Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

Một số quan điểm, nguyên tắc trong giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc ở Việt Nam.

 Từ nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng của mỗi dân tộc -tộc người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bài viết đề xuất một số quan điểm, nguyên tắc cần kiên định trong giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta trong bối cảnh mới.

Rực rỡ
Ảnh minh họa: ninhbinh.gov.vn

1. Mở đầu

Vấn đề dân tộc, giải quyết quan hệ dân tộc luôn là vấn đề rất phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, trên cả phương diện dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã sớm xác định: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những thuận lợi, khó khăn của tình hình trong nước, Đảng xác định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, để tiếp tục giữ vững những thành tựu, khắc phục những hạn chế, yếu kém, việc vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc cần quán triệt một số quan điểm sau:

2. Kiên định quan điểm “vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách mạng Việt Nam”

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ rất sớm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở cả tầm chiến lược và sách lược, cả tầm vĩ mô và vi mô. Nhờ vậy, Đảng ta tập hợp và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo… trong Mặt trận Dân tộc thống nhất trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH. Đại hội IV (năm 1976), Đảng chủ trương: “Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam”.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về vai trò, tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Hội nghị Trung ương 7 khóa IX ra Nghị quyết số 24/NQ/TW ngày 12-3-2003 về công tác dân tộc(1). Đây là lần đầu tiên, Đảng ban hành nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc, thể hiện nhận thức mới, đúng đắn của Đảng về vai trò, tầm quan trọng của công tác dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc dưới tác động bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước. Quan điểm đầu tiên được Đảng xác định trong Nghị quyết là: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”. Nhận thức mới trong quan điểm này thể hiện ở việc Đảng không chỉ coi vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược cơ bản, lâu dài như đã được xác định trước đây, mà còn xác định đây là vấn đề cấp bách của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, việc giải quyết các quan hệ tộc người ở Việt Nam đã được nhận thức và giải quyết đúng đắn, kịp thời, hiệu quả hơn.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt đến công tác dân tộc và giải quyết các vấn đề dân tộc.

Tuy nhiên, hiện nay, dưới tác động của cơ chế thị trường, cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mới phức tạp và khó nắm bắt về dân tộc. Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 24/NQ/TW về công tác dân tộc, Đảng ta đã chỉ rõ, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong công tác dân tộc còn rất nhiều hạn chế(2), nếu không được phát hiện kịp thời và giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá vỡ sự ổn định của các dân tộc và đe dọa nền hòa bình của đất nước. Bài học của nhiều quốc gia trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy nếu coi nhẹ vấn đề dân tộc và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lược phát triển quốc gia, không giải quyết kịp thời và triệt để vấn đề dân tộc thì có nguy cơ dẫn đến xung đột dân tộc, đe dọa sự tồn vong của chế độ, thậm chí dẫn đến nguy cơ sụp đổ nhà nước.

Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt đến công tác dân tộc và giải quyết các vấn đề dân tộc. Quan điểm “vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách” tiếp tục được khẳng định nhất quán và xuyên suốt qua các kỳ đại hội. Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, Đảng ta tiếp tục “xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị”(3), tạo cơ sở lý luận để Nhà nước tiếp tục xây dựng, triển khai chính sách dân tộc phù hợp với bối cảnh mới hiện nay. Tiếp tục nhận thức đúng đắn và đầy đủ quan điểm này là tiền đề, điều kiện quan trọng để giải quyết thành công vấn đề dân tộc, thực hiện tốt công tác dân tộc ở nước ta trong thời kỳ mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, các dân tộc Việt Nam “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển”. Đây cũng chính là sự vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng ta trong tình hình mới hiện nay.

3. Thực hiện hiệu quả nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển” trong giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay

Việt Nam là quốc gia bao gồm 54 dân tộc, với trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, sự đa dạng về văn hóa, nhưng thống nhất với nhau về lợi ích cơ bản và lâu dài. Vận dụng sáng tạo Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đề ra nguyên tắc “đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc” nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trong quốc gia dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là nguyên tắc mà còn là phương thức bảo đảm lợi ích chính đáng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, quan điểm nhất quán của Đảng là bảo đảm sự bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số. Chính cương của Đảng được thông qua tại Đại hội II năm 1951 đã khẳng định: “1. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành động gây hằn thù, chia rẽ giữa các dân tộc (…) 3. Giúp đỡ các dân tộc thiểu số tiến bộ về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”(4). Nguyên tắc “Đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc” được Đảng quán triệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, trong giải quyết vấn đề dân tộc cho đến trước đổi mới.

Bước vào thời kỳ đổi mới, trước tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, nguyên tắc “Bình đẳng, đoàn kết” tiếp tục được Đảng ta khẳng định và bổ sung, phát triển. Đại hội VI và Đại hội VII bổ sung: “Bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”(5); Đại hội VIII: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ”(6); Đại hội IX: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển”(7); Đại hội X: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp nhau cùng tiến bộ”(8); Đại hội XI: “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”(9); Đại hội XII: “Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển”(10). Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của chính sách đoàn kết các dân tộc trên cơ sở nguyên tắc “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”(11).

