Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - CHÌA KHÓA CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, xuyên suốt nhiều nhiệm kỳ. Cũng nhờ đó, mà nền trưởng kinh tế luôn giữ tốc độ trên 6% mỗi năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 70%.

 

 

 

Tuy nhiên, để đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn cần một quyết tâm cao, nỗ lực lớn và cả các giải pháp mang tính đột phá.

 

 

 

Đây là lý do Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" - một Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Đầu tháng 2 năm nay, Tập đoàn Samsung đã đầu tư thêm gần 1 tỷ USD để mở rộng hoạt động sản xuất của Nhà máy tại Thái Nguyên. Như vậy, đến nay tổng vốn đầu tư của tập đoàn này vào Việt Nam đã lên hơn 19 tỷ USD.

 

 

 

Không chỉ Samsung, nhiều tập đoàn lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang tiếp tục chọn Việt Nam là để mở rộng đầu tư đưa Việt Nam trở thành 1 trung tâm sản xuất mới nổi của toàn cầu.

 

 

 

Hiện Việt Nam là 1 trong 20 nước thu hút dòng vốn FDI lớn nhất thế giới vào các ngành sản xuất và dịch vụ. Riêng khu vực này đang đóng góp đến hơn 20% GDP và chiếm tới hơn 70% giá trị xuất khẩu.

 

 

 

Doanh nghiệp FDI phát triển sẽ là tiền đề để cho các khu vực doanh nghiệp khác phát triển. Tuy nhiên điều này dường như vẫn chưa đúng với Việt Nam.

 

 

 

Hiện ở nước ta khu vực kinh tế tư nhân đang chiếm tỉ trọng khoảng 40% GDP và 85% lực lượng lao động nhưng lại chưa thực sự trở thành một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

 

 

 

Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa đủ điều kiện để tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu và chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI. Do lạc hậu về công nghệ, chất lượng nhân lực thấp và không đồng đều, hạn chế về năng lực quản trị, nên kết quả là hiện chỉ có khoảng 1/5 doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia một số chuỗi giá trị toàn cầu và chỉ 14% thành công trong việc liên kết với đối tác nước ngoài.

 

 

 

Thực trạng này, cũng đã được đưa ra để thảo luận tại Hội nghị lần thứ 6 khi Trung ương thảo luận về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, Trung ương cũng chỉ rõ, nội lực của nền kinh tế nước ta còn yếu, năng lực độc lập, tự chủ còn thấp và phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, công nghiệp phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp và chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

 

 

 

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ

 

 

 

Thời gian qua, khoa học, công nghệ đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp trên 30% tổng giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ tăng từ 26% năm 2010 lên trên 40% trong những năm gần đây.

 

 

 

Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn còn nhiều điều kiện hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực, trình độ khoa học công nghệ. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp trong nước còn thấp.

 

 

 

Bên cạnh phát huy nội lực về khoa học, công nghệ, một tư duy mới của Đảng đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị về "Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư". Nếu theo tư duy cũ chỉ dựa vào năng lực nội sinh thì chắc chắn Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn về công nghệ so với khu vực và thế giới. Chính vì thế, cần có chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài.

 

 

 

10 năm qua, tăng trưởng kinh tế nước bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 72,7% năm 2020.

 

 

 

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thực hiện được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Các đột phá chiến lược chưa có sự bứt phá. Nội lực của nền kinh tế còn yếu và quá trình đô thị hóa cũng chưa đồng bộ, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với công nghiệp hoá, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới.

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, nhất quán, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong suốt những năm Đổi mới. Mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đánh giá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội ngày càng dựa nhiều hơn vào sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

 

 

 

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ: Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

 

 

 

Phấn đấu đến 2030, Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Xây dựng được nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn. Còn đến 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu Châu Á.

 

 

 

Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 2011 đề ra nhiệm vụ: "Đến giữa thế kỷ 21, xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội XIII cũng phấn đấu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao", đến năm 2045 "Trở thành nước phát triển, thu nhập cao".

 

 

 

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ là chìa khóa. Nghị quyết số 29 được ban hành sẽ là những định hướng lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở đường cho sự phát triển của đất nước trong thời gian tới.

 

 

 

Báo Điện tử VTV News

LỄ KỶ NIỆM 60 NĂM CHIẾN THẮNG BÌNH GIÃ

 Vào 19 giờ tối nay ngày 02/12/2024, tại Tượng đài Chiến thắng Bình Giã và khu vực Công viên Trung tâm hành Chính huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Bình Giã với chủ đề “60 năm bản hùng ca Chiến thắng Bình Giã”.Dự lễ kỷ niệm có lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương; Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các lão thành cách mạng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang nhân dân; nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cựu chiến binh tham gia Chiến dịch Bình Giã và tầng lớp Nhân dân.

Tại lễ kỷ niệm sẽ diễn ra chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “60 năm bản hùng ca Chiến thắng Bình Giã” gồm 3 chương: Tiếng gọi non sông; chiến thắng oai hùng; tự hào quê hương anh hùng.
Lễ kỷ niệm được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài truyền hình Việt Nam (VTV); Đài Phát thanh truyền hình tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (BRT) và trên sóng một số đài truyền hình địa phương khác./.
St

 “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG 1972”: THẮNG LỢI CỦA BẢN LĨNH VIỆT NAM!

 

 

 

Vào hồi 19 giờ 10 phút ngày 18/12/1972, hệ thống ra-đa của ta bắt được tín hiệu máy bay B-52 địch đầu tiên hướng về Hà Nội, mở đầu đòn tập kích chiến lược. 19 giờ 15 phút, Bộ Tổng tư lệnh phát lệnh báo động toàn miền Bắc. Cuộc chiến đấu chính thức bắt đầu.

 

 

 

Do phán đoán chính xác âm mưu, hành động của địch, có sự chuẩn bị sớm từ trước, quân dân ta ở Hà Nội và các địa phương bước vào chiến dịch phòng không với tinh thần chủ động, bình tĩnh, tự tin. Lúc 20 giờ 13 phút, bộ đội tên lửa của ta bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên của chiến dịch (rơi tại Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội). Tin chiến thắng lập tức được truyền đi khắp trận địa.

