Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo trong giáo dục sinh viên sư phạm hiện nay.

 Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, phẩm chất đạo, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo được Người đặt lên hàng đầu. Bài viết góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, từ đó đề xuất giải pháp vận dụng tư tưởng của Người vào việc tăng cường công tác giáo dục ý thức chính trị, đạo đức cho sinh viên sư phạm trong điều kiện hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật sân khấu Trung ương ở Khu Văn công Mai Dịch, Hà Nội_Ảnh:xaydungdang.org.vn

1. Mở đầu

Hiện nay, tuyệt đại đa số đội ngũ nhà giáo Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân; có phẩm chất đạo đức cách mạng, nỗ lực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn; tích cực tham gia các hoạt động của nhà trường; nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp “trồng người”.

Bên cạnh đó, trong đội ngũ nhà giáo vẫn còn những giáo viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, thậm chí vi phạm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; chưa thật tích cực nâng cao năng lực chuyên môn. Về vấn đề này, Đảng ta chỉ rõ: “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp”(1).

Chính vì vậy, trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, một trong những nhiệm vụ hàng đầu hết sức quan trọng và cấp bách là nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo ngay từ các nhà trường sư phạm. Muốn vậy, mỗi nhà giáo trong các trường sư phạm cần thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nhà giáo, trước hết là tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, từ đó vận dụng tư tưởng của Người vào nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức chính trị, đạo đức cho sinh viên sư phạm.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Người chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(2), giáo dục - đào tạo mang lại cho dân tộc ta một sức mạnh để xây dựng đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu. Trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đội ngũ nhà giáo giữ vai trò quyết định. Để hoàn thành sứ mệnh cao cả và vinh quang của mình, đội ngũ nhà giáo phải toàn diện, có đủ cả đức và tài, “hồng” và “chuyên”, trong đó đức là gốc. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức nhà giáo là sự nhận thức và thực hành các quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội mang tính đặc thù của nghề sư phạm, quy định thái độ và hành vi ứng xử của nhà giáo trong nhà trường và đời sống xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.

Phát huy truyền thống văn hiến của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn đề cao phẩm chất của trí thức, nhà giáo, là tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Người cho rằng, mục đích của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của người trí thức mới không có gì khác là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, Người phê phán mạnh mẽ chính sách giáo dục thực dân, chế độ văn hóa nô dịch. Người đòi hỏi mỗi nhà giáo phải xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân và tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân: “Trước hết phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống của nhân dân. Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân”(3).

Hồ Chí Minh chỉ ra bản chất khác biệt và tính ưu việt của nền giáo dục XHCN so với nền giáo dục trong xã hội cũ. Theo đó, động cơ của nhà giáo không phải là mục đích kinh tế thuần túy, mà là giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu giáo dục của nhân dân, vì hạnh phúc của đồng bào. Đội ngũ nhà giáo phải là những người lấy việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân làm lẽ sống, làm lý tưởng và mục tiêu phấn đấu trong suốt cuộc đời dạy học của mình.

Không chỉ trong môi trường sư phạm mà trong mọi công việc nói chung, đội ngũ nhà giáo trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; tham gia lao động sản xuất, hòa mình với các tầng lớp nhân dân, tuyên truyền chính trị, văn hóa, pháp luật cho nhân dân, áp dụng các tri thức khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người chỉ dẫn các nhà giáo, trí thức phải “minh minh đức tức là chính tâm. Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết”(4).

Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi các nhà giáo phải xứng đáng với danh hiệu “kỹ sư tâm hồn”. Trước hết, nhà giáo phải xây dựng cho mình tinh thần hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân với lương tâm nghề nghiệp trong sáng, yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ; không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, tu dưỡng và rèn luyện nhân cách, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ và cống hiến cao nhất cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, vì sự phát triển đất nước, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Người căn dặn cán bộ, giáo viên: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý”(5). Trong rèn luyện đạo đức, Người luôn nhắc nhở các nhà giáo phải liêm khiết, trung thực, biết đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân; làm việc hết sức mình, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhà giáo cũng phải quán triệt, thực hiện tốt đường lối giáo dục của Đảng, chấp hành nghiêm các quy định của Nhà nước về giáo dục - đào tạo, các quy định của ngành cũng như pháp luật nói chung.​

Để hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Hồ Chí Minh đặt ra những yêu cầu cụ thể mà đội ngũ thầy, cô giáo và những người làm công tác giáo dục cần thực hiện: “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”(6).

Theo Hồ Chí Minh, để hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhà giáo cần rèn luyện các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong hoàn cảnh đất nước và ngành giáo dục còn nhiều khó khăn, Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi nhà giáo cũng như mọi công dân yêu nước cần phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, vượt mọi khó khăn, gian khổ. Người chỉ rõ: “Nước ta còn nghèo. Muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động… Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta(7). Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục, Hồ Chí Minh đòi hỏi toàn ngành giáo dục nói chung và mỗi nhà giáo nói riêng: “Cần nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nhà trường, thực hiện tốt phương châm nhà trường gắn chặt với xã hội, học đi đôi với hành”(8).

Tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân nói riêng và đạo đức cách mạng nói chung của nhà giáo đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Để đội ngũ nhà giáo góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo, Hồ Chí Minh căn dặn và yêu cầu mỗi người phải luôn cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng, phấn đấu vì nước, vì dân. Trong ngành giáo dục, để chống chủ nghĩa cá nhân, khi làm bất kỳ việc gì, mỗi nhà giáo phải nghĩ đến lợi ích chung trước, lợi ích riêng sau, tất cả vì sự nghiệp trồng người, vì học sinh thân yêu, phải thành tâm tu dưỡng để xứng đáng là “người trí thức của giai cấp công nhân, hết lòng hết sức phục vụ công nông, góp phần xứng đáng và vẻ vang vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”(9).

3. Giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo trong giáo dục sinh viên sư phạm

Định hướng xây dựng và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thế hệ trẻ, trong đó có sinh viên sư phạm - những nhà giáo, những “kỹ sư tâm hồn” tương lai, Đảng ta chỉ rõ: “Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(10). Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục sinh viên sư phạm một cách hiệu quả và thiết thực, cần thực hiện đồng bộ, có chất lượng nhiều giải pháp.

Một là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một trong những biện pháp quan trọng để khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, cùng với công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là giải pháp tác động trực tiếp đến trí tuệ và tình cảm, lý trí và niềm tin, nhận thức và hành động đối với mỗi sinh viên sư phạm trên bước đường đào tạo để trở thành những nhà giáo tương lai.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần tiếp tục tổ chức thực hiện một cách toàn diện, song có trọng tâm, trọng điểm, sát với yêu cầu giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nhà giáo nói chung, giáo dục sinh viên sư phạm nói riêng. Bản thân các giảng viên và đội ngũ cán bộ quản lý trong nhà trường phải đi đầu, là tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để sinh viên noi theo.

