Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh công tác tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW tại Học viện cũng thực hiện trên cơ sở Học viện trung tâm không chờ Học viện khu vực; các Học viện thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh không chờ các viện chuyên ngành.
Chiều 2/12, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả". Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo.
Hội nghị được kết nối trực tuyến tới các Học viện khu vực
Tại Hội nghị, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ Hoàng Anh đã công bố quyết định thành lập Ban Chỉ đạo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh gồm 18 thành viên do Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng làm Trưởng ban.
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Giám đốc Học viện về nhiệm vụ, giải pháp để triển khai một số nhiệm vụ liên quan đến tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW thuộc phạm vi quản lý của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và nhiệm vụ, giải pháp đổi mới, sắp xếp mô hình tổ chức bộ máy của Học viện tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thông báo Kế hoạch của Học viện về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Duy Bắc, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc thường trực Học viện cho biết việc tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh bám sát các mục đích, yêu cầu của Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW nhằm đánh giá toàn diện tình hình, kết quả thực hiện việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Học viện theo yêu cầu của Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kế hoạch số 07-KH/TW của Bộ Chính trị về việc thực hiện Nghị quyết, đồng thời gắn với việc thực hiện Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 8/8/2018 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; đề xuất đổi mới, sắp xếp, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW đảm bảo tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trong thời gian tới.
Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Duy Bắc nêu rõ, ngày 1/12, tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban chỉ đạo Trung ương đã có chủ trương chuyển chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Lý luận Trung ương; Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương; Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; sáp nhập Học viện Hành chính Quốc gia về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Do đó, ngoài việc xem xét, tổng kết mô hình tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh theo Quyết định số 145-QĐ/TW, tất cả các đơn vị trực thuộc hệ thống Học viện còn sẽ cho ý kiến về việc chuyển chức năng, nhiệm vụ của 3 Hội đồng về Học viện và sáp nhập Học viện Hành chính Quốc gia.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng nêu rõ, việc quán triệt, triển khai thực hiện, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần kết luận của Bộ Chính trị, Hội nghị Trung ương là việc rất hệ trọng, đòi hỏi phải làm việc khẩn trương, nghiêm túc nhưng chắc chắn. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy là một trong “3 việc lớn” mà Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh là mang tính cách mạng.
Nhấn mạnh cách làm tổng kết việc thực Nghị quyết lần này hoàn toàn khác các lần trước là làm từ Trung ương với tinh thần “Trung ương không chờ cấp tỉnh, cấp tỉnh không chờ cấp huyện, cấp huyện không chờ cơ sở”, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng yêu cầu công tác tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW tại Học viện cũng thực hiện trên cơ sở Học viện trung tâm không chờ Học viện khu vực; các Học viện thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh không chờ các viện chuyên ngành.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Học viện phải đảm bảo các nguyên tắc giữ ổn định trong thực hiện nhiệm vụ, không được bỏ sót chức năng, nhiệm vụ nào khi tiến hành sắp xếp, sáp nhập. Khi một tổ chức được sắp xếp thì cần phải đi kèm dự kiến chức năng, nhiệm vụ rõ ràng. “Chức năng không được bỏ sót, nhiệm vụ chỉ có nâng cao chứ không được thu gọn; hoạt động, quy mô tổ chức bộ máy nằm trong hệ thống Học viện phải gọn và do Giám đốc Học viện quyết định”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh.
Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng lưu ý, việc sắp xếp tổ chức bộ máy là trách nhiệm, sự tham gia chung của toàn thể cán bộ, người lao động Học viện, tránh quan niệm: "việc đổi mới, sắp xếp bộ máy chỉ là "giải thể, sáp nhập của ai đó" hoặc "ai đó đưa về Học viện", còn chúng ta ở đây giữ nguyên", như vậy là hiểu sai tinh thần chỉ đạo của Trung ương.
Đồng thời, phải coi đây là cơ hội để Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh một lần nữa rà soát lại tổ chức bộ máy, trên cơ sở đó tham mưu cho Trung ương ban hành một quy định mới về Học viện, cũng như làm rõ hơn chức năng nhiệm vụ của các tổ chức, đơn vị trực thuộc sau sắp xếp. Ông Nguyễn Xuân Thắng đề nghị các Viện, Học viện trực thuộc đánh giá hiệu quả hoạt động, chủ động rà soát chỉ ra những chức năng, nhiệm vụ trùng lặp, mạnh dạn đề xuất chấm dứt hoạt động, chuyển chức năng, nhiệm vụ trùng lặp từ đơn vị này sang đơn vị khác có cùng nhiệm vụ tương đồng.
Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng tin tưởng sau khi sắp xếp, tổ chức bộ máy, Học viện sẽ có một quy mô, diện mạo, tâm thế và ảnh hưởng mới, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó./.
Trong những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực.
Đặc biệt, với quan điểm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Tô Lâm, của Bộ Chính trị đã tạo thống nhất trong nhận thức và hành động, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cả hệ thống thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tình hình để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương cũng như kết quả của công cuộc cải cách này.
Những chiêu trò “bẻ lái”, xuyên tạc
Mặc dù chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy được Đảng và Nhà nước ta triển khai với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, dành nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân nhưng một số đối tượng chống đối vẫn tiếp tục xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt, thổi phồng khuyết điểm hòng đánh tráo mục tiêu, gây hoang mang dư luận. Các đối tượng bịa đặt rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam “chỉ là hình thức, mị dân”, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách. Họ cho rằng, cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp.
Một số đối tượng bịa đặt rằng, việc sáp nhập các đơn vị, hợp nhất bộ máy chỉ nhằm mục đích chia ghế và “chạy chọt”, gây tốn kém ngân sách. Thậm chí, các thế lực thù địch xuyên tạc tinh giản biên chế là “đấu đá quyền lực, phe nhóm”, nhằm cắt giảm quyền lực của người này để tăng quyền lực cho người kia, là cách để “hạ bệ” hoặc “gia cố” quyền lực. Từ đó họ nguỵ biện rằng, Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật nhằm làm nhiễu thông tin, “tung hoả mù” gây hoang mang dư luận, tạo cớ chỉ trích, miệt thị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Tinh gọn bộ máy, giảm biên chế - quan điểm chỉ đạo xuyên suốt
Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (Đại hội VI) đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ngày 25/11 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp xem xét, cho ý kiến về một số nội dung quan trọng, trong đó có nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ví như cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, cần thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cơ bản thống nhất nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu, tiến độ tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW và một số nội dung gợi ý, định hướng để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương nghiên cứu, đề xuất sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Ngày 5/11, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”, nêu rõ: Qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.
