Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Phản bác luận điệu xuyên tạc công cuộc cải cách, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

 rong những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực.

Đặc biệt, với quan điểm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Tô Lâm, của Bộ Chính trị đã tạo thống nhất trong nhận thức và hành động, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cả hệ thống thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tình hình để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương cũng như kết quả của công cuộc cải cách này.

Những chiêu trò “bẻ lái”, xuyên tạc

Mặc dù chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy được Đảng và Nhà nước ta triển khai với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, dành nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân nhưng một số đối tượng chống đối vẫn tiếp tục xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt, thổi phồng khuyết điểm hòng đánh tráo mục tiêu, gây hoang mang dư luận. Các đối tượng bịa đặt rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam “chỉ là hình thức, mị dân”, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách. Họ cho rằng, cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp.

Một số đối tượng bịa đặt rằng, việc sáp nhập các đơn vị, hợp nhất bộ máy chỉ nhằm mục đích chia ghế và “chạy chọt”, gây tốn kém ngân sách. Thậm chí, các thế lực thù địch xuyên tạc tinh giản biên chế là “đấu đá quyền lực, phe nhóm”, nhằm cắt giảm quyền lực của người này để tăng quyền lực cho người kia, là cách để “hạ bệ” hoặc “gia cố” quyền lực. Từ đó họ nguỵ biện rằng, Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật nhằm làm nhiễu thông tin, “tung hoả mù” gây hoang mang dư luận, tạo cớ chỉ trích, miệt thị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Tinh gọn bộ máy, giảm biên chế - quan điểm chỉ đạo xuyên suốt

Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (Đại hội VI) đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ngày 25/11 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp xem xét, cho ý kiến về một số nội dung quan trọng, trong đó có nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ví như cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, cần thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cơ bản thống nhất nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu, tiến độ tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW và một số nội dung gợi ý, định hướng để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương nghiên cứu, đề xuất sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. 

Ngày 5/11, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”, nêu rõ: Qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.

Cải cách bộ máy hành chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước, đồng thời giảm thiểu các chi phí hành chính không cần thiết. Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác cải cách bộ máy hành chính. Đặc biệt, việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối hành chính đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Cụ thể như tháng 4/2015, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức với mục tiêu đến năm 2021 tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Kết quả, chúng ta đã tinh giản được 11,67% biên chế trong giai đoạn này, vượt chỉ tiêu đề ra. Trình bày Báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023 tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (tháng 5/2024), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết, Chính phủ đã ban hành 27 Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các bộ, ngành đã giảm được 17 tổng cục và tương đương; giảm 10 cục và 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 108 phòng trong vụ/ban thuộc bộ, ngành; giảm 22 đơn vị sự nghiệp công lập. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, trong năm 2023, Thủ tướng đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 144 quy định kinh doanh. Tổng số quy định kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa từ năm 2021 đến nay là 2.770 quy định. Có 147 thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư được thực hiện đơn giản hóa đạt 49,26%. Về quản lý và tinh giản biên chế, thực hiện các nghị định của Chính phủ, từ năm 2015 đến ngày 15/12/2023, cả nước tinh giản biên chế 84.140 người.

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong vấn đề này. Đó là nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng "Bộ trong bộ". Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.

Thống nhất trong nhận thức và hành động

Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Một trong những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, chi cho bộ máy hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Để giảm thiểu tình trạng lãng phí, việc tinh giản bộ máy đã và đang là một trong những giải pháp quan trọng, giúp tiết kiệm ngân sách và tái phân bổ các nguồn lực cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội.

Ngoài ra, việc tinh giản bộ máy còn là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và cải thiện công tác quản lý nhà nước. Một bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp sẽ giúp các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, xử lý các vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Cũng nhờ vào sự cải cách này, quy trình cung cấp dịch vụ công đã được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian chờ đợi, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các dịch vụ của Nhà nước.

Rõ ràng, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao. Cần thấy rằng, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, không đơn giản, không phải làm một sớm, một chiều, làm một lần là xong do liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó đòi hỏi sự chặt chẽ, khoa học, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất trong nhận thức và hành động. Để cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm thắng lợi, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi”.

Quân đội tăng cường đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

Sáng 6-9, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới” (Đề án). Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Trưởng ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí: Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; đại biểu lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Ban chỉ đạo 35 Trung ương, Văn phòng Quân ủy Trung ương; thành viên Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương; lãnh đạo cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo 35 Bộ Công an, Thành ủy Hà Nội; các đồng chí Trưởng ban Chỉ đạo 35 các Đảng ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương...

Báo cáo tại hội nghị nêu rõ, 5 năm qua, Thường vụ Quân ủy Trung ương, thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát trong quá trình thực hiện Đề án. Cấp ủy, chỉ huy các cấp quán triệt, cụ thể hóa Đề án sát với tình hình thực tiễn cơ quan, đơn vị; gắn việc thực hiện mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp được xác định trong Đề án với thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, kế hoạch, hướng dẫn của Trung ương, Ban chỉ đạo 35 Trung ương, Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị, trọng tâm là Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Tổng cục Chính trị ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án và chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Đề án. Chỉ đạo các cơ quan chức năng tham mưu với Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương ban hành hướng dẫn thành lập Ban chỉ đạo 35 ở các cấp; thành lập nhóm chuyên gia, cộng tác viên Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, cộng tác viên ở các cơ quan, đơn vị, cơ quan báo chí Quân đội. Chỉ đạo ban hành gần 60 điện, công văn chỉ đạo, định hướng tư tưởng bộ đội trước một số sự kiện, vụ việc phức tạp, nhạy cảm, nổi cộm được dư luận quan tâm.

Hằng năm, Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương xây dựng kế hoạch hoạt động, làm cơ sở để Ban chỉ đạo 35 và lực lượng nòng cốt, chuyên sâu các cơ quan, đơn vị trong toàn quân xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể, triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất, hiệu quả.

Toàn quân đã quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, các nhiệm vụ và giải pháp của Đề án. Chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy, Ban chỉ đạo 35 các cơ quan, đơn vị chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, gắn việc triển khai thực hiện Đề án với thực hiện các nhiệm vụ xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu và xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, khảo sát, đánh giá kết quả; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Đề án. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng với các ban, bộ, ngành, địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện Đề án.

Ban tổ chức hội nghị nhận được gần 50 tham luận. Các tham luận và ý kiến phát biểu trực tiếp tại hội nghị đều bày tỏ sự thống nhất cao với báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Đề án; đồng thời nhấn mạnh, phân tích làm rõ những ưu điểm, kết quả tiêu biểu, bài học kinh nghiệm và một số mô hình, cách làm mới, sáng tạo, hiệu quả của toàn quân trong thực hiện Đề án; đề xuất, kiến nghị một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong thời gian tới.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thượng tướng Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh và khẳng định: Đề án ra đời đã đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp thiết của thực tiễn. Với những kết quả đạt được sau 5 năm thực hiện Đề án, nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp về nhiệm vụ này ngày càng đầy đủ hơn; chất lượng, hiệu quả thực hiện trong toàn quân ngày càng được nâng lên; khẳng định Quân đội là lực lượng đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đánh giá cao.

Đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam chỉ đạo những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần tiếp tục thực hiện trong thời gian tới, nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, các cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Tại hội nghị, Ban tổ chức công bố quyết định và trao thưởng tặng 100 tập thể, 94 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Đề án; 15 tập thể và 120 tác giả, nhóm tác giả có thành tích xuất sắc trong tham gia Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ tư, năm 2024 cấp toàn quân.

Sưu tầm

Không để cơ quan Nhà nước là "vùng trú ẩn an toàn" cho cán bộ yếu kém

 


Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết Bộ Chính trị đã có chủ trương tạm dừng việc bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử giữ chức vụ cao hơn đối với các cơ quan, đơn vị thuộc diện dự kiến phải sắp xếp, tinh gọn.