Trong quá trình học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, mỗi sinh viên sư phạm cần ý thức đầy đủ, sâu sắc rằng, việc nâng cao ý thức chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách của mình không chỉ bằng nhận thức, mà bằng cả trái tim đầy nhiệt tình, nhiệt huyết của tuổi trẻ, của nhà giáo dục tương lai. Mỗi sinh viên phải xây dựng kế hoạch phấn đấu, đề ra nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp, khả thi, đồng thời phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, năng lực sáng tạo, ý chí quyết tâm, không ngừng học tập, rèn luyện bằng những hành động cụ thể, có kết quả cụ thể; sống có tình, có nghĩa, có tấm lòng nhân ái để hoàn thiện lối sống, nhân cách của bản thân và trở thành người cán bộ, giáo viên tương lai vừa “hồng”, vừa “chuyên” như lời căn dặn và mong muốn của Hồ Chí Minh.

Kết hợp chặt chẽ giữa học với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ học tập, tu dưỡng trong nhà trường và trong các hoạt động xã hội. Thực hiện đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống” trong nhà trường; “xây” là tổ chức tốt các phong trào thi đua, động viên sinh viên thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập và rèn luyện; “chống” là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong sinh viên, xử lý nghiêm những sai phạm để răn đe, cảnh tỉnh, giáo dục chung. Các trường sư phạm đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong sinh viên; đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm gương, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy các môn lý luận chính trị

Việc trang bị cho sinh viên kiến thức các môn lý luận chính trị, cụ thể là các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp sinh viên có được một thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, hiểu được nền tảng tư tưởng và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở đó sinh viên nâng cao ý thức chính trị, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của mình. Có được bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trong sáng, thì trước những tác động tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, các nhà giáo tương lai mới hoàn thành tốt trách nhiệm vẻ vang trong sự nghiệp “trồng người” của mình và là tấm gương lan tỏa, giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho các thế hệ học sinh noi theo. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy các môn lý luận chính trị, cần xây dựng, rèn luyện và củng cố cho sinh viên có được tác phong nghiên cứu khoa học sáng tạo, độc lập, phát triển tư duy lý luận, gắn lý luận với thực tiễn và khả năng vận dụng các kiến thức tiếp thu được vào công việc dạy học sau này.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, quán triệt quan điểm của Đảng ta, mỗi sinh viên sư phạm cần xác định đúng mục đích sống và làm việc của mình là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc: “phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”;… Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(11).

Trong quá trình học các môn lý luận chính trị, sinh viên các trường sư phạm cần xây dựng tình cảm sâu sắc của mình với Đảng quang vinh, với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và với dân tộc Việt Nam anh hùng, để từ đó phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm của mình, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đặc biệt, bằng các hành động cụ thể, sinh viên tham gia bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ thành quả cách mạng mà nhân dân dân ta đã giành được, nỗ lực cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tăng cường giáo dục đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân xuất phát từ sự trân trọng những giá trị tốt đẹp trong đạo đức truyền thống của dân tộc và - đến lượt mình - đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc thúc đẩy mọi người phải nâng cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục cho sinh viên nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng, một trong những nhiệm vụ hết sức cần thiết là cần tăng cường giáo dục đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho sinh viên. Về vấn đề này, Đảng ta đã khẳng định: “Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ”(14).

Trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là tiêu điểm, giá trị cốt lõi, tạo thành động lực tinh thần to lớn trong cuộc sống của con người Việt Nam. Lòng yêu nước xuất phát từ tình yêu đối với đất nước, là lòng trung thành và khát vọng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, trở thành chủ nghĩa yêu nước mang đậm nét đặc sắc, cốt cách của dân tộc và con người Việt Nam. Đó là tinh thần đấu trạnh bất khuất vì độc lập dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, tự hào, tự tôn dân tộc đã được hun đúc từ nghìn đời nay trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

Hiện nay, yêu nước thể hiện ở khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; ở tinh thần lao động tự giác, sáng tạo, cống hiến, hy sinh, xả thân quên mình cho Tổ quốc; ở việc thực hiện tốt trách nhiệm công dân đối với đất nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính vì thế, việc giáo dục lòng yêu nước cho sinh viên sư phạm hiện nay là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng để mỗi sinh viên sư phạm ý thức đúng đắn hơn về nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn, yêu người và yêu nghề hơn, có trách nhiệm và tận tụy hơn với công việc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức của nhà giáo.

Thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, mỗi sinh viên sư phạm phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, cá nhân và xã hội, nghĩa vụ và quyền lợi, luôn đặt lợi ích của tập thể, của đất nước, của dân tộc lên trên hết và trước hết. Muốn vậy, ngay trong quá trình học tập, sinh viên cần tôn trọng, dũng cảm đấu tranh bảo vệ chân lý; tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thấy đúng phải ủng hộ, thấy sai phải phê phán, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; chống lại những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch; chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng và những biểu hiện tiêu cực khác.

Bốn là, phát huy tốt vai trò của các tổ chức đoàn, hội sinh viên

Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã giữ vững bản chất của tổ chức chính trị - xã hội, luôn là lực lượng xung kích, là trường học XHCN của tuổi trẻ. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam là hai tổ chức quan trọng trong việc giáo dục chính trị, đạo đức cho sinh viên. Vì vậy, để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo, các tổ chức này cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc tổ chức các hoạt động tập thể, với những hình thức đa dạng, thiết thực thu hút sinh viên tham gia nhằm nâng cao nhận thức chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho sinh viên. Nêu cao vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong việc tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa và hoạt động ngoài giờ học trên lớp thật sự hấp dẫn, có ý nghĩa thiết thực giúp sinh viên có thêm sự hiểu biết về thực tiễn, hình thành tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, tính tích cực xã hội và các năng lực tổ chức hoạt động giáo dục, qua đó giáo dục đạo đức nhà giáo, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.

Tăng cường vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, văn hóa, thân thiện, bổ ích, góp phần hình thành niềm tin, tình cảm, lý tưởng cách mạng, nâng cao khả năng độc lập, sáng tạo trong suy nghĩ, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, phát triển nhân cách, phẩm chất đạo đức, có năng lực hòa nhập vào cộng đồng xã hội sau này. Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên cần giúp đỡ, tạo điều kiện cho các đoàn viên ưu tú được giác ngộ, nhận thức về Đảng, rèn luyện, phấn đấu để được kết nạp vào Đảng cũng là động lực thúc đẩy sinh viên phấn đấu, nâng cao ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức trong thời gian học tập ở trường.

4. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của nhà giáo chứa đựng những giá trị sâu sắc mà ngày nay cần tiếp tục nghiên cứu kỹ, quán triệt và vận dụng trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, trong đó có việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên sư phạm. Để xây dựng đội ngũ nhà giáo tương lai có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng đòi hỏi nhiều yếu tố; cùng với sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện của bản thân mỗi sinh viên sư phạm, tổ chức đảng, lãnh đạo nhà trường, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong các trường sư phạm cần tổ chức thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường việc giáo dục về lý luận chính trị, đạo đức cho sinh viên.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động trong vận động thanh niên khởi nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

 Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, đã để lại một di sản tư tưởng nhân văn sâu sắc, trong đó nổi bật là quan điểm về lao động. Người khẳng định, lao động là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi cá nhân, đồng thời là hành trình rèn luyện nhân cách, khẳng định giá trị bản thân và cống hiến cho sự phát triển của xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế và văn hóa lớn nhất cả nước, hiện đang là điểm sáng của các phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Việc vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh giúp thanh niên xác định mục tiêu về lao động, tạo động lực để kiến tạo những giá trị lâu dài, đóng góp tích cực cho xã hội.

Tọa đàm ” Thanh niên Khởi nghiệp và những chính sách hỗ trợ tại Thành phố Hồ Chí Minh"_Ảnh: bssc.vn

1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò và giá trị của lao động đối với sự phát triển của con người và xã hội. Quan điểm về lao động của Người chứa đựng triết lý nhân văn sâu sắc, nhấn mạnh vai trò của lao động trong việc xây dựng nhân cách, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và phát triển quốc gia. Quan điểm của Hồ Chí Minh được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam, trở thành kim chỉ nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động được thể hiện qua những luận điểm sau:

Thứ nhất, lao động là thiêng liêng, là nguồn sống và hạnh phúc của con người

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, lao động giữ vai trò duy trì cuộc sống con người, do vậy lao động là yêu cầu tự thân mỗi người và là trách nhiệm xã hội. Người viết: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”(1). Lao động là phương thức để mỗi cá nhân khẳng định giá trị bản thân và cống hiến cho cộng đồng, xã hội. Với quan niệm này của Người, lao động không giới hạn ở chức năng sản xuất đơn thuần, mà còn được nâng tầm thành một yếu tố thiết yếu, phản ánh ý nghĩa toàn diện trong cuộc sống và sự phát triển xã hội.

Lao động được coi là nghĩa vụ thiêng liêng vì nó thể hiện trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cộng đồng và khẳng định giá trị con người. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mỗi người chúng ta phải nhận rõ: Lao động là một nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người công dân đối với Tổ quốc”(2). Người cho rằng: “Không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ”(3). Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của lao động, bất kể tính chất hay vị trí công việc gì hữu ích, và thể hiện tinh thần bình đẳng trong lao động. Qua lao động, con người vừa cải thiện đời sống vật chất của bản thân vừa đóng góp tích cực vào sự phát triển xã hội, tạo nên ý nghĩa sâu sắc trong hành trình sống và cống hiến. Hồ Chí Minh nhận định: “Lao động… là vẻ vang, đáng quý. Chúng ta phải chống tư tưởng xem khinh lao động”(4).

Hồ Chí Minh cho rằng lao động là trách nhiệm và nền tảng của sự sống. Qua lao động, con người tạo ra của cải vật chất, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở và đi lại, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống. Người nhấn mạnh rằng, để sống mỗi người cần bảo đảm những nhu cầu thiết yếu. Để đạt được những điều đó, con người buộc phải lao động. Tuy nhiên, ý nghĩa của lao động không dừng lại ở việc duy trì sự sống, mà còn thúc đẩy khả năng sáng tạo và phát triển không ngừng. Thông qua lao động, con người khám phá tiềm năng của bản thân, rèn luyện kỹ năng và tạo nên những giá trị mới cho cộng đồng. Chính những yếu tố này đã làm cho lao động trở thành một phần không thể thiếu trong sự phát triển toàn diện của con người và xã hội.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, niềm vui của con người không dừng lại ở thành quả đạt được, mà còn đến từ chính quá trình làm việc. Khi con người làm việc với tinh thần trách nhiệm và cống hiến, họ vừa rèn luyện phẩm chất cá nhân, vừa cảm nhận được ý nghĩa của sự đóng góp cho xã hội. Đó là nguồn hạnh phúc lớn lao. Niềm hạnh phúc ấy xuất phát từ ý thức rằng mỗi nỗ lực đều có giá trị, rằng công sức của mình mang lại lợi ích cho cộng đồng. Lao động, vì thế, vừa cải thiện đời sống vật chất, vừa giúp con người sống ý nghĩa hơn, phong phú hơn về tinh thần.

Thứ hai, lao động là động lực phát triển xã hội và xây dựng đất nước

Về vai trò của lao động, Người nhấn mạnh rằng, lao động không đơn thuần là phương tiện tạo ra của cải vật chất, mà còn là yếu tố cốt lõi thúc đẩy sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Ai cũng phải tùy khả năng của mình mà tự nguyên, tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà”(5), qua đó nhấn mạnh trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Theo Hồ Chí Minh, lao động là nền tảng xây dựng một xã hội công bằng, độc lập và tự chủ. Nếu không có nỗ lực trong lao động, đất nước sẽ không thể vượt qua cảnh nghèo nàn, lạc hậu hay sự phụ thuộc. Lao động là con đường để mỗi cá nhân cải thiện đời sống của chính mình, đồng thời đóng góp vào việc tạo dựng nền tảng kinh tế - xã hội bền vững. Với Hồ Chí Minh, sự tham gia vào lao động cần được thực hiện ở mọi tầng lớp, từ người giữ vai trò lãnh đạo đến quần chúng nhân dân. Người khẳng định: “Bất kỳ lao động nào ích nước, lợi dân cũng đều vẻ vang cả”(6).

Theo Hồ Chí Minh, lao động là một phương thức trực tiếp để con người đóng góp vào sự phát triển toàn diện của xã hội. Ngoài việc mang lại giá trị kinh tế, lao động còn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa và y tế. Thông qua lao động, chất lượng sống của mỗi cá nhân và cộng đồng được cải thiện, đồng thời các giá trị văn hóa, tri thức được sáng tạo và duy trì. Bởi vậy, lao động góp phần xây dựng đất nước và thúc đẩy xã hội phát triển.