Cải cách bộ máy hành chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước, đồng thời giảm thiểu các chi phí hành chính không cần thiết. Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác cải cách bộ máy hành chính. Đặc biệt, việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối hành chính đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Cụ thể như tháng 4/2015, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức với mục tiêu đến năm 2021 tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Kết quả, chúng ta đã tinh giản được 11,67% biên chế trong giai đoạn này, vượt chỉ tiêu đề ra. Trình bày Báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023 tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (tháng 5/2024), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết, Chính phủ đã ban hành 27 Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các bộ, ngành đã giảm được 17 tổng cục và tương đương; giảm 10 cục và 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 108 phòng trong vụ/ban thuộc bộ, ngành; giảm 22 đơn vị sự nghiệp công lập. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, trong năm 2023, Thủ tướng đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 144 quy định kinh doanh. Tổng số quy định kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa từ năm 2021 đến nay là 2.770 quy định. Có 147 thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư được thực hiện đơn giản hóa đạt 49,26%. Về quản lý và tinh giản biên chế, thực hiện các nghị định của Chính phủ, từ năm 2015 đến ngày 15/12/2023, cả nước tinh giản biên chế 84.140 người.
Tổng Bí thư Tô Lâm cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong vấn đề này. Đó là nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng "Bộ trong bộ". Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Thống nhất trong nhận thức và hành động
Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Một trong những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, chi cho bộ máy hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Để giảm thiểu tình trạng lãng phí, việc tinh giản bộ máy đã và đang là một trong những giải pháp quan trọng, giúp tiết kiệm ngân sách và tái phân bổ các nguồn lực cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội.
Ngoài ra, việc tinh giản bộ máy còn là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và cải thiện công tác quản lý nhà nước. Một bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp sẽ giúp các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, xử lý các vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Cũng nhờ vào sự cải cách này, quy trình cung cấp dịch vụ công đã được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian chờ đợi, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các dịch vụ của Nhà nước.
Rõ ràng, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao. Cần thấy rằng, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, không đơn giản, không phải làm một sớm, một chiều, làm một lần là xong do liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó đòi hỏi sự chặt chẽ, khoa học, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất trong nhận thức và hành động. Để cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm thắng lợi, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi”./.
Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có đạo Tin lành, Công giáo và đạo Phật đã được Nhà nước công nhận hoạt động. Ngoài ra, tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình và một số tổ chức, hệ phái mang tính “Tà giáo” như: “Ân điển cứu rỗi”, “Bà Cô Dợ”… có những hoạt động gây ảnh hưởng tiêu cực đối với an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình xuất hiện lần đầu vào năm 1989 đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của đồng bào, nhất là người dân tộc Mông trên địa bàn tỉnh. Các đối tượng cầm đầu sao chép, học hỏi các nghi lễ, hoạt động của đạo Tin Lành và một số nét văn hóa truyền thống của người Mông để tác động, lôi kéo, tập hợp, phát triển lực lượng phục vụ cho mưu đồ lập “Nhà nước Mông”.
Những luận điệu, giáo điều mà Dương Văn Mình tuyên truyền thực chất là cóp nhặt, vay mượn nội dung giáo lý, giáo luật của đạo Tin lành. Với âm mưu thành lập một tín ngưỡng mới, đối tượng Dương Văn Mình đã cải biên, biến tấu những giáo lý, giáo luật này thành của mình. Bên cạnh đó, tổ chức bất hợp pháp này còn tổ chức tập huấn, hướng dẫn người dân cách thức chống đối chính quyền, dùng tâm linh để đe dọa, khống chế, cô lập người dân nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Dương Văn Mình xúi giục đồng bào Mông xây dựng trái phép “nhà đòn” bằng gỗ, tre. Bên trong nhà chứa một số đồ gỗ được đục đẽo thành hình con ve, con cóc… dùng để làm lễ tâm linh khi trong bản có người chết. Đây là nghi lễ chưa từng có trong lịch sử sinh hoạt văn hóa cộng đồng người Mông.
Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình đã xúi bẩy bà con phá bỏ bàn thờ tổ tiên, loại bỏ hết phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp trong cộng đồng người Mông; chúng tuyên truyền những quan điểm trái với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về công tác tôn giáo và chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đối với người Mông nói riêng. Những luận điệu tuyên truyền của tổ chức này nhằm phá vỡ những tiến bộ không chỉ trong kinh tế - xã hội mà còn cả về truyền thống văn hóa của người Mông…
Dù những luận điệu tuyên truyền của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình rất hoang đường, vô căn cứ, mang đậm màu sắc mê tín dị đoan nhưng do đời sống đồng bào dân tộc, trong đó đặc biệt dân tộc Mông còn khó khăn và nhiều hủ tục, đặc biệt trong việc tổ chức tang lễ, cưới hỏi nên rất đông người đã tin theo. Từ đó, Dương Văn Mình tiếp tục nghiên cứu xây dựng kinh sách và dựa trên giáo lý, giáo luật, bài thánh ca của đạo Tin lành để sáng tác thành các bài hát ca ngợi chính bản thân mình; đồng thời xây dựng tổ chức, quy định, nghi lễ thờ phụng và tuyên truyền trong đồng bào Mông,
vận động đồng bào bỏ bàn thờ tổ tiên, bỏ tín ngưỡng truyền thống để theo “chúa trời”, tức Dương Văn Mình. Số đối tượng cầm đầu, cốt cán thường xuyên có sự trao đổi, tìm cách liên lạc với các đối tượng khác trong và ngoài tỉnh để bàn bạc, thống nhất cách thức hoạt động như: Dựng, tái dựng, tu sửa “nhà đòn”, viết đơn khiếu kiện, không cho con em đi học; tẩy chay các kỳ bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; tổ chức đám cưới “kiểu mẫu”, “tết chung”, tổ chức kỷ niệm “ngày sinh nhật Dương Văn Mình”… Các hoạt động nói trên đã gây xáo trộn, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt, đời sống, chia rẽ mối đoàn kết của một bộ phận đồng bào, nhất là đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh.
Hiện nay, trên địa bàn một số huyện Chợ Đồn, Pác Nặm, Ngân Sơn… vẫn còn các trường hợp có hoạt động đặt các đồ vật như phông trắng, lọ hoa trắng, bộ ấm chén (nghi là biểu tượng của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình); các đối tượng vẫn lén lút hoạt động tiềm ẩn mất trật tự, an toàn tại địa phương./.