 

 

 

Với quyết tâm “bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái B-52, tiến đến đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của không quân Mỹ”, lực lượng phòng không của ta tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp đưa nghệ thuật tác chiến phòng không lên một bước phát triển cao. Các đơn vị rađa có nhiều sáng tạo về kỹ - chiến thuật kịp thời phát hiện cảnh báo sớm mục tiêu B-52. Bộ đội tên lửa thực hiện cách đánh trong nhiễu đạt hiệu suất cao, là lực lượng chủ yếu tiêu diệt B-52, tạo nên bất ngờ lớn đối với địch. Các đơn vị không quân tiêm kích phát huy cách đánh dũng cảm, mưu trí tiêu diệt nhiều máy bay cường kích, đồng thời bắn rơi cả máy bay B-52. Bộ đội pháo cao xạ tích cực đánh trả máy bay cường kích ném bom, bảo vệ an toàn cho trận địa tên lửa. Bộ đội địa phương, dân quân tự vệ triển khai hỏa lực chiến đấu trên địa bàn rộng lớn tạo nên hệ thống lưới lửa đánh máy bay tầm thấp rất lợi hại...

 

 

 

Ngay trong đêm đầu tiên (18/12), bộ đội ta đã lập chiến công to lớn: bắn rơi 7 máy bay địch, trong đó có 3 máy bay B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ), mở ra khả năng đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của địch. Những ngày tiếp theo, ta tiếp tục bắn rơi thêm nhiều B-52 (đêm 20/12 bắn rơi 7 chiếc; đêm 26/12 bắn rơi 8 chiếc,...) cùng các loại máy bay chiến thuật khác. Bị tổn thất nặng nề, đến sáng ngày 30/12/1972, Richard Nixon buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng, chấp nhận nối lại đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.

 

 

 

Kết quả toàn chiến dịch, ta bắn rơi 81 máy bay các loại (trong đó có 34 B-52 và 5 F-111), diệt và bắt sống nhiều phi công Mỹ. Riêng ở Thủ đô Hà Nội, ta bắn rơi 30 máy bay (trong đó có 23 B-52 và 2 F-111). Dư luận phương Tây gọi chiến thắng này là trận “Điện Biên Phủ trên không”. Lần đầu tiên trong chiến tranh, quân dân Việt Nam đã tổ chức thực hiện thành công một chiến dịch phòng không quy mô lớn, bắn rơi tại chỗ số lượng nhiều nhất máy bay B-52, tạo sự bất ngờ lớn và nỗi kinh hoàng cho phía Mỹ, đồng thời làm chấn động dư luận thế giới. Bản thân Richard Nixon cũng thú nhận: “Mối lo lớn nhất của tôi không phải là làn sóng phê phán đến từ trong nước cũng như ngoài nước như đã dự kiến mà là tầm quan trọng của những tổn thất bằng B52” (trích Hồi ký Richard Nixon).

 

 

 

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không 1972” đóng vai trò quyết định trực tiếp buộc chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân viễn chinh, quân đồng minh về nước, mở ra bước ngoặt mới cho toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc; đồng thời làm nức lòng bè bạn và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, đẩy lùi “tâm lí sợ hãi” về cái gọi là “sức mạnh khủng khiếp của không quân chiến lược Mỹ”.

 

St.

 

 “KHÔNG CÓ HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM, CAMPUCHIA RẤT KHÓ LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ KHMER ĐỎ”

...

Ngày 2/12, phát biểu với báo giới nhân kỷ niệm 44 năm ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu quốc Campuchia (2/12/1978-2/12/2022), nay là Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, ông Sok Eysan, Ủy viên Trung ương kiêm người phát ngôn đảng Nhân dân Campuchia (CPP) nhấn mạnh, nếu không có sự kiện ngày 2/12/1978 thì cũng không có chiến thắng ngày 7/1/1979, và cũng không có hiệp định Paris về Campuchia và chúng ta cũng không có ngày nay. Ông nhấn mạnh, đây được coi là dấu mốc lịch sử quan trọng của Campuchia.

Ông Sok Aysan cho biết, dưới chế độ diệt chủng Khmer Đỏ thì người dân Campuchia đã chịu muôn vàn khổ cực và đang đứng bên bờ vực của sự tuyệt chủng. Đáp lời thỉnh cầu của người dân Campuchia, những người Campuchia yêu nước - thành viên của đảng Nhân dân Campuchia đã đứng lên tìm đường cứu lấy người dân.

Theo ông Sok Aysan, sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Campuchia trong công cuộc bảo vệ người dân, lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ khi đó vô cùng ý nghĩa. Đấy là sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình và người dân Campuchia mãi mãi khắc ghi: “Nếu như không có sự giúp đỡ, ủng hộ từ những người lính tình nguyện Việt Nam thì chúng ta rất khó có thể lật đổ được chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Chúng ta là những người theo đạo Phật, có đạo đức, vì vậy chúng ta không thể nào quên được công ơn to lớn này”.

Trong thông điệp chúc mừng kỷ niệm 44 năm ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia hôm nay, Thủ tướng Campuchia Hun Sen khẳng định: “Chiến thắng 7/1/1979 đã chấm dứt thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Campuchia, mở ra một kỷ nguyên mới. Nhân dân Campuchia đã giành lại quyền tự do và cơ hội tái thiết tổ quốc của chúng ta. Mọi người dân đều hiểu rõ rằng nếu không có sự ra đời của Mặt trận 2/12 và chiến thắng ngày 7/1, chúng ta không có ngày hôm nay, đó là chân lý lịch sử”./.

Theo Văn Đỗ/VOV-Phnom Penh-CCTN

LTT/PĐT (st)

CƯƠNG QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

 Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết kêu gọi và sử dụng mọi biện pháp để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Chúng tính toán rằng, khi QĐND Việt Nam đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, chúng sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng” như đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu trước đó.

Thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam chứng minh rõ: QĐND Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã là một lực lượng chính trị. 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam cũng chứng minh rõ: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trái với sự hô hào “phi chính trị hóa” quân đội, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến đấu thắng lợi.
Trước các âm mưu thâm độc, nham hiểm ấy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và cương quyết đấu tranh, vạch trần thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Đặc biệt, cần giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội; tăng cường công tác giáo dục chính trị nhằm giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc của Quân đội; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cán bộ cấp cao, thực sự trong sạch, tin cậy, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có năng lực đặc biệt xuất sắc trong tham mưu và xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mọi hoàn cảnh; chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động./.
St

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VIỆC SỬA ĐỔI LUẬT SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV đã xem xét, thông qua 15 luật, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân cơ hội này các thế lực thù địch, phản động, các phần tử xấu ra sức tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, trên trang Rfa, có bài: “Đại biểu quân đội so bì với nghành công an về cấp bậc”, trong đó có nhiều nội dung xấu độc, bôi nhọ kỳ họp thứ 8, quốc hội khóa XV trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng cho rằng “Quân đội và Công an đang cạnh tranh quyền lực thượng tầng” bộc lộ rõ ý đồ kích động, chia rẽ sự đoàn kết giữa Quân đội và Công an, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong Quốc hội.

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là rất cần thiết. Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua tại Kỳ họp thứ sáu ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 1/4/2000 và đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2008 và 2014. Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã tạo động lực cho đội ngũ sĩ quan phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Luật Sĩ quan đã xuất hiện những vướng mắc, bất cập như: Chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ tại ngũ; trần quân hàm cấp tướng; thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy; chế độ và chính sách đối với sĩ quan. Do đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để khắc phục những bất cập này. Điều này, nhằm bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
Thứ hai, Quân đội là ngành lao động đặc biệt, cần có những chính sách đặc thù. Ngay trong thời bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro nhất định trong huấn luyện, trong tham gia phòng, chống lụt bão, thiên tai. Bất cứ lực lượng nào trong Quân đội cũng đều phải huấn luyện với chương trình nghiêm túc, gian khổ và khi có chiến tranh thì sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân...
Thứ ba, việc chất vấn của các đại biểu trong quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam … là thể hiện dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể và sự quan tâm của các đại biểu nhằm xây dựng luật có chất lượng, sát với thực tiễn, đi vào cuộc sống.
Trong thảo luận, một đại biểu Quốc hội đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu xem xét cân nhắc quân hàm cấp tướng giữa quân đội và công an ở các tỉnh, thành trọng điểm. "Với chỉ huy trưởng các thành phố lớn, cấp tướng không nói nhưng ở các thành phố còn lại cũng cần xem xét. Giám đốc công an là thiếu tướng thì chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự cũng phải là thiếu tướng. Việc này cần xem xét và không phải so bì nhưng làm sao để tương xứng với nhau, công bằng".
Giải trình sau đó về nội dung trên, bộ trưởng Bộ Quốc phòng - cho hay việc này khó thực hiện. Bởi vì, “giám đốc công an tỉnh chỉ có một thiếu tướng nhưng chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh lại liên quan đến Chính ủy. Cùng với chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh lại còn chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh và Chính ủy. Bốn chức danh này giống chức nhau mà lại chọn phong một người thì khó cân. Hôm nay phong cho quân sự, ngày mai phong cho biên phòng sẽ khó. Nên chúng tôi xin thôi, vẫn cứ đại tá. Thêm vào đó, công an nhiệm vụ khác, quân đội nhiệm vụ khác, mặc dù lực lượng vũ trang trong giai đoạn thời bình nơi biên giới, hải đảo, đảo xa vất vả hơn rất nhiều các tỉnh nội địa. Trong khi đó, công an các tỉnh nội địa có khi việc trọng yếu hơn bởi có các việc khác nên giả sử xét cũng rất khó khăn", Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã nêu rõ.
Nhận diện rõ các luận điệu xuyên tạc về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để chúng ta thấy được sự thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Chúng lợi dụng vào những vấn đề này để vu khống, dựng chuyện “biến không thành có”, “biến có thành không”, ra sức bóp méo, cho đó là sự tranh giành quyền lực, bè phái cục bộ. Cái đích chúng nhắm đến là chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, gây nên nghi kỵ, hiềm khích trong quan hệ, với mục đích gây mất ổn định trong nội bộ Quân đội và Công an, làm suy giảm, mất động lực, mục tiêu, lý tưởng của các lực lượng vũ trang nhân dân. Do vậy, chúng ta cần nêu cao tình thần cảnh giác cách mạng, không dao động tư tưởng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động./.
St

 NHỮNG CÂU NÓI ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM

1. Tha thứ cho Mông Cổ là việc của phật tổ. Tiễn Mông Cổ đi gặp tiên tổ là của trẫm. (Phật Hoàng Trần Nhân Tông)

2. Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu thần trước đã. (Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn)

3. Không được để mất một thước núi, một tấc sông. (Vua Lê Thánh Tông)

4. Nơi nào ta mang quân tới nơi đó sẽ bị đánh tan tành. (Vua quang Trung)

5. Xin quan gia cho đánh, cho giặc mượn đường là mất nước. (Trần Quốc Toản)

6. Người Việt Nam thà chết chứ không làm nô lệ. (Hồ Chí Minh)

7. Dù phải đốt cháy cả dãy trường sơn cũng quyết giành cho được độc lập. (Hồ Chí Minh)

8. Không có gì quý hơn độc lập tự do. (Hồ Chí Minh)

9. Tao chỉ biết đứng không biết quỳ. (Võ Thị Sáu)

10. Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự của Việt Nam. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

11. Lò đã nóng thì củi tươi cũng cháy. (Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng)

12. Nước Nam ta ai cũng có thể bơi lặn như cá ở dưới biển. Ta là kẻ kém nhất. (Thủy thần Yết Kiêu)

13. Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp nguồn sóng dữ, chém cá kình ở biển đông, lấy lại giang sơn dựng nền độc lập. (Triệu Thị Trinh)

14. Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì Bệ hạ đừng lo gì hết. (Thái sư Trần Thủ Độ)

15. Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc. (Trần Bình Trọng)

16. Thần không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo (Hồ Nguyên Trừng)

17. Bao giờ người tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh tây. (Nguyễn Trung Trực)

18. Người Mỹ có thể lên mặt trăng và trở về an toàn nhưng sang Việt Nam thì tôi không chắc. (Nguyễn Thị Bình)

 MỘT SỐ CÁI "ĐƯỢC" KHI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ 🇻🇳

-----------***-----------

      - QUÂN ĐỘI LÀ TRƯỜNG HỌC LỚN, TRƯỜNG HỌC TỔNG HỢP MÀ MỖI NGƯỜI TRONG ĐÓ KHÔNG PHẢI ĐÓNG HỌC PHÍ, ĐƯỢC BẢO ĐẢM ĂN MẶC VÀ PHỤ CẤP HÀNG THÁNG, HOÀN THÀNH  " KHOÁ HỌC" QUÂN SỰ 2 NĂM SẼ ĐƯỢC THANH TOÁN CHẾ ĐỘ THEO QUY ĐỊNH.

