Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2025

Tinh gọn bộ máy và đột phá công nghệ: Hai cuộc cách mạng không thể tách rời

Hai cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chính là hai động lực song song đưa đất nước ta tiến lên trên con đường phát triển mới. Chúng không thể tách rời mà cần được quán triệt thực hiện như một thể thống nhất, bởi mỗi bên là điều kiện tiền đề và là chất xúc tác cho bên kia.

    Trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đồng thời khởi xướng hai cuộc “cách mạng” lớn: tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 56-NQ/TW ngày 25/11/2024 và đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024. Đây không chỉ là hai nhiệm vụ song song mà còn gắn bó chiến lược, tương hỗ chặt chẽ với nhau. Cả hai cùng hướng tới mục tiêu xây dựng một nền hành chính hiệu quả, linh hoạt, hiện đại, tạo động lực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Bài viết này phân tích sâu sắc mối quan hệ không thể tách rời giữa hai cuộc cách mạng, ý nghĩa của việc triển khai đồng bộ, những thách thức nếu thiếu sự phối hợp, và đề xuất giải pháp đảm bảo hai cuộc cách mạng cùng thành công rực rỡ.

    Sự tương hỗ chiến lược giữa hai cuộc cách mạng


    Một nền tảng, một động lực: Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và cuộc cách mạng về khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi số (CĐS) thực chất là hai mặt của quá trình hiện đại hóa đất nước. Một mặt, tinh gọn bộ máy là nền tảng thể chế và tổ chức để các đột phá về công nghệ – số hóa được triển khai hiệu quả. Bộ máy gọn nhẹ, thông suốt giúp loại bỏ các tầng nấc trung gian, giảm thủ tục rườm rà, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ mới và thúc đẩy sáng tạo. Thật vậy, bộ máy cồng kềnh, chồng chéo không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn kìm hãm sự phát triển, khiến nhiều chủ trương, chính sách chậm đi vào cuộc sống. Muốn đổi mới sáng tạo phát huy tác dụng, trước hết bộ máy thực thi phải đổi mới, tinh gọn.
    Ngược lại, KHCN, ĐMST và CĐS chính là động lực và công cụ để hiện thực hóa một bộ máy tinh gọn, hiệu quả. Công nghệ số giúp tự động hóa quy trình, giảm bớt nhân lực và thời gian xử lý công việc; dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định nhanh, chính xác; đổi mới sáng tạo cung cấp những mô hình quản trị hiện đại. Nhờ áp dụng mạnh mẽ các thành tựu này, bộ máy có thể “vừa giảm, vừa mạnh” – tức tinh giản biên chế nhưng vẫn nâng cao được hiệu suất và chất lượng phục vụ. Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác định phát triển “bộ ba” KHCN, ĐMST, CĐS là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đồng thời “đổi mới phương thức quản trị quốc gia”. Điều đó hàm ý rằng việc quản trị đất nước – bao gồm tổ chức bộ máy – phải cải tiến dựa trên nền tảng số và tri thức hiện đại. Rõ ràng, nếu thiếu đi động lực công nghệ, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức khó đạt kết quả tối ưu và nếu thiếu nền tảng tổ chức phù hợp, động lực công nghệ sẽ không được giải phóng tối đa. Hai cuộc cách mạng vì thế gắn bó mật thiết, bổ sung cho nhau như nền móng và trụ cột trong công cuộc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển.


    Sức mạnh của triển khai đồng bộ

    Tổng lực tạo nên nền hành chính hiện đại: Khi tinh gọn bộ máy và đột phá công nghệ, số hóa được triển khai đồng thời, chúng tạo ra hiệu ứng cộng hưởng giúp nền hành chính chuyển mình toàn diện. Bộ máy gọn nhẹ kết hợp với công nghệ số hóa sẽ hình thành nên một Chính phủ số hoạt động minh bạch, thông suốt. Thủ tục hành chính được tái cấu trúc và thực hiện trên nền tảng số giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm hẳn giấy tờ trung gian. Người dân, doanh nghiệp dễ dàng tương tác với cơ quan công quyền qua dịch vụ công trực tuyến, không còn cảnh “chạy qua nhiều cửa” như trước. Nhờ đó, nền hành chính phục vụ dần trở thành hiện thực, với đặc tính “hiệu lực, hiệu quả, linh hoạt, hiện đại” đúng như mục tiêu đề ra.

    Đồng bộ hai cuộc cách mạng còn nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống chính trị trước những biến động mới. Trong thời đại kinh tế số và cách mạng công nghiệp 4.0, mô hình quản trị truyền thống nếu đứng riêng lẻ sẽ khó theo kịp tốc độ thay đổi. Việc thực hiện song hành giúp bộ máy sẵn sàng tiếp thu cái mới, kịp thời điều chỉnh chức năng nhiệm vụ dựa trên dữ liệu và thực tiễn. Một tổ chức hành chính tinh gọn, được trang bị công nghệ hiện đại có thể “vừa chạy vừa xếp hàng” – tức vừa vận hành, vừa linh hoạt tự hoàn thiện. Kết quả là chúng ta xây dựng được một hệ thống quản trị quốc gia vừa tinh giản vừa thông minh, đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số. Đây chính là điều kiện cần để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng vươn lên: trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu khu vực về năng lực cạnh tranh số, Chính phủ điện tử và các lĩnh vực công nghệ mới. Muốn vậy, bộ máy chính quyền phải vận hành hiệu quả trên nền tảng số, nghĩa là hai nhiệm vụ cải cách tổ chức và chuyển đổi số phải được tiến hành đồng bộ ngay từ bây giờ.