Vận dụng sáng tạo nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn đất nước, Đảng ta xác định, trong hoạch định và thực thi chính sách dân tộc luôn dựa trên quan điểm “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Đây vừa là một trong 8 đặc trưng của xã hội XHCN ở Việt Nam, vừa là nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc.

Các nguyên tắc nêu trên có quan hệ biện chứng với nhau, hợp thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Có bình đẳng thì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, thương yêu, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển thì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc.

4. Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, các dân tộc ở Việt Nam có sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội. Vì vậy, cần có chính sách dân tộc đúng đắn và sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Chính phủ xây dựng các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi, đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ đồng bào miền ngược. Đồng bào các dân tộc ít người cũng phải không ngừng vươn lên về mọi mặt. Dân tộc đa số và dân tộc thiểu số cũng như giữa các dân tộc thiểu số với nhau phải coi nhau như anh em ruột thịt, phải giúp đỡ lẫn nhau, làm cho đồng bào các dân tộc được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa.

Thấm nhuần và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng luôn quan tâm đến phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, coi đây là nhiệm vụ cốt lõi để hiện thực hóa phương châm “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau” giữa các dân tộc, tạo động lực xây dựng, phát triển đất nước.

Đại hội IV (năm 1976), cùng với chủ trương: “Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam”, Đảng nhấn mạnh: “… tạo điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người với dân tộc đông người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(12).

Trong thời kỳ đổi mới, tại Đại hội VII, Đảng nhấn mạnh, sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải gắn với đặc điểm riêng của từng dân tộc và điều kiện, đặc điểm của từng vùng: “Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc thiểu số khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”(13).

Đại hội IX, trên cơ sở nhất quán chính sách dân tộc của các kỳ đại hội trước đó, đã chỉ ra phương hướng, mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 đã đề ra quan điểm phát triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải căn cứ điều kiện và đặc điểm của từng vùng(14). Nghị quyết số 24 NQ-TW ngày 12-3-2003, Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc chỉ rõ: “Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất”(15). Việc quán triệt quan điểm phát triển toàn diện các lĩnh vực thay cho quan điểm phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi có ý nghĩa rất lớn trong triển khai thực hiện các chính sách dân tộc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng. Thực tiễn vùng đồng bào dân tộc, miền núi những năm qua đã cho thấy thành quả của nhiều chương trình, dự án khi thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX.

Tiếp tục triển khai chủ trương của Đảng, ngày 19-6-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 được Quốc hội khóa XIV thông qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt chương trình ngày 14-10-2021. Đây là giải pháp đột phá, có tính lịch sử, nhằm đẩy mạnh phát triển toàn diện vùng “lõi nghèo” của cả nước, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước với vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Lần đầu tiên, Nhà nước ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia dành riêng cho đồng bào vùng dân tộc thiếu số và miền núi với mục đích cao nhất là thực hiện mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”(16).

5. Thực hiện đồng bộ hai nhiệm vụ bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc

Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc là những vấn đề lý luận - thực tiễn vừa cơ bản, vừa cấp bách ở nước ta hiện nay, cần được nhận thức thấu đáo và tổ chức thực hiện đồng bộ, toàn diện, kiên trì. Đây là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp phát triển toàn diện các dân tộc, bảo vệ và phát triển các quyền con người chân chính, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”(17), những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng chính sách dân tộc, quan tâm chăm lo, tạo điều kiện tốt nhất để đồng bào các dân tộc thiểu số gìn giữ bản sắc văn hóa, phát triển về mọi mặt và thụ hưởng các quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Đảng ta coi việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là vấn đề lớn, cần được nhận thức, xử lý đầy đủ, thấu đáo trong thực hiện chính sách dân tộc hiện nay. Các nội dung, mục tiêu của chính sách dân tộc được xác định rõ hơn và phải lấy tiêu chí phát triển “con người” cộng đồng dân tộc thiểu số làm mục tiêu phát triển; lấy sự biến đổi trong mức sống, đời sống vật chất và tinh thần, sự hưởng thụ các phúc lợi xã hội được tạo ra trên địa bàn để xây dựng và đánh giá chính sách.

Quan điểm của Đảng là, bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là công việc của nhiều chủ thể, từ Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và toàn cộng đồng xã hội. Đó còn là việc xử lý mối quan hệ giữa tôn trọng các giá trị phổ quát được ghi nhận trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết với tính toán đầy đủ những đặc thù trong bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Đến nay, quyền của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được ghi nhận đầy đủ trong Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật khác. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc được khẳng định trong thực tiễn; quyền và nghĩa vụ công dân cũng như đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm, không ngừng được nâng cao.

Để quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảm một cách khách quan, hiệu quả, việc đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nhiệm vụ cấp bách của Đảng, xác định rõ trong Nghị quyết 35 - NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam không có dân tộc nào là “dân tộc bản địa”; không có vấn đề phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số, mà đều chung sống bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng. Và cũng không có cơ sở thực tiễn, chính trị, pháp lý cho sự tồn tại của cái gọi là “nhà nước tự trị” hay “vương quốc tự trị”. Ở Việt Nam, Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện bảo đảm mỗi dân tộc cũng như cộng đồng các dân tộc phát triển.