BÀI 2: TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN KHÔNG THEO TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP DƯƠNG VĂN MÌNH
Bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội tỉnh Bắc Kạn đã vào cuộc quyết liệt, góp phần giúp đồng bào nhận rõ và từ bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.
Sau khi Dương Văn Mình chết vào cuối năm 2021; cùng với công tác tuyên truyền sâu rộng, sự vào cuộc, đấu tranh quyết liệt của các lực lượng chức năng, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, hoạt động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình có phần lắng xuống; các đối tượng cầm đầu, cốt cán có biểu hiện hoang mang, dao động, mất phương hướng, lo lắng và mất dần niềm tin với tổ chức; không còn tỏ thái độ chống đối quyết liệt, không còn tụ tập đông người để sinh hoạt, gây mất trật tự an ninh tại địa phương.
Nhằm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tổ chức bất hợp pháp này, cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh Bắc Kạn đã phối hợp chặt chẽ với công an tỉnh, các sở, ban ngành, đoàn thể, địa phương xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động đồng bào không tin và làm theo tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình. Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh đã phân công lực lượng trinh sát, quân báo nhân dân, điệp báo chiến dịch và lực lượng công tác dân vận - tuyên truyền đặc biệt thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 1-6-2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn về ngăn chặn, xóa bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình trên địa bàn tỉnh.
Từ năm 2012 đến nay, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh đã thành lập hàng trăm lượt các đoàn, tổ đội công tác xuống địa bàn các thôn: Cốc Nghè, xã Cổ Linh; Vi Lạp, xã Nhạn Môn; Nặm Sai, xã Bằng Thành (Pác Nặm); tổ dân phố Lũng Lịa, thị trấn Nà Phặc (huyện Ngân Sơn); Khuổi Sáp, bản Puổng, Pù Lùng 1, xã Xuân Lạc; Vằng Doọc, xã Bình Trung (huyện Chợ Đồn); thôn Ngạm Khét, xã Cao Thượng (huyện Ba Bể); thôn Khuổi Nộc, xã Lương Thượng (huyện Na Rì); thôn Đồng Luông, xã Quảng Chu (huyện Chợ Mới)… Bằng tình cảm chân thành và việc làm thiết thực, cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh đã cùng bà con tìm hiểu những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó giúp người dân nhận ra những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chống phá; đặc biệt là những giáo lý mà tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình đã tuyên truyền trái phép.
Có mặt tại nhà anh Dương Văn Mầu, sinh năm 1982 ở tổ dân phố Lũng Lịa, thị trấn Nà Phặc (Ngân Sơn), nét mặt còn ưu tư, anh Mầu nhớ lại: “Trước đây, khi tà đạo Dương Văn Mình thâm nhập vào địa phương và tổ chức tuyên truyền trái phép đạo lý, vì cả tin, gia đình mình đã nghe theo và bỏ bê công việc lao động, sản xuất nhiều năm nên cuộc sống nghèo khó, vợ con nheo nhóc… Khi được các cấp chính quyền, công an, bộ đội phân tích, tuyên truyền mình đã nhận ra việc làm sai trái và từ bỏ; được thôn, bản, bộ đội, chính quyền, bà con lối xóm giúp đỡ, hướng dẫn làm ăn kinh tế giờ gia đình đã thoát nghèo, con cái đều được đến trường học chữ, mình biết ơn cán bộ và từ nay không tin nghe theo tà đạo Dương Văn Mình nữa”. Theo anh Dương Văn Tu, Bí thư Chi bộ thôn Khuổi Sáp, xã Xuân Lạc (Chợ Đồn), đồng bào trong thôn đa số là người Mông, dễ tin vào luận điệu tuyên truyền trái phép của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình. Trước đây nhiều hộ đi theo tà đạo này, bỏ bê sản xuất để nghe giảng đạo lý nên cuộc sống rất nghèo khó. “Có bộ đội đến tuyên truyền, vận động giúp nhân dân nhận ra điều sai trái, giờ đây nhiều hộ dân không còn tin vào tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình. Bộ đội, công an và nhiều tổ chức đoàn thể còn giúp người dân địa phương làm ăn, phát triển kinh tế nên cuộc sống bà con đã được cải thiện nhiều mặt”, anh Tu cho biết thêm.
Đến nay, hầu hết đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã nhận rõ luận điệu sai trái và ký cam kết không theo tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình. Tại những địa bàn xa xôi của tỉnh Bắc Kạn, nơi từng chịu tác động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình cũng đã bình yên trở lại. Bên những nếp nhà truyền thống, màu xanh trải dài trên khắp những nương ngô, nương lúa... bản làng ánh lên sắc màu tươi mới, căng tràn sức sống, cuộc sống ấm no đang “gõ cửa” mọi nhà.
BÀI 3: CỦNG CỐ, CHĂM LO CUỘC SỐNG ĐỂ ĐỒNG BÀO KHÔNG TIN VÀ THEO TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP DƯƠNG VĂN MÌNH.
Những năm qua, tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều chủ trương, biện pháp huy động nhân lực, vật lực đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng cơ sở, phát triển mạng lưới giáo dục, y tế, văn hóa… cho người dân vùng sâu, vùng xa. Từ đó đồng bào thêm tin tưởng vào Đảng, Nhà nước tiến tới từ bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.
Củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở
Theo thống kê từ Sở Nội vụ tỉnh Bắc Kạn: Tính đến tháng 5-2024, toàn tỉnh có gần 84% cán bộ, công chức, viên chức thuộc khối chính quyền là người dân tộc thiểu số (DTTS). Trong đó, nhiều cán bộ là người DTTS có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2; hơn 750 cán bộ có trình độ cao cấp lý luận; 100% cán bộ cấp xã có trình độ trung cấp trở lên. Theo thống kê từ Văn Phòng đoàn Đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn: Số lượng, tỷ lệ cán bộ là người DTTS tham gia Đại biểu Quốc hội khóa XV là 4/6 người; tham gia Ban chấp hành Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2020-2025 là 3/6 (chiếm 50%); tham gia đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh có 39/50 đại biểu (chiếm 78%), cấp huyện 171/238 người (chiếm 71,8%), cấp xã 1.708/1.952 người (chiếm 87,5%).
Những con số điển hình trên là minh chứng cụ thể của tỉnh Bắc Kạn trong thực hiện quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân tộc, chính sách dân tộc được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”.