    Thách thức khi thiếu sự phối hợp đồng hành

    Nguy cơ “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”
    : Nếu hai cuộc cách mạng không đồng hành chặt chẽ, mỗi lĩnh vực đi một hướng, hiệu quả chung sẽ suy giảm đáng kể và thậm chí gây ra những hệ lụy tiêu cực. Trước hết, thiếu đổi mới công nghệ trong bộ máy tinh gọn có thể khiến bộ máy sau sắp xếp rơi vào tình trạng “giảm cơ học”: biên chế, đầu mối giảm nhưng cách làm việc cũ vẫn giữ, dẫn tới quá tải cho cán bộ còn lại và giảm chất lượng phục vụ. Ví dụ, cắt giảm đầu mối mà không số hóa quy trình sẽ khiến mỗi cán bộ phải xử lý nhiều hồ sơ giấy tờ hơn, dễ phát sinh chậm trễ, tồn đọng. Khi đó, người dân và doanh nghiệp có thể mất niềm tin nếu thấy cải cách chỉ làm khó thêm thay vì tạo thuận lợi. Nguy cơ khác là bộ máy tinh gọn sẽ thiếu “sức bật” nếu không tiếp nhận luồng sinh khí từ khoa học công nghệ. Bộ máy mới tinh giản nhưng tư duy lạc hậu, ngại đổi mới thì vẫn có thể vận hành trì trệ, không khác mấy bộ máy cũ cồng kềnh.

    Ngược lại, thiếu cải cách bộ máy hỗ trợ cho cuộc cách mạng số cũng đặt ra nhiều thách thức. Công nghệ, sáng tạo dù tiên tiến đến đâu nếu rơi vào một cơ cấu tổ chức quan liêu sẽ khó phát huy. Cơ chế quản lý cũ kỹ, chồng chéo chức năng có thể “vô hiệu hóa” các giải pháp công nghệ, biến những nỗ lực chuyển đổi số thành hình thức. Thực tế cho thấy, đã có giai đoạn chủ trương phát triển khoa học công nghệ được ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống do bộ máy triển khai thiếu hiệu quả, tư duy quản lý chậm đổi mới. Nếu các cơ quan còn tranh chấp chức năng, thiếu phối hợp, dự án số hóa dễ bị ách tắc, dữ liệu không liên thông, thậm chí mỗi nơi đầu tư một hệ thống gây lãng phí lớn. Bên cạnh đó, khi không có sự chỉ đạo thống nhất, nguồn lực tài chính và nhân lực có thể bị phân tán: đầu tư cho công nghệ mà quên đào tạo, sắp xếp lại con người, hoặc ngược lại. Hai cuộc cách mạng tách rời nhau sẽ như hai bánh răng không ăn khớp – bộ máy cải cách mà thiếu công nghệ hỗ trợ sẽ khập khiễng, còn chuyển đổi số thiếu cải cách thể chế sẽ mất đà. Đây chính là bài học kinh nghiệm để chúng ta thấy rõ: nếu không phối hợp đồng bộ, mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại khó lòng đạt được trọn vẹn.


    Giải pháp để hai cuộc cách mạng cùng thành công


    Để bảo đảm tinh gọn bộ máy và phát triển KHCN, ĐMST, CĐS hỗ trợ lẫn nhau và cùng về đích, cần một cách tiếp cận chính sách toàn diện và những giải pháp thực tiễn quyết liệt, đồng bộ:


    Một là, thống nhất tầm nhìn và ý chí chính trị ở mọi cấp: Trước hết, toàn Đảng và hệ thống chính trị phải có nhận thức chung rằng hai cuộc cách mạng này là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng, cần tiến hành song hành. Như tinh thần Nghị quyết 56 nhấn mạnh, đây là cuộc cách mạng đòi hỏi “thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị”. Người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị phải gương mẫu đi đầu, chỉ đạo quyết liệt cả hai mũi cải cách, tránh tình trạng nơi chú trọng tinh giản nhưng lơ là chuyển đổi số (hoặc ngược lại). Việc Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị lập các Ban Chỉ đạo do chính Tổng Bí thư làm Trưởng ban để chỉ đạo hai nghị quyết 56 và 57 cho thấy quyết tâm chính trị cao độ và sự lồng ghép chặt chẽ trong chỉ đạo chiến lược.

    Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Ảnh: quochoi.vn)

    Hai là, đồng bộ hóa chính sách và lộ trình thực hiện: Các kế hoạch triển khai Nghị quyết 56 và 57 cần được thiết kế liên thông với nhau. Trong quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy, phải song song cải tiến quy trình nghiệp vụ sao cho phù hợp với môi trường số. Ngược lại, mọi chương trình chuyển đổi số quốc gia cũng cần tính đến yếu tố đơn giản hóa tổ chức và thủ tục. Ví dụ, khi xây dựng Chính phủ điện tử, phải đồng thời cắt giảm, hợp nhất các đầu mối xử lý, tránh số hóa một quy trình nhưng quy trình đó vẫn phức tạp như cũ. Các văn bản pháp luật, quy chế quản lý cần sửa đổi đồng bộ theo hướng vừa xóa bỏ rào cản hành chính cũ, vừa hợp pháp hóa các giải pháp công nghệ mới. Có như vậy, cải cách thể chế và ứng dụng công nghệ mới không triệt tiêu, mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau.