Từ thực tiễn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hiện nay có thể khẳng định, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước đã và đang được thực hiện có hiệu quả. Đây không chỉ là sự kế thừa, phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mà còn khẳng định bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa trong thời đại Hồ Chí Minh. Thực tế này là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc là những vấn đề lớn cần được tiếp tục nhận thức, xử lý đầy đủ, thấu đáo trong giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay.

6. Thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, Đảng ta nhất quán khẳng định thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị, là sự nghiệp của chính đồng bào các dân tộc thiểu số. Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cấp, các ngành, các địa phương cần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, hướng dẫn, giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Đồng bào các tộc người đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp.

Do những nguyên nhân khách quan, chủ quan, vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc luôn có tính phức tạp, nhạy cảm, ảnh hưởng lớn tới phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, ổn định chính trị của mỗi dân tộc sống trong cộng đồng quốc gia - dân tộc. Vì vậy, phải coi công tác dân tộc là nhiệm vụ của tất cả các thành viên trong hệ thống chính trị cũng như bản thân mỗi người dân trong các dân tộc. Theo đó, cần chú trọng các nội dung sau đây:

(1) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới. Kiên trì thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong Nghị quyết 24 và các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII, XIII; xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị.

(2) Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tăng cường phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số và khắc phục tình trạng không có tổ chức đảng và đảng viên ở các thôn, bản, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số ở những vùng trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tăng cường hoạt động của các mô hình tự quản tại cộng đồng; biểu dương, tôn vinh, động viên người tiêu biểu có uy tín, doanh nhân, nhà khoa học trong cộng đồng các dân tộc thiểu số có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

(3) Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, lồng ghép, tích hợp các chính sách hiện hành để hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đổi mới phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Xây dựng tiêu chí phân định lại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng xác định rõ vùng dân tộc thiểu số (tỉnh, huyện, xã, thôn, bản), địa bàn xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc. Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tinh gọn, hiệu quả.

(4) Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong giải quyết vấn đề dân tộc. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần tích cực tham gia tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chính sách dân tộc; phối hợp với các cấp chính quyền tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào xóa bỏ tập tục lạc hậu, xóa bỏ các tệ nạn xã hội; đi sâu nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào, nhất là đối với những người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội như phụ nữ, người già, trẻ em, người nghèo.

Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, chủ động xây dựng kế hoạch tham gia vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc phản biện chính sách và giám sát quá trình thực hiện. Trong tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và chính quyền địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ và cần có biện pháp thực hiện nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt, nhân tố tích cực trong đồng bào dân tộc thiểu số.

7. Kết luận

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ vị trí, vai trò vấn đề dân tộc, giải quyết quan hệ dân tộc trong quốc gia đa tộc người ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả hết sức quan trọng, trong quá trình giải quyết quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta cũng có những hạn chế nhất định. Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, cần tiếp tục nghiên cứu vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trên các quan điểm: “vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách mạng Việt Nam”; “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển” là nguyên tắc và phương châm trong giải quyết vấn đề dân tộc; phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi là trọng tâm; thực hiện đồng bộ hai nhiệm vụ bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc; giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số.

Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực kinh tế quan trọng.

 Quan điểm của Đảng về sở hữu và các thành phần kinh tế nói chung, về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân nói riêng có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung và hoàn thiện qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đất nước. Bài viết làm rõ quá trình đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân, khẳng định tính đúng đắn của các quyết sách của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân.

Kinh tế tư nhân, động lực quan trọng của nền kinh tế
Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế _ Ảnh: laodong.vn

1. Quá trình đổi mới tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân

Trước đổi mới, kinh tế tư nhân được coi là đối tượng trực tiếp của chủ trương cải tạo XHCN và hạn chế phát triển. Từ khi đổi mới đến nay, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân luôn nhất quán và ngày càng được hoàn thiện, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực này. Từ Đại hội VI (tháng 12-1986), nền kinh tế nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong văn kiện Đảng. Đại hội VI khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch...”(1) và “Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”(2). Như vậy, các thành phần kinh tế phi XHCN được thừa nhận sự tồn tại và hoạt động dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của thành phần kinh tế XHCN. Tuy nhiên lúc này, kinh tế tư nhân nói riêng, các thành phần kinh tế phi XHCN nói chung vẫn được coi là đối tượng phải “cải tạo”, bằng những hình thức và bước đi thích hợp, tránh chủ quan nóng vội: “cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác(3).

Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 15-7-1988 của Bộ Chính trị khóa VI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới, nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, khẳng định kinh tế tư nhân được phát triển trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị khóa VI về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách thức quản lý hợp tác xã nông nghiệp, tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp hồi phục và phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa. Đó là bước khởi đầu quan trọng đối với kinh tế tư nhân nước ta, mở đường cho những bước đột phá sau này.