Thứ ba, lao động là con đường rèn luyện phẩm chất và nhân cách

Hồ Chí Minh khẳng định rằng lao động không đơn thuần là hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm vật chất, mà còn là con đường để con người tự rèn luyện và hoàn thiện nhân cách. Người nhấn mạnh rằng, lao động vừa là nhiệm vụ, vừa là phương pháp thiết thực để mỗi cá nhân trau dồi đạo đức, tư duy và kỹ năng. Trong quá trình lao động, con người hình thành và phát triển các phẩm chất quan trọng như sự kiên trì, tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật – những yếu tố cần thiết để xây dựng nhân cách toàn diện. Thực tế cho thấy, chính những thử thách trong công việc giúp con người trưởng thành hơn, nhận ra tiềm năng của bản thân và vượt qua giới hạn cá nhân. Đồng thời, lao động cũng là cơ hội để mỗi người đóng góp cho gia đình và xã hội. Hồ Chí Minh từng nói: “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”(7). Luận điểm này nhấn mạnh giá trị cốt lõi của lao động là ở tinh thần đạo đức và ý nghĩa đóng góp, thay vì vị trí hay quy mô công việc.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ lao động là biểu hiện rõ nét của tinh thần tự lực, tự cường và ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Ai cũng phải tuỳ khả năng mình mà tự nguyện tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà. Với quan điểm này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng lao động vừa là trách nhiệm, vừa là hành động thiết thực thể hiện lòng yêu nước. Người kêu gọi tất cả mọi người, bất kể tầng lớp hay vị trí xã hội, cần tham gia lao động một cách tự giác và tích cực. Đây là nền tảng quan trọng để tạo ra sức mạnh tập thể, thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia.

Thứ tư, lao động phải sáng tạo và gắn liền với trách nhiệm của mỗi người với bản thân và xã hội

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng sáng tạo trong lao động là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả công việc, tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước. Người từng nói: “Phải luôn luôn phát huy sáng kiến, tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, giữ gìn máy móc, dụng cụ, v.v.. Như vậy là chi tiêu ít mà sản xuất nhiều”(8). Sáng tạo bắt nguồn từ những cải tiến nhỏ trong công việc hàng ngày, như: Tiết kiệm nguyên liệu, bảo quản máy móc hay tìm ra những phương pháp mới để tối ưu hóa quy trình lao động. Đây là cách để nâng cao hiệu quả công việc, khai thác tối đa tiềm năng, giảm lãng phí và gia tăng giá trị sản phẩm. Sáng tạo trong lao động còn phản ánh tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập thể. Mỗi sáng kiến, dù nhỏ, đều là bước tiến quan trọng góp phần xây dựng một đất nước giàu mạnh và hiện đại. Người kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, từ lãnh đạo đến người lao động phổ thông, luôn học hỏi, đổi mới, kết hợp lý thuyết với thực hành để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc.

Hồ Chí Minh coi lao động là phương tiện tạo ra của cải vật chất và nhấn mạnh rằng mỗi cá nhân cần ý thức rõ mối liên hệ giữa công việc của mình và sự phát triển chung của xã hội. Lao động không đơn thuần phục vụ lợi ích cá nhân, mà còn phải hướng đến lợi ích của cộng đồng. Người viết “Cái gì lợi cho nhà máy là ích lợi cho mình, cái gì hại cho nhà máy là hại cho nhà mình”(9). Người cũng luôn đề cao tinh thần trách nhiệm trong lao động: “Tất cả mọi người phải lao động. Có lao động thì mới có ăn. Không lao động thì không có ăn”(10). Người khuyến khích mỗi cá nhân nhận thức rõ rằng lao động chính là cách để góp phần vào sự thịnh vượng chung của đất nước. Thông qua các phong trào lao động tự giác, sáng tạo như “Thanh niên xung phong” và “Cải tiến kỹ thuật”, không chỉ nhằm nâng cao năng suất lao động mà còn để thúc đẩy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cộng đồng và sáng tạo.

Tóm lại, quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động là sự tôn vinh giá trị lao động, đồng thời là triết lý sống, kim chỉ nam cho sự phát triển của con người và xã hội. Từ ý nghĩa vật chất đến giá trị nhân văn, từ trách nhiệm cá nhân đến đóng góp cộng đồng, quan điểm của Người về lao động đã trở thành tư tưởng quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục phát huy tinh thần lao động theo quan điểm Hồ Chí Minh là cách để mỗi cá nhân và xã hội phát triển bền vững.

2. Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động vào việc vận động thanh niên khởi nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Thành phố Hồ Chí Minh, với hơn 2,9 triệu thanh niên, chiếm khoảng 1/3 dân số, đã trở thành trung tâm sôi động của phong trào khởi nghiệp trên cả nước. Việc triển khai các chương trình lớn như “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” theo Quyết định số 844/QĐ-TTg (năm 2016) và “Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022 - 2030 theo Quyết định số 897/QĐ-TTg (năm 2022) đã tạo cơ sở pháp lý và nguồn lực quan trọng, mở đường cho tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh phát triển mạnh mẽ các hoạt động khởi nghiệp.

Trong thời gian qua, Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nhanh chóng cụ thể hóa các chủ trương của trung ương thông qua những đề án và kế hoạch mang tính thực tiễn cao. Nổi bật là Đề án hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 - 2025 theo Quyết định số 672/QĐ-UBND ngày 01-3-2021 và Kế hoạch số 468/KH-UBND ngày 16-02-2022, nhằm xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp toàn diện. Những nỗ lực này không chỉ hỗ trợ tài chính mà còn chú trọng khuyến khích sáng tạo, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, phong trào thi đua “Thanh niên Thành phố khởi nghiệp - lập nghiệp, đổi mới sáng tạo” giai đoạn 2023 - 2027 đã tạo động lực mạnh mẽ, thúc đẩy thanh niên ứng dụng công nghệ vào các mô hình kinh doanh, nâng cao khả năng đổi mới.

Nhờ các chính sách đồng bộ và sự hỗ trợ hiệu quả, phong trào khởi nghiệp của thanh niên ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Từ năm 2020 đến tháng 6-2024, đã có 45.230 lượt thanh niên được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức khởi nghiệp, giúp nâng cao năng lực và tư duy sáng tạo. Số lượt thanh niên được hỗ trợ vay vốn khởi nghiệp cũng đạt 23.946 lượt, với tổng kinh phí hỗ trợ lên đến 442 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ Thanh niên khởi nghiệp và Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh(11). Ngoài ra, sự sáng tạo của thanh niên được thể hiện qua 747.216 ý tưởng đóng góp trên cổng thông tin Ý tưởng Sáng tạo Trẻ Thành phố và 9.960 dự án khởi nghiệp tham gia cuộc thi “Startup Wheel”(12). Những số liệu này cho thấy phong trào khởi nghiệp không chỉ phát triển về quy mô mà còn tạo động lực thúc đẩy tinh thần đổi mới trong thanh niên. Những kết quả đạt được là minh chứng rõ ràng cho sự hiệu quả của các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của thanh niên trong lao động, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, phong trào khởi nghiệp của thanh niên ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại những mặt hạn chế. Một bộ phận thanh niên, đặc biệt là lao động phổ thông và người từ nơi khác đến, thiếu nhận thức đầy đủ về giá trị lao động và khởi nghiệp, dẫn đến sự thụ động và thiếu định hướng. Theo báo cáo khảo sát của Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021, 52,2% thanh niên bày tỏ mối quan tâm lớn đối với các vấn đề sức khỏe và môi trường sống, trong khi 58,3% thanh niên tập trung vào tài chính và xây dựng sự nghiệp(13). Điều này phản ánh rằng các mô hình khởi nghiệp chưa thực sự đáp ứng đầy đủ các ưu tiên và kỳ vọng của thanh niên hiện nay, đặc biệt là những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống.