Học tập tấm gương mẫu mực, sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

 Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn là việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thể hiện năng lực tư duy khoa học, sáng tạo và phẩm chất đạo đức, phong cách, lối sống thanh cao của một danh nhân văn hóa kiệt xuất nhưng lại rất gần gũi với cuộc sống, công việc hàng ngày, ai cũng có thể học tập, làm theo được. Theo Người, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ là một yêu cầu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, là điều kiện bắt buộc trong thực thi đời sống mới mà còn là một phẩm chất đạo đức cần phải có của người cách mạng. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh dùng để huấn luyện lớp cán bộ cách mạng đầu tiên, Hồ Chí Minh đã chỉ ra tư cách của người cách mệnh: tự mình phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, ít lòng ham muốn vật chất... Trong nhiều bài viết và nói sau này, Người đều đề cập đến bốn đức quan trọng là cần, kiệm, liêm, chính. Theo Người, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí”(1).

Tấm gương mẫu mực Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí biểu hiện xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Rất nhiều câu chuyện được kể lại từ những người được sống và làm việc cùng Bác đã minh chứng cho nhân cách của vị lãnh tụ “một đời thanh bạch, chẳng vàng son”, “nâng niu tất cả, chỉ quên mình”: Trong kháng chiến chống Pháp, Bác cũng sinh hoạt như anh em bảo vệ, ăn chung với mọi người… Trời rét (...), chỉ đắp chiếc chăn cũ nhuộm nâu, quần áo của Bác đều nhuộm nâu. Bác tự đánh máy (...). Văn phòng Trung ương cử một đồng chí sang giúp Bác đánh máy, Bác phê bình là lãng phí(2). Chỉ khi sắp sang Pháp, vào cuối tháng 5/1946, Bác mới may thêm một bộ dạ đen, cũng cùng một kiểu với bộ kaki vẫn mặc. Hành lý của một vị Chủ tịch nước sang đàm phán về việc sống còn của dân tộc với Chính phủ Pháp, xếp không đầy một vali khổ nhỡ. Ngoài mấy bộ quần áo nói trên, có một đôi giầy da. Không có bác sĩ đi theo để săn sóc Bác dọc đường. Đồ dùng riêng của Bác là cái đồng hồ cũ kỹ(3).

Đồng chí Việt Phương, nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhớ mãi về một chi tiết trong đời sống hàng ngày của Bác: Đó là bất kỳ cái gì có tí lãng phí cũng quyết không để lãng phí nhưng đã cần thì dùng cho đủ mức cần. Tháng 2/1969, Bác muốn đi thăm rừng quốc gia Cúc Phương. Một số đồng chí lãnh đạo giới thiệu ở đó có nhiều cái hay. Anh em xin Bác đi máy bay lên thẳng cho đỡ mệt nhưng Bác không chịu và nói rằng: “Các chú cho hễ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước thì đi đâu muốn dùng phương tiện gì thì dùng à? Không phải thế đâu. Để Bác khỏe lên, Bác đi ô tô đến thăm rừng Cúc Phương (...). Máy bay lên thẳng, để khi nào có người của chúng ta bị tai nạn hoặc bị đau nặng ở vùng hẻo lánh khó chạy chữa thì dùng máy bay lên thẳng đón về nơi trung tâm có bệnh viện lớn. Hoặc lúc nào nước sông lên to, mùa bão cần đi hộ đê thì lấy máy bay lên thẳng mà dùng. Chứ không phải bất kỳ đi đâu, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước cứ dùng máy bay lên thẳng mà đi”. Bác nhất định như vậy và vì thế ý muốn của Bác là đi thăm rừng Cúc Phương cuối cùng Bác không thực hiện được. Nhưng thà thế chứ Bác không dùng máy bay lên thẳng(4).

Đồng chí Lê Hữu Lập, nguyên cán bộ văn phòng Bác kể lại: “Bác Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác bên d­ưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất. Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu, tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai, Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đ­ưa cho tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: “Làm gì mà chú phải khổ sở thế!”. Bác giản dị nhưng đàng hoàng. Trời nóng ngồi làm việc một mình với chúng tôi có thể Bác mặc áo may ô, quần cộc, nhưng đi ra ngoài dù kaki, quần áo nâu cũng phải phẳng phiu. Không chỉ một lần Bác phê bình đồng chí cán bộ cao cấp ra chỗ tiếp khách không ăn mặc chỉnh tề, tuy đồng chí này không phải nhân vật chủ chốt”(5).

Cả một đời vì nước, vì dân, tất cả những gì Bác tiết kiệm trong cuộc sống cá nhân đều là để dành phục vụ tổ chức, đoàn thể, cách mạng. Đồng bào trong nước và các bạn nước ngoài tặng Bác nhiều vải lụa tốt, nhưng Bác không cho may mà dùng để làm tặng phẩm cho đồng bào và chiến sĩ có thành tích trong kháng chiến. Với sách cũng vậy, dù Bác nhận được rất nhiều sách của các tác giả, các nhà xuất bản gửi biếu, sách của những cá nhân và tổ chức nước ngoài gửi tặng qua Bộ Ngoại giao hoặc các đoàn của ta đi công tác mang về... nhưng Bác không có thư viện riêng. Sách báo đọc xong, Bác thường gửi tới các nơi cần sử dụng. Những sách báo cần làm tư liệu, Bác giữ lại, nhưng sử dụng xong Bác cũng gửi đi tới các nơi cần sử dụng. Bác có một cuốn sổ tiết kiệm (đứng tên đồng chí Lê Hữu Lập) gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại sau khi trừ mọi chi tiêu sinh hoạt và tiền nhuận bút mà Bác viết bài cho báo Nhân dân. Bác thường dùng tiền tiết kiệm làm quà tặng trong những dịp cần thiết (như có dịp đi công tác về, Bác thấy bộ đội phòng không trực chiến dư­ới ánh nắng chói chang của mùa hè, Bác đã chỉ thị rút số tiền tiết kiệm trong sổ trao cho Bộ Quốc phòng làm quà tặng bộ đội phòng không để có thêm nước giải khát). Dịp Bác đi nước ngoài dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền và Bác đã dặn thư ký Vũ Kỳ nhập số tiền đó vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung chứ không để vào sổ tiết kiệm của Người.