    Ba là, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu kép: Yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong cả hai cuộc cách mạng. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đa năng, am hiểu công nghệ và tinh thông quản lý hiện đại. Song song với việc tinh giản biên chế, Nhà nước phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ còn lại; tạo tâm thế sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ mới trong bộ máy tinh gọn. Khuyến khích tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm trong đội ngũ cán bộ để họ tích cực đề xuất sáng kiến cải cách và áp dụng công nghệ. Đồng thời, có chính sách thu hút nhân tài công nghệ số vào làm việc trong khu vực công, hình thành lực lượng nòng cốt dẫn dắt chuyển đổi số ngay từ bên trong bộ máy.


    Bốn là, đầu tư hạ tầng và công cụ hỗ trợ hiện đại: Để bộ máy tinh gọn vận hành trơn tru, phải xây dựng hạ tầng số tương xứng. Cần tăng cường đầu tư cho các hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm mọi cấp chính quyền được kết nối thông suốt. Nghị quyết 57 đã đề ra mục tiêu tăng mạnh tỉ lệ chi cho R&D và chuyển đổi số (đến 2030 chi cho R&D đạt 2% GDP), đây là nguồn lực quan trọng để trang bị công cụ hiện đại cho cơ quan nhà nước. Hơn nữa, nên áp dụng các giải pháp quản trị tiên tiến như chính phủ số, chính quyền thông minh. Chẳng hạn, thiết lập trung tâm điều hành thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, triển khai họp trực tuyến và xử lý văn bản điện tử... giúp lãnh đạo điều hành kịp thời và giảm tối đa thủ tục giấy tờ. Hạ tầng và công cụ hiện đại chính là “cánh tay đắc lực” để bộ máy đã gọn nhẹ càng thêm nhanh nhạy, hiệu quả.


    Năm là, giám sát, thí điểm và liên tục điều chỉnh: Cuối cùng, bảo đảm thành công cần có cơ chế giám sát chặt chẽ và kịp thời điều chỉnh trong quá trình thực hiện. Thiết lập các chỉ số đo lường cụ thể cho cả việc tinh giản bộ máy (như mức giảm đầu mối, giảm thời gian xử lý công vụ) lẫn chuyển đổi số (như tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến, mức độ hài lòng của người dân). Thường xuyên báo cáo tiến độ hai lĩnh vực song song để phát hiện điểm nghẽn nếu lĩnh vực nào chậm trễ hơn. Đặc biệt, khuyến khích thí điểm mô hình mới ở một số địa phương, bộ ngành – nơi mạnh dạn hợp nhất tổ chức đi đôi với ứng dụng công nghệ cao – để rút kinh nghiệm và nhân rộng. Sự linh hoạt trong chỉ đạo “Trung ương không chờ địa phương, địa phương không chờ cơ sở” vẫn cần đi kèm với phối hợp nhịp nhàng, tránh để nơi làm trước, nơi làm sau thiếu kết nối. Liên tục học hỏi thực tiễn tốt, điều chỉnh chính sách kịp thời sẽ giúp hai cuộc cách mạng tiến bước vững chắc, hỗ trợ lẫn nhau cùng về đích.


    Kết luận: Hai cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và đột phá phát triển KHCN, ĐMST, CĐS chính là hai động lực song song đưa đất nước ta tiến lên trên con đường phát triển mới. Chúng không thể tách rời mà cần được quán triệt thực hiện như một thể thống nhất, bởi mỗi bên là điều kiện tiền đề và là chất xúc tác cho bên kia. Việc triển khai đồng bộ sẽ tạo ra một nền hành chính nhà nước vừa tinh gọn về tổ chức, vừa mạnh mẽ về công nghệ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân trong thời đại số. Ngược lại, nếu thiếu sự phối hợp, cả hai cuộc cách mạng đều khó đạt mục tiêu và có thể tạo ra những khoảng trống, lực cản cho phát triển. Với quyết tâm chính trị cao nhất, với tầm nhìn chiến lược và các giải pháp đúng đắn, chúng ta tin tưởng rằng cả hai cuộc cách mạng sẽ thành công song hành, tạo dựng một bộ máy công quyền thật sự hiệu lực, hiệu quả và một quốc gia đổi mới sáng tạo, vững bước tiến vào tương lai. Đây vừa là mệnh lệnh từ Nghị quyết của Đảng, vừa là khát vọng chung của toàn dân tộc trên con đường xây dựng Việt Nam phồn vinh, hùng cường./.

    Bản lĩnh quốc gia trước quyết định áp thuế của Hoa Kỳ

    Việc Tổng thống Donald Trump tuyên bố áp thuế 46% lên hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ là một quyết định rất đáng tiếc – nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia, mà còn làm dấy lên những lo ngại về sự ổn định của chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó Việt Nam là một mắt xích quan trọng.

      Bản lĩnh quốc gia trước quyết định áp thuế của Hoa Kỳ- Ảnh 1.
       