Đại hội VII (năm 1991) đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về việc khuyến khích và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước”(4) và “Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”(5). Đại hội VII cũng khẳng định: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm”(6). Như vậy, từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế “tàn dư” cần “cải tạo” bằng những bước đi thích hợp, Đại hội VII đã thực sự coi kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước nói chung. Do đó, Hội nghị Trung ương 2 khóa VII đã nêu chủ trương: “Bổ sung và sửa đổi thể chế nhằm bảo đảm cho tập thể, cá thể và tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm; được tự lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định”(7).

Đại hội VIII (năm 1996) tiếp tục khẳng định: “thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh”(8). Đại hội VIII khẳng định, cần đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, đồng thời tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư lâu dài.

Bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX (tháng 1-2001), khi Đảng ta khẳng định kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm”(9).

Đến Đại hội IX, quan điểm của Đảng ta đã có bước nhìn nhận mới: “Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh liên kết với nhau với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước”(10).

Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội IX, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (năm 2002) thông qua Nghị quyết “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”. Đây là lần đầu tiên kể từ khi đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương có một nghị quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân, trong đó tiếp tục khẳng định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN. Hội nghị Trung ương 5 khóa IX cũng đưa ra những đánh giá xác đáng về đóng góp của kinh tế tư nhân, đó là: đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.

Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) tiếp tục xác định vị trí và định hướng phát triển các thành phần kinh tế chủ yếu. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế đất nước, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Lần đầu tiên, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân được Đảng ta chính thức nêu ra và có quy định cụ thể. Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã thảo luận và thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân”.

Tại Đại hội X, Đảng có những khẳng định mới về vai trò của kinh tế tư nhân khi coi kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành không thể thiếu, có vị trí quan trọng đặc biệt và mang ý nghĩa chiến lược trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời, khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong những năm tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Có thể thấy, quan niệm coi kinh tế tư nhân là “một trong những động lực của nền kinh tế” trong hai kỳ Đại hội X và XI phản ánh bước tiến mới trong tư duy lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta.

Điểm mới của Đại hội XII (tháng 1-2016) so với các kỳ đại hội trước là sự khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân như là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”(11).

Như vậy, vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần từng bước được thừa nhận qua từng giai đoạn, từ chỗ chỉ là thành phần kinh tế cần “cải tạo” bằng những bước đi thích hợp đến chỗ có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển; từ chỗ là một trong những động lực của nền kinh tế trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Xác định “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng” của nền kinh tế chính là nhằm đến vai trò tích cực của thành phần kinh tế này. Đảng ta đã nhận thấy rõ, thành phần kinh tế tư nhân còn nhiều tiềm năng chưa được giải phóng, nhiều nguồn lực chưa được huy động và chưa hoạt động tương xứng với khả năng và nguồn lực trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

2. Vai trò động lực quan trọng của kinh tế tư nhân

Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân:

Sau gần 40 năm thực hiện đổi mới, với các chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nước ta có hơn 930.000 doanh nghiệp, trong đó 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoảng 14.400 hợp tác xã và hơn 5 triệu hộ kinh doanh. Đóng góp vào quy mô GDP của khu vực kinh tế tư nhân có xu hướng ngày càng tăng, từ 21,85% năm 2010 lên 24,2% năm 2015 và đạt 27,08% năm 2020, cao nhất trong các loại hình kinh tế. Kinh tế tư nhân từ loại hình kinh tế đóng góp đứng thứ hai, sau kinh tế cá thể đã vươn lên đứng đầu.

Đóng góp vào thu ngân sách Nhà nước của khu vực kinh tế tư nhân liên tục tăng trong giai đoạn 2010-2020: năm 2010 chỉ đạt 70 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách nhà nước; năm 2015 tăng 85%, đạt 129,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,7%; đến năm 2020 đạt 247,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,36% và gấp 3,5 lần năm 2010. Năm 2023, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 46% GDP, tạo ra khoảng 30% nguồn thu ngân sách nhà nước, thu hút 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội(12).

Nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có những bước tiến quan trọng. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hóa và được pháp luật bảo vệ. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh; môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện, thông thoáng, thuận lợi hơn. Dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội ngày càng được phát huy.

Kinh tế tư nhân đã phát triển trên nhiều phương diện, được tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật và đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các yếu tố sản xuất và các loại thị trường; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và các vùng, miền; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân còn một số hạn chế, yếu kém:

Kinh tế tư nhân chưa phát huy hết vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế; tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Kinh tế tư nhân đa số có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ kinh doanh; có trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp; cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu liên kết với nhau và với các thành phần kinh tế khác; năng lực hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của các chuỗi giá trị sản xuất khu vực và toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp tư nhân ngừng hoạt động, giải thể và phá sản.

Hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ. Hiện tượng vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn tương đối phổ biến. Tình trạng sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lận thương mại… diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, nợ bảo hiểm xã hội, trốn thuế và nợ thuế kéo dài.

Xuất hiện một số quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, như can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành "lợi ích nhóm", gây hậu quả xấu về kinh tế - xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân.

Nhiều quy định của pháp luật về kinh tế tư nhân chưa được thực hiện nghiêm. Môi trường đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao và thiếu tính minh bạch. Quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa thực sự bình đẳng giữa kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác; còn tồn tại chi phí trung gian, chi phí không chính thức.

Thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp; tình trạng thiếu trách nhiệm, lạm dụng chức quyền, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp vẫn còn diễn ra. Sự phân công, phân cấp, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương trong quản lý, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển còn thiếu chặt chẽ. Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của kinh tế tư nhân còn thấp.

3. Giải pháp để kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng

Thứ nhất, đổi mới nội dung, phương thức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân

Bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế tư nhân trên cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở.

Các cấp ủy đảng tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về chủ trương nhất quán trong phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo thực hiện hiệu quả, công khai, minh bạch các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương phát triển đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế, năng lực kiến tạo phát triển và tổ chức thực hiện chính sách, luật pháp của Nhà nước, qua đó, chống thất thu thuế và xử lý các hành vi vi phạm luật doanh nghiệp, người dân. Xây dựng Nhà nước “kiến tạo” để các loại hình doanh nghiệp phát huy tốt nhất tiềm năng trong một môi trường bình đẳng, công khai và minh bạch.

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp trong phát triển kinh tế tư nhân. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, làm tốt vai trò tổ chức đại diện, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cho các hội viên.

Thứ hai, hoàn thiện môi trường thể chế, chính sách cho quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhận thức sâu sắc được điều kiện quan trọng, mấu chốt để kinh tế tư nhân phát triển là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Đảng đề ra các định hướng cơ bản hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó nhấn mạnh về hoàn thiện thể chế sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất - kinh doanh, hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường.

Hoàn thiện và bảo đảm thực thi minh bạch, hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tạo tiền đề hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân sở hữu hỗn hợp, bao gồm cả việc góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước có tiềm lực vững mạnh, đủ sức cạnh tranh, tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Bảo đảm các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinh tế tư nhân; không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành bao cấp, phục vụ “lợi ích nhóm” dưới mọi hình thức.

Hoàn thiện thể chế quản lý tài chính doanh nghiệp và minh bạch thông tin tài chính doanh nghiệp của tư nhân. Phát triển kết cấu hạ tầng kết nối các vùng kinh tế, các ngành kinh tế,… Tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực đất đai, vốn, công nghệ

Thứ ba, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật

Nhà nước từ vai trò quản lý doanh nghiệp trở thành Nhà nước kiến tạo hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, hoàn thiện thể chế kinh tế theo kịp sự phát triển của thực tiễn, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân, bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản của các chủ thể kinh tế tư nhân.

Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.

Khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô, liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác.

Thứ tư, hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.

Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực. Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; quy hoạch và phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường.

Tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

Khuyến khích, động viên tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội, nhất là trong cộng đồng doanh nghiệp. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức kinh doanh, khởi nghiệp.

Xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại. Để doanh nghiệp phát triển bền vững, cần xây dựng mô hình quản trị hiện đại, phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

4. Kết luận

Kinh tế tư nhân ngày càng phát triển, có những đóng góp to lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội. Bước đầu, nước ta đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, từng bước nâng cao trách nhiệm đối với người lao động, cộng đồng, xã hội; đạo đức, văn hóa kinh doanh ngày càng được chú trọng.

Phương thức quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ngày càng phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động giám sát, phản biện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đối với khu vực kinh tế tư nhân được nâng lên. Các hiệp hội ngành, nghề thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò cầu nối giữa cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp với các cấp quản lý nhà nước; giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thới các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học - công nghệ và phát triển thị trường.

Phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi số hiện nay.

 Chuyển đổi số là xu thế tất yếu và đòi hỏi khách quan của sự phát triển hiện nay. Tại Việt Nam, để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số, chuyển đổi số thành công, việc ứng dụng công nghệ số và dữ liệu phải tập trung vào yếu tố con người. Bài viết góp phần làm rõ lý luận về nhân lực số, thực trạng nguồn nhân lực số tại các cơ quan nhà nước ở Việt Nam, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam hiện nay.

Chuyển đổi số - Giải pháp phát triển doanh nghiệp trong cuộc Cách ...
Để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số, chuyển đổi số thành công, việc ứng dụng công nghệ số và dữ liệu phải tập trung vào yếu tố con người _ Ảnh: IT

1. Mở đầu

Chuyển đổi số là động lực phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Việt Nam muốn hùng cường, thịnh vượng và trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 thì phải thực hiện chuyển đổi số. Trong đó, nguồn nhân lực số là một yếu tố nội sinh cốt lõi, quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi số.

Thời gian qua, công tác thu hút, phát triển nguồn nhân lực số đã đạt được những kết quả nhất định. Nguồn lao động có trình độ cao chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong cơ cấu lao động nghề nghiệp. Tuy nhiên, nguồn nhân lực số của Việt Nam vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

2. Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực số

“Nhân lực số là lực lượng lao động kỹ thuật chuyên nghiệp, trực tiếp thực hiện các sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT), điện tử viễn thông, an toàn thông tin (ATTT) mạng để phục vụ hoạt động công nghệ số”(1). Các đặc trưng của nguồn nhân lực số là: i) Có năng lực làm chủ các thiết bị công nghệ số trong quá trình tương tác của các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội; ii) Có khả năng sẵn sàng với môi trường lao động và tiến bộ khoa học công nghệ trong thời gian nhanh nhất; iii) Có tính sáng tạo cao trong công việc.