Trong tình hình kinh tế và chính trị của dân ta hồi đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh hoạt bình thường như cán bộ và nhân dân chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng của Bác, một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân. Sự giản dị ấy, phong thái ung dung ấy kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản, có sức thu hút mạnh mẽ trái tim mọi người và khiến cho Bác càng trở nên vĩ đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm, tích cực chống lãng phí để xây dựng đất nước, xây dựng CNXH. Người luôn nhấn mạnh đến vấn đề này tại mỗi hội nghị, mỗi đại hội, mỗi kỳ họp Quốc hội và nhiều bài nói, bài viết khác. Trong bài Quốc hội ta vĩ đại thật (Báo Nhân dân, số 2304, ngày 10/7/1960) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu Quốc hội để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân là phải: “- Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; - Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội; - Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô”. Người còn viết nhiều tài liệu để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân, yêu cầu trong mọi hành động, mọi lĩnh vực và mỗi người đều phải tiết kiệm, chống lãng phí. Bác lưu ý đặc biệt việc phải triệt để tiết kiệm của công vì đó là mồ hôi, công sức của dân, xương máu của bộ đội, chiến sĩ. Với viên chức tại các công sở, Bác yêu cầu: “phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công(6). Với bộ đội, Bác căn dặn rất cụ thể về việc giữ gìn, bảo vệ chiến lợi phẩm bởi đó cũng là của công, của nhân dân, của quốc gia, không phải của địch; chiến sĩ ta phải đổ máu mới lấy lại được cho nên “Không được phung phí, hoặc chiếm làm của riêng cá nhân, khi canh gác phải biết thu dọn cho ngăn nắp, và che mưa nắng cho chu đáo”(7). Bác còn chỉ dẫn các cấp chỉ huy trong quân đội: “Không tiêu hoang phí tiền riêng của các chú cũng chưa phải là Kiệm. Các chú còn phải biết tiết kiệm của công, dạy cho bộ đội biết tiết kiệm của công, thì mới thật là Kiệm. Các chú không lấy của công làm của tư, không lấy chiến lợi phẩm về cho gia đình bè bạn mới chỉ là Liêm một nửa. Các chú phải dạy cho bộ đội và khuyến khích nhân dân không lấy của công, không lấy chiến lợi phẩm làm của riêng mới thật là Liêm”(8). Với thanh niên là những chủ nhân tương lai của nước nhà, Bác đặt ra yêu cầu không chỉ giáo dục cho họ về vấn đề tiết kiệm, chống lãng phí mà còn phải rèn luyện tạo thành thói quen trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Từ tháng 2/1955, trong bài viết “Bảo vệ tài sản công”, Bác đã căn dặn: “Các ngành giáo dục cần phải bồi dưỡng cho thanh niên thói quen tiết kiệm, bảo vệ của chung; chống lãng phí xa hoa, xem khinh lao động” . Với chị em phụ nữ Việt Nam vốn có tính cách tốt đẹp là cần cù, chịu khó, biết lo toan, Bác khuyến khích chị em hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Với cán bộ ngành ngoại giao, Bác căn dặn những điều cần chú ý: “Cán bộ ngoại giao ta ra ngoài phải có hình thức làm sao cho gọn ghẽ, sạch sẽ, nhưng không được lãng phí, xa hoa. Tr­ường hợp làm tiệc mặn, song nếu ta làm được tiệc trà thay vào là tốt nhất. Ta không thể đua với người được. Người giàu có, còn ta thì nghèo. Chính vì vậy, phải hết sức tiết kiệm. Ngoại giao càng phải tiết kiệm”(9). Trong Thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp lễ Nôen 1953, Bác kêu gọi đồng bào công giáo tham gia kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Bác khẳng định đó cũng chính là “làm trọn chính sách của Chính phủ cũng là làm trọn tinh thần của Chúa Cơ đốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều bài báo biểu dương trực tiếp các cá nhân, tập thể kiểu mẫu, gương mẫu, điển hình trong sản xuất và tiết kiệm, chống lãng phí như trong bài báo Một làng tiến đến kiểu mẫu (Báo Cứu quốc số 2141, ngày 12/8/1952) Người đã làm thơ ca ngợi gương của làng Thọ Xuân (Thanh Hóa):“Phân công hợp lý cả làng/ Sản xuất tiết kiệm rõ ràng thi đua/ Một mùa gặt bằng hai mùa/ Dân no, nước mạnh tha hồ đánh Tây”; bài báo Công nhân gương mẫu và gương mẫu của công nhân (Báo Nhân dân, số 247, ngày 27/10/1954) ca ngợi các cá nhân và tập thể công nhân các nhà máy Gia Lâm, nhà máy điện Bờ Hồ trong thực hiện cần kiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; bài báo Gương tốt của thanh niên Lỗ Khê (Báo Nhân dân, số 3582, ngày 18/1/1964) với kế hoạch Tết tươi vui và tiết kiệm, tạo phong trào thi đua cho các chi đoàn Hà Nội và nhiều tỉnh khác… Bởi theo quan niệm của Người, một tấm gương sống, một điển hình thực tế và sinh động có giá trị thuyết phục hơn nhiều lần những bài diễn văn tuyên truyền. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức kêu gọi nhân dân cần kiệm mà mình lười biếng, sống xa xỉ, lãng phí thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích.

Cùng với tuyên truyền, kêu gọi thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bản thân Người luôn gương mẫu cho cán bộ, đảng viên, nhân dân làm theo. Những ngày đầu vừa thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trước nạn đói đang trầm trọng, trên tinh thần “sẻ cơm nhường áo”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với đồng bào cả nước và bản thân Người đã gương mẫu thực hiện trước: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(10). Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác kể lại: Nhân dân ta lúc đó dù còn nhiều khó khăn nhưng Cụ Hồ đã kêu gọi thì từ Nam chí Bắc đều hưởng ứng nhiệt liệt. Bởi, không phải Cụ Hồ chỉ kêu gọi mà chính Cụ Hồ đã làm, đã thực hiện và là người thực hiện đầu tiên... Nhớ hồi đó có nhiều thư từ khắp nơi gửi đến, có thư của các cụ già, của phụ nữ, của cả các cháu thiếu nhi... gửi đến Chính phủ, đến Cụ Hồ, đề nghị Bác đừng nhịn ăn. Cảm động hơn có nhiều người xin nhịn thêm để thay phần cho Bác. Nhưng câu trả lời là: “Tôi là người nêu ra, tôi phải làm gương mẫu”(11). Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được hàng vạn tấn gạo cứu đói. Phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh, diện tích trồng lúa và hoa màu tăng lên, nạn đói đã sớm được khắc phục.

Tấm gương đạo đức sống trong sạch, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là mẫu mực cho mọi người Việt Nam học tập, làm theo mà còn được báo chí nước ngoài, bạn bè quốc tế nhiều lần nhắc đến, mến phục. Học giả Trung Quốc Cốc Nguyên Dương nhận xét: “Suốt đời, Người luôn luôn gìn giữ đạo đức cao đẹp “cần kiệm liêm chính” và “chí công vô tư”, dùng 8 chữ đó để giáo dục cán bộ và nhân dân”(12). Đồng chí Gian-nét Véc-mét Tô-rê, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp viết: “Người sống trong một căn nhà nhỏ đơn sơ, trong đó chỉ có một cái giường con, và một chiếc bàn làm việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mặc chiếc áo khoác ngoài cũ, đi đôi dép cao su làm bằng lốp ô tô, không có gì hơn thế. Giữa bạn bè người ta không biết lấy gì biếu Chủ tịch mà hình như Chủ tịch cũng không cần điều gì khác hơn là sự ủng hộ chính nghĩa đối với Việt Nam”(13). Nhà báo Pháp Phơ-răng-xoa Phông-vi-ây An-ki-ê ca ngợi: “Vinh quang đến tột đỉnh, nhưng con người Cụ vẫn như trước kia, nghĩa là vẫn ghét xa hoa, hào nhoáng, vẫn giản dị về ăn mặc cũng như trong tác phong sinh hoạt. Khi Cụ để cho các em học sinh vuốt râu mình lúc đến thăm trường, hoặc khi Cụ đi đôi dép bằng lốp cao su, thì đều không có chút gì là mị dân hoặc giả tạo cả”(14). Như vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà mang ý nghĩa rất cao đẹp.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiết kiệm không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước, mà còn từ tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết. Điều này không chỉ cần thiết trong thời kỳ đất nước còn trong chiến tranh, mà còn có giá trị thực tiễn đối với giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn được Ðảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chỉ đạo, là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, xuyên suốt từ chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện, nhằm quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế cho phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã góp phần đưa công cuộc đổi mới đạt những thành tựu vĩ đại; đạt và vượt hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, lãng phí còn diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều dạng thức khác nhau, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển. Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã coi lãng phí là một căn bệnh - “bệnh lãng phí”, nếu không có những giải pháp đồng bộ phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả sẽ gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát triển. Mới đây, trong bài viết Chống lãng phí, Tổng bí thư Tô Lâm cũng chỉ ra thực trạng lãng phí đã và đang còn tồn tại ở nước ta, thậm chí là tồn tại dai dẳng, không chỉ khiến mất đi tài sản công, lãng phí nguồn lực quốc gia, thu hẹp những cơ hội phát triển mà đau xót hơn là gây mất lòng tin trong nhân dân đối với Đảng cầm quyền.

Việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí vào thực tiễn để đưa ra giải pháp phù hợp đối với mỗi tổ chức, đơn vị trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những giải pháp để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người nhấn mạnh, muốn đánh thắng nó, phải có chuẩn bị thật chu đáo, có kế hoạch, có tổ chức, có lãnh đạo và điều quan trọng là phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ trung kiên làm nòng cốt để chống. Người phản đối việc bố trí những người đã “nhúng chàm” làm nhiệm vụ chống tham ô, lãng phí, quan liêu, vì làm như vậy, thực chất là “nối giáo cho giặc”. Theo quan điểm, tư tưởng của Người, các bước cần tiến hành để trừ khử tham ô, lãng phí, quan liêu là:

Một là, phải làm tốt công tác tư tưởng, làm cho mọi người hiểu tham ô, lãng phí, quan liêu có hại cho dân, cho nước như thế nào và vì sao phải chống những nạn ấy? Phải kiên quyết sửa chữa những nhận thức không đúng về chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Để có thể tiết kiệm, chống lãng phí, cán bộ, đảng viên cũng cần rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc từ đó tạo ra sự tin tưởng, đồng thuận trong dân, tạo ảnh hưởng tích cực đến công tác xây dựng và phát triển đất nước.