     - Tham gia môi trường quân ngũ không những rèn luyện ý chí, kỷ luật mà còn có một thể lực khỏe mạnh nhờ việc tập thể dục, thể thao, tốt hơn nhiều so với việc cầm điện thoại đến 1-2h sáng sau đó ngủ dậy trễ mà không giúp ích cho việc học tập mà còn hại sức khỏe.

     - Từ môi trường kỷ luật, bạn sẽ sống trong nề nếp có nguyên tắc. Điều này làm giảm bớt một phần tính cách xuề xòa, không gọn gàng hiện tại của bản thân.

     - Trong quá trình tham gia quân ngũ, tư duy và cách suy nghĩ của bạn sẽ thay đổi theo hướng tích cực và trưởng thành hơn, từ đó bạn sẽ chọn cho mình một lối đi riêng, một kế hoạch sau khi xuất ngũ.

     - Đối với những người chưa có công việc ổn định thì sau khi xuất ngũ sẽ được tạo điều kiện học nghề, tìm kiếm việc làm… Điều này cũng làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong xã hội.

     Thực hiện NVQS vừa là quyền và là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân để bảo vệ Tổ quốc, cũng là bảo vệ cho bản thân, gia đình của mình./.

#HungGauKhua

 CÁCH MẠNG TRẮNG – ÂM MƯU BIẾN VIỆT NAM THÀNH UCRAINA THỨ 2

 

 

 

Henry Kissinger từng tuyên bố: “Những gì mà mấy chục năm nay nước Mỹ không làm được ở trên đất nước này, thì con cháu của các ngài, thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai, sẽ giúp nước Mỹ thực hiện được giấc mơ của người Mỹ. Hai mươi năm sau chúng tôi sẽ trở lại Việt Nam. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la.

 

Khi đó, cờ Mỹ sẽ bay không chỉ ở Sài Gòn mà còn hiên ngang giữa lòng Hà Nội. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như một ân nhân “.

 

 

 

Cho đến nay, quả thật những gì mà Mỹ đã tuyên bố, đang manh nha trở thành sự thật. Và không phải ngẫu nhiên mà người Mỹ lại tự tin tuyên bố như vậy.

 

 

 

Nước Mỹ có một sự kiên nhẫn vô hạn, có khi một chương trình được hoạch định tới 50 năm, như trường hợp nuôi dưỡng cả một thế hệ đối lập để lật đổ chính phủ hợp hiến ở Thổ Nhĩ Kỳ. Điển hình như sự kiện tên sát thủ trẻ len lỏi được thật sâu vào hàng ngũ cảnh sát đặc biệt Thổ Nhĩ Kỳ, rồi ám sát đại sứ Nga.

 

 

 

Nước Mỹ có một nguồn tiền của bao la. Với hệ thống tài chính Petro đô la đang nắm trong tay, Mỹ có thể in tiền một cách vô tội vạ mà không sợ lạm phát, và dùng nó để rải ra mọi chiến dịch trên khắp toàn cầu.

 

 

 

Đơn cử như trường hợp “nhỏ” là việc Mỹ bảo kê và tài trợ giáo sĩ Fethullah Gülen, kẻ chủ mưu vụ đảo chính ở Thổ Nhĩ Kỳ hồi năm 2016. Mỹ dự kiến xây khoảng 300 trường học ở Thổ Nhĩ Kỳ, hòng đào tạo lực lượng ước tính hơn 2 triệu học sinh, sinh viên. Tuy nhiên sau đảo chính, đã bị đóng cửa hết.

 

Sau đó, khi thời cơ chín muồi, một nhân tố như kiểu Gorbachev của Liên Xô là đủ để thay đổi một chính quyền theo chiều hướng tuân phục nước Mỹ.

 

Môi trường giáo dục là nơi đào tạo thế hệ kế cận sẽ lãnh đạo đất nước sau này, nên nắm được môi trường này sẽ chắc phần thắng. Tấn công vào môi trường giáo dục là một trong những mũi tấn công của những thế lực chống phá do phương Tây tài trợ.

 

Không phải ngẫu nhiên mà một bộ trưởng nước Nga từng phát biểu:

 

Chức năng cơ bản và chủ yếu của trường học là giáo dục trí tuệ và nhân cách con người, chứ không phải là dịch vụ giáo dục. Cần phải trả lại hoạt động giáo dục cho nhà nước quản lý, trở lại truyền thống giáo dục tốt đẹp thời Xô Viết.

 

 

 

Bộ trưởng quan trọng nhất trong chính phủ là Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Một Bộ trưởng Bộ y tế tồi, cùng lắm chỉ gây khó khăn cho người dân khám chữa bệnh và ảnh hưởng tới sức khỏe. Bộ trưởng Bộ kinh tế tồi, cùng lắm là làm chậm sự phát triển kinh tế. Nhưng Bộ trưởng Bộ giáo dục tồi thì phá hoại cả tương lai của đất nước và của quốc gia.

 

 

 

Đã đến lúc phải chấm dứt các cuộc thí nghiệm giáo dục theo mô hình phương Tây đang tạo ra tình trạng hỗn loạn trong lĩnh vực này.

 

 

 

Rõ ràng nước Nga ngày nay và chúng ta có điểm tương đồng, áp dụng rập khuôn mô hình giáo dục theo kiểu phương Tây, xem đó là giá trị cốt lõi, dần dần lâu hơn nữa khi đạt tới trình độ nhất định, những người được đào tạo ra sẽ xem những giá trị lịch sử như Chủ nghĩa Xã hội là lỗi thời cần phải bị loại bỏ.

 

 

 

Chỉ cần 20 năm là có thể thay máu hoàn toàn thế hệ trẻ của đất nước, khi người ta không biết tới giá trị lịch sử, chắc chắn người ta cũng sẽ quên quá khứ của tương lai, Ucraina là một bài học không thể sinh động hơn. Chỉ sau một đến hai thế hệ tiếp thu các giá trị Tây Phương sau khi Liên Xô sụp đổ, giới trẻ Ucraina thậm chí còn tự tay giật đổ tượng Lê nin, người đã có công tạo ra nhà nước Xô Viết Ucraina trong quá khứ.