Ngoài ra, tinh thần lao động tập thể vẫn chưa được phát huy hiệu quả. Nhiều nhóm khởi nghiệp hoạt động thiếu sự phối hợp và kết nối chặt chẽ, dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả triển khai. Thực trạng này cho thấy sự cần thiết phải xây dựng các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích tinh thần lao động hợp tác và chia sẻ giữa các nhóm thanh niên khởi nghiệp, nhằm tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội.

Trong bối cảnh này, việc vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động chính là chìa khóa quan trọng để định hướng và thúc đẩy phong trào khởi nghiệp của thanh niên trở nên toàn diện hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Một số giải pháp trọng tâm cần được tập trung thực hiện bao gồm:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò và giá trị của lao động trong thanh niên

Tuyên truyền là một phần quan trọng của công tác tư tưởng, giữ vai trò then chốt trong việc định hướng nhận thức và hành động của quần chúng, đặc biệt là thế hệ thanh niên. Theo đó, Thành ủy, Ủy ban nhân dân, nòng cốt là Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh cần chú trọng công tác tuyên truyền để thanh niên hiểu rõ rằng lao động không chỉ là phương tiện để mưu sinh, mà còn là con đường để khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Điều này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh phong trào khởi nghiệp, nơi lao động gắn liền với việc tạo ra sản phẩm và thể hiện trách nhiệm đối với cộng đồng cũng như tương lai của đất nước. Do đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền để thanh niên hiểu sâu sắc tư tưởng: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Tất cả mọi người phải lao động. Có lao động thì mới có ăn. Không lao động thì không có ăn. Những lời dạy này khẳng định giá trị thiết yếu của lao động và là kim chỉ nam cho phong trào khởi nghiệp đầy ý nghĩa và trách nhiệm.

Giáo dục giá trị lao động cần đi đôi với thực tiễn, thông qua các chương trình học tập kết hợp trải nghiệm. Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh cần được lồng ghép vào hoạt động giáo dục kỹ năng sống và khởi nghiệp. Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Thành phố nên tận dụng mạng xã hội như TikTok, Facebook để truyền tải thông điệp gần gũi, dễ tiếp cận, giúp thanh niên nhận thức rằng lao động không chỉ là cách kiếm sống mà còn là con đường khẳng định giá trị bản thân.

Phong trào khởi nghiệp cần tạo ra các môi trường, cơ chế khuyến khích sự kết nối giữa các nhóm thanh niên, như các diễn đàn, hội thảo, hoặc các không gian làm việc chung. Tinh thần hợp tác và chia sẻ không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực, mà còn nâng cao khả năng đổi mới và hiệu quả triển khai các dự án.

Hai là, thúc đẩy tinh thần lao động sáng tạo và tập thể trong thanh niên

Khởi nghiệp không đơn thuần là quá trình kinh doanh mà còn là cơ hội để người trẻ thể hiện trách nhiệm xã hội thông qua lao động sáng tạo. Khi thanh niên hiểu rằng mỗi công việc không chỉ phục vụ lợi ích cá nhân mà còn đóng góp vào sự phát triển chung, họ sẽ có động lực theo đuổi những mô hình kinh doanh mang tính sáng tạo, bền vững và nhân văn. Các cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ, năng lượng tái tạo và giáo dục cần được tổ chức thường xuyên. Đồng thời, việc tôn vinh các tấm gương khởi nghiệp xuất sắc cũng nên được đẩy mạnh, nhằm khuyến khích thanh niên học hỏi và phát triển.

Lao động tập thể là phương thức nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời giúp thanh niên trau dồi kỹ năng làm việc nhóm. Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Thành phố cần thúc đẩy việc thành lập các nhóm khởi nghiệp đa ngành, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng như công nghệ, y tế và môi trường. Bên cạnh đó, các buổi tập huấn về kỹ năng làm việc nhóm và quản lý dự án cần được tổ chức thường xuyên để hỗ trợ thanh niên xây dựng năng lực toàn diện.

Ba là, định hướng cho thanh niên khởi nghiệp bền vững

Định hướng cho thanh niên khởi nghiệp bền vững là một nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm sự phát triển kinh tế đi đôi với trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường. Khởi nghiệp là quá trình tạo ra lợi nhuận và cần gắn liền với các mục tiêu phát triển bền vững. Thành ủy, Ủy ban Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nên khuyến khích các mô hình kinh doanh thân thiện với môi trường, tận dụng năng lượng tái tạo và áp dụng công nghệ sạch, qua đó giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.

Giáo dục về phát triển bền vững là nền tảng để thanh niên hiểu rõ trách nhiệm xã hội khi lập nghiệp. Các chương trình đào tạo kỹ năng sống và nhận thức về môi trường cần được tích hợp trong hệ thống giáo dục, giúp thanh niên hình thành tư duy khởi nghiệp bền vững ngay từ ban đầu.

Nguồn vốn là yếu tố then chốt để thúc đẩy khởi nghiệp. Thành phố cần mở rộng các quỹ vay vốn, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường tuyên truyền về chính sách hỗ trợ hiện có. Đồng thời, tổ chức các diễn đàn khởi nghiệp sẽ tạo cơ hội để thanh niên trình bày ý tưởng, kết nối với nhà đầu tư và nhận được cố vấn chiến lược. Những giải pháp này giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Bốn là, tận dụng công nghệ và mạng xã hội trong lao động khởi nghiệp

Công nghệ hiện đại đang trở thành công cụ đắc lực để lan tỏa quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động trong đời sống thanh niên. Những câu chuyện thực tế về các tấm gương lao động sáng tạo hay mô hình khởi nghiệp thành công cần được khai thác và chuyển hóa thành nội dung truyền cảm hứng, như video, bài viết, hoặc podcast. Các nền tảng mạng xã hội là kênh truyền thông hiệu quả, giúp tiếp cận đông đảo thanh niên và khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo. Những câu chuyện này không chỉ mang ý nghĩa giáo dục mà còn truyền tải thông điệp tích cực, thúc đẩy ý chí lập nghiệp và đóng góp cho xã hội trong giới trẻ.

Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Thành phố nên tận dụng sức mạnh của công nghệ để phát triển các ứng dụng hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp. Các ứng dụng này có thể cung cấp thông tin về chính sách hỗ trợ, hướng dẫn tiếp cận nguồn vốn, tổ chức các khóa học kỹ năng và kết nối với cố vấn chiến lược. Việc tích hợp các nguồn lực này vào nền tảng trực tuyến sẽ giúp thanh niên dễ dàng tiếp cận, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa ý tưởng và hiện thực hóa dự án.

Đồng thời, cần tổ chức các diễn đàn khởi nghiệp trực tuyến, nơi thanh niên có thể trình bày ý tưởng, nhận phản hồi từ chuyên gia và tìm kiếm sự hỗ trợ từ nhà đầu tư. Những giải pháp này không chỉ giúp xây dựng một thế hệ thanh niên sáng tạo mà còn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh và đất nước.

3. Kết luận

Quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động nhấn mạnh giá trị nhân văn và vai trò của lao động trong việc xây dựng nhân cách, thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển đất nước. Hồ Chí Minh coi lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là con đường để mỗi người khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho cộng đồng. Người đề cao sáng tạo trong lao động như yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực và phát triển bền vững. Đồng thời, lao động còn giúp rèn luyện nhân cách, phát triển phẩm chất như trách nhiệm, kiên trì và tinh thần tự lực.

Vận dụng quan điểm này vào phong trào khởi nghiệp của thanh niên ở Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi thúc đẩy tinh thần lao động sáng tạo, bền vững và trách nhiệm xã hội. Các giải pháp cần tập trung vào giáo dục giá trị lao động gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh, hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn, khuyến khích lao động tập thể, định hướng các mô hình kinh doanh bền vững và sử dụng công nghệ để tăng cường kết nối. Đây là nền tảng quan trọng để thanh niên vượt qua khó khăn, xây dựng các mô hình kinh doanh hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một đất nước văn minh và thịnh vượng.

_________________

Nâng cao năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay.

 Công tác tham mưu có một vị trí quan trọng trong lãnh đạo, quản lý và điều hành của các cơ quan, đơn vị nói chung, công tác tổ chức xây dựng đảng nói riêng. Do đó, việc nâng cao năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng là yêu cầu cần thiết và cấp bách hiện nay. Bài viết làm rõ các yếu tố hình thành năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng và giải pháp nâng cao.

Hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng công tác tham mưu xây dựng, ban hành các văn bản về công tác tổ chức xây dựng Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư _ Ảnh: xaydungdang.org.vn

1. Mở đầu

Công tác tham mưu của đội ngũ cán bộ trong công tác xây dựng đảng có vị trí quan trọng bởi nó tạo nên sức mạnh, năng lực, uy tín, niềm tin của nhân dân đối với tổ chức đảng. Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường, đất nước đang chuyển đổi số quốc gia, nhiều vấn đề mới xuất hiện cần nhận thức, xử lý đúng đắn, kịp thời, việc nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng, trong đó có năng lực tư duy phản biện đang đặt ra cấp thiết.

2. Năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay

Tư duy phản biện là một hình thức tư duy giúp con người đưa ra những nhận định, phán đoán, đánh giá, xem xét, phân tích, xử lý các vấn đề đặt ra trong thực tiễn. Năng lực tư duy phản biện là khả năng sử dụng thành thạo, nhuần nhuyễn cả nội dung và phương pháp tư duy để phát hiện vấn đề và có phương án xử lý tốt vấn đề đó. Đây là quá trình kết hợp khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ, các công cụ để tư duy với sự lập luận phản bác lại kết quả của một quá trình tư duy khác, hoặc để xác định lại tính chính xác của thông tin khi tiếp nhận tri thức. Trên cơ sở đó, hình thành tri thức mới có tính chân thực, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy” (1), đồng thời: “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp”(2). Nâng cao năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng sẽ trang bị cách tiếp cận vấn đề trên nhiều phương diện, khả năng suy nghĩ thấu đáo, thực tế và sâu sắc, tạo ra những thay đổi tích cực trong tư duy và hành động để từ đó đạt hiệu quả cao trong công việc.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định tại Hội nghị Trung ương Đảng khóa XIII, ngày 25-10-2024 nhiều nội dung quan trọng, trong đó nhấn mạnh toàn Đảng, toàn dân quyết tâm tổ chức thực hiện tốt Đại hội Đảng XIV, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong bối cảnh hiện nay, để đưa đất nước vào kỷ nguyên mới thì việc nâng cao năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ tham mưu tổ chức xây dựng Đảng là hết sức cần thiết.

Việc phát triển năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng là nhiệm vụ chiến lược và mang tính thực tiễn cao trong bối cảnh đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng. Tư duy phản biện giúp cán bộ nâng cao khả năng phân tích và đánh giá, góp phần vào việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

Việc phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay được xác định là:

Thứ nhất, nâng cao khả năng nhận diện vấn đề cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng phải có khả năng nhận diện chính xác các vấn đề phức tạp trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị. Điều này đòi hỏi khả năng tư duy phản biện để phát hiện những hạn chế, sai sót hoặc biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Thứ hai, tăng cường tính độc lập và sáng tạo trong tư duy của cán bộ tham mưu. Tư duy phản biện giúp cán bộ tham mưu không rập khuôn, sao chép ý kiến mà luôn tìm kiếm cách tiếp cận mới. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp tổ chức, quản lý và xây dựng Đảng phù hợp với tình hình thực tiễn của từng giai đoạn.

Thứ ba, năng lực đánh giá tính hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Phản biện không chỉ dừng lại ở việc phê phán hoặc chỉ ra sai lầm mà còn phải đề xuất các giải pháp mang tính xây dựng. Điều này giúp cán bộ tham mưu đánh giá khách quan hiệu quả của các chủ trương, chính sách, quy định của Đảng để bảo đảm chúng được thực thi một cách hiệu quả và phù hợp.

Thứ tư, sự thích ứng với bối cảnh mới của cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Trong bối cảnh nhiều yếu tố quốc tế như toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự chuyển dịch trong quan hệ quốc tế,… tác động, cán bộ tham mưu cần phát triển tư duy phản biện để phân tích, lựa chọn và áp dụng các mô hình, giải pháp phù hợp với đặc thù chính trị và văn hóa Việt Nam.

Thứ năm, phát triển đạo đức nghề nghiệp. Tư duy phản biện luôn gắn liền với đạo đức nghề nghiệp, trung thành với lợi ích của Đảng và nhân dân. Điều này bảo đảm các quan điểm, ý kiến phản biện không chỉ dựa trên lý trí mà còn xuất phát từ tinh thần trách nhiệm và đạo đức chính trị.