      Mức thuế nói trên được đưa ra dựa trên thông tin cho rằng Việt Nam áp thuế 90% lên hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đây là con số cần được kiểm chứng khách quan và trao đổi một cách thẳng thắn, minh bạch và trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Trên thực tế, Việt Nam luôn nghiêm túc thực thi các cam kết thương mại quốc tế, kể cả trong khuôn khổ WTO lẫn các hiệp định thương mại song phương và đa phương.
      Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Việt Nam vẫn luôn là một đối tác đáng tin cậy của Hoa Kỳ – nhất quán trong chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng đối thoại có lý, có tình, trên tinh thần xây dựng, và kiên quyết không chọn đối đầu như một phương thức ứng xử quốc tế.
      Không vội vàng lo lắng – đây chưa phải là hồi kết
      Chính sách thương mại luôn có tính linh hoạt cao, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, nơi các quyết định hành pháp có thể chịu điều chỉnh bởi Quốc hội, doanh nghiệp và chính công luận Mỹ.
      Việc công bố mức thuế mới là một tuyên bố chính trị và đàm phán – chưa hẳn là cánh cửa khép lại cho hàng hóa Việt Nam. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và các tổ chức thương mại Mỹ vốn đang có quan hệ chặt chẽ với Việt Nam sẽ lên tiếng, bởi chính họ cũng chịu thiệt hại.
      Việt Nam không đơn độc – chúng ta có đối tác, có uy tín và có phương án
      Việt Nam đã ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, CPTPP, RCEP…), mở ra các thị trường rộng lớn từ EU đến châu Á - Thái Bình Dương. Sự đa dạng hóa thị trường là một chiến lược dài hạn đúng đắn, giúp Việt Nam giảm thiểu rủi ro từ sự phụ thuộc đơn phương.
      Hơn nữa, với tư cách là một nền kinh tế tuân thủ luật chơi toàn cầu, Việt Nam có quyền sử dụng các kênh đàm phán song phương và đa phương, từ WTO cho tới các cơ chế giải quyết tranh chấp. Chúng ta có kinh nghiệm, có đội ngũ pháp lý và có niềm tin quốc tế – điều này rất khác với hình ảnh một nền kinh tế nhỏ và dễ tổn thương như trước đây.
      Trong nguy có cơ – Thời điểm để tái cơ cấu và nâng tầm chuỗi giá trị
      Việc Hoa Kỳ siết lại thương mại có thể là một cú hích giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình chuyển đổi mô hình xuất khẩu. Thay vì phụ thuộc vào gia công, lắp ráp – đây là lúc chúng ta cần tăng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, và tiến tới sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.
      Việc dòng vốn FDI có thể bị ảnh hưởng trong ngắn hạn lại càng củng cố vai trò trụ cột của kinh tế tư nhân trong nước – lực lượng đang ngày càng năng động, sáng tạo và khát khao vươn lên. Điều này cũng tạo áp lực tích cực để Việt Nam sắp xếp lại chuỗi cung ứng, hướng tới sự tự chủ chiến lược, không quá phụ thuộc vào một nguồn vốn hay thị trường nào.
      Để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng trong bối cảnh mới, đẩy mạnh kinh tế trong nước là con đường bắt buộc. Đây là thời điểm cần có các biện pháp kích thích kinh tế mạnh mẽ và trúng đích, tập trung vào đầu tư công hiệu quả, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, mở rộng thị trường nội địa và thúc đẩy tiêu dùng, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển.
      Song song với đó, Việt Nam cần đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cải cách thể chế – từ môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính đến chính sách thuế, đất đai, khoa học công nghệ. Cải cách không còn là lựa chọn, mà là điều kiện sống còn để nâng cao sức chống chịu và khả năng bứt phá.
      Đây cũng là lúc mỗi địa phương, mỗi doanh nghiệp phải bứt phá vươn lên, phát huy nội lực, sáng tạo và bản lĩnh để cùng đất nước vượt qua giai đoạn thử thách. Một nền kinh tế khỏe mạnh không thể chỉ trông vào bên ngoài – mà phải được nuôi dưỡng từ khát vọng phát triển bên trong.
      Bản lĩnh quốc gia trước quyết định áp thuế của Hoa Kỳ- Ảnh 3.
       