 

 

 

Hiện nay, nhiều giáo viên đang xem những giá trị phương Tây là cốt lõi, mô hình giáo dục Xã hội chủ nghĩa là cổ hủ lạc hậu.

 

 

 

Tất nhiên là họ phủ nhận những thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vậy thử hỏi những giáo viên như thế sẽ đào tạo ra những học sinh như thế nào?

 

 

 

Trong lĩnh vực Truyền thông cũng vậy, nhiều tờ báo me Tây tiếng Việt đã trở thành cánh tay nối dài đắc lực nối dài cho truyền thông Tây Phương. Họ đơn giản chỉ bê nguyên các bài báo Tây Phương về dịch, rồi in ra cho đọc giả đọc mà không biết rằng trong đó chứa đầy thông tin tâm lý chiến, xuyên tạc và bịa đặt.

 

 

 

Bên cạnh đó, liên minh đế quốc Mỹ và đế quốc thần quyền Tây Phương khác cũng đang ráo riết thực hiện chiến lược Ngụy sử, Lật Sử, và Tẩy trắng lịch sử, một phần trong cách mạng trắng và diễn biến hòa bình tại Việt Nam.

 

Có thể bạn còn nhớ, khi Obama sang thăm Việt Nam, nhiều người Việt đã coi ông ta như một thần tượng. Họ ca ngợi Obama như một lãnh đạo thân thiện.

 

 

 

Nhưng có thể bạn không biết rằng, người nhận giải Nobel hòa bình Obama chính là người đã gây ra 7 cuộc chiến dưới thời kỳ ông ta nắm quyền ở Mỹ.

 

 

 

Obama chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh dài nhất của Mỹ tại Apghanistan khi ông ta lên nắm quyền năm 2009.

 

 

 

Tháng 3/2011, Obama tuyên bố Mỹ sẽ tham gia một liên minh không kích vào Libya. Các cuộc không kích cuối cùng đã kết thúc với cái chết của nhà lãnh đạo lâu năm Moammar Gadhafi.

 

Và Lybia từ một trong các quốc gia giàu có thịnh vượng nhất Châu Phi, nay đã trở thành một vùng đất nghèo đói loạn lạc, nội chiến giữa các phe phái, và chưa thể tìm ra lối thoát.

 

Obama cũng là chủ mưu trong việc mua chuộc những kẻ biến chất thoái hóa trong các cơ quan báo chí, giáo dục Việt Nam, để phát động phong trào xét lại lịch sử, công nhận ngụy quyền Sài Gòn là chính danh, và tôn vinh những kẻ phản quốc như Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, với chiêu bài “hòa hợp dân tộc”. Chúng cố tình một mặt bôi nhọ tính chính nghĩa trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mặt khác chúng cố tình tung hô bản chất chế độ tay sai bán nước của Ngụy quân Ngụy Quyền. Thông qua chiến lược Ngụy Sử, Lật Sử và Tẩy trắng lịch sử, chúng công khai tuyên bố “Việt Nam đã đuổi đi 2 nền văn minh Pháp – Mỹ”, hay công khai kêu gọi bỏ từ Ngụy trong lịch sử.

 

 

 

Thực tế đây là một chiến dịch tẩy trắng lịch sử nhằm chạy tội cho giặc ngụy, rửa nhục cho Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bằng một dự án quy mô lớn của cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA với tên gọi, “Dự án tưởng niệm chiến tranh Việt Nam”, do Obama phát động bởi 1 đạo luật, khởi động năm 2012. Dự án này chia 3 giai đoạn:

 

 

 

Giai đoạn 1 (2012-2014): Tổ chức các hoạt động tưởng niệm ở Mỹ.

 

Giai đoạn 2 (2014-2017): Xây dựng chân rết ở Mỹ và các quốc gia khắp Thế giới (tất nhiên Việt Nam là chính).

 

Giai đoạn 3 (2017-2025): Là giai đoạn cao điểm. Nội dung chính là nhằm tôn vinh lính Mỹ, lính ngụy; xoá bỏ “hội chứng Việt Nam”, sửa đổi lịch sử, tẩy xoá sự thật cuộc chiến ở Việt Nam

 

 

 

Tiền ngân sách ban đầu là 5 triệu đô/năm, sau nâng lên 180 triệu/13 năm nhưng thực tế số tiền còn lớn hơn nhiều so với dự án này.

 

 

 

Dự án Obama đang trong giai đoạn 3 như vậy và sẽ kết thúc vào năm 2025. Đó là lý do tại sao nhiều kẻ đang điên cuồng xuyên tạc lịch sử.

 

 

 

Thực ra, chế độ ngụy quyền Việt Nam Cộng Hòa là chế độ tay sai bán nước, do Mỹ lập ra để cai trị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975. Hầu hết các thành phần lãnh đạo, tướng lĩnh của Ngụy quyền Việt Nam cộng hòa đều đã từng đứng dưới chế độ Ngụy quyền quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp lập ra, học trong các trường quân sự của Pháp, và chiến đấu trong các chiến dịch chống lực lượng giải phóng dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong trận Điện Biên Phủ.

 

 

 

Chúng ta đừng bao giờ quên những lời người Mỹ nói: “Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân”

 

 

 

Và đó là mục tiêu mà Mỹ không bao giờ từ bỏ, với việc đầu tiên là phải tẩy xóa sự thật cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng những đồng USD giơ bẩn từ việc xuyên tạc sự thật lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

 

 

 

Thông qua mạng Internet, trước đây là các trang Blog, Diễn đàn, Youtube và giờ tập trung chủ yếu là trên Facebook, chúng đã có nhiều bài viết xuyên tạc về lịch sử và tình hình xã hội của Việt Nam.

 

 

 

Khi thời cơ chín muồi, Mỹ sẽ tìm cớ để đưa quân đội quay lại Việt Nam, lập nên chính quyền bù nhìn tay sai của Mỹ như các nước ở khu vực Trung Đông hay Bắc Phi.

 

 

 

Các bạn thân mến.!!

