân trong quá trình tổ chức và thực thi chính sách. Chỉ số hạnh phúc của người dân, của quốc gia là “dự báo” cho sự phát triển toàn diện, bền vững của mỗi quốc gia. Từ việc chỉ chú trọng vào các chỉ số phát triển kinh tế, giờ đây khi tiếp cận hạnh phúc trong phân tích chính sách, pháp luật, Nhà nước sẽ đặt các chỉ tiêu kinh tế trong mối tương quan với các tiêu chí về an toàn, an lành, sự thân thiện, nhân văn, những trải nghiệm và cảm xúc tích cực bên trong của từng cá nhân trong xã hội. Cách tiếp cận hạnh phúc phải được thể hiện cả ở giai đoạn xây dựng, hoàn thiện; tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách, pháp luật. Vì vậy, những nhà quản lý, lãnh đạo quốc gia sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trong việc đưa ra những quyết sách điều hành đất nước.

- Thể chế, chính sách, pháp luật thiết lập và vận hành bộ máy trong hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả.

Tái cấu trúc tổng thể bộ máy trong toàn hệ thống chính trị theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”(8) nhằm mục tiêu cao nhất là tối đa hóa giá trị tạo ra và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Thiết kế và vận hành bộ máy trong hệ thống chính trị dựa trên nguyên tắc khoa học tổ chức, phù hợp thực tiễn và bảo đảm hiệu năng tối ưu của toàn hệ thống. Đặc biệt, việc thiết kế phải bảo đảm mỗi tổ chức công trong hệ thống được đặt đúng vị trí, đúng vai trò và đúng chức năng, để bộ máy công quyền thật sự là một cỗ máy tạo ra giá trị, kiến tạo sự phát triển bền vững của quốc gia.

Trước hết, tập trung vào sắp xếp lại bộ máy, giảm thiểu đầu mối trung gian, phân định rõ thẩm quyền, loại bỏ sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, cắt khúc theo phương châm: Rõ việc, rõ người, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm. Đồng thời, để tăng tính minh bạch và hiệu lực, cần áp dụng nguyên tắc trách nhiệm giải trình và cơ chế đánh giá dựa trên kết quả công việc. Xây dựng và áp dụng các bộ chỉ số đo lường và đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của tổ chức công.

Ngoài ra, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền, với phương châm “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”, nhằm gia tăng tính chủ động của địa phương và tối ưu hóa quá trình ra quyết định. Song song với đó, cần thực hiện nghiêm việc kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ cương và kỷ luật, kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực và “lợi ích nhóm” trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” không chỉ là nhiệm vụ cấp bách, mà còn là nền tảng để xây dựng một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, vững mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Những giải pháp này sẽ giúp phát huy tối đa sức mạnh của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực quản trị của Nhà nước và bảo đảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan công quyền, tạo đà phát triển bền vững để đưa đất nước tiến gần hơn đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

Bốn là, nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức.

Nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức, không chỉ có năng lực chuyên môn cao, mà còn phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, thể hiện trách nhiệm giải trình trước người dân và xã hội. Nền công vụ được vận hành bởi đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động và thực tài. Thực hiện đánh giá cán bộ, công chức dựa trên kết quả công việc thông qua các chỉ số đo lường và thực chất. Kiên quyết đưa ra khỏi nền công vụ những người không làm được việc. Đội ngũ cán bộ, công chức trong nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả phải thực sự là tầng lớp tinh hoa, ưu tú của xã hội để quản trị xã hội. Có chính sách tiền lương, tạo động lực làm việc, để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, phát huy giá trị xã hội của nghề công chức, luôn toàn tâm, toàn ý cho lý tưởng, khát vọng “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Năm là, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

Trước hết, cần phát triển và ứng dụng các nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết nối liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình làm việc, quản lý dữ liệu, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình ở mức độ cao, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Việc khai thác trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ tiên tiến sẽ giúp nâng cao năng lực phân tích, dự báo, hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng, kịp thời. Cùng với đó, cần bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu quốc gia và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực số, thành thạo về kỹ năng số. Đây là bước đi chiến lược để nền quản trị quốc gia thích ứng nhanh với bối cảnh chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại và phát triển bền vững.

Sáu là, huy động sự tham gia của các chủ thể vào quản trị quốc gia.

Huy động được mọi nguồn lực, mọi chủ thể trong xã hội tham gia vào quản trị quốc gia là chìa khóa để tối đa hóa sức mạnh tổng hợp của xã hội, thúc đẩy quản trị hiệu quả, bền vững. Để thực hiện điều này, cần xây dựng cơ chế pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các đoàn thể tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Cùng với đó, đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin, khuyến khích vai trò giám sát của xã hội; từ đó, gia tăng sự đồng thuận và trách nhiệm chung. Mỗi chủ thể trong xã hội, theo vai trò, chức năng của mình, cùng nỗ lực tối đa đóng góp giá trị cho sự phát triển quốc gia theo phương thức: Xã hội cung cấp nguồn lực, thị trường phân bổ nguồn lực, Nhà nước kiến tạo thể chế và điều tiết nguồn lực hợp lý. Mọi chủ thể đồng lòng, chung sức sẽ tạo nền tảng vững chắc cho khát vọng phát triển quốc gia, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu đổi mới ở Việt Nam./.