Hai là, phải nghiên cứu để có lý luận chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nghiên cứu kỹ và vận dụng tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu; phải sửa đổi lối làm việc; nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình. Đặc biệt, đối với cán bộ cao cấp phải “thật thà tự kiểm thảo để làm gương mẫu”; phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Phải kiên quyết “nhổ cỏ” và khi đã nhổ thì phải nhổ tận gốc rễ.

Ba là, phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, nâng cao trình độ quản lý kinh tế - tài chính; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để tạo kẽ hở cho bọn tham ô, lãng phí, quan liêu đục khoét. Trong cuộc đấu tranh này, phải dựa vào nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, huy động lực lượng quần chúng tham gia. “Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”.

Bốn là, phải có phương pháp giữ gìn tiền bạc, phải thực hành một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt, nhất là tiết kiệm trong chi tiêu ở các cơ quan hành chính, giảm thiểu việc họp hành nếu xét thấy nó không cần thiết.

Năm là, trong công cuộc đấu tranh chống lãng phí, các cơ quan thanh tra nhà nước đóng vai trò rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “các ban thanh tra phải chú ý kiểm tra chống lãng phí, tham ô. Phát hiện ra những việc lãng phí, tham ô, chẳng những cần báo cáo với Trung ương và Chính phủ biết và giải quyết mà còn giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra những biện pháp để tích cực chống lãng phí, tham ô”. Như vậy, thanh tra, kiểm tra không những để phát hiện vi phạm, phát hiện lãng phí để xử lý. Quan trọng hơn, qua kiểm tra, các cơ quan thanh tra nhà nước tìm hiểu nguyên nhân, tìm ra biện pháp chống lãng phí, từ đó, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với bản thân các cơ quan là đối tượng thanh tra, kiểm tra để có các giải pháp hữu hiệu nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có hiệu quả.

Cuộc đấu tranh chống lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong cuộc chiến với thứ “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp này, cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên và người lao động, trước hết là sự nêu gương của người đứng đầu tại từng cơ quan, tổ chức, cá nhân khu vực công, khu vực tư để từ đó “tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tự nguyện, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, văn hóa ứng xử trong thời đại mới” như Tổng bí thư Tô Lâm đã kêu gọi./.
 

Phòng, chống xâm phạm An ninh quốc gia trên không gian mạng

Không gian mạng là mạng lưới kết nối toàn cầu của các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm internet, hệ thống máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, là môi trường đặc biệt mà con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng thế mạnh của không gian mạng để triển khai các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia (ANQG) nước ta.

Chúng triệt để lợi dụng các kênh truyền hình trên internet, trang web và mạng xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo, tạo cớ để bên ngoài can thiệp nội bộ nước ta.

Chúng còn lợi dụng công nghệ để cắt dán, trích dẫn sai lệch các hình ảnh, tài liệu nhằm làm cho nhân dân và cộng đồng quốc tế hiểu không đúng về chính sách, pháp luật của Nhà nước ta và các thành tựu đã đạt được trong việc xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội, qua đó hòng xuyên tạc tình hình thực tế trong nước. Điển hình như năm 2022, tổ chức phản động Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) đã tổ chức Diễn đàn trực tuyến với chủ đề “Hội luận về Thiên Chúa giáo ở vùng Tây Nguyên - thách đố và triển vọng” nhằm xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, kích động hận thù, vận động người dân trong nước tham gia diễn đàn, kêu gọi quốc tế gây sức ép yêu cầu Nhà nước Việt Nam “cải thiện tự do tôn giáo, tín ngưỡng”.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 3.000 trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và gần 100 hội, nhóm trên mạng xã hội Facebook thường xuyên đăng tải thông tin chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, kích động gây rối an ninh, trật tự, kích động biểu tình, bạo loạn, thực hiện “cách mạng màu”,“cách mạng đường phố”...

Bên cạnh đó, các tổ chức và lực lượng phản động, thù địch lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động gián điệp, thu thập tin tức chống Việt Nam thông qua việc tung ra những phần mềm chứa các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn, các ứng dụng miễn phí trên điện thoại. Chúng sử dụng kỹ thuật hiện đại lợi dụng lỗ hổng bảo mật để xâm nhập chiếm đoạt bí mật nhà nước, lấy cắp phát minh, sáng chế nhằm gây thiệt hại cho kinh tế nước ta.

Chúng còn lợi dụng internet, mạng xã hội để chia sẻ công cụ, cách thức, thủ đoạn phạm tội hoặc làm lây nhiễm virus, phần mềm gián điệp, mã tin học độc hại... nhằm phá hoại kinh tế, cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế lớn của nước ta. Theo cơ quan chức năng, tính từ đầu năm 2023 đến nay, đã có hơn 13.750 cuộc tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam gây ra sự cố nghiêm trọng. Riêng trong quý I-2024, các cơ quan chức năng đã phát hiện 32.265 nguy cơ tấn công mạng nhằm vào các mạng công nghệ thông tin trọng yếu của các cơ quan Đảng, Chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2023.

Nghiêm trọng hơn, chúng lợi dụng internet, mạng xã hội để kích động, lôi kéo người dân tham gia hoạt động chống phá an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta; đồng thời, móc nối, cấu kết với cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất, số có tư tưởng "cấp tiến" là lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành để mua chuộc, lôi kéo hình thành tổ chức phản động. 

Dưới chiêu bài “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước”, chúng âm mưu hình thành, phát triển “xã hội dân sự” và các tổ chức chính trị-xã hội, hội nhóm bất hợp pháp như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“ Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”... Thông qua internet, mạng xã hội, các đối tượng bên ngoài và trong nước cấu kết, móc nối với nhau để lôi kéo, mua chuộc người tham gia tổ chức phản động. Trong đó, bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; số đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thành lập tổ chức, hội nhóm, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài xuyên tạc; điển hình như các tổ chức phản động: "Việt Tân", "Tuổi trẻ yêu nước"... 

Cùng với đó, cũng phải thấy một thực tế là, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động xâm phạm ANQG trên không gian mạng, thời gian qua, công tác này còn tồn tại những khó khăn, hạn chế nhất định. Đó là công tác quản lý công nghệ viễn thông, bảo mật thông tin nội bộ của không ít cơ quan nhà nước, cá nhân tại Việt Nam còn sơ hở, chưa được bảo mật tốt. Hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực quản lý mạng xã hội, internet và đấu tranh, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trong quá trình đồng bộ để đáp ứng tình hình thực tế. Công tác tuyên truyền, định hướng thông tin và đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch vẫn có lúc thụ động, thiếu sắc bén.

Lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm lợi dụng internet, mạng xã hội còn mỏng; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật còn khó khăn. Trong khi đó, tội phạm lợi dụng internet, mạng xã hội là những đối tượng có nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và liên tục thay đổi phương thức hoạt động trên phạm vi hoạt động rộng, đặc biệt là từ nước ngoài, gây khó khăn trong phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn.   

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG nước ta trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục chủ động tăng cường công tác nắm tình hình, nghiên cứu dự báo, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, đặc biệt là phương thức hoạt động mới của các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để chống phá nước ta; chú trọng nắm tình hình từ xa, nắm tình hình ngay từ trung tâm phá hoại tư tưởng ở bên ngoài để triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Chủ động xây dựng hệ thống thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng có khả năng chỉ huy, kết nối, chia sẻ thông tin, tiếp nhận và xử lý sớm các thông tin gây hại tới không gian mạng quốc gia. 

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG nước ta, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị. Làm cho cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên thấy rõ tính hai mặt của không gian mạng; có khả năng nhận diện và “miễn dịch” với các nội dung thông tin xấu, độc, nguy hại đối với xã hội; kịp thời tố giác hành vi lôi kéo người dân vào các hoạt động vi phạm pháp luật thông qua không gian mạng.