Như vậy, phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng không chỉ là yêu cầu cần thiết mà còn là yếu tố cốt lõi để Đảng ta ngày càng vững mạnh và thích ứng với tình hình và những thách thức mới. Điều đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa đào tạo, rèn luyện trong thực tiễn và việc xây dựng môi trường làm việc khuyến khích đổi mới tư duy.

3. Những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu về đổi mới tư duy của các chủ thể với nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về sự cần thiết phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng ở Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng và đối mặt với nhiều thách thức mới, yêu cầu đổi mới tư duy trong công tác tham mưu trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng. Đội ngũ cán bộ tham mưu phải có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo và phản biện để đưa ra các chính sách, chiến lược phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển của Đảng và đất nước trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, yêu cầu này vẫn chưa được nhận thức đầy đủ và đồng bộ trong toàn bộ hệ thống cơ quan và đội ngũ cán bộ tham mưu.

Thứ hai, mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp với thực tế giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm phát triển năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng ở Việt Nam hiện nay.

Mặc dù đã có những đổi mới mạnh mẽ về chương trình, nội dung và phương pháp và quản lý giáo dục, đào tạo cán bộ tham mưu trong các tổ chức xây dựng đảng, song vẫn còn nhiều bất cập. Chương trình đào tạo hiện tại vẫn còn nặng về lý thuyết, ít chú trọng vào việc phát triển các kỹ năng mềm, xử lý tình huống đặc biệt là tư duy phản biện.

Nhiều nội dung của chương trình đào tạo còn mang tính chất “một chiều”, thiếu sự khuyến khích tranh luận, phản biện và sáng tạo. Điều này khiến cho cán bộ tham mưu thiếu khả năng tư duy độc lập và sáng tạo khi đối diện với nhiều vấn đề thực tiễn.

Các phương pháp giảng dạy truyền thống như thuyết giảng, đọc bài, làm bài tập theo khuôn mẫu không khuyến khích sự tham gia, tranh luận hay phản biện. Đôi chỗ, đôi nơi, giảng viên tập huấn, giảng dạy còn chưa truyền tải được thông điệp của nội dung chương trình đào tạo. Điều này làm cho tư duy của người học bị hạn chế, chưa phát triển được khả năng phản biện, phân tích sâu sắc vấn đề lý luận và thực tiễn. Trong thực tế công tác, cán bộ tham mưu cũng thường gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức vào thực tế vì thiếu các tình huống mô phỏng hay ví dụ thực tiễn.

Mặc dù các chương trình đào tạo có thể cung cấp lý thuyết cơ bản, nhưng thiếu sự kết nối chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn công tác tham mưu. Điều này khiến cho đội ngũ cán bộ tham mưu không thể phát huy hết năng lực tư duy phản biện trong công việc thực tế, vì họ thiếu kinh nghiệm và không có cơ hội thực hành, rèn luyện kỹ năng.

Thứ ba, mâu thuẫn giữa yêu cầu xây dựng môi trường dân chủ trong học tập nâng cao trình độ, trong nghiên cứu khoa học, dân chủ trong môi trường làm việc với những rào cản đối với phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay. Mặc dù yêu cầu xây dựng môi trường dân chủ trong học tập và công tác rất rõ ràng, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều rào cản đối với phát triển năng lực tư duy phản biện của cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay.

Một số cơ quan, tổ chức còn tồn tại văn hóa làm việc tập trung, trong đó các quyết định lớn đều được đưa ra từ cấp trên mà ít có sự tham gia đóng góp ý kiến từ các cán bộ tham mưu ở các cấp dưới. Điều này làm hạn chế khả năng tư duy phản biện và sáng tạo của đội ngũ cán bộ tham mưu, vì họ thường không có cơ hội hoặc không được khuyến khích đóng góp ý tưởng. Trong nhiều trường hợp, ý kiến phản biện vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Cán bộ tham mưu có thể gặp khó khăn khi đưa ra các ý kiến phản biện trái chiều. Điều này khiến cho năng lực tư duy phản biện chưa được phát huy, vì thiếu không gian cởi mở để phát huy khả năng tư duy phản biện. Những cán bộ tham mưu có năng lực phản biện mạnh mẽ và sẵn sàng đưa ra ý kiến khác biệt có thể gặp khó khăn trong nhận được sự công nhận. Trong môi trường phản biện chưa được đánh giá cao, cán bộ tham mưu thiếu động lực phát triển năng lực tư duy của mình.

Thứ tư, mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao tính tích cực, tự giác, sáng tạo với những hạn chế, bất cập trong tự học, tự phát triển, tự nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay.

4. Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay

Một là, cần nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của các chủ thể tham gia phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới và phát triển, xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Đây là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, quan trọng hơn nữa là phải phát triển năng lực tư duy phản biện để tạo ra được những đột phá mang tính chiến lược dựa trên đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đẩy mạnh nghiên cứu, tiếp thu và kế thừa những kinh nghiệm thực tiễn trong việc phát triển tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu, trong đó có tham mưu về công tác tổ chức. Trong hội nhập quốc tế, việc giao lưu, học hỏi, vận dụng những kinh nghiệm thực tiễn của các đảng cộng sản trên thế giới và các tổ chức đảng khác vào thực tiễn Việt Nam một cách có chọn lọc là một trong những yếu tố để phát triển năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ làm tham mưu công tác tổ chức xây dựng đảng.

Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu tổ chức xây dựng đảng có thể học hỏi, vận dụng những điểm tích cực vào thực tiễn xây dựng Đảng, trong đó chú trọng học hỏi và vận dụng tư duy phản biện vào thực tiễn.

Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trình độ tư duy, kỹ năng phản biện cho cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là “công việc gốc” của Đảng. Muốn phát triển năng lực tư duy phản biện thì trước hết phải nắm vững kiến thức chuyên môn, nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là tiền đề để nâng cao, phát triển năng lực tư duy phản biện.

Trong bối cảnh mới của đất nước, trước những thay đổi to lớn của thực tiễn thì càng cần phải đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, mang lại hiệu quả cao nhất trong công tác tham mưu. Bên cạnh đó, cần phải đổi mới, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng.

Để làm tốt hơn nữa công tác phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ làm công tác tham mưu tổ chức xây dựng đảng, cần thay đổi trong cách tiếp cận, trong tư duy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Theo đó, các cơ sở đào tạo phải thực hiện khảo sát nhu cầu thực tế của cán bộ về các khối kiến thức, kỹ năng như: lý luận chính trị, đường lối, chính sách, tầm nhìn, tư duy chiến lược, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học công nghệ… để xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng. Nếu như chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trước đây được thiết kế chặt chẽ về cấu trúc thì nay cần tiến đến khu biệt hóa, cá nhân hóa cho từng chức danh lãnh đạo, quản lý.

Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng đồng thời cũng phải đổi mới theo hướng chuyển mạnh quá trình đào tạo, bồi dưỡng từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực của người học. Cần xây dựng nội dung, chương trình phù hợp với từng chức danh, chức vụ, vị trí việc làm. Gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, chức vụ và vị trí việc làm. Đẩy mạnh việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị để cán bộ được rèn luyện qua thực tiễn công tác ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau.

Đổi mới mô hình đào tạo, xây dựng khung chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng, trong đó đặc biệt chú ý phát triển năng lực tư duy phản biện. Đổi mới mô hình đào tạo, bồi dưỡng đồng thời với xây dựng khung chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng mà đặc biệt chú trọng đến phát triển năng lực tư duy phản biện. Bởi vì, chỉ có căn cứ vào khung đào tạo, chuẩn đầu ra thì mới có thể đánh giá được mức độ, quá trình học tập bồi dưỡng của cán bộ, đảng viên.

Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với nhu cầu thực tiễn, gắn liền lý luận với thực tiễn trong việc nâng cao năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận.

Hai là, đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phát triển năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng phù hợp với điều kiện hiện nay.

Để phát triển năng lực tư duy phản biện của cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng Đảng, có thể sử dụng linh hoạt các phương pháp khác nhau. Trong đó sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm là cần thiết.

Để việc đổi mới phương pháp giảng dạy một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực tư duy phản biện của cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng, cần thực hiện tốt một số việc sau:

(1) tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại, trong đó có đối thoại, thảo luận giữa giảng viên và học viên và giữa học viên với học viên, giúp người học hiểu sâu sắc hơn nội dung bài giảng và từng bước biết vận dụng lý luận vào thực tiễn.

(2) đổi mới hình thức, phương pháp học tập, như sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của học viên dưới sự tổ chức, điều khiển của giảng viên, báo cáo viên. Theo đó, cần xác định thảo luận là một hình thức, phương pháp cơ bản, thiết thực đối với học viên và nếu giảng viên có được phương pháp tốt, biết gợi mở sẽ phát huy được hiệu quả trong việc bồi dưỡng, rèn luyện năng lực tư duy phản biện cho học viên.

(3) đổi mới việc đánh giá, kiểm tra, thi nhằm phát triển năng lực tư duy phản biện cho học viên. Đây là khâu quan trọng trong hoạt động giảng dạy, có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ và phương pháp học tập của học viên, từ đó ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu giáo dục.

Việc đánh giá kết quả học tập của học viên nhằm hướng tới phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học, giúp người học vừa củng cố, vừa mở rộng kiến thức, điều chỉnh kịp thời những nhận thức sai lầm, đặc biệt là cách tư duy máy móc, rập khuôn, phiến diện.

Ba là, xây dựng môi trường dân chủ trong học tập, nghiên cứu khoa học, dân chủ trong môi trường làm việc tạo động lực phát triển năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Môi trường học tập, rèn luyện và công tác đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực tư duy phản biện. Chính vì vậy, cần tạo ra những điều kiện tốt nhất và phù hợp để cán bộ tham mưu có thể phát huy được hết khả năng, sở trường trong công tác tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng đồng ý với quan điểm của các nhà duy vật Pháp cho rằng con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy. Quan điểm đó cho thấy môi trường và hoàn cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển năng lực, trí tuệ và khả năng tư duy của con người.

Việc xây dựng môi trường làm việc, học tập và rèn luyện dân chủ sẽ phát huy tối đa được tiềm năng sáng tạo, năng lực tư duy phản biện của con người nói chung và cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng nói riêng.

Bên cạnh đó, cần đổi mới, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Cần có cơ chế, chính sách cụ thể, thiết thực nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, từ đó nâng cao năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu.

Bốn là, nâng cao ý thức tự học, tự rèn luyện, bồi dưỡng nhằm phát triển năng lực tư duy phản biện cho đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng.

Đây là biện pháp phù hợp với điều kiện hiện nay, bởi công nghệ thông tin, công nghệ số phát triển mạnh mẽ, nguồn thông tin trên internet và rất nhiều nguồn mở khác đang rất phát triển, tạo ra những thuận lợi rất lớn cho việc tự bồi dưỡng, tự đào tạo, làm mới mình, làm mới tư duy nhận thức của cán bộ làm công tác tham mưu.

Thông qua các kênh, các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ tham mưu có thể tham khảo kinh nghiệm của các đảng cầm quyền trên thế giới, có thể tiếp thu có chọn lọc, để phục vụ cho công tác tham mưu của mình trong hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng.

Dù có công nghệ phát triển đến đâu, cơ sở vật chất kỹ thuật có tốt đến mấy hay giảng viên, báo cáo viên có truyền thụ hay ra sao nhưng nếu người học không có sự tích cực, chủ động trong việc tự rèn luyện, tự học, tự bồi dưỡng thì cũng không thể nâng cao năng lực cho chính bản thân mình.

Ngày nay, trước sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ số, công nghệ thông tin đã làm cho việc giao lưu, hội nhập về thông tin, văn hóa, xã hội, chính trị của các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển, tạo ra những đột phá trong công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng. Cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng cần phải tận dụng thời cơ, đi tắt đón đầu trong việc tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ để phục vụ cho công việc của mình. Việc cập nhật những nguồn thông tin, tri thức mới là điều kiện, tiền đề để cán bộ tự bồi dưỡng, nâng cao năng lực. Đây cũng là yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển năng lực tư duy phản biện trong tình hình mới hiện nay.

Mặt khác, phải nâng cao hiệu quả việc tự phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng. Tư duy phản biện không phải là cái có thể có ngay trong ngày một, ngày hai mà đó phải là cả một quá trình phấn đấu, rèn luyện. Thông qua quá trình học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho mình, tư duy phản biện của cán bộ cũng ngày càng có sự phát triển.

Để làm được điều đó, mỗi cán bộ tham mưu cần tích cực tự học tập, tự giác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tự tìm tòi học hỏi ở mọi lúc, mọi nơi. Tính chủ động và sáng tạo là điều kiện tiền đề cơ bản để nâng cao hiệu quả tự phát triển năng lực tư duy phản biện cho cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng Đảng hiện nay.

5.Kết luận

Việc phát triển năng lực tư duy phản biện phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, bằng nhiều biện pháp và hình thức khác nhau. Tư duy phản biện được sử dụng trong công tác tham mưu sẽ góp phần rất lớn vào việc hoạch định chính sách, gợi mở những cách thức tổ chức, vận hành công việc, sắp xếp tổ chức bộ máy cho cán bộ lãnh đạo, quản lý. Bởi vậy, cần phải nâng cao tính hiệu quả của việc tự phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực tư duy phản biện của đội ngũ cán bộ tham mưu tổ chức xây dựng đảng hiện nay.