Để đẩy mạnh phát triển bền vững toàn diện vùng đồng bào DTTS, văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nêu rõ: “Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào DTTS. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào DTTS trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc”.
Cùng với cấp ủy, chính quyền các cấp, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh Bắc Kạn thời gian qua đã phối hợp với công an tỉnh và các sở, ban ngành, địa phương tham mưu, tổ chức được 39 lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở, đội ngũ cán bộ chuyên trách thôn, xã. Từ năm 2020 đến nay, toàn tỉnh có trên 4.000 lượt người được bồi dưỡng kiến thức dân tộc theo Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Cấp ủy các cấp tham gia làm công tác tham mưu tổ chức quy hoạch, đề bạt, bố trí cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS theo đúng tiêu chuẩn quy định…
Chăm lo cuộc sống đồng bào
Song song với công tác đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hoạt động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo; ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; xóa đói, giảm nghèo; các chính sách về văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội… được triển khai đồng bộ tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn bị ảnh hưởng của tổ chức này.
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2024 (Báo cáo số 447/BC-UBND ngày 28-6-2024 của UBND tỉnh Bắc Kạn) nêu bật: Gần 7,9% số trẻ suy dinh dưỡng trong tỉnh được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng. Tại 2 huyện nghèo Ngân Sơn và Pác Nặm, 100% trẻ em gái vị thành niên từ 12 đến dưới 16 tuổi được bổ sung vi chất sắt; 95% phụ nữ có thai được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng…
Hơn 46.000 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác được vay vốn phát triển sản xuất, đầu tư cho con em học tập; hơn 3.100 hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở; gần 315.000 đối tượng chính sách xã hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế với tỷ lệ bao phủ trên địa bàn tỉnh đạt 96,19%. Mục tiêu giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều hằng năm đạt và vượt kế hoạch đề ra (năm 2022 giảm 2,66%, năm 2023 giảm 2,76%). Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào DTTS giảm 3,45%. Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo năm sau giảm so với năm trước…
Thượng tá Hà Đức Nam, Trưởng ban Dân vận, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Bắc Kạn cho biết: Năm 2023, Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu, phối hợp, triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát được 301 ngôi nhà từ quỹ Bộ Quốc phòng và Quân khu, trị giá trên 15 tỷ đồng. Thời gian qua, LLVT tỉnh đóng góp trên 13.000 ngày công làm 140km kênh mương, sửa và làm mới 45 cây cầu dân sinh, 31 lớp học; thăm, tặng quà đồng bào và các gia đình chính sách với tổng trị giá gần 3 tỷ đồng; khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho gần 3.000 lượt người, trị giá gần 300 triệu đồng…
Những chính sách an sinh xã hội đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần không nhỏ, thay đổi diện mạo vùng cao. Tại nhà văn hóa thôn Pù Lùng 1, xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn (món quà mà cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu xây tặng), vào những đêm trăng sáng, ngắm nhìn bà con hân hoan quây quần thổi khèn, múa điệu hoa xòe, anh Hoàng Văn Chẹ, Trưởng thôn Pù Lùng 1 phấn khởi: Sự quan tâm, thấu hiểu, động viên và những buổi trò chuyện, tuyên truyền thường xuyên của cán bộ và chính quyền địa phương đối với những người dân tộc Mông bị ảnh hưởng bởi tà đạo đã đưa họ thoát khỏi “bóng tối”, trở lại với cuộc sống bình yên thường nhật./.
Nhân sự kiện bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua, những kẻ phản động, bất mãn, chống đối lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán những bài viết, phát ngôn xuyên tạc vấn đề bầu cử của Đảng, Nhà nước ta. Gần đây, trên trang Doithoaionline có bài viết “Bao giờ dân Việt mới được tự do bầu cử ?” của Bút danh Chánh Thành. Bài viết cho rằng: “Nhu cầu dân chủ và bầu cử trung thực ở Việt Nam đang rất lớn, nhưng nhà nước độc tài làm sao dám chấp nhận”; Y còn cho rằng người dân Việt Nam quan tâm đến bầu cử ở Mỹ nhiều hơn bầu cử ở Việt Nam “Dân Việt Nam rộn ràng háo hức cập nhật từng lá phiếu bầu Tổng thống Mỹ” còn “5 đợt bầu cử Chủ tịch nước trong 4 năm qua nhưng chẳng ai quan tâm” vì “người dân Việt Nam đã quá chán ngán nền chính trị nước nhà”…
Đây là bài viết thể hiện tính chất thù địch, cố tình xuyên tạc sai sự thật, lợi dụng các sự kiện chính trị các nước khác trên thế giới để bôi đen, nói xấu Đảng, Nhà nước và công tác bầu cử ở Việt Nam. Việc bầu cử đại biểu vào các vị trí lãnh đạo Đảng, Nhà nước theo nhiệm kỳ hoặc khi có biến động nhân sự là việc làm bình thường của mỗi quốc gia, mỗi cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị. Mặt khác, ở mỗi quốc gia với chế độ chính trị khác nhau sẽ có cách thức bầu cử khác nhau, việc đem so sánh bầu cử ở Mỹ và ở Việt Nam thực chất là thủ đoạn “mượn gió bẻ măng” của các thế lực thù địch, phản động nhằm xuyên tạc, bóp méo công tác bầu cử ở Việt Nam; hạ thấp uy tín của Quốc hội, Đảng, Nhà nước; kích động tâm lý, hướng lái dư luận làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Quốc hội, Đảng, Nhà nước.
Chánh Thành còn tùy tiện phán xét rằng: Việc Quốc Hội tiến hành bầu cử các chức vụ, chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước thời gian qua chỉ là “diễn hề” theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng. Thực chất, đây là sự hằn học, đố kị của những kẻ “thua cuộc” - Những kẻ “bán thân”, vuốt đuôi, tay sai cho giặc, những kẻ vong ân, bội nghĩa. Bời vì: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân; là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền lập hiến, lập pháp, bầu cử, bãi miễn các chức vụ, chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước… Đây là, việc làm hoàn toàn đúng đắn, hợp hiến, hợp pháp và Đảng lãnh đạo công tác bầu cử, tham gia vào công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, là không vi hiến. Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Trong bài viết, Chánh Thành còn cho rằng công tác bầu cử của Quốc hội chỉ là hình thức, thiếu dân chủ, minh bạch, người dân Việt Nam “khao khát có cơ hội được bỏ phiếu, kiểm phiếu một cách khách quan, trung thực”. Thực tế, bầu cử ở Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Thực hiện bầu cử là trách nhiệm của công dân đối với đất nước, nên không có chuyện đi bầu cử chỉ là đóng vai trong show diễn “dân chủ”, tại mỗi kỳ bầu cử Quốc hội, họ thông qua những người đại diện của mình để thể hiện rõ ý chí, nguyện vọng của họ thông qua lá phiếu.