      Việt Nam đã ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, CPTPP, RCEP…), mở ra các thị trường rộng lớn từ EU đến châu Á - Thái Bình Dương.
      Vai trò của Nhà nước – Đồng hành và kiến tạo
      Chính phủ Việt Nam chắc chắn sẽ không đứng ngoài. Ngay trong sáng ngày 3 tháng 4, chỉ ít giờ sau tuyên bố áp thuế từ phía Hoa Kỳ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã triệu tập cuộc họp khẩn của Thường trực Chính phủ với các bộ, ngành liên quan. Những chỉ đạo được đưa ra – trong đó đề cập tất cả những chủ đề quan trọng như đã nói ở trên - là kịp thời, sáng suốt và mang tầm chiến lược – thể hiện rõ tinh thần chủ động, không bị động bất ngờ trước các biến động từ bên ngoài.
      Thủ tướng đã yêu cầu đánh giá toàn diện tác động – gồm cả trực tiếp và gián tiếp, cả trước mắt và lâu dài, cả tích cực và tiêu cực – tới kinh tế, thương mại, việc làm và tâm lý thị trường, đồng thời chỉ đạo xây dựng các kịch bản ứng phó linh hoạt. Chính phủ cũng xúc tiến các kênh đối thoại cấp cao với Hoa Kỳ, sử dụng các cơ chế song phương và đa phương như WTO để bảo vệ quyền lợi chính đáng của đất nước. Chính phủ nỗ lực hết sức mình để bảo đảm lợi ích quốc gia trước lệnh áp thuế mới của Mỹ.
      Không dừng ở đó, các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chuyển hướng thị trường, tăng sức chống chịu, nâng cao năng lực cạnh tranh, ổn định tỷ giá và dòng vốn cũng được đồng loạt triển khai. Những hành động này chính là sự khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc dẫn dắt niềm tin thị trường và duy trì ổn định vĩ mô – hai yếu tố sống còn trong bối cảnh bất định.
      Trong thời điểm thử thách như hiện nay, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kiên định của Trung ương Đảng, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ Việt Nam đang thực sự là ngọn hải đăng trong giông bão, soi sáng phương hướng cho doanh nghiệp và người dân, giữ vững niềm tin vào tương lai và tiếp thêm năng lượng để cả nền kinh tế vượt qua sóng gió một cách vững vàng và tự tin.
      Bản lĩnh làm nên sự khác biệt
      Lịch sử kinh tế Việt Nam đã từng trải qua nhiều cú sốc – từ cấm vận, khủng hoảng tài chính, thiên tai, dịch bệnh cho đến những thay đổi chính sách bất ngờ từ đối tác lớn… Chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ này, nếu năm đầu tiên chịu tác động của đại dịch COVID-19, năm 2022 là cuộc xung đột ngay tại châu Âu, năm 2024 là siêu bão Yagi thì ngay đầu năm 2025 là cú sốc thuế. Nhưng mỗi lần như vậy, chúng ta đều đứng vững, và thậm chí vươn lên mạnh mẽ hơn.
      Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh tinh thần giữ vững bình tĩnh, bản lĩnh, có đối sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả với mọi diễn biến để tiếp tục vượt qua những khó khăn, vướng mắc và cú sốc từ bên ngoài như đã làm những năm qua.
      Thuế quan có thể là một rào cản tạm thời, nhưng không thể ngăn cản được tinh thần sáng tạo, năng lực thích ứng và khát vọng vươn mình của người Việt Nam. Thế giới vẫn rộng lớn, cơ hội vẫn còn nhiều – và với sự đồng lòng từ chính quyền, doanh nghiệp và nhân dân, Việt Nam sẽ bước qua giai đoạn thử thách này với tâm thế của một quốc gia, một nền kinh tế ngày càng trưởng thành, bản lĩnh và có trách nhiệm.
      Trên tất cả, Việt Nam vẫn luôn lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác, đối thoại. Không có cánh cửa nào thực sự khép lại khi các bên còn giữ được thiện chí và tôn trọng lẫn nhau. Đó cũng chính là thông điệp mạnh mẽ nhất mà chúng ta gửi tới bạn bè quốc tế lúc này../.
      ST.

      Nêu cao tính đảng của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tư tưởng Hồ Chí Minh

      Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng, nêu cao tính đảng của cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao, lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.



      Ảnh minh họa.

      Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ nội hàm tính đảng của cán bộ, đảng viên: “Một là: Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết. Hai là: Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn… Ba là: Lý luận và thực hành phải luôn đi đôi với nhau”. Theo Người, Đảng cần phải có những cán bộ, đảng viên kiên trung với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; với đường lối, nghị quyết của Đảng; luôn phát huy tính đảng trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm bồi dưỡng, rèn luyện, phát huy tính đảng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.

      Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn nêu cao tính đảng, gương mẫu đi đầu trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, không quản ngại hy sinh, gian khổ, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giành độc lập, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng nguyên tắc tính đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều lệ Đảng được Đại hội XI của Đảng thông qua xác định: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước...”. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao tính đảng, tính chiến đấu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên với nhiều biện pháp đồng bộ, thông qua đó nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

      Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,... hòng làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, gây nhiễu loạn, tạo khoảng trống về ý thức hệ, từ đó thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, v.v. Vì vậy, việc nêu cao tính đảng của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau.

      Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địchThực tiễn cho thấy, dù Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước phát triển vững mạnh đến đâu thì các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá, hòng thực hiện mưu đồ đen tối là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận về vấn đề này, như: Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Kết luận số 89-KL/TW, ngày 25/7/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã nhấn mạnh: Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, v.v. Quán triệt nghị quyết của Đảng và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị nào và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn: Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết…”, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần không ngừng nghiên cứu, nắm vững những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Thường xuyên nghiên cứu, cập nhật thông tin mới; kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân để định hướng nhận thức tư tưởng, hành động, tạo khả năng “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước các thông tin xấu độc. Đồng thời, chủ động, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

      Hai là, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Để khắc phục tình trạng “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta…”, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần nêu cao tính đảng, tích cực tự học tập, rèn luyện, phấn đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Nêu cao tinh thần tự lực, tự chủ, tự cường trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; đề cao tự phê bình và phê bình; thực hiện tốt Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, với phương châm “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu” để không ngừng rèn luyện, tư dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng.

      Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước; những điều đảng viên không được làm; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

      Ba là, nêu cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng, đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm nhằm gây hoang mang dư luận, mất lòng tin của nhân dân, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Vì vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần luôn nêu cao cảnh giác, tỉnh táo, nhận diện rõ bản chất phản động, phản khoa học, kịp thời tham mưu, đề xuất với cấp ủy, tổ chức đảng các biện pháp thông tin, tuyên truyền, vạch trần, đấu tranh trực diện, kiên quyết, không khoan nhượng với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

      Bốn là, nâng cao trình độ lý luận, bám sát thực tiễn, dùng những luận cứ khoa học, sắc bén đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, thực tiễn đúng đắn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, đúng đắn: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”6. Vì thế, để đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận, bám sát, am hiểu thực tiễn, có luận cứ khoa học, sắc bén. Các cơ quan chức năng, từng cán bộ, đảng viên, nhất là các chuyên gia, nhà khoa học tích cực tham gia tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển, hoàn thiện lý luận, nhất là bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị,... trong tình hình mới. Đồng thời, hệ thống hóa những vấn đề, nội dung mà các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm khoa học, thuyết phục để phân tích, làm rõ đúng, sai bảo đảm khách quan, khoa học, dùng cơ sở lý luận, thực tiễn sắc bén đấu tranh phản bác có hiệu quả các luận điệu sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên

      vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

      ST.

       mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./..

      CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CÓ HIỆU LỰC TỪ THÁNG 4/2025 Từ tháng 4/2025, một số chính sách trong lĩnh vực giáo dục có hiệu lực thi hành, liên quan đến công tác kiểm định chất lượng chương trình đào tạo đại học; chế độ làm việc đối với giáo viên, kiểm định chương trình; chính sách hỗ trợ đối với sinh viên sư phạm. Quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chương trình đào tạo trình độ đại học (gọi tắt là Thông tư số 04) thay thế cho các thông tư liên quan về kiểm định chương trình đào tạo đại học hiện hành có hiệu lực thi hành từ ngày 4/4. Tại Thông tư số 04, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những vấn đề cốt lõi như: tiêu chuẩn, mức độ đáp ứng yêu cầu tối thiểu cũng như cách đánh giá chung đối với tiêu chí, tiêu chuẩn và chương trình đào tạo, mở rộng hơn quyền của các tổ chức kiểm định trong công tác chuyên môn trong đánh giá và đưa ra các khuyến nghị cho từng cơ sở giáo dục đại học phù hợp để trong cải tiến chất lượng liên tục. Trong đó, các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được quy định chi tiết hơn về các mức đạt, không đạt yêu cầu tiêu chí, đồng thời xây dựng hướng dẫn đánh giá chi tiết giúp cơ sở đào tạo biết được thực trạng để cải tiến chất lượng chương trình đào tạo... Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư mới hướng đến hội nhập quốc tế và khu vực về bảo đảm và kiểm định chất lượng, nhất là trong bối cảnh Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng báo cáo tham chiếu Khung trình độ quốc gia của Việt Nam với Khung tham chiếu trình độ ASEAN và sửa đổi bổ sung khung trình độ quốc gia Việt Nam, thực hiện Quyết định số 78/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học Thông tư số 05/2025/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học (gọi tắt là Thông tư số 05) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 22/4/2025. Thông tư số 05 quy định thời gian làm việc của giáo viên thực hiện theo năm học và được quy đổi thành tiết dạy, bao gồm số tiết dạy trong 1 năm học và số tiết dạy trung bình trong 1 tuần. Việc phân công, bố trí nhiệm vụ cho giáo viên phải bảo đảm quy định về định mức tiết dạy, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật; bảo đảm công khai, công bằng giữa các giáo viên trong cùng trường. Trường hợp phải bố trí giáo viên kiêm nhiệm, hiệu trưởng ưu tiên phân công kiêm nhiệm đối với giáo viên dạy chưa đủ định mức tiết dạy trung bình trong 1 tuần và bảo đảm giáo viên đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được phân công. Thông tư số 05 đã bổ sung quy định về nguyên tắc xác định chế độ làm việc của giáo viên; Bổ sung quy định về định mức tiết dạy cho giáo viên dạy cấp THPT ở trường lớp, dành cho người khuyết tật là 15 tiết/tuần; Bổ sung quy định giảm 3 tiết/tuần đối với giáo viên kiêm nhiệm vị trí việc làm văn thư, công nghệ thông tin, thư viện, hỗ trợ giáo dục người khuyết tật; Bổ sung quy định về thời gian nghỉ hằng năm của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng;… Bên cạnh đó, Thông tư số 05 điều chỉnh quy định về thời gian thực dạy của giáo viên; Điều chỉnh cách quy định định mức tiết dạy của giáo viên làm Tổng phụ trách đội; Điều chỉnh quy định về số nhiệm vụ tối đa giáo viên được kiêm nhiệm;... Chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/2025/NĐ-CP (Nghị định 60) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 (Nghị định 116) quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4 và áp dụng bắt đầu từ năm học 2025-2026. Nghị định số 60 được ban hành nhằm khắc phục các hạn chế, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 116, như: Các địa phương cam kết đặt hàng nhưng không thực hiện, dẫn đến chậm chi trả kinh phí; quy định đấu thầu đào tạo giáo viên chưa có hướng dẫn cụ thể; một số địa phương khó khăn, không đủ kinh phí để hỗ trợ cho sinh viên sư phạm đang theo học; việc đào tạo sinh viên sư phạm và việc tuyển dụng sinh viên sau khi ra trường vào ngành giáo dục chưa đồng bộ; việc theo dõi bồi hoàn kinh phí chưa có hướng dẫn chi tiết... Với quy định này, các cơ sở đào tạo sinh viên sư phạm và sinh viên sư phạm sẽ được cấp kinh phí kịp thời, đầy đủ hơn, góp phần tạo điều kiện cho sinh viên sư phạm yên tâm học tập, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Nghị định số 60 cũng bổ sung làm rõ trách nhiệm các bên liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ sở đào tạo giáo viên, người học... trong việc thực hiện chính sách; đặc biệt là việc làm rõ trách nhiệm đảm bảo kinh phí để thực hiện chính sách hỗ trợ cho sinh viên sư phạm. Đồng thời, Nghị định hướng dẫn rõ hơn về thủ tục nộp tiền bồi hoàn kinh phí đối với các trường hợp phải bồi hoàn theo quy định./. Báo Nhân dân
      THỦ TƯỚNG YÊU CẦU ĐẨY MẠNH PHÒNG NGỪA, XỬ LÝ LỪA ĐẢO TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu đẩy mạnh công tác phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 29/CĐ-TTg ngày 3/4/2025 yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Công điện nêu rõ, thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm, nhất là tội phạm sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Các bộ, ngành, địa phương đã chủ động triển khai thực hiện và đạt một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, tình trạng lừa đảo trên không gian mạng vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, hoạt động có tổ chức, xuyên quốc gia với thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây thiệt hại lớn cho người dân và doanh nghiệp, ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự. Để khắc phục tình trạng này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan có liên quan tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại Công điện số 139/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng. Cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm sử dụng công nghệ cao Bộ Công an chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tập trung triển khai có hiệu quả đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng hoạt động phạm tội, đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là trong giai đoạn sắp xếp tổ chức bộ máy công an địa phương (không tổ chức công an cấp huyện); thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xóa bỏ các nội dung, trang web, đường dẫn, ứng dụng, hội, nhóm, tài khoản trên không gian mạng liên quan đến hoạt động lừa đảo, cuộc gọi, tin nhắn nghi vấn lừa đảo, nhất là các cuộc gọi từ nước ngoài, cuộc gọi sử dụng công nghệ VoIP, ứng dụng OTT... Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Quốc phòng chỉ đạo các lực lượng tổ chức trinh sát, giám sát, thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, nắm chắc tình hình trên không gian mạng để kịp thời có biện pháp đối phó với các hoạt động ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ động phát hiện, nhận diện, ngăn chặn, xử lý các trang web, địa chỉ IP, ứng dụng, phần mềm độc hại sử dụng trong hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Phân loại, cảnh báo các tài khoản có giao dịch bằng địa chỉ IP tại nước ngoài Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo hệ thống các ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán khẩn trương kiểm tra, đối chiếu xác thực sinh trắc học người đại diện hợp pháp đối với các giao dịch trực tuyến của tài khoản doanh nghiệp; loại bỏ tài khoản không chính chủ, tài khoản có thông tin sai lệch; triển khai giải pháp kỹ thuật để phát hiện, phân loại, cảnh báo các tài khoản có giao dịch bằng địa chỉ IP tại nước ngoài; khẩn trương tổ chức kết nối thông tin, dữ liệu về tài khoản (cá nhân, doanh nghiệp) với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác thực, phòng ngừa tội phạm... Giao Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực viễn thông; phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có phương án đối khớp thông tin chủ tài khoản, người đại diện hợp pháp với thông tin chủ thuê bao di động theo số điện thoại di động đã đăng ký trong hồ sơ mở tài khoản thanh toán, ví điện tử; chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông thực hiện xác thực, lưu giữ, sử dụng thông tin thuê bao viễn thông và xử lý SIM có thông tin thuê bao viễn thông chưa đầy đủ, không chính xác theo quy định... Bộ Tài chính chủ trì nghiên cứu, đề xuất biện pháp tăng cường kiểm tra việc góp vốn điều lệ của doanh nghiệp sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; rà soát, hoàn thiện quy trình, quy định thành lập doanh nghiệp; tăng cường hậu kiểm, phát hiện doanh nghiệp sau khi được thành lập không phát sinh hoạt động kinh doanh thực tế; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để xác thực thông tin người đại diện pháp luật và người được ủy quyền, "làm sạch" dữ liệu về thông tin doanh nghiệp; chủ động cung cấp thông tin, tài liệu cho Bộ Công an nhằm phòng ngừa, xử lý việc lợi dụng thành lập doanh nghiệp để hoạt động vi phạm pháp luật. Tổ chức kết nối thông tin, dữ liệu về thuế của cá nhân, doanh nghiệp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác thực, phòng ngừa tội phạm. Tăng cường tuyên truyền giúp người dân nâng cao ý thức cảnh giác, chủ động phòng ngừa Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường các hình thức tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn mới của hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản giúp người dân nâng cao ý thức cảnh giác, chủ động phòng ngừa. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các lực lượng chức năng tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả, thực chất các biện pháp phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng; đổi mới công tác tác tuyên truyền, phù hợp với đặc thù từng địa phương; quan tâm đầu tư, hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị công nghệ hiện đại cho các lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Các địa phương có đường biên giới đất liền chỉ đạo lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng liên quan tăng cường quản lý địa bàn, kịp thời phát hiện, xử lý các đối tượng xuất cảnh, nhập cảnh để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường thông tin về âm mưu, phương thức, thủ đoạn mới, cách thức xử lý với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là lừa đảo trên không gian mạng; kết quả phòng ngừa, xử lý của các lực lượng chức năng để người dân nâng cao nhận thức, kịp thời cung cấp thông tin, tố giác hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan liên quan tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Công điện này. Bộ Công an theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Công điện này; định kỳ hằng quý, các bộ, ngành, địa phương báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao về Bộ Công an để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Công an theo chức năng, nhiệm vụ được giao thường xuyên theo dõi, đôn đốc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình, kết quả thực hiện Công điện này./. CAND
      NHÀ Ở XÃ HỘI CHO LỰC LƯỢNG VŨ TRANG Phát triển nhà ở xã hội nhằm bảo đảm nhà ở cho các đối tượng chính sách, trong đó có LLVT là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, được cụ thể hóa tại Luật Nhà ở và các luật có liên quan. Với mức giá thấp và được vay ưu đãi dài hạn, nhà ở xã hội là sự lựa chọn phù hợp của đại đa số đối tượng công tác trong Quân đội, bởi họ thường đóng quân xa quê và không thể làm thêm để có thu nhập ngoài lương. Thế nhưng, thực tế mua nhà ở xã hội không dễ vì nguồn cung thấp, trong khi nhu cầu rất cao và ngày càng tăng. Trước khi Luật Nhà ở năm 2023 có hiệu lực thi hành (ngày 1-1-2025), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp nghiên cứu, khẩn trương triển khai phát triển nhà ở xã hội đáp ứng nhu cầu của cán bộ Quân đội. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Quốc phòng phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành 10.252 căn nhà ở xã hội. Như vậy, lãnh đạo Chính phủ và Bộ Quốc phòng rất quan tâm, rốt ráo chỉ đạo bảo đảm an sinh, an cư cho LLVT. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu trên, rất cần những quyết sách căn cơ, hiệu quả. Trước hết, từ trong quy hoạch, các địa phương phải dành quỹ đất phù hợp để phát triển nhà ở xã hội cho LLVT. Tiếp đó, phải có cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt với người công tác trong LLVT (nhất là sĩ quan trẻ) về nhà ở xã hội. Các doanh nghiệp xây dựng của Quân đội phải coi việc phát triển nhà ở xã hội là nhiệm vụ chính trị để bảo đảm an sinh và an cư cho quân nhân, giúp đồng đội yên tâm công tác, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội; tuyệt đối không tối đa hóa lợi nhuận. Cổ nhân đã đúc rút "an cư lập nghiệp". Người ở tiền tuyến chỉ thực sự yên tâm công tác và nỗ lực cống hiến khi hậu phương vững chắc, trước hết là nơi an cư./. Báo QĐND