Xây dựng ý thức và phong cách văn hóa khi tham gia mạng xã hội, internet; không đăng tải hoặc để lộ, lọt thông tin, tài liệu liên quan đến bí mật nhà nước. Phát huy hơn nữa lợi thế của internet, mạng xã hội trong việc cập nhật thường xuyên các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những thành tựu đã đạt được trong xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.  

Ba là, phát huy vai trò của Ban chỉ đạo An toàn, an ninh mạng quốc gia, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia trong việc tham mưu với Đảng, Nhà nước chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương hướng dẫn cán bộ, đảng viên và người dân cùng tham gia công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp chung trong công tác phòng, chống hoạt động xâm phạm ANQG trên không gian mạng. 

Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG có phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh nhuệ, hiện đại, có trình độ chuyên môn sắc bén trong điều tra, khám phá âm mưu, hoạt động lợi dụng không gian mạng để chống phá nước ta. Tiếp tục đầu tư, trang bị các trang thiết bị nghiệp vụ chuyên dụng và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động này. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng. 

Năm là, tăng cường, mở rộng hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế có trình độ phát triển cao về công nghệ thông tin và an ninh mạng để trao đổi kinh nghiệm trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống hoạt động vi phạm pháp luật trên lĩnh vực này; tranh thủ tiếp thu công nghệ mới và hợp tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng làm công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nước ta. 

Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về viễn thông, truyền thông, internet, bảo vệ bí mật nhà nước và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này. Nghiên cứu sử dụng các giải pháp công nghệ thông tin để ngăn chặn triệt để những tin tức xấu, độc trên các trang mạng, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung độc hại./.

Sưu tầm

Thủ đoạn xuyên tạc việc củng cố lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở

Ngày 1/7 vừa qua, các địa phương trên cả nước đồng loạt tổ chức lễ ra mắt lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự (ANTT) ở cơ sở. Đây là dấu mốc quan trọng khẳng định địa vị pháp lý, vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Tuy nhiên, nhiều đối tượng xấu đã cố tình tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc, hướng lái tiêu cực nhằm kích động sự hoài nghi, mâu thuẫn trong xã hội xung quanh việc thành lập lực lượng này.

Ngay từ giai đoạn xây dựng dự thảo luật, lấy ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân cũng như quá trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết thông qua Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã liên tục tung ra các luận điệu xuyên tạc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của lực lượng này đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Đến nay, khi luật chính thức có hiệu lực, những giọng điệu độc hại, sai trái vẫn tiếp tục được một số báo đài nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng những phần tử xấu trong, ngoài nước tung ra. Họ tung ra những luận điệu như: “lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là gánh nặng cho người dân”, “mục đích thành lập lực lượng này là nhằm đàn áp nhân dân”, “việc gia tăng lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở có sở là để quản lý người dân, doanh nghiệp và chính đảng viên để có thể trừng trị bất cứ khi nào”, “lập thêm lực lượng để bòn rút nhân dân”…

Thâm hiểm hơn, bằng những suy luận phiến diện, phi logic, các đối tượng xấu đã công kích, gây chia rẽ mối quan hệ giữa lực lượng Công an và Quân đội bằng giọng điệu như “gia tăng lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở để Công an chuẩn bị đấu với Quân đội”! Ngày 26/6, trang Facebook “Chân Trời Mới media” của tổ chức khủng bố Việt Tân đăng tải bài viết có nội dung xuyên tạc Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, cho rằng từ ngày 1/7/2024, Bộ Công an sẽ ngày càng phình to ra và “luật này ban hành là để trói buộc, gò ép người dân”!

Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là một trong những lực lượng quần chúng, được bố trí ở thôn, tổ dân phố, làm nòng cốt hỗ trợ Công an cấp xã, giúp UBND cùng cấp trong bảo vệ ANTT và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Theo quy định của pháp luật, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở có 6 nhóm nhiệm vụ gồm: hỗ trợ nắm tình hình về ANTT; hỗ trợ xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; hỗ trợ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; hỗ trợ quản lý hành chính về trật tự xã hội; hỗ trợ vận động, giáo dục người đã có hành vi vi phạm pháp luật đang cư trú tại cơ sở; hỗ trợ tuần tra bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT khi được điều động.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Đặc biệt, pháp luật nghiêm cấm hành vi lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở cơ sở để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhũng nhiễu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Thực tế cho thấy, những vụ việc, hiện tượng liên quan đến ANTT phần lớn đều xảy ra tại các địa bàn cơ sở, xuất phát từ cơ sở, do đó công tác bảo đảm ANTT ở cơ sở được xác định là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, cấp bách, là nhiệm vụ tất yếu của đất nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở không phải là lực lượng được ra đời mới hoàn toàn. Về mặt bản chất, đây là sự điều chỉnh lại các lực lượng, chức danh đã được thành lập, hoạt động ở địa bàn cơ sở từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, bao gồm Công an xã bán chuyên trách, bảo vệ dân phố và các chức danh đội trưởng, đội phó dân phòng. Thực tế cho thấy, lực lượng này góp phần quan trọng trong đấu tranh làm thất bại các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ bình yên của Tổ quốc. Bởi vậy, để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh từ thực tiễn, việc thống nhất các lực lượng kể trên thành lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Do đó, không hề có chuyện “chính quyền gia tăng lực lượng để đàn áp người dân” như luận điệu độc hại mà các đối tượng xấu tung ra.

Trong mối quan hệ giữa lực lượng Công an và Quân đội, những năm qua, các đối tượng xấu luôn tìm đủ mọi cách để kích động hòng tạo mâu thuẫn, hiểu lầm, gây chia rẽ giữa hai lực lượng. Lợi dụng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở chính thức có hiệu lực, một lần nữa chúng lại “tát nước theo mưa”, xuyên tạc về sự “đấu đá” giữa Công an và Quân đội. Phải khẳng định rõ, Công an và Quân đội là hai lực lượng có chức năng, nhiệm vụ được quy định rõ ràng theo Hiến pháp và các luật liên quan. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hai lực lượng này luôn phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định rõ: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là Quân đội để đánh giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hoà bình. Lúc chiến tranh thì Quân đội đánh giặc, lúc hoà bình thì tập luyện. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc…”. Với vai trò là các cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, cả Quân đội và Công an đều nỗ lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, qua đó tạo môi trường hòa bình, ổn định để đất nước ngày càng phát triển.

Tình hình trong nước thời gian qua cho thấy, mặc dù an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững nhưng nước ta vẫn phải đối diện với nhiều nguy cơ, thách thức tiềm ẩn, đe doạ đến sự ổn định và phát triển. Đặc biệt, các thế lực thù địch luôn thực hiện các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, tập hợp lực lượng, kích động chống phá ngay từ cơ sở. Trên thực tế, một số tình huống phức tạp nảy sinh ở một số địa bàn, cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng và chưa phát huy hết vai trò của lực lượng bảo vệ ANTT tại cơ sở. Để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy”, việc giữ vững ANTT ở địa bàn cơ sơ đóng vai trò then chốt. Bởi vậy, chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo, kịp thời nhận diện, đầu tranh với các âm mưu, ý đồ, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, thấy rõ vị trí, vai trò của lực lượng bảo vệ ANTT tại cơ sở trong tình hình mới.

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và đồng thời cũng là quyền cao quý của mỗi công dân. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã nhận thức rõ sự nghiệp cách mạng mà Đảng khởi xướng, lãnh đạo chỉ có thể thành công nếu phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc. Vì vậy, cùng với việc xây dựng lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, Đảng, Nhà nước ta cũng luôn quan tâm, chú trọng đến việc phát huy vai trò, sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân. Suy cho cùng, mục đích của việc thành lập lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở chính là để huy động sức mạnh nhân dân tham gia giữ gìn ANTT, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Sưu tầm

Bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận lịch sử hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Thêu dệt để xuyên tạc những sự kiện lịch sử nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kích động xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những hình thức mà các thế lực thù địch thường sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam. Nhận diện, đấu tranh bác bỏ thủ đoạn này là yêu cầu cấp bách trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Lịch sử là những điều đã qua, nhưng luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Đối với mỗi chủ thể khác nhau, lịch sử bao gồm cả những thành công và hạn chế, thậm chí là thất bại. Có nhiều góc nhìn về lịch sử, song về nguyên tắc, xem xét, đánh giá lịch sử phải công bằng, khách quan, không được tô hồng, bôi đen, định kiến, chủ quan. Cho đến nay, nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển là sự khái quát cao nhất, khoa học nhất để xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng nói chung và lịch sử nói riêng. Mọi sự xa rời hoặc không tuân thủ nguyên tắc này khi xem xét, đánh giá lịch sử sẽ không tránh khỏi sai lầm. Điển hình như việc các thế lực thù địch xuyên tạc về cơ sở hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin; lấy sự kiện sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu để quy chụp cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác – Lênin; xuyên tạc lịch sử hình thành, nội dung, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. Đây là những luận điểm hết sức sai lầm về mặt khoa học và phản động về chính trị và những luận giải dưới đây sẽ làm rõ tính chất phản động của nó.