 

 

 

Không phải ngẫu nhiên mà các hành vi Ngụy sử, Lật Sử và Tẩy trắng lịch sử đã diễn ra một cách rầm rộ và công khai như hiện nay. Tất cả đều nằm trong chiến lược được các đế quốc thế quyền thần quyền Tây Phương vạch ra, với sự phản bội của một bộ phận người nói tiếng Việt ở trong nước.

 

 

 

Hơn lúc nào hết, mỗi người dân Việt Nam cần phải tỉnh táo, để tránh lập lại bài học như tại Ucraina hiện nay, nơi mà máu xương của lớp lớp các anh hùng liệt sĩ đã bị bôi nhọ và xúc phạm.

 

Tôi tin rằng, với sự anh linh của tiên tổ Lạc Hồng, nước Việt Nam sẽ ngày càng độc lập, hùng cường, và sẽ không một thế lực có thể ngăn cản được điều đó, kế hoạch thâm độc của các đế quốc thần quyền và thế quyền Tây Phương sẽ thất bại.

 

 

 

Một lần nữa tôi kêu gọi, con Rồng Cháu Tiên toàn thế giới hãy đoàn kết lại !

 

 TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN GIẢI QUYẾT NẠN HOA KIỀU 

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc. Ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường miền Nam Việt Nam.

Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn, Với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng uy thế kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình, vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.

Năm 1978, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi người Hoa kiều là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Để chấm dứt tình trạng này, Tổng bí thư Lê Duẩn đưa ra biện pháp cứng rắn là quốc hữu hóa tài sản của người Hoa. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Đến năm 1982, người Hoa ở Việt Nam đã lũ lượt rời bỏ Việt Nam vượt biên qua đường biển, đường bộ để đến nước thứ ba.

Đến năm 1989, số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ đã mất đi phần lớn. Việt Nam là một ngoại lệ hiếm hoi so với những nước Đông Nam Á khác: người gốc Hoa đã gần như bị đồng hóa bởi người Việt Nam, họ cũng không còn gắn kết thành một cộng đồng tự trị như trước. Mặc dù đám đông người Việt có thể phản đối hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù gia đình thương gia gốc Hoa (trong khi ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa có sức ảnh hưởng rất mạnh: vào cuối thế kỷ 20, người gốc Hoa sở hữu hơn 80% thị trường chứng khoán Thái Lan, 62% ở Malaysia, 50% ở Philippines, trên 70% tổng số tài sản công ty tại Indonesia, và các nước sở tại đều không thể đồng hóa được họ Ở Thái Lan thì người gốc Hoa thậm chí còn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ.

 

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ LÃNH ĐẠO BỘ QUỐC PHÒNG THÁNG 12-2024

 áng 2-12, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị lãnh đạo Bộ Quốc phòng tháng 12-2024. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.
Tại hội nghị, các đại biểu đã cho ý kiến về chương trình công tác của Lãnh đạo Bộ Quốc phòng tháng 12-2024; một số công tác chuẩn bị cho tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và triển khai công tác phòng, chống lãng phí trong Quân đội. Theo chức năng, nhiệm vụ, Bộ Quốc phòng đã phân công đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam tham gia Tổ biên tập của Ban Chỉ đạo Trung ương và giao Bộ Tổng Tham mưu chủ trì, phối hợp với Tổng cục Chính trị chỉ đạo Tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW hình thức phù hợp và xây dựng Báo cáo tổng kết của Quân ủy Trung ương gửi Ban Chỉ đạo Trung ương theo kế hoạch…
Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang đặc biệt nhấn mạnh, tháng 12-2024 này là một tháng đặc biệt, với rất nhiều nhiệm vụ quan trọng nằm trong khuôn khổ của chuỗi các hoạt động hướng tới, chào mừng và tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì vậy, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu các đồng chí Lãnh đạo Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ toàn quân, đặc biệt là các cơ quan chiến lược của Bộ cần phát huy hết tinh thần trách nhiệm, nỗ lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong tháng 12. Trong đó cần tập trung tổ chức tốt các chương trình kỷ niệm của Quân đội, Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024, Hội nghị Quân chính toàn quân, Hội nghị tổng kết các ngành năm 2024…
Về việc triển khai tổng kết Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu triển khai tổng kết và đề xuất giải pháp bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, đúng quy định.
Về việc triển khai công tác phòng, chống lãng phí trong Quân đội, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Ban Chỉ đạo 1389 Bộ Quốc phòng tham mưu giúp Thường vụ Quân ủy Trung ương, Quân ủy Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác phòng, chống lãng phí trong Quân đội sao cho đạt chất lượng, hiệu quả cao nhất./.
St

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SƯ ĐOÀN 395 (QUÂN KHU 3) RÚT KINH NGHIỆM XÂY DỰNG ĐƠN VỊ ĐIỂM TOÀN DIỆN NĂM 2024!

     Ngày 29-11, Sư đoàn 395 (Quân khu 3) tổ chức Hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm xây dựng đơn vị điểm toàn diện năm 2024. Thiếu tướng Hà Tất Đạt, Phó tư lệnh Quân khu 3 dự, chỉ đạo hội nghị!
Tham dự hội nghị có các đồng chí trong Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 395; đại biểu cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị Quân khu 3; chỉ huy 3 cơ quan và lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trực thuộc sư đoàn.

Báo cáo trung tâm tại hội nghị đánh giá, năm 2024, Sư đoàn 395 đã quán triệt, triển khai, thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu” trong toàn quân; chấp hành nghiêm và hoàn thành 100% nội dung kế hoạch giáo dục chính trị cho các đối tượng, trận địa tư tưởng của đơn vị được giữ vững.

Các cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của các cấp; làm tốt mọi mặt công tác chuẩn bị cho huấn luyện; thực hiện nghiêm công tác tham mưu huấn luyện kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện và rèn luyện thể lực, duy trì nghiêm chế độ thông qua giáo án, bồi dưỡng cán bộ ở các cấp theo đúng kế hoạch. Đồng thời, tăng cường các biện pháp quản lý quân số, phương tiện tham gia giao thông, duy trì kỷ luật, tạo sự ổn định vững chắc trong toàn đơn vị; số vụ vi phạm kỷ luật thông thường phải xử lý dưới 0,2%.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thiếu tướng Hà Tất Đạt biểu dương và ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 395; yêu cầu, thời gian tới, Đảng ủy, chỉ huy sư đoàn và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, nắm chắc nhiệm vụ xây dựng đơn vị điểm toàn diện. Cùng với đó, phát huy vai trò của các tổ chức, tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ; nắm chắc và giải quyết tốt tình hình tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác.