Phát triển nguồn nhân lực số được hiểu là quá trình tăng lên về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực số để đáp ứng các yêu cầu do chuyển đổi số đặt ra. Trong đó, phát triển về số lượng nhằm tạo ra nhân lực số dồi dào, đặc biệt là lực lượng chuyên trách về chuyển đổi số (phụ trách công nghệ thông tin và an toàn thông tin); phát triển về chất lượng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ý thức, thái độ và kỹ năng hoạt động nghề nghiệp của nguồn nhân lực số.

Các nội dung phát triển nguồn nhân lực số bao gồm:

Một là, phát triển về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực số. Đây là bước quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực số, bao gồm các cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có năng lực, trình độ cao và phẩm chất tốt đáp ứng tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Hai là, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực số. Đối với khu vực nhà nước, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức sẽ bảo đảm nguồn nhân lực của đơn vị có thể thích ứng và theo sát sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ba là, phát triển đội ngũ chuyên trách về chuyển đổi số bao gồm lực lượng phụ trách công nghệ thông tin và an toàn thông tin.

3. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực số hiện nay

Phát triển và phát huy vai trò nguồn nhân lực số là một trong những nhiệm vụ, mục tiêu, động lực của chuyển đổi số. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03-6-2020 phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Trong đó, nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực số và đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể trong phát triển nguồn nhân lực số: “Xây dựng chương trình, nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng về chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước” và “Lựa chọn, đào tạo, tập huấn đội ngũ tối thiểu 1.000 chuyên gia về chuyển đổi số cho ngành, lĩnh vực, địa phương. Các chuyên gia này tiếp tục đào tạo lại cho cán bộ liên quan ở cơ quan, tổ chức mình và trở thành lực lượng nòng cốt để dẫn dắt, tổ chức và lan tỏa tiến trình chuyển đổi số quốc gia”(2). Tất cả các bộ, ngành trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cụ thể hóa Quyết định số 749/QĐ-TTg bằng các chương trình, kế hoạch, đề án riêng về chuyển đổi số trong giai đoạn 2021-2025.

Công tác phát triển nguồn nhân lực số đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận là:

Một là, về số lượng nguồn nhân lực số

Tỷ lệ lao động có chuyên môn, kỹ thuật, được đào tạo bài bản ngày càng tăng. Đây là một cơ sở quan trọng để phát triển nguồn nhân lực số. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý IV năm 2023 là 27,6%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Năm 2023, lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 14,1 triệu người, chiếm 27,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022(3).

Hình 1: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, an toàn thông tin trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông: Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2022 (VN-ICT- Index 2022), tr.27.

Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin và an toàn thông tin ngày càng được bổ sung, phát triển. Giai đoạn 2017-2022, tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chiếm gần 2%; tỷ lệ cán bộ chuyên trách an ninh thông tin tăng 0,4% (hình 1). Đối với cơ quan nhà nước các tỉnh/thành phố, tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin tăng 0,3% giai đoạn 2017-2022 (hình 2).

Hình 2: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, an toàn thông tin trong các cơ quan nhà nước của tỉnh, thành phố

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông, Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2022 (VN-ICT- Index 2022), tr.28

Tuy nhiên, Hình 1 và Hình 2 cho thấy tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin và an toàn thông tin ở các bộ, cơ quan thuộc bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ cao hơn và tăng nhanh hơn ở các cơ quan nhà nước của tỉnh, thành phố.

Hai là, về chất lượng

“Tính chung năm 2023, lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ước tính là 14,1 triệu người, chiếm 27,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022”(4). Công tác đào tạo nguồn nhân lực số đã có bước chuyển biến và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Theo Tổng Cục Thống kê, Việt Nam hiện nay có 168 trường đại học và 520 trường nghề có đào tạo về chuyên ngành truyền thông (ICT) và công nghệ thông tin với tổng số chỉ tiêu tuyển sinh đầu vào khoảng 100 nghìn sinh viên. Tổng số sinh viên tốt nghiệp hằng năm đạt trên 84 nghìn. Trong chương trình đào tạo đại học, sau đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bổ sung 5 mã ngành liên quan đến công nghệ thông tin và máy tính. Chuyên ngành đào tạo công nghệ thông tin và máy tính là những ngành có tỷ lệ hồ sơ đầu vào cao (năm 2022 đạt 70.000 hồ sơ, tăng 16% so với năm 2021). Hằng năm, số lượng sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành này là hơn 65.000 (tính cả cao đẳng, trung cấp). Trong cơ cấu lao động nghề nghiệp hiện nay, lao động làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ số đạt khoảng 1,5 triệu người(5).

Một số trường đại học đã ứng dụng các nền tảng số hiện đại vào đào tạo nhân lực trình độ cao như Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông với mô hình đại học số trên nền tảng công nghệ PTIT-Slink. Đặc biệt, mô hình “Giáo dục đại học số” dưới sự chủ trì Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông đã được triển khai thí điểm ở 5 trường đại học kèm theo Bộ tiêu chí và chỉ số đánh giá chuyển đổi số cơ sở giáo dục đại học.