Với những thủ đoạn như kiểu của Chánh Thành, chúng ta không khó để nhận rõ âm mưu, mục đích sâu xa của chúng. Công dân Việt Nam, tuyệt đại đa số luôn tin tưởng vào những đại biểu của mình đã bầu ra, đại diện cho họ trong việc làm chủ vận mệnh của dân tộc, vì sự phát triển bền vững, phồn vinh của đất nước, tuyệt đối tin tưởng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước. Bằng lòng tự hào dân tộc, sự tự tôn, tự trọng của con người Việt Nam chân chính, chúng ta cần phân biệt trắng đen, thật giả để kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật như Chánh Thành. Chúng ta kiên quyết đấu tranh bảo vệ lẽ phải, cái đúng, bảo vệ sự thật, cũng là bảo vệ môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh của chúng ta./.
Là bộ phận then chốt của công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã và đang khẳng định vai trò quan trọng; là định hướng chiến lược nhằm kiến tạo, củng cố môi trường, điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị liên tục xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hợp tác, phát triển của Việt Nam. Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái đó là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh mới hiện nay.
Kiên quyết bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc rằng việc Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại quốc phòng “bốn không” độc lập, tự chủ là lỗi thời, lạc hậu, làm hạn chế sức mạnh của đất nước
Những năm qua, quán triệt và “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại để bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”(1), Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả; trong đó nổi bật về lĩnh vực quốc phòng và luôn xác định đó là phương thức, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mang tính đột phá, tạo điều kiện và môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2). Nhiều mối quan hệ quốc phòng song phương được củng cố, đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc; nhất là quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước bạn bè truyền thống. Hợp tác quốc phòng đa phương cũng có những bước phát triển thực chất, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng lòng tin chiến lược, thúc đẩy xu thế hòa bình, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột quân sự. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã thực sự trở thành trụ cột then chốt trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc; là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; là phương thức thực hiện các mục tiêu về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của quân đội trong thời bình. Tính đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với hơn 100 quốc gia, trong đó hầu hết là các đối tác chủ chốt (bao gồm 7 đối tác chiến lược toàn diện; 11 đối tác chiến lược; 12 đối tác toàn diện; 3 quốc gia có quan hệ đặc biệt); đã đặt 33 cơ quan Tùy viên quốc phòng thường trú tại các nước và tại trụ sở Liên hợp quốc; 52 nước đã đặt cơ quan Tùy viên quốc phòng, Tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam đã cử 516 lượt cán bộ, nhân viên tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các phái bộ ở Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên hợp quốc. Bên cạnh đó, tháng 2-2023, Việt Nam đã cử 76 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ(3).
Các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia tìm kiếm cứu nạn trong vụ động đất ở tỉnh Hatay, Thổ Nhĩ Kỳ, tháng 2-2023_Nguồn: qdnd.vn
Tuy nhiên, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là lĩnh vực nhạy cảm, trực tiếp liên quan đến những vấn đề hệ trọng của đất nước, thường gắn kết với các lĩnh vực hợp tác khác và phụ thuộc vào mức độ quan hệ về chính trị, kinh tế với các đối tác. Lợi dụng điều đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước, những nhóm người tự xưng là “yêu nước”, “tâm huyết”, “lo lắng” với vận mệnh quốc gia - dân tộc đã nhiều lần gửi cái gọi là “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Họ thường rêu rao rằng, việc Việt Nam theo đuổi đường lối đối ngoại quốc phòng trung lập, độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “trì trệ”, “tự mình cô lập mình”, là “đơn phương tách khỏi dòng chảy hội nhập của thế giới đương đại”; rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia tất yếu tăng lên; thế nhưng, Việt Nam vẫn “khăng khăng thực hiện chính sách quốc phòng bốn không” là “đường lối sai lầm”, “đối sách nhu nhược”, “hành động tự trói”, đã lỗi thời, lạc hậu, đi ngược lại xu thế của thời đại (?!). Họ ra sức xuyên tạc chủ trương không tham gia liên minh quân sự của Việt Nam là “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước” và việc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” tức là đã “từ bỏ bạo lực cách mạng trong bảo vệ Tổ quốc, xa rời phương pháp cách mạng mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã khẳng định”. Ngang nhiên hơn, họ còn dựng chuyện, cố tình quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước là “khơi mào cho hành động chạy đua vũ trang trong khu vực”, là để chống lại một nước thứ ba (?!).
Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng với chính sách đối ngoại quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Theo họ, để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo, Việt Nam phải “thoát bên này”, “bài bên kia”; phải nhanh chóng trở thành đồng minh, liên minh, liên thủ với một số nước lớn chứ không thể trung lập “một mình một phe”. Gần đây, nhân cuộc xung đột Nga - U-crai-na, các đối tượng phản động với mưu đồ chống phá đã vội vã xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam là “không dám thể hiện lập trường”, là “đối ngoại quốc phòng núp bóng”, “đu dây”, là hành động “tự sát”. Thậm chí, có người còn “bóng gió” đầy ẩn ý rằng, trong bối cảnh xung đột căng thẳng, Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Nga tức là đã “đi với nước này để chống nước kia”. Từ đó, họ kích động cách hành xử bạo lực với cộng đồng người Việt Nam tại Nga và U-crai-na. Trơ trẽn và phi lý hơn, thông qua việc này, họ đưa ra yêu sách đòi chúng ta thay đổi đường lối và chính sách đối ngoại quốc phòng.