Bên cạnh các nhiệm vụ trên, Thiếu tướng Hà Tất Đạt yêu cầu Sư đoàn 395 tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế, nhất là trong công tác quản lý, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy; kịp thời phát hiện biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, nhân rộng trong toàn đơn vị. Trước mắt, tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân và 50 năm Ngày truyền thống Sư đoàn (26-12-1974 / 26-12-2024)./.
Ảnh: Thiếu tướng Hà Tất Đạt, Phó tư lệnh Quân khu 3 phát biểu chỉ đạo hội nghị.
Yêu nước ST.

Chủ nghĩa xã hội (giai đoạn thấp)

 


Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hỉnh thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, là kết quả trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tương ứng bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội tồn tại và phát triển lên chủ nghĩa cộng sản.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, vạch rõ những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa theo một tư duy khoa học và biện chứng để khẳng định tính đúng đắn trong học thuyết của mình, để sau đó căn cứ vào sự phát triển của thực tiễn mà tiếp tục bổ sung những khía cạnh cần thiết.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp hiện đại

Mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng, không những bảo đảm cho nó tồn tại và phát triển mà còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của nó. Cơ sở vật chất - kỹ thuật là một tiêu chí quan trọng để phân biệt các thể chế xã hội - chính trị khác nhau.

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất với trình độ lạc hậu, thủ công. Chủ nghĩa tư bản ra đời khi nó đã có một cơ sở vật chất- kỹ thuật là nền đại công nghiệp cơ khí. Chủ nghĩa xã hội nảy sinh với tính cách là phủ định biện chứng chủ nghĩa tư bản, thì đương nhiên cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải là nền công nghiệp hiện đại.

Hai là, chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, xoá bỏ chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất về thực chất của cuộc cải tạo xã hội theo lập trường giai cấp vô sản. Nhưng chủ nghĩa xã hội không xoá bỏ chế độ tư hữu nói chung, mà xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Vì chính nó là nguyên nhân sâu xa của sự áp bức, bóc lột bất công, của mọi tai họa đối với người lao động. Cùng với việc xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó không chỉ phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội mà còn bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Khi các tư liệu sản xuất đã thuộc về xã hội, khi giai cấp vô sản với tư cách là giai cấp, đã thắng giai cấp tư sản, thì chế độ của những xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa”[1]. Xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội.

Ba là, chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới

Để khắc phục những tàn dư của tình trạng lao động bị tha hoá, xây dựng thái độ lao động mới phù hợp với địa vị làm chủ xã hội của người lao động và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới. Đó là lao động được tổ chức chặt chẽ, có kế hoạch và kỷ luật lao động tự giác, tự nguyện, nghiêm minh.

Bốn là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động

Theo nguyên tắc này, mỗi người sản xuất sẽ được nhận từ xã hội một số lượng sản phẩm tiêu dùng trị giá ngang số lượng, chất lượng và hiệu quả lao động mà họ đã cống hiến cho xã hội, sau khi đã trừ đi một khoản đóng góp nhất định cho các hoạt động vì lợi ích chung. Điều đó thực sự mang lại lợi ích chính đáng về vật chất và tinh thần cho mỗi cá nhân trên cơ sở kết quả lao động của họ. Đây không chỉ là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, mà còn là nhân tố quan trọng trực tiếp kích thích người lao động tích cực, tự giác, sáng tạo trong lao động xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, nhà nước trong xã hội xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động

Nhà nước trong chủ nghĩa xã hội là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, thực hiện nhiệm vụ của chuyên chính vô sản. Thực chất của chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo chính trị của chính đảng của giai cấp công nhân đối với nhà nước và toàn xã hội nhằm bảo vệ và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Nhân dân làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trước hết và chủ yếu bằng nhà nước, thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng lãnh đạo nhà nước cũng nhằm một mục đích duy nhất là nhân dân được làm chủ, nhà nước hoạt động vì lợi ích của nhân dân, thể hiện quyền lực và ý chí của nhân dân.

Sáu là, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bình đẳng trước pháp luật và có điều kiện phát triển toàn diện

Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Nhờ đó mà chủ nghĩa xã hội xoá bỏ được đối kháng giai cấp, loại bỏ tình trạng người bóc lột người, tình trạng nô dịch và áp bức dân tộc, thực hiện được sự công bằng, bình đẳng xã hội, trước hết là bình đẳng về địa vị xã hội của con người, thực hiện mối quan hệ bình đẳng và hữu nghị giữa các dân tộc. Toàn bộ quá trình cải biến xã hội lịch sử đó sẽ tạo ra những điều kiện cần thiết để từng bước tiến tới giải phóng triệt để con người khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, để con người phát triển toàn diện.

Những đặc trưng bản chất mà chủ nghĩa xã hội cần phải có với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin vạch rõ trên cơ sở tư duy khoa học và biện chứng. Đó chính là những tiêu chí cơ bản và có tính hệ thống để phân biệt chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản và các thể chế xã hội - chính trị khác, nghĩa là chỉ có những thuộc tính đó thì chủ nghĩa xã hội mới là nó, mới trở thành chính nó. Nếu quốc gia nào, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội không thể hiện và bảo vệ được những đặc trưng đó thì quốc gia đó đã chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, bất cứ nước nào trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng phải triệt để tuân theo những đặc trưng ấy. Tuy nhiên, trong các điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau lại có sự vận động thông qua các mô hình xây dựng cụ thể, các con đường, hình thức và biện pháp riêng biệt khác nhau lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”[2].

Trên cơ sở trung thành và phát triển một cách sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và trong nước, với một thế giới quan khoa học và phương pháp xem xét đúng đắn, Đại hội XI của Đảng ta đã chỉ rõ: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[3].