Công tác tập huấn nguồn nhân lực số được chú trọng và thực hiện tương đối hệ thống, toàn diện với các hình thức đào tạo đa dạng, phù hợp với từng đối tượng. Năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 60 khóa học về chuyển đổi số trên nền tảng MOOCS cho 305 nghìn lượt người là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước; tổ chức 20 khóa phổ cập kỹ năng số với 23 triệu lượt người truy cập học; 02 khóa tập huấn cho các thành viên tổ công nghệ số cộng đồng. Công tác tập huấn ở các bộ, ngành, địa phương diễn ra rất tích cực với sự hỗ trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông, có 140 nghìn cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã tập huấn về công tác chuyển đổi số(6).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số hạn chế về nguồn nhân lực số là:

Thứ nhất, nguồn nhân lực số còn thiếu, chưa đáp ứng về mặt số lượng so với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia

Năm 2023, cả nước vẫn còn 38 triệu lao động chưa qua đào tạo(7). Con số này cho thấy thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động.

Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin mặc dù có tăng qua các năm nhưng chiếm tỷ lệ quá thấp so với cơ cấu vị trí việc làm của các nhóm nghề nghiệp khác. Năm 2022, ở các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin chỉ chiếm 6,1%. Đối với tỉnh, thành phố thì tỷ lệ này lại thấp hơn rất nhiều, chỉ chiếm 1,4%. Hiện nay, một số quận, huyện, sở, ngành chỉ có 1-3 nhân lực phụ trách chuyển đổi số, công nghệ thông tin và trong đó có một vị trí kiêm nhiệm do phó chánh văn phòng cấp sở hoặc UBND quận, huyện phụ trách.

Một trong những nguyên nhân là hiện nay chưa có cơ chế riêng trong tuyển dụng nhân lực số, đặc biệt với vị trí việc làm “phụ trách về chuyển đổi số”. Với vai trò phụ trách công nghệ thông tin, chuyển đổi số nhưng chưa có chức danh nên nhân lực này thường được ghép vào bộ phận văn phòng hay quản trị với mức thu nhập thấp nhưng yêu cầu lại là nhân lực chất lượng cao, do đó rất khó thu hút người có trình độ chuyên môn phù hợp ứng tuyển vào vị trí này.

Hình 3: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông: Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2022 (VN-ICT- Index 2022), tr.20.

Nguồn lực cán bộ phụ trách an toàn thông tin cũng thiếu nhiều. Đây là lực lượng đòi hỏi cao về mặt kỹ năng, trình độ. Tỷ lệ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực an toàn thông tin còn giảm đáng kể trong giai đoạn 2020-2022 đối với các cơ quan nhà nước ở tỉnh, thành phố. Năm 2017, có 0,8% cán bộ chuyên trách an toàn thông tin, nhưng đến năm 2022, giảm chỉ còn 0,7% (Hình 4). Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, tỷ lệ cán bộ chuyên trách an toàn thông tin tăng rất chậm từ năm 2017 đến 2019; từ năm 2019 đến năm 2022, giữ nguyên ở mức 1,8%. Điều đó cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng của nguồn nhân lực này, trong khi an toàn, an ninh thông tin là yếu tố then chốt trong chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Hình 4: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách an toàn thông tin

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông: Báo cáo chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2022 (VN-ICT- Index 2022), tr.26

Thực tiễn cho thấy, nhân lực công nghệ thông tin đang trong tình trạng thiếu hụt lớn, báo cáo của TopDev chỉ ra rằng: “Nếu năm 2021, các doanh nghiệp cần 450.000 nhân sự, thì nguồn nhân lực chỉ đáp ứng được 430.000 người. Năm 2022, con số thiếu hụt này lên tới 150.000 nhân sự khi nhu cầu tuyển dụng của thị trường lên đến 530.000 người. Năm 2023, toàn ngành sẽ thiếu hụt khoảng một triệu lao động. Trong đó, doanh nghiệp IT - Phần mềm thuộc nhóm có tỷ lệ thiếu nhiều nhất. Nhân sự công nghệ thông tin luôn nằm trong top ba vị trí được săn tìm trong thời gian gần đây”(8).

Thứ hai, kỹ năng của nguồn nhân lực số còn hạn chế, đặc biệt là các kỹ năng thích ứng và làm chủ các công nghệ đặc trưng của chuyển đổi số như: blockchaintrí tuệ nhân tạo, tự động hóakhoa học dữ liệuĐây chính là những rào cản trong quá trình làm chủ các chương trình chuyển đổi số

Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực số chính là kỹ năng số. Kỹ năng số “là một loạt các khả năng sử dụng các thiết bị kỹ thuật số, các ứng dụng về truyền thông và mạng để truy cập và quản lý thông tin, cho phép mọi người tạo và chia sẻ nội dung kỹ thuật số, giao tiếp, cộng tác và giải quyết các vấn đề để tự hoàn thành một cách hiệu quả và sáng tạo trong cuộc sống, học tập, công việc và hoạt động xã hội nói chung”(9). Diễn đàn Kinh tế thế giới xem tiêu chí kỹ năng số là một trụ cột quan trọng trong đánh giá kỹ năng của người lao động. Kết quả Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu cho thấy, trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam là nước có điểm về kỹ năng số ở mức thấp, chỉ cao hơn Campuchia (hình 5)(10).