      Vài nét về Phạm Xuân Ẩn – người cán bộ tình báo xuất sắc


      Phạm Xuân Ẩn, người cán bộ tình báo được cả thế giới biết đến như một “điệp viên hoàn hảo”. Sách báo viết về ông khá nhiều, bài viết dưới đây của một tác giả đặc biệt. Ông là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), nguyên Cụm trưởng Cụm H63 mà Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên chủ lực của Cụm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

      Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, Phạm Xuân Ẩn được Đảng, Nhà nước tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân, được mời ra Thủ đô Hà Nội dự lễ mừng chiến thắng và được gặp gỡ nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng,Nhà nước, Quân đội.
      Được tin này, giới báo chí phương Tây, trong đó tất nhiên có nhiều người là nhân viên tình báo quốc tế đã từng đến Sài Gòn, vô cùng sửng sốt: Phạm Xuân Ẩn là tình báo của Việt Cộng ư? Thật không thể tin nổi.

      Trước ngày 30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là phóng viên thường trú của báo Time, một tờ thời báo của Mỹ tại Sài Gòn, có văn phòng trên đường Hàn Thuyên, ngay trước cửa Dinh Độc Lập. Anh cũng cộng tác chặt chẽ với nhiều tờ báo lớn của Mỹ như Newsweek, New York Herald Tribune…

      Anh cũng thường cùng tôi lui tới ngôi nhà gỗ góc đường Hai Bà Trưng và Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Nơi này là văn phòng của tờ Chistian Science Monitor (Người hướng dẫn khoa học cơ đốc giáo) để trò chuyện thân mật với một cô phóng viên người Mỹ. Có lần, anh cùng đứng tên đồng tác giả với cô này trên một bài báo. Vì bài báo có vài ý “không hay” đối với cuộc chiến tranh mà Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam nên anh Ẩn bị Tòa Đại sứ Mỹ gọi lên “dằn mặt”. Anh đưa bài báo cho tôi xem và vui vẻ kể lại: “Tụi nó mở tủ rút ra một tập hồ sơ về tôi, từ lý lịch cá nhân đến mọi hành động, mọi sự di chuyển của tôi từ khi qua Mỹ học nghề làm báo đều được ghi lại đầy đủ, chi tiết. Tình báo Mỹ làm việc cẩn thận lắm…”. Anh vỗ vai tôi, cười và nói tiếp: “Chỉ có 7 ngày vào chiến khu Củ Chi bồi dưỡng chính trị trước khi