Trước hết, về cơ sở sự hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị viện cớ: thời gian hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin từ giữa, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là quá lâu và quá cũ rồi nên đã hết giá trị khoa học, ý nghĩa hiện thực. Rằng, chủ nghĩa Mác chỉ đúng, phù hợp với điều kiện lịch sử ở châu Âu, thế kỷ XIX, nay đã lạc hậu; chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp ở một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thời đại ngày nay; chỉ đúng với phương Tây, không đúng với phương Đông,... (!). Đây chính là biểu hiện cố tình tách rời, thậm chí là đối lập giữa C.Mác và Ph.Ăngghen với V.I.Lênin, trong khi tư tưởng của các ông là thống nhất ở bản chất cách mạng, khoa học, cho dù có sự khác nhau ở một số nội dung, quan điểm cụ thể.

Về mặt khoa học, nếu chỉ lấy yếu tố thời gian hình thành, phát triển sớm hay muộn của một học thuyết, một tư tưởng để phán xét giá trị của nó là không khách quan, thậm chí hoàn toàn sai lầm. Bởi, trong thực tế có những học thuyết, tư tưởng vừa mới ra đời đã lạc hậu, không còn giá trị đối với xã hội. Ngược lại, có những lý luận, định đề, định lý của khoa học tự nhiên hay tư tưởng mang tính nhân đạo, nhân văn của nhân loại ra đời trước chủ nghĩa Mác - Lênin rất lâu, như: tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái xuất hiện vào thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV - XVI) ở phương Tây đến nay vẫn được nghiên cứu, thừa nhận như một tín hiệu mới, có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển của xã hội. Do đó, không thể chỉ căn cứ vào yếu tố thời gian để chủ quan phán xét về giá trị của một học thuyết, mà phải xem xét trên cơ sở khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển của sự vật, hiện tượng. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác - Lênin với tính chất của một học thuyết dẫn đường đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; là nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản tập trung nhất ở phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư,… đã, đang chứng minh sức sống và giá trị bền vững thì sự xuyên tạc về lịch sử hình thành, phát triển cũng như sự phù hợp của học thuyết này là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Không những thế, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở; là sự định hướng về thế giới quan, phương pháp luận khoa học chung cho cả nhân loại, chứ không riêng cho quốc gia nào,... cho nên không thể nói rằng nó chỉ đúng với phương Tây, không đúng với phương Đông như các luận điệu xuyên tạc. Điều đó càng cho thấy, việc lấy yếu tố thời gian cũng như sự phù hợp với nơi này, không phù hợp với nơi khác,... để phủ nhận giá trị khoa học, bản chất cách mạng một học thuyết chỉ là cái cớ hòng thực hiện mưu đồ chống phá nền tảng tư tưởng, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội.

Hai là, không thể lấy sự kiện sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu (thập niên cuối thế kỷ XX) để quy chụp cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta đều biết, sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một sự thật lịch sử vô cùng đáng tiếc sau bao nhiêu năm dày công vun đắp. Tuy nhiên, đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa cụ thể, với những nguyên nhân xác đáng chứ không phải là sụp đổ của một học thuyết cách mạng và khoa học như chủ nghĩa Mác - Lênin và càng không phải là sự chấm dứt lịch sử phát triển của nhân loại đi lên chủ nghĩa xã hội theo tiến trình lịch sử - tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội. Thế nhưng các thế lực thù địch lại vin vào sự kiện này để quy chụp rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin đã không có giá trị, sức sống; chủ nghĩa xã hội chỉ là “quái thai” của lịch sử hoặc chỉ tồn tại trong tư tưởng, không có tính hiện thực; C.Mác và Ph.Ăngghen sáng tạo ra lý luận đấu tranh giai cấp để quăng lên vai những người lao động sứ mệnh tàn sát lẫn nhau; thậm chí, họ còn biện hộ cho chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao nhất của lịch sử nhân loại, v.v. Toàn bộ những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cả trong lịch sử và hiện nay, dù diễn đạt dưới bất cứ hình thức nào, chung quy lại vẫn là đổ lỗi cho các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó, họ rêu rao rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; kiên định với mục tiêu chủ nghĩa xã hội là không thức thời, lầm đường, lạc lối, đi vào ngõ cụt và trước sau cũng sụp đổ (!).

Đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chúng ta khẳng định rằng: sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là sự phản ánh bước phát triển quanh co, phức tạp của lịch sử chứ không phải là sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội với tính chất là xu hướng phát triển chung của nhân loại. Đó chỉ là sụp đổ của một mô hình bị rơi vào xơ cứng, giáo điều, không sinh động ở những thập niên cuối thế kỷ XX. Trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật thì mô hình ấy đáng phải sụp đổ để tư tưởng các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là khoa học, cách mạng. Bởi, xơ cứng, giáo điều là kẻ thù số một của phép biện chứng duy vật. Sự sụp đổ đó không phải do lỗi của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, vì họ đã chỉ ra lý luận của mình chỉ là định hướng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và khi vận dụng vào thực tiễn phải sáng tạo, cụ thể. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu từ sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga đến thập niên 70 của thế kỷ XX đã thu được những thành tựu kỳ diệu, mà nhân loại không thể phủ nhận. Đáng tiếc là sau đó, Đảng Cộng sản ở các nước đó không tuân thủ những nguyên tắc căn bản trong xây dựng đảng, bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, đặc biệt là bọn cơ hội xét lại trỗi dậy, lũng đoạn bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Vì vậy, việc đổ lỗi do sai lầm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là không tôn trọng lịch sử, thể hiện rõ mưu đồ của các thế lực thù địch là chống phá cách mạng, mà trực tiếp nhất là chống phá Đảng Cộng sản. Và, thật nực cười khi họ lại suy diễn một cách cơ học, siêu hình như vậy, trong khi lẽ ra phải khẳng định rằng, mặc dù Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu, Liên Xô xa rời, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin dẫn đến sụp đổ, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là một biểu tượng sáng ngời về tính kiên định, sự trung thành mới phải.

Ba là, về sự xuyên tạc lịch sử hình thành, nội dung, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhiều vấn đề, nhưng tựu trung lại là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó đã vượt lên trên tất cả các tư tưởng đương thời trong nước lúc bấy giờ, thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin ở bản chất khoa học, cách mạng; đồng thời, mang sắc thái riêng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, khẳng định vị trí, định hướng tư tưởng cho lịch sử phát triển ở Việt Nam. Kết quả lịch sử hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa cách mạng nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Với tầm vóc to lớn về tính cách mạng và giá trị khoa học như thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1991) đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ấy vậy mà, các thế lực thù địch lại xuyên tạc một cách trắng trợn rằng, giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ có khác biệt, không có sự thống nhất. Họ thường sử dụng thủ đoạn: cường điệu hóa tính dân tộc trong tư tưởng của Người để tách biệt, đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tỏ vẻ ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh rất khách quan, nhưng thực chất là hạ thấp uy tín, tầm ảnh hưởng của Người ở trong nước và quốc tế; không nghiên cứu kỹ hoặc cố tình không hiểu bản chất, cốt lõi tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. Thâm hiểm hơn, họ còn vu khống rằng: Hồ Chí Minh đã đưa tư tưởng đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vào Việt Nam để Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành các cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn; nồi da, nấu thịt”; họ cho rằng không nhất thiết phải tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng mà vẫn có thể có độc lập dân tộc. Đây là một sự phỉ báng lịch sử, nhằm phủ nhận những cống hiến, hy sinh xương máu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta. Họ cũng không hiểu hay cố tình không hiểu rằng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và độc lập theo kiểu tư sản trái ngược nhau về nội dung, bản chất, giá trị tiến bộ. Hiện thực minh chứng: mặc dù nhiều nước đã có độc lập tư sản mà không phải tiến hành chiến tranh, nhưng thực chất vẫn không có độc lập dân tộc theo đúng nghĩa của nó. Sự độc lập đó vẫn làm cho các đảng phái chính trị trong nước thường xuyên tranh giành quyền lực, gây bất ổn chính trị, thậm chí là đảo chính, xung đột vũ trang, tổn thất rất nhiều xương máu của quần chúng nhân dân và ở chừng mực nào đó, vẫn bị lệ thuộc vào các nước đế quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”1.

