Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội

 


Khẳng định hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội với tư cách là một xã hội mới, tiến bộ hơn chủ nghĩa tư bản, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trước hết, việc quản lý công nghiệp và tất cả các ngành sản xuất nói chung sẽ không còn nằm trong tay của cá nhân riêng lẻ cạnh tranh với nhau nữa. Trái lại, tất cả các ngành sản xuất sẽ do toàn thể xã hội quản lý,... Do đó, chế độ tư hữu cũng phải được thủ tiêu và phải được thay bằng việc sử dụng chung tất cả mọi công cụ sản xuất và việc phân phối sản phẩm theo sự thỏa thuận chung,... Thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội; việc cải tạo này là kết quả tất yếu của sự phát triển của công nghiệp. Cho nên, những người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề ra việc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình”[1]. Kế thừa và bổ sung phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí. Và nếu quần chúng lao động đang xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không biết đem ứng dụng những cơ quan của mình cho phù hợp với những phương thức hoạt động của đại công nghiệp cơ khí, thì không thể nói đến việc thiết lập chủ nghĩa xã hội được”[2]. Trên cơ sở luận chứng một cách khoa học về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp hiện đại.

Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.

Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.

Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 467.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 193.

Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội

 


Trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định, sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là kết quả tất yếu của sự phủ định biện chứng hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, do sự vận động, phát triển của các quy luật khách quan chi phối, mà trước hết và chủ yếu là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn về kinh tế và chính trị - xã hội trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện và được phân chia thành các thời kỳ và các giai đoạn khác nhau. Dựa trên cơ sở khoa học, chủ nghĩa Mác - Lênin phân chia hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa thành một thời kỳ (thời kỳ quá độ) và hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (Chủ nghĩa xã hội); giai đoạn cao (Chủ nghĩa cộng sản).

Chủ nghĩa xã hội, theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, là kết quả trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tương ứng bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội tồn tại và phát triển lên chủ nghĩa cộng sản.

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam và cán bộ quân sự cơ sở trong thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, một tổ chức công cụ bạo lực của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân vũ trang và lực lượng chính trị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, để bảo vệ những thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta đã giành được; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Do đó, việc chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt để hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ của mình là một vấn đề quan trọng thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Nhất là trong tình hình mới hiện nay, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bưc hiện đại, một s quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đốì trung thành với Tổ quốc, vi Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống[1]. Thực hiện tốt việc tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng trong Quân đội. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhất là trước âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa hòng “phi chính trị hóa Quân đội”. Trước thực tiễn đó, Quân đội ta cần phải phát huy tốt vai trò chức năng của mình hơn bao giờ hết để góp phần thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Cán bộ quân sự xã, phường là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng ở cơ sở. Với chức năng tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, quân sự, đồng thời cũng là người trực tiếp tổ chức thực hiện công tác này góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở. Đào tạo đội ngũ cán bộ cán bộ quân sự xã, phường trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở có năng lực, trình độ chuyên môn tương đương sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên; trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước từ trung cấp trở lên là bước tiến quan trọng trong xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, là chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về công tác quân sự, quốc phòng, có ý nghĩa quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự xã, phường vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bảo đảm là lực lượng chính trị tin cậy của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân ở cơ sở.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 157 - 158.

Sự vận dụng lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam


Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đã tạo nên những thắng lợi vĩ đại trong các giai đoạn cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định phải tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[1]. Với đường lối cách mạng đúng đắn, giai cấp công nhân Việt Nam thông qua chính đảng của mình đã lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh dấu thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam thực hiện chiến lược vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đã lập lên kỳ tích bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp, Miền Bắc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuyển lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thống nhất đất nước.

Sự vận dụng tài tình lý luận cách mạng không ngừng của Đảng ta trong giai đoạn 1954 đến 1975 là lãnh đạo hai miền Nam, Bắc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, đó là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc.

Sau thắng lợi năm 1975, đất nước ta được giải phóng hoàn toàn, giang sơn thu về một mối. Đảng ta vẫn kiên định và thể hiện rõ sự trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin, xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, đó là thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, bối cảnh trong nước và quốc tế đang đặt ra những thời cơ, thách thức mới, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, giải quyết tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân ta; để hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất; góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, quân đội thường xuyên làm tốt công tác giáo dục cho các quân nhân thấy rõ tính đúng đắn, những khó khăn, thuận lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những giai đoạn tiếp theo. Đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng sai trái phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn. Mỗi quân nhân phải ra sức tu dưỡng phẩm chất đạo đức, năng lực để sẵn sàng nhận và hoàn thành cương vị, chức trách được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong mọi tình huống. Thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở nơi đóng quân, giúp đỡ nhân dân địa phương hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ. Chú trọng xây dựng quân đội theo phương hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 2. 