Những đặc trưng đó vừa phản ánh bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội, vừa là những định hướng lớn chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng xong, từ nay đến đó nước ta còn phải trải qua nhiều năm của thời kỳ quá độ. Trong thời kỳ quá độ có mặt được hình thành, phát triển sớm, nhanh, có mặt được hình thành, phát triển dần từng bước, làm cho bộ mặt của chủ nghĩa xã hội bộc lộ dần dần cho đến khi đầy đủ. Quá trình đó không phải là tự phát, mà là quá trình tự giác đấu tranh cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới đầy khó khăn và phức tạp của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 45, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 425.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2006, tr. 160.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 70.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TĂNG CƯỜNG THANH TRA, XỬ LÝ NGHIÊM VI PHẠM QUY ĐỊNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ!

     Ngày 1/12, Thủ tướng Phạm Minh Chính ký công điện số yêu cầu các Bộ ngành, địa phương đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí!

Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp.

Cụ thể, tổ chức quán triệt, triển khai nghiêm túc, hiệu quả Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Nghị quyết của Chính phủ và Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2024.

Nhấn mạnh việc tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm chỉ đạo thống nhất việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2024 theo định hướng, chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật.

Cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, xóa bỏ cơ chế "xin - cho".

Phân cấp, phân quyền cho cơ quan, địa phương có thẩm quyền giải quyết và chịu trách nhiệm. Tăng cường thực hiện giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức trong phục vụ nhân dân.

Hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bảo đảm đồng bộ, thống nhất hệ thống pháp luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, nâng cao hiệu quả việc quản lý, sử dụng các nguồn lực Nhà nước.

Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và xây dựng văn hóa phòng, chống lãng phí, đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành tự giác, tự nguyện. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những gương điển hình trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện các biện pháp bảo vệ người cung cấp thông tin phát hiện lãng phí.

Tăng cường công tác tổ chức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên các lĩnh vực, trong đó tập trung vào lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý tài nguyên, khoáng sản, đặc biệt là đối với đất đai; quản lý vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; tổ chức bộ máy, quản lý lao động, thời gian lao động...

Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có quy định xử lý vi phạm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị và các cá nhân để xảy ra lãng phí.

Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả rà soát lại toàn bộ tài sản công, trụ sở làm việc không sử dụng, sử dụng kém hiệu quả và đề xuất phương án xử lý./.
Yêu nước ST.

Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Thời kỳ quá độ diễn ra trong sự vận động liên tục với nội dung chuyển hóa, thay thế những “cái cũ” lỗi thời bằng những “cái mới”, các yếu tố cần thiết bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó, mà chủ nhân của quá trình đó là giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Về kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ. Tùy theo tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để từng bước cải tạo, xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương. Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động; từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.

Về chính trị, giữ vững, củng cố, tăng cường chuyên chính vô sản, bảo đảm cho nó hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đảng cộng sản vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và phương thức lãnh đạo, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên cơ sở không ngừng củng cố khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đảng, nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống mọi biểu hiện trái với bản chất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về xã hội, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công. Thông qua những chính sách xã hội, hệ thống pháp luật đúng đắn của nhà nước xã hội chủ nghĩa, các hình thức liên minh, hiệp tác và đấu tranh chuyển hóa lẫn nhau của các giai cấp, tầng lớp xã hội để khắc phục sự đối lập giữa các giai tầng xã hội, tạo sự đồng thuận trong xã hội và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tệ nạn xã hội, những biểu hiện tiêu cực, sai trái, sự phân hóa giàu nghèo, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Phát huy vai trò của nhân dân lao động trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Về văn hóa - tư tưởng, phát triển nền văn hoá xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những giá trị truyền thống văn hoá và những thành tựu khoa học, công nghệ của dân tộc và nhân loại. Phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, phát triển khoa học và công nghệ, làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội. Trung thành, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh chống mọi biểu hiện xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho thế giới quan mác xít giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng, tâm lý, tập quán cũ, lạc hậu, những tư tưởng, văn hoá xấu độc nảy sinh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự cùng tồn tại, đan xen lẫn nhau những nhân tố của xã hội mới và những “dấu vết” của xã hội cũ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: “Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh; hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại, nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”[1]. Đôi khi “cái cũ” còn lấn át cả “cái mới”, nên sự phát triển của chủ nghĩa xã hội phải trải qua những bước trung gian, quá độ, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Tính chất quá độ đó thể hiện cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng - văn hoá. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức…”[2]

Trên lĩnh vực kinh tế: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại đan xen nhiều thành phần kinh tế, những bộ phận kinh tế của cả chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, vận động trong sự tác động hỗ trợ, hp tác và đấu tranh với nhau để dần dần chuyển hoá thành các thành phần kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.Lênin, trong thời kỳ quá độ ở nước Nga đã tồn tại 5 thành phần kinh tế: kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hoá nhỏ, kinh tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực chính trị - xã hội: tương ứng với các thành phần kinh tế là sự tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội trong thời kỳ quá độ. Và do đó, lợi ích cơ bản của họ có sự khác biệt nhau, thậm chí đối lập nhau. Sự quá độ chính trị diễn ra quá trình thay thế nền dân chủ tư sản bằng nền dân chủ vô sản. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được thiết lập, không ngừng củng cố hoàn thiện để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân lao động và tổ chức xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình vừa liên minh, hiệp tác, vừa đấu tranh chuyển hóa lẫn nhau giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản, giữa con đường phát triển lên chủ nghĩa xã hội hay lên chủ nghĩa tư bản diễn ra trong điều kiện mới với nội dung mới và hình thức mới. Tăng cường sự lãnh đạo của đảng cộng sản, vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động để khắc phục dần sự đối lập giữa các giai tầng xã hội, sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, từng bước thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội.

Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn tồn tại đan xen nhiều loại hình tư tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Nền văn hoá mới đang hình thành phát triển trên cơ sở hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, bên cạnh đó có sự tồn tại, ảnh hưởng của hệ tư tưởng cũ và tâm lý, thói quen, tập quán, hủ tục lạc hậu của chế độ cũ còn rơi rớt lại. Quá trình đó diễn ra đồng thời với sự tồn tại dai dẳng và níu kéo tinh vi của “cái cũ” làm cho tính chất quá độ trên lĩnh vực này càng phức tạp, khó khăn, lâu dài hơn, đòi hỏi phải tiến hành cải biến cách mạng hết sức kiên trì, linh hoạt và toàn diện.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 310.

[2] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 15.