Rõ ràng, những luận điệu trên là hoàn toàn bịa đặt, vô căn cứ, không đúng sự thật. Mục đích của các thế lực thù địch, phản động là xuyên tạc trắng trợn, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không”, độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, hòng hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc bên ngoài, đánh mất độc lập, tự chủ trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại; gây khó khăn cho Việt Nam trong việc củng cố và mở rộng quan hệ đối ngoại quốc phòng vì sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, họ gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn của đường lối quân sự, quốc phòng, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, hòng gây chia rẽ đoàn kết quân - dân, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, suy giảm sức mạnh quốc phòng của đất nước. Âm mưu thâm độc hơn khi họ cố tình hướng lái người dân từ bỏ trách nhiệm, nghĩa vụ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự, dẫn tới gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng là trụ cột để kiến tạo và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; là phương thức, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Là bộ phận then chốt của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, hội nhập quốc tế vàđối ngoại quốc phòng đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng; là định hướng chiến lược nhằm kiến tạo, củng cố môi trường, điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam luôn nhận thức rõ, hội nhập quốc tế vàđối ngoại quốc phòng là cơ sở quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới; là phương thức căn bản để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, trên cơ sở “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(4); Đảng và Nhà nước ta xác định phương hướng “chủ động, tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh”(5) trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không phân biệt sự khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào”(6).
Mục tiêu của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng thống nhất với mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; củng cố, tăng cường môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước, đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình ở khu vực và trên thế giới”(7). Đồng thời, “thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8). Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm gắn kết chặt chẽ, kế thừa và phát huy thành tựu, kinh nghiệm, thúc đẩy hội nhập trên các lĩnh vực khác, tạo thành một thể thống nhất, đồng bộ trong chiến lược đối ngoại của quốc gia; góp phần nâng cao vai trò, vị thế của đất nước, quân đội trên trường quốc tế.
Thực hiện mục tiêu đó, quan điểm nhất quán của Việt Nam là đẩy mạnh hội nhập quốc tế vàđối ngoại quốc phòng theo hướng phát triển sâu, rộng cả về phạm vi, quy mô và mức độ hợp tác. “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”(9) nhằm phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luôn xác định rõ lộ trình, bước đi của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phù hợp với hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực khác và xu hướng hợp tác, liên kết, phát triển của khu vực và thế giới. Triệt để khai thác cơ hội trong quá trình hội nhập; chủ động khắc phục khó khăn, đề cao cảnh giác, không để các thế lực thù địch lợi dụng tiến trình này gây phương hại đến độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng luôn nhất quán “bốn không” là: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”(10). Tuy nhiên, thực hiện đối ngoại quốc phòng “bốn không” không phải là bất biến. “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”(11) và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Quan điểm, đường lối đó đã khẳng định rõ tính trung lập của đối ngoại quốc phòng Việt Nam; là sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cơ sở lý luận, thực tiễn, khoa học, pháp lý vững chắc; là kế sách bảo vệ Tổ quốc, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình.
Thực tiễn quan hệ quốc tế đương đại cho thấy, các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế, thỏa hiệp lẫn nhau rất gay gắt, phức tạp và tăng cường can dự, chi phối nội bộ nước khác. Diễn biến tình hình thế giới, khu vực thời gian gần đây cho thấy cái giá phải trả của việc “tham gia phe nhóm”, “chọn bên” hay “liên minh với nước này để chống nước kia” là vô cùng đắt giá; thậm chí nước nhỏ rất dễ trở thành “quân cờ” trong tay các nước lớn, bị “mặc cả”, “đổi chác”, xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia. Vậy nên, đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ là đúng đắn, sáng suốt, hợp lý trong một thế giới đầy biến động, khó đoán định. Với lẽ đó, Việt Nam không “chọn bên” mà chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Đây là quan điểm công khai, minh bạch trong đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng hiện nay. Vì vậy, những lời lẽ suy diễn, ngụy biện hay luận điệu núp bóng “hiến kế”, “bày mưu” cho rằng Việt Nam phải “thân cận với bên này” hoặc “liên minh với nước lớn” trong đường lối, chính sách đối ngoại không những là nhận thức sai lầm, phản động, mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, lệ thuộc, trái với phương châm đối ngoại độc lập, tự chủ, “thêm bạn, bớt thù”, vì hòa bình, hợp tác, phát triển, “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” của Việt Nam.
Về phương châm hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, Việt Nam xác định phải “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”(12), không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ. Lấy mở rộng và phát huy “điểm tương đồng” để hạn chế, khắc phục và thu hẹp “điểm bất đồng”, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh, tăng cường lòng tin chiến lược với các nước. Đây là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên tinh thần mở rộng hợp tác để giải quyết mâu thuẫn, bất đồng vì mục tiêu bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc. “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”(13).Quán triệt quan điểm đó, Việt Nam luôn chủ động tham gia và đóng góp nhiều sáng kiến, định hình các cơ chế hợp tác đa phương về quốc phòng, quân sự phù hợp với luật pháp quốc tế và lợi ích của quốc gia - dân tộc; luôn coi trọng củng cố quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; tham gia sâu vào Đối thoại Shangri-La, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), nỗ lực tham gia chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt; từng bước tham gia các cơ chế quốc phòng, an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Liên minh châu Âu (EU); tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, nhất là các hoạt động nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh, ứng phó với thảm họa; cam kết thực hiện nghiêm túc các điều ước, thỏa thuận đã ký kết với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực; đồng thời, thiết lập và duy trì đường dây nóng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với bộ quốc phòng các nước. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng hướng đến “tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên cơ sở pháp luật quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng”(14). Với những tranh chấp, bất đồng còn tồn tại, Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Chú trọng sử dụng biện pháp ngoại giao mềm dẻo (như đàm phán, thương lượng, trung gian hòa giải, thông qua các tổ chức quốc tế, khu vực, thông qua ký kết các điều ước song phương, đa phương...) và tài phán quốc tế (tòa án quốc tế, trọng tài quốc tế...). Việt Nam luôn thiện chí thúc đẩy các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp để giải quyết vướng mắc; luôn kiềm chế, không có hành động quá khích, cực đoan, không làm phức tạp tình hình. Tuy nhiên, chúng ta sẵn sàng sử dụng sức mạnh, sẵn sàng chiến đấu, thực hiện quyền tự vệ chính đáng khi độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích cơ bản của quốc gia - dân tộc bị xâm phạm.