Lời Bác dạy

Khi phải đương đầu với kẻ địch hung ác, một dân tộc dù bé nhỏ, nếu luôn luôn cảnh giác, đoàn kết nhất trí, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh, thì cuối cùng nhất định thắng lợi”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Ủng hộ Cuba chống đế quốc Mỹ”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3175, ra ngày 04 tháng 12 năm 1962.

 Đây là thời điểm nhân dân Cuba vừa giành được nền độc lập và tuyên bố xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chịu sự bao vây, chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ hòng ngăn chặn, xóa bỏ tiền đồn chủ nghĩa xã hội ở Tây bán cầu. Lời của Bác như một chân lý, một lời hiệu triệu, cổ vũ động viên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Cuba hãy tin tưởng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội và dù là một dân tộc nhỏ bé, nhưng nếu luôn cảnh giác, đoàn kết nhất trí, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh, thì cuối cùng nhất định thắng lợi.

Từ thực tiễn của cách mạng Việt Nam, với thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đã chứng minh một chân lý của thời đại: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nhưng luôn có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định sẽ đánh bại bất kỳ kẻ thù xâm lược nào... Tiếp đó, thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta lại một lần nữa tiếp tục khẳng định và làm sáng tỏ hơn chân lý trên.

Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Gần 60 năm đã trôi qua, lời của Bác đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần cổ vũ động viên các dân tộc dũng cảm, kiên cường giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc; lạc quan, tin tưởng thực hiện thắng lợi công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Thực hiện lời dạy của Bác, Quân đội ta phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc, là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; kiên trì xây dựng, phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với quân đội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội cần nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận thức sâu sắc đối tượng, đối tác của cách mạng, đối tượng tác chiến của quân đội trong thời kỳ mới; ra sức thi đua huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Sưu tầm

Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin


Khi giai cấp tư sản đang lên và còn giữ vai trò là giai cấp trung tâm của thời đại, quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tư tưởng cách mạng không ngừng là phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo vừa mang tính liên tục vừa mang tính giai đoạn và diễn ra không ngừng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội này là lời tuyên bố cách mạng không ngừng, là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xoá bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung, xoá bỏ tất cả những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó, để đi đến cải biến tất cả những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó”1. Ở những nước mà giai cấp công nhân chỉ chiếm số ít trong dân cư thì trước hết cùng với giai cấp tư sản làm cách mạng dân chủ tư sản triệt để, rồi ngay sau đó tiến hành cách mạng vô sản, thực hiện xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Điều kiện để giai cấp công nhân thực hiện đường lối cách mạng không ngừng theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen là phải giữ vững tính độc lập về tư tưởng, liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác.

Khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản hết vai trò tiến bộ, quan điểm của V.I.Lênin về tư tưởng cách mạng không ngừng trong quá trình cách mạng dân chủ  tư sản: giai cấp công nhân phải nắm lấy quyền lãnh đạo cách mạng dân chủ tư sản (tức cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới) sau đó chuyển lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, giữa hai cuộc cách mạng đó không có bức tường nào ngăn cách.

V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng cách mạng không ngừng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong hoàn cảnh lịch sử mới, vào những năm cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc ngày càng bộc lộ bản chất phản động, hiếu chiến, xâm lược những nước lạc hậu, biến thành thuộc địa của chúng. Giai cấp tư sản tỏ ra có tư tưởng thoả hiệp, cấu kết với giai cấp phong kiến, không muốn thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng dân chủ tư sản và tìm mọi cách để ngăn chặn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Trong phong trào công nhân đã xuất hiện tư tưởng cơ hội muốn phủ nhận tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác. V.I.Lênin phân tích sâu sắc tình hình nước Nga trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho thấy, là một nước tư bản trung bình nhưng là một khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc. Sự hội tụ đầy đủ những mâu thuẫn cơ bản trong lòng nước Nga, tạo tiền đề cho một cuộc cách mạng dân chủ tư sản nổ ra trong tương lai không xa.