Từ những phân tích trên cho thấy, bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận lịch sử của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề mang tính thường xuyên, cấp bách hiện nay. Cùng với đó, cần không ngừng nắm vững và vận dụng sáng tạo, phù hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Xây dựng đời sống tinh thần xã hội với tính đồng thuận cao, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.

Bộ Quốc phòng khai mạc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 7 năm 2024

 Chiều 1/12, Bộ Quốc phòng tổ chức khai mạc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 7 năm 2024. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dự, chỉ đạo và phát biểu khai mạc diễn tập.

Lãnh đạo Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo diễn tập có Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập.

Tham dự, chỉ đạo diễn tập còn có các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập; Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập; Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập.

Cùng dự và chỉ đạo diễn tập có Trung tướng Trương Thiên Tô, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập.

Dự diễn tập có lãnh đạo các tổng cục, các cơ quan Bộ Quốc phòng; đại biểu lãnh đạo các quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn, học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng…

Cuộc diễn tập tiến hành từ ngày 1 đến ngày 4/12, với sự tham gia của các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang và địa phương trên địa bàn Quân khu 7 và nhiều quân chủng, binh chủng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Cuộc diễn tập được tiến hành qua 3 giai đoạn: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị tác chiến phòng thủ và thực hành tác chiến phòng thủ với 7 vấn đề huấn luyện cơ bản.

Cuộc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 7 là hoạt động quân sự quy mô lớn nhằm kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn; nâng cao khả năng xử trí tình huống tác chiến thực tế, ứng dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại; rèn luyện kỷ luật và tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội; làm cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị huấn luyện, diễn tập sát với yêu cầu nhiệm vụ…

Phát biểu khai mạc diễn tập, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh: Tác chiến phòng thủ quân khu có vị trí rất quan trọng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc dựa trên nền tảng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được xây dựng và chuẩn bị thời bình. Hoạt động tác chiến phòng thủ quân khu có tính tổng hợp cao do quân khu tổ chức với sự tham gia của quân và dân trên địa bàn quân khu, lấy lực lượng vũ trang quân khu làm nòng cốt và các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng đứng chân trên địa bàn quân khu, tạo thành thế trận phòng thủ trên từng hướng chiến lược của đất nước, trên chiến trường đã được xác định trong quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.

Diễn tập tác chiến phòng thủ quân khu là một hình thức huấn luyện tổng hợp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy, điều hành, khả năng tham mưu hiệp đồng tác chiến của các cấp, các lực lượng tham gia diễn tập và trình độ, sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn quân khu; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh quyết tâm, kế hoạch tác chiến; đồng thời làm cơ sở nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự phù hợp với địa hình, địa bàn, đối tượng tác chiến, cách đánh và tổ chức biên chế, yêu cầu của nhiệm vụ Quân đội trong thời kỳ mới…

Để cuộc diễn tập thành công tốt đẹp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lưu ý: Ban Chỉ đạo, cơ quan Ban Chỉ đạo điều hành diễn tập chặt chẽ, đạt mục đích, yêu cầu đề ra; theo dõi, chỉ đạo thực hiện đúng nội dung theo kế hoạch; kịp thời rút kinh nghiệm để chỉ đạo các cuộc diễn tập tiếp theo với yêu cầu ngày càng cao; tiếp tục làm rõ đối tượng, quy mô, lực lượng, phương tiện, âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn Quân khu trong tương lai. Thông qua diễn tập điều chỉnh, bổ sung quyết tâm tác chiến sát yêu cầu thực tiễn.

Công tác lãnh đạo, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ với các lực lượng của Bộ trên địa bàn và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao; chủ động phương án sử dụng lực lượng đối phó với chiến tranh hiện đại.

Đối với các đồng chí đạo diễn vừa làm nhiệm vụ, vừa phải theo dõi khung tập, thực hiện đúng yêu cầu đặt ra. Đây cũng là quá trình tích lũy, học tập để cùng rút kinh nghiệm.

Đối với đơn vị diễn tập phải chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, quy định của Ban Chỉ đạo; giữ mối quan hệ đoàn kết tốt với các cơ quan, đơn vị và chính quyền, nhân dân địa phương trên địa bàn; vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tế để giải quyết tốt các vấn đề đặt ra, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong diễn tập.

Đối với lực lượng phục vụ, bảo đảm phải chấp hành nghiêm quy định bảo mật, giữ gìn an ninh, an toàn, phục vụ với tinh thần trách nhiệm cao nhất, đúng kế hoạch của Ban Chỉ đạo...

Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu, quá trình diễn tập, các cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân chấp hành nghiêm quy định bảo mật, tuyệt đối không để lộ lọt thông tin, vi phạm quy định về bí mật quân sự… góp phần vào thành công của cuộc diễn tập.

 

 

Thiếu tướng Hoàng Sâm trong ký ức gia đình và người thân

 

Thiếu tướng Hoàng Sâm là Đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Hoàng Sâm là một vị tướng tài năng, huyền thoại với nhiều chiến công, từng đảm nhiệm trọng trách quan trọng như: Khu trưởng Liên khu 2, Liên khu 3 thời kháng chiến chống thực dân Pháp; Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Quân khu Hữu Ngạn, Quân khu 3 và Quân khu Trị - Thiên thời kháng chiến chống Mỹ.

Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Hoàng Sâm gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua hơn 40 năm hoạt động cách mạng, Thiếu tướng Hoàng Sâm có nhiều kinh nghiệm và đóng góp quan trọng với cách mạng Việt Nam. Từ trải nghiệm sâu sắc thực tiễn chiến trường và trước những yêu cầu mới đặt ra, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã viết nhiều bài báo, tài liệu huấn luyện quân sự giàu tính thực tiễn và lý luận có giá trị cho đến ngày nay.

Mới đây, tại Hội thảo khoa học: “Thiếu tướng Hoàng Sâm - Người Cộng sản kiên trung, nhà chỉ huy quân sự tài năng, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình” do Tỉnh ủy Quảng Bình tổ chức, đã khẳng định, làm rõ về cuộc đời hoạt động, những cống hiến to lớn của Thiếu tướng Hoàng Sâm với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc. Tri ân, tôn vinh công lao, phẩm chất, đạo đức cao đẹp của Thiếu tướng Hoàng Sâm; khơi dậy lòng tự hào dân tộc và học tập tấm gương sáng về tài năng, đức độ, cùng những tình cảm thiêng liêng, cao quý mà ông dành cho quê hương, đất nước, qua đó góp phần vào công tác giáo dục truyền thống, xây dựng và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Trong quá trình thu thập tài liệu phục vụ Hội thảo, chúng tôi đã liên hệ với gia đình Thiếu tướng Hoàng Sâm để chia sẻ, lắng nghe và nhận tài liệu về cuộc đời, sự nghiệp của ông. Trong ký ức của gia đình và người thân, nhất là bà Phan Thị Lệ - Phu nhân của Thiếu tướng Hoàng Sâm và các con ông, hình ảnh Thiếu tướng Hoàng Sâm, người chồng, người cha kính yêu luôn hiện lên với những dấu ấn sâu đậm về lòng dũng cảm, sự hy sinh và tình yêu thương vô bờ bến dành cho gia đình.