Tiếp tục nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò chiến lược quan trọng của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; thực hiện chủ trương tranh thủ tối đa và phát huy cao nhất các nguồn lực để tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn; cạnh tranh chiến lược và tập hợp lực lượng giữa các nước lớn diễn ra gay gắt; xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ và các điểm nóng có chiều hướng gia tăng; các vấn đề về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng chuyển hóa, đan xen, tác động sâu sắc trên nhiều lĩnh vực..., sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới càng đòi hỏi chúng ta tăng cường hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng; xác định rõ chủ trương, giải pháp thực hiện với lộ trình và bước đi phù hợp. Theo đó, cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 34-CT/TW, ngày 9-1-2023, của Bộ Chính trị, “về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng”; Kết luận số 53-KL/TW, ngày 28-4-2023, của Bộ Chính trị, “về Chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số44-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và Đề án xây dựng Trung tâm điều phối quốc gia về gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Các chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 6 và Đội Công binh số 3 xuất quân tham gia sứ mệnh gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan và khu vực Abyei, tháng 9-2024_Nguồn: qdnd.vn
Xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc; trong đó, xác định rõ các cấp độ đối ngoại quốc phòng phù hợp và tương thích với mức độ quan hệ hợp tác với từng đối tác cụ thể. Tập trung thực hiện tốt ba khâu đột phá trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là: Một là, tiếp tục mở rộng đối ngoại quốc phòng song phương có trọng tâm, trọng điểm trên cơ sở các thỏa thuận đã ký kết; tập trung vào lĩnh vực hợp tác về nghiên cứu khoa học quân sự, hiện đại hóa quân đội, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước. Ưu tiên thúc đẩy quan hệ quốc phòng gắn bó mật thiết, ổn định, vững chắc với các nước Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, thúc đẩy hợp tác và giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, củng cố đường biên giới hòa bình, ổn định; coi trọng quan hệ hợp tác với các nước ASEAN; củng cố, phát triển quan hệ quốc phòng với các nước lớn; tăng cường quan hệ đối ngoại quốc phòng với các nước bạn bè truyền thống và các nước đang phát triển. Hai là, tích cực, chủ động tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, trước hết là các cơ chế hợp tác quốc phòng do ASEAN giữ vai trò chủ đạo; tham gia các cơ chế đa phương về kiểm soát vũ khí hủy diệt hàng loạt, hoạt động chống khủng bố và các hoạt động khác phù hợp với điều kiện, khả năng của đất nước. Ba là, từng bước mở rộng phạm vi, quy mô, tham gia hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, như quan sát viên quân sự, huấn luyện, diễn tập chung về ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, hoạt động hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa, khắc phục hậu quả chiến tranh... đúng với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. “Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia- dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”(15).
Quá trình thực hiện quán triệt phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến; kiên định về nguyên tắc chiến lược;linh hoạt, sáng tạo về sách lược; về quan điểm luôn khách quan, trung lập; về nguyên tắc phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc và độc lập, tự chủ; về biện pháp, cách làm cụ thể phảinhạy bén; kịp thời trao đổi, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm; nâng tầm tư duy, hành động chắc chắn, hiệu quả. Tích cực tạo lập thế trận giữa quốc phòng, an ninh với đối ngoại vững chắc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương trong thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng; tập trung vào hoạt động đối ngoại của lãnh đạo các cấp, các sáng kiến, đóng góp của Việt Nam tại các hội nghị, diễn đàn quân sự, quốc phòng đa phương, kết quả hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ nhân đạo, đối ngoại biên giới, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Nắm chắc diễn biến tình hình, những yếu tố tác động đến hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, nhất là cạnh tranh chiến lược, xu thế tập hợp lực lượng của các nước lớn, tình hình Biển Đông, tình hình trên các tuyến biên giới và vùng biển Tây Nam, các thách thức an ninh phi truyền thống... để xây dựng đối sách, phương thức xử lý hiệu quả. Triển khai hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đồng bộ trên các lĩnh vực; tham gia đầy đủ, hiệu quả các cơ chế, khuôn khổ, cấu trúc, diễn đàn khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, thể hiện vai trò dẫn dắt ở một số lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh; đảm nhiệm tốt vai trò chủ trì các hoạt động trong khuôn khổ của ASEAN.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ; là sự phản chiếu chính sách quốc phòng vì hòa bình, để tự vệ của Việt Nam. Bất luận ai đó có cố tình phán sai, nói lệch thế nào đi chăng nữa cũng không thể xuyên tạc, phủ nhận điều đó, bởi đây còn là phương thức, kế sách bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình trong tình hình mới./.
Làm việc sát quần chúng, hòa mình với quần chúng để nghe được những điều quần chúng nói, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, nỗi bức xúc của quần chúng là vấn đề có tính nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng, là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói và luôn gương mẫu thực hành trong quá trình làm việc.
Học và làm theo Bác, thời gian qua, bên cạnh tuyên truyền, giáo dục, tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều giải pháp sáng tạo trong việc đưa cán bộ gần dân, hiểu dân, vì dân hơn.
Đưa lãnh đạo gần dân.
Từ tháng 9/2024, lịch công tác của đồng chí Hà Sỹ Thắng, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Bắc Kạn có thêm nội dung hoàn toàn mới là việc đến xã Vân Tùng (Ngân Sơn) để nắm tình hình, hướng dẫn, hỗ trợ, đôn đốc phát triển kinh tế-xã hội.
Phần việc mới này xuất phát từ việc Tỉnh ủy Bắc Kạn phân công đồng chí phụ trách xã Vân Tùng, thực hiện theo Quy định 1390-QĐ/TU ngày 29/8/2024 của Tỉnh ủy Bắc Kạn về nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ lãnh đạo sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh theo dõi các xã, phường, thị trấn.
Theo đồng chí Hà Sỹ Thắng, việc theo dõi thực hiện thông qua dự các cuộc họp của Đảng ủy xã, trực tiếp đến nhiều thôn, bản trong xã để nắm tình hình, tư vấn cho xã. Ngược lại, đến với cơ sở cũng là hòa mình vào thực tế để tích lũy kinh nghiệm, học từ thực tiễn để phục vụ hiệu quả cho thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
Trước đó, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách, theo dõi các huyện; Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh dự sinh hoạt chi bộ cơ sở nhưng đây là lần đầu tiên, Bắc Kạn phân công 108 cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp sở, ngành phụ trách, theo dõi toàn bộ 108 xã, phường, thị trấn.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Phương Viên (Chợ Đồn) Ma Ngọc Tuyền, nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách mà cấp xã lúng túng trong thực hiện. Tuy nhiên, việc trao đổi qua văn bản nhiều khi không thể hiệu quả bằng việc được cán bộ cấp tỉnh giải đáp, hướng dẫn, giúp đỡ theo cách “cầm tay, chỉ việc”. Mặt khác, cán bộ là lãnh đạo cấp sở, ngành với chuyên môn sâu cũng giúp khơi mở, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực sở, ngành đó quản lý.