Điều kiện để thực hiện chuyển biến từ cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, theo V.I.Lênin cần phải thực hiện ba điều kiện cơ bản. Một là, giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai là, phải tăng cường khối liên minh với giai cấp nông dân. Ba là, chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân phải chuyển sang làm nhiệm vụ của chuyên chính vô sản.

Nội dung thực chất của quy luật cách mạng không ngừng mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã chỉ ra là tính liên tục, tính giai đoạn trong quá trình thực hiện đến mục tiêu cuối cùng của cách mạng vô sản, mỗi giai đoạn có mục tiêu, phương pháp cách mạng khác nhau.

Cách mạng không ngừng là đặc trưng của cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, vì mục đích cuối cùng của giai cấp công nhân là xoá bỏ giai cấp chứ không phải thay xã hội có giai cấp này bằng xã hội có giai cấp khác. Sau khi giành được chính quyền, nếu giai cấp công nhân không tiến hành đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội đến cùng thì không thể giữ được quyền lãnh đạo chính trị và chính quyền sẽ rơi vào tay giai cấp khác.

Quá trình cách mạng của giai cấp công nhân diễn ra liên tục nhưng lại được chia ra thành những giai đoạn cụ thể, các giai đoạn đó có mối quan hệ chặt chẽ và tạo ra tiền đề để thực hiện mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ giai cấp. Bởi lẽ, mỗi giai đoạn cách mạng giai cấp công nhân phải đấu tranh thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng khác nhau. Cho nên, không nên hiểu cách mạng không ngừng chỉ theo nghĩa bất chấp điều kiện lịch sử cụ thể, cứ tiến thẳng mà không có những khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trong mỗi giai đoạn cách mạng.

Tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phản ánh có tính quy luật trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, vừa là vấn đề mang tính chiến lược và sách lược trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân. Lý luận cách mạng không ngừng luôn mang ý nghĩa mới, có những nội dung cụ thể trong những điều kiện lịch sử mới. Cho nên, tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở phương pháp luận để các đảng cộng sản vận dụng vào điều kiện cụ thể nước mình, để mỗi giai đoạn cách mạng định ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 126. 

“Việc to cũng như việc nhỏ. Đảng và Chính phủ ta đều lo phục vụ lợi ích của nhân dân”.

Việc to cũng như việc nhỏ. Đảng và Chính phủ ta đều lo phục vụ lợi ích của nhân dân”.

Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Cần phải nâng cao chất lượng hàng hóa”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3176, ra ngày 05 tháng 12 năm 1962.

Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm không ngừng phát triển kinh tế - xã hội để trở thành hậu phương lớn chi viện cho chiến trường miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai ngụy quân, ngụy quyền giành thắng lợi, thống nhất đất nước.

Là người sáng sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc; Chính phủ là của dân, do dân và vì dân. Do vậy, Đảng và Chính phủ phải tôn chỉ mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc, phục vụ nhân dân từ việc to cho đến việc nhỏ. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai mục đích hoạt động của Đảng ta, của Chính phủ ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, thể hiện sâu sắc, đúng đắn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền tự Trung ương đến cơ sở. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng và Nhà nước ta luôn hành động đúng tôn chỉ, mục đích, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và của dân tộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thấm nhuần lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với nhân dân, không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... Cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn thấm nhuần và thực hiện đúng điều Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt; với bộ đội, cán bộ các cấp luôn thân thiết như người chị, công bình như người anh, hiểu biết như người bạn, đồng cam, cộng khổ, chi ngọt, sẻ bùi với bộ đội trên tình thương yêu đồng chí, lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí.

Sưu tầm

Phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giành và giữ chính quyền

 


Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định rõ bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng nhân dân, có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu giành và giữ chính quyền. Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp, của dân tộc, cần sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”[1]. Việc chúng ta sử dụng bạo lực cách mạng là một đòi hỏi tất yếu để chống lại bạo lực phản cách mạng, hoàn toàn không phải là đam mê hay là sùng bái bạo lực. Thực tế cho thấy, xuất phát từ phía kẻ thù, do đó mà buộc chúng ta phải “phê phán” chúng bằng vũ khí, để giải phóng và tự khẳng định mình. 

Về hình thức của bạo lực cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tuỳ tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”[2]. Như vậy, việc sử dụng bạo lực cách mạng không đơn thuần chỉ là sử dụng lực lượng quân sự và đấu tranh quân sự mà phải biết kết hợp nó với lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp mới có thể giành thắng lợi cho cách mạng. Tuy nhiên, tuỳ theo tình hình cụ thể và so sánh lực lượng trong từng giai đoạn, từng địa bàn mà sử dụng lực lượng, hình thức nào là chủ yếu. 

Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, xuất phát từ thực tế so sánh lực lượng, cục diện trên chiến trường sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam, tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ 21 đề ra phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao và tiếp tục khẳng định: Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Đến tháng 3 năm 1974, Quân uỷ Trung ương họp để quán triệt và bàn việc thực hiện cụ thể về mặt quân sự Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng. Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương được Bộ Chính trị thông qua đã xác định: Cách mạng Việt Nam có thể trải qua nhiều bước quá độ và chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đúng đắn của Đảng về bạo lực cách mạng, chúng ta đã huy động được đến mức cao nhất sức mạnh của quần chúng nhân dân và các lực lượng vũ trang để áp đảo kẻ thù. Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, chúng ta coi trọng việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng. Thực tiễn trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho thấy, lực lượng chính trị của quần chúng được tổ chức, xây dựng đã thật sự trở thành một đội quân chính trị, lực lượng tiến công có sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù. Cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong đó có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã thể hiện bước phát triển cao nhất sự kết hợp giữa tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân địa phương tạo thành sức mạnh tổng hợp đập tan sự phản kháng của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; làm ngời sáng lên giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 391.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 391.

Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng và hợp lý, do quần chúng nhân dân xây dựng nên.


Các dân tộc trong nư­­ớc đều bình đẳng, miền núi đ­ược giúp đỡ tiến kịp miền xuôi; luôn đoàn kết hữu nghị với các dân tộc trên thế giới. Thực hiện công bằng xã hội nhằm mang lại một xã hội tốt đẹp cho tất cả mọi người là mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[1]. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[2].

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh của quần chúng nhân dân và tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động. Người trích lại câu nói của V.I.Lênin: “Lênin nói: Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên”[3], từ đó Người khẳng định: “Đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta[4]. Theo Người, chủ nghĩa xã hội không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể, ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất cho hợp tác xã, tăng thu nhập cho xã viên, tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm. Và chính nhân dân là chủ thể, là động lực của sự nghiệp vĩ đại đó.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 404.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 628.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 568.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 609. 

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực l­­ượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về t­­ư liệu sản xuất chủ yếu; phát triển cao về văn hóa, đạo đức.

 


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công - nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành mà những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó công nghiệp và nông nghiệp là như hai chân của nền kinh tế nước nhà[1].

Trong chủ nghĩa xã hội, ng­­ười với người là bạn, là đồng chí, anh em; con ng­­ười đư­ợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất, tinh thần phong phú, đ­­ược tạo điều kiện để phát triển hết mọi khả năng sẵn có của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là mục tiêu cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng, phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu… Phương châm Phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. Phải nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân[2]. Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là vì con người, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng cao, có điều kiện toàn diện. Người chỉ rõ: “Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc[3].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 191.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 265.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 92.

Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do nhân dân lao động làm chủ.

 


Nhà n­ước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động tính tích cực, sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng đất n­­ước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là mục tiêu chính trị của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước có hai chức năng: Dân chủ với nhân dân phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân[1], bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân[2]. Người chỉ rõ con đường và biện pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 457.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 232.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội luôn thể hiện tính thống nhất biện chứng giữa các nhân tố: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và đạo đức. Theo Người, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[1].

Theo cách tiếp cận riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều quan niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Tiếp cận theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Người đặt câu hỏi:Chủ nghĩa xã hội là gì”[2] và trả lời: “Chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học hành, ốm đau có thuốc”[3]. Tiếp cận theo các mặt của xã hội: Về phân phối sản phẩm: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con[4]. Về lĩnh vực chính trị: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có người bóc lột người”[5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm tổng quát: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[6]. Tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện rõ cả về lý luận và thực tiễn, một xã hội phát triển hài hòa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, vì con người.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 438.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 399.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 437.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 390.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 453.

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 415.

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng giai cấp công nhân.

 


Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[1]. Rà soát, bổ sung, sủa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và đời sống vật chất, tinh thần; tập trung trước hết vào những chính sách liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời sống của công nhân. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân tương xứng với năng suất lao động và những đóng góp của công nhân. Nhà nước có chính sách đầu tư cho các tỉnh, thành phố để xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta yêu cầu: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế”[2]. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp công nhân. Khẩn trương xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa công nhân; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản xuất kinh doanh xuất thân từ công nhân; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân...



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.