Điều này thể hiện thật rõ nét qua bức thư tay gửi về cho vợ và các con từ nơi chiến trường ác liệt chỉ một tháng trước ngày ông hy sinh và những lần ghé thăm ngắn ngủi cùng vợ và các con ăn bữa cơm đầm ấm như bao gia đình khác. Bức thư của ông là một bức tranh sống động và chân thật nhất về tình cảm gia đình giữa chiến tranh khốc liệt, đặc biệt là sự gắn bó, yêu thương và nỗi niềm của một người vợ xa chồng, người cha xa con. 

“Lan yêu quý của bố,

Bố đã nhận được thư của con viết từ hồi đầu tháng 8/68 đến nay là tháng 11/68 bố mới viết thư trả lời và báo tin cho con hay: Từ khi bố vào đến nay vẫn được mạnh khỏe như thường, bố đi đường vừa đi xe ô tô, vừa đi bộ mất tròn một tháng thì vào đến vị trí nhiệm vụ, suốt dọc đường đi mọi điều đều tốt lành, tuy có bị ném bom cách 300m, 500m. Vừa đến nơi, ngày hôm sau đế quốc Mỹ liền cho máy bay đến chào đón bố bằng mấy chục quả bom, cách hơn 10m cũng chẳng ai việc gì cả. Nói bom đạn thì trong này chẳng có thiếu, nhưng bom đạn nó cũng tránh người, chứ nó không phải là nam châm với sắt thép! Còn nói về bọn đế quốc Mỹ và tay sai thì thật là dã man, tàn bạo: Giết người moi gan xào ăn, đốt nhà, đốt làng rồi quẳng trẻ con vào lửa, bắt nhân dân tập trung lại cả ông già, bà lão, trẻ thơ rồi xả súng bắn chết hàng mấy chục người một lúc, những sự việc này thường xảy ra. Còn ruộng lúa, hoa màu cây cối đều bị phá trụi, rải chất độc hóa học xuống nữa, thật là thương tâm, mà cũng thật là căm thù. Do đó, bộ đội phải đánh Mỹ và chư hầu để cứu nhân dân, nhân dân tích cực cương quyết đánh Mỹ và chư hầu để mà sống, không còn con đường nào khác, tất cả tập trung đánh đế quốc Mỹ và bọn tay sai, cũng vì vậy mà quân và dân miền Nam liên tục chiến thắng đế quốc Mỹ và tay sai. Và như vậy cũng thấy được rằng: Sự chịu đựng gian khổ, hy sinh của quân và dân miền Nam cũng vô bờ bến, sự kiên cường dũng cảm cũng không thể đo lường được, không thể kể cho hết được. 

Bố biết tin con mạnh khỏe, chuẩn bị tháng 11/68 này đi học, bố rất mừng, con phải cố gắng học tập, rèn luyện, vì làm thuốc phải tỷ mỉ, cẩn trọng, tránh cẩu thả, sơ suất, nếu cẩu thả sơ suất, không thận trọng tỷ mỉ thì chết người đấy! Muốn vậy phải đề cao tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, đối với người; từ việc nhỏ đến việc lớn đều phải tỷ mỉ: viết phải đẹp và rõ ràng, nếu không thì nhầm lẫn cũng chết người, cân đong pha chế phải đúng cân đúng lạng, cẩu thả sơ suất cũng sẽ chết người v.v., con còn phải chú ý hơn là đói cho sạch, rách cho thơm, ăn ở phải sạch sẽ gọn gàng, ăn nói dịu dàng, cần cù chịu khó, thì mọi người kính mến, nếu không chú ý thì người ta khinh ghét con ạ! Con lại phải luôn viết thư cho mẹ, cho em, báo rõ tình hình và khuyên các em chăm học, chơi ngoan, con nhớ rằng con có trách nhiệm bổn phận là người con cả trong nhà, là người chị cả trong nhà đấy! Hơn nữa con phải chú ý giữ gìn sức khỏe, tập tành rèn luyện tạo cho mình một tập quán tốt. 

Bố đi công tác xa, có gian khổ nhưng bố rất phấn khởi, chỉ lo cho các con còn nhỏ, chưa đứa nào tự lập được, giờ có mẹ con ở nhà một mình lại càng buồn, vì vậy mà các con phải hết sức cố gắng chăm chỉ học tập, để cho mẹ con vui con ạ. Bố mạnh khỏe luôn các con cứ yên tâm học hành cho tốt.

Chúc con mạnh khỏe, học tập tiến bộ về mọi mặt. Viết thư cho bố thì gửi về cho mẹ để nhờ Quân khu chuyển giúp mới đến tay bố được.

Ngày 11/11/68

Bố Hải”

Đây là bức thư từ nơi chiến trường ác liệt chỉ một tháng trước ngày ông hy sinh. Chia sẻ với chúng tôi, Ông Hoàng Sùng cho biết: Trong ký ức chúng tôi, hình ảnh bố Hoàng Sâm luôn hiện lên với những dấu ấn sâu đậm về lòng dũng cảm, sự hy sinh, và tình yêu thương dành cho gia đình. Bức thư của bố là một bức tranh sống động và chân thật nhất về tình cảm gia đình giữa chiến tranh khốc liệt, đặc biệt là sự gắn bó, yêu thương và nỗi niềm của một người cha xa con. Tình cảm ấy không chỉ thể hiện qua sự quan tâm chăm sóc, mà còn mang đậm tính trách nhiệm, những bài học về đạo đức và tình yêu nước, truyền tải những ý nghĩa vượt thời gian. 

Mùa Đông cuối năm 1968, ông hy sinh, do điều kiện chiến tranh chờ đợi gần một tháng thì mới đưa được ra đến Hà Nội. Ngày 1-2-1969, tang lễ đồng chí Hoàng Sâm được cử hành trọng thể tại Hà Nội. Tại đây, lễ truy điệu được tổ chức long trọng, gia đình và cơ quan có mặt đầy đủ để tiễn biệt ông về nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

Sau khi ông mất, Bà Phan Thị Lệ - Phu nhân của ông viết một bài thơ đầy cảm xúc tưởng nhớ người Chồng yêu dấu:

Vẫn mái nhà xưa anh đi đâu?

Na, cam… ra quả đượm muôn sầu.

Ơn người chăm sóc không còn nữa?

Quả trĩu trên cành nặng nghĩa sâu.

 

Giàn lý, giàn nho, nọ cây đào!

Nhớ anh trước gió lá rì rào.

Phi lao thẳng tắp vi vu mãi…

Mát rượi mong anh tự hôm nao. 

 

Nhìn cá lội bơi lúc xế chiều

Thương anh mơ ước biết bao nhiêu

Trở về ta nấu nồi riêu cá

Chan húp mát lòng bên con yêu.

 

Anh ra đi rồi theo tổ tiên

Nhà xưa vắng vẻ cảnh triền miên

Hương thơm tỏa khói bao quanh ảnh

Hồn nhắn vợ con sống nhẫn kiên.

 

Cỏ đã mọc xanh trên mộ rồi!

Thương anh ngồi khóc lệ tuôn rơi.

Tình riêng nhỏ bé bên non nước,

Khắc phục lâu dài nỗi đầy vơi…

 

Ước mơ tổ quốc được thanh bình

Con cháu tự do sống quang vinh

Nghĩa cả quên mình anh không tiếc

Ngàn thu yên nghỉ dạ đinh ninh…

(Hà Đông, tháng 1/1969)

Những dòng tâm sự tự đáy lòng trong hội thảo, những nỗi nhớ sâu thẳm từ người thân, gia đình của Thiếu tướng Hoàng Sâm, những khẳng định đầy thuyết phục của các tham luận trong hội thảo một lần nữa khẳng định: Với 54 tuổi đời, hơn 40 năm hoạt động cách mạng, Thiếu tướng Hoàng Sâm luôn tỏ rõ là chiến sĩ cộng sản kiên trung của Đảng, nhà chỉ huy quân sự tài năng của Quân đội, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình. Đồng chí đã có đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, được Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Thiếu tướng Hoàng Sâm là tấm gương sáng cho các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập, noi theo.