“Chúng tôi đánh giá rất cao việc phân công cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh phụ trách, theo dõi xã. Việc cán bộ tỉnh thường xuyên dự họp, nắm tình hình cũng giúp cán bộ xã triển khai công việc kỷ luật, quy củ hơn”, Bí thư Đảng ủy xã Phương Viên Ma Ngọc Tuyền nói thêm.
Hiệu quả trong thực hiện Quy định 1390 là ở chỗ không chỉ phân công đơn thuần, chung chung mà quy định cụ thể những nội dung các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện. Quy định với 4 chương, 11 điều trong đó quy định rõ: Đối tượng, phạm vi áp dụng; Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc; Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo dõi địa bàn. Quy định rõ mối quan hệ công tác với Ban Thường vụ Tỉnh ủy; với các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách đảng bộ; với tập thể lãnh đạo cơ quan nơi công tác; với cấp ủy địa phương... Thời gian phân công theo dõi địa bàn xã theo nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp.
Ở chiều ngược lại, đây là cơ hội để cán bộ lãnh đạo tỉnh tiếp cận thực tế, tích lũy kinh nghiệm, từ đó nâng cao năng lực quản lý, điều hành. Cán bộ theo dõi địa bàn cũng được trao quyền tham gia ý kiến, đề xuất trực tiếp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy về những vấn đề phát sinh, khó khăn tại cơ sở. Điều này giúp nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả trong công tác quản lý, chỉ đạo, “rút ngắn” khoảng cách từ cơ sở tới Tỉnh ủy, đồng thời còn là kênh thông tin để Tỉnh ủy giám sát sự trung thực trong thực hiện nhiệm vụ của cấp huyện.
Theo Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Chợ Đồn Ma Thị Na, việc 20 xã trên địa bàn đều có cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh phụ trách, theo dõi là rất thuận lợi cho triển khai phát triển kinh tế-xã hội. Không chỉ giúp đỡ, hướng dẫn, đôn đốc mà các đồng chí này còn là “cánh tay nối dài” của Tỉnh ủy, UBND tỉnh với cơ sở. Cùng với các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy theo dõi và Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện dự sinh hoạt thì chắc chắn hiệu quả công việc sẽ nâng lên.
Để cán bộ vì dân.
Trong khi Quy định 1390 chỉ có phạm vi đối với các cán bộ lãnh đạo, quản lý thì việc phân công các sở, ngành giúp đỡ xã khó khăn xây dựng nông thôn mới đã huy động được toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của các cơ quan cấp tỉnh đến với nhân dân. Cách làm sáng tạo này đã được Tỉnh ủy Bắc Kạn chỉ đạo thực hiện từ năm 2015. Từ hiệu quả, Tỉnh ủy Bắc Kạn tiếp tục chỉ đạo thực hiện giai đoạn 2020-2025. Theo đó, Tỉnh ủy phân công 53 sở, ngành, đơn vị cấp tỉnh giúp đỡ 6 xã phấn đấu về đích và 47 xã khó khăn trong xây dựng nông thôn mới.
Thời gian này, đường quê tại Thôn 1A Nà Loạn và Thôn 2 Khau Cưởm ở xã khó khăn Sỹ Bình, huyện Bạch Thông luôn bừng sáng ánh điện mỗi khi đêm về, giúp người dân đi lại thuận lợi, trẻ con có điểm vui chơi. Công trình điện thắp sáng đường quê này là kết quả từ sự vận động, hỗ trợ của Ban Nội chính Tỉnh ủy Bắc Kạn.
Được phân công giúp đỡ xã Sỹ Bình xây dựng nông thôn mới, năm 2023, Ban Nội chính Tỉnh ủy Bắc Kạn đã thực hiện hai công trình thắp sáng đường quê; tặng 10 suất quà cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn; tặng 56 xe đạp cho học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân.
Năm 2024, đơn vị hỗ trợ xây nhà mới cho một hộ nghèo; tặng 52 suất quà cho học sinh nghèo; cán bộ, công chức trong đơn vị đóng góp xây dựng công trình phụ trợ cho nhà họp thôn.
Theo Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Bắc Kạn Lường Đức Thắng, tập thể Ban Nội chính tích cực phổ biến giáo dục pháp luật, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, ứng dụng khoa học vào sản xuất, tham gia các mô hình liên kết sản xuất… Ban hỗ trợ bằng vật chất và ngày công lao động để cùng xây dựng các công trình dân sinh, nhà ở cho hộ nghèo…
Qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức, người lao động trong tham gia thực hiện nhiệm vụ chung của địa phương, đơn vị; tăng cường gắn kết giữa đảng viên, cán bộ, công chức, người lao động ở các cơ quan, đơn vị với nhân dân ở các địa phương.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Bình Trung (Chợ Đồn) Bàn Văn Bình, xã được Sở Thông tin và Truyền thông giúp đỡ xây dựng nông thôn mới. Từng cán bộ của Sở đã đóng góp tiền để mua vật liệu và góp ngày công chung sức cùng nhân dân làm đường, kéo dây điện thắp sáng đường thôn… Việc cán bộ cấp tỉnh không ngại gian khổ xuống cùng lao động đã góp phần thúc đẩy tinh thần xây dựng nông thôn mới của cán bộ xã và nhân dân.
Theo đánh giá của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Kạn, các cơ quan, đơn vị xác định rõ việc giúp đỡ xã khó khăn trong xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào kết quả chung của toàn tỉnh. Hình thức giúp đỡ xã của các cơ quan, đơn vị phong phú, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và điều kiện thực tế của địa phương. Việc giúp đỡ các xã khó khăn xây dựng nông thôn mới đều được gắn với kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Một trong những yêu cầu của Tỉnh ủy Bắc Kạn đối với cán bộ được phân công theo dõi địa bàn là phải nắm chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và am hiểu nhiều lĩnh vực để kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền ở địa bàn được phân công. Định kỳ hằng năm, các đảng ủy xã có nhận xét, đánh giá bằng văn bản về kết quả công tác của cán bộ theo dõi địa bàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa phương gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Như vậy, việc thực hiện quy định phân công phụ trách xã đã được giám sát đa chiều, chặt chẽ. Cách làm này của Bắc Kạn đã và đang dần hình thành nếp nghĩ, cách làm gần dân, vì dân trong đội ngũ cán bộ từ lãnh đạo, quản lý cho tới công chức, viên chức, người lao động. Cùng với việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác Hồ thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ trọng dân, hòa mình với quần chúng của địa phương này sẽ có nhiều tiến bộ trong thời gian tới./.