Hình 5: Điểm kỹ năng số của lực lượng lao động tại một số nước châu Á - Thái Bình Dương

Nguồn: World Economic Forum: The Global Competitiveness Report, 2019.

Theo báo cáo của Cisco năm 2019 về mức độ sẵn sàng về kỹ năng số của các quốc gia trên thế giới, điểm số trung bình của Việt Nam là 12,06(11). Việt Nam nằm trong nhóm tăng tốc với ý nghĩa là lực lượng lao động có khả năng cải thiện mức độ sẵn sàng số và tạo ra công nghệ mới. Tuy nhiên, các chỉ số thành phần như chỉ số vốn con người (0,86), khả năng áp dụng công nghệ (0,98) cho thấy lực lượng lao động Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các quốc gia khác trong khu vực.

Thứ hạng về kỹ năng số của lao động Việt Nam cũng đang ở mức thấp, đứng thứ 97 trên thế giới, chỉ đứng trên Campuchia so với các quốc gia trong khu vực (Hình 6).

Hình 6: Thứ hạng về kỹ năng số của lực lượng lao động Việt Nam năm 2022

Nguồn: World Economic Forum: The Global Competitiveness Report, 2019

Như vậy, còn rất nhiều lao động hoạt động trong môi trường số thiếu các kỹ năng về công nghệ thông tin; trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của công việc; một số cơ quan phải đào tạo lại mới có thể sử dụng được nguồn nhân lực này.

Qua các phân tích trên cho thấy, nếu xu hướng chuyển đổi số là tất yếu thì việc phát triển về số lượng lẫn chất lượng và phát huy vai trò nguồn nhân lực số là cực kỳ quan trọng và cần thiết. Việc nâng cao kiến thức, kỹ năng số, bổ sung nguồn nhân lực số không chỉ giúp làm chủ được quá trình chuyển đổi số, khẳng định vai trò, vị thế mà còn góp phần nâng cao hiệu quả, thành công của tiến trình chuyển đổi số. Để phát huy hơn nữa vai trò của nguồn nhân lực số và khắc phục những hạn chế, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, người lao động và người sử dụng lao động.

4. Một số khuyến nghị

Một là, phát huy vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng hành lang pháp lý cũng như thiết lập hạ tầng kỹ thuật số phục vụ quá trình chuyển đổi số và phát triển kỹ năng số cho lực lượng lao động. Chính phủ cần hoạch định chính sách, ngân sách hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước trong quá trình chuyển đổi số cũng như đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, năng lực số cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Đồng thời, Chính phủ và Bộ Nội vụ cần nhanh chóng hoàn thành đề án vị trí việc làm và bổ sung chức danh phụ trách chuyển đổi số ở cơ quan, đơn vị kèm theo các tiêu chí, điều kiện và quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể.

Hai là, đẩy mạnh việc đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực tại chỗ ở cơ quan, đơn vị thông qua các chương trình đào tạo trực tuyến. Thường xuyên chia sẻ dữ liệu, tài nguyên số trong quá trình đào tạo và tập huấn. Các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo cần xây dựng và thu hút nguồn nhân lực cao để giảng dạy kỹ năng số, năng lực số. Khuyến khích người lao động, cán bộ, công chức, viên chức, người dân tham gia học tập, bồi dưỡng, các khóa tập huấn về chuyển đổi số, kỹ năng số nhằm nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu của công việc.

Ba là, đối với người lao động phụ trách chuyển đổi số ở cơ quan, đơn vị cần có chế độ đãi ngộ phù hợp, chế độ khuyến khích vật chất, tinh thần, tạo môi trường, động lực làm việc và tăng sự gắn kết, gắn bó lâu dài. Đồng thời, tạo điều kiện tham gia các khóa bồi dưỡng trong nước, nước ngoài, có cơ hội mở mang kiến thức, trau dồi kỹ năng số.

Bốn là, đối với bản thân cán bộ, công chức, viên chức và người lao động cần tăng cường tính chủ động và khả năng thích ứng. Cần xác định các thiếu hụt về năng lực, kỹ năng số; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ, đáp ứng các yêu cầu của chuyển đổi số. Từng cá nhân cần có nhận thức rõ hơn về tương lai, xác định và thực hiện đúng vai trò của mình trong chuyển đổi số.

5. Kết luận

Phát triển, phát huy vai trò nguồn nhân lực số là chìa khóa trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Để phát triển nhân lực số, cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương. Trong đó, sự dẫn dắt của Chính phủ về cơ chế, chính sách giữ vai trò then chốt; giáo dục - đào tạo là trung tâm mang tính chiến lược nhằm tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực số lớn về số lượng, mạnh về chất lượng, bảo đảm yêu cầu của quá trình chuyển đổi số quốc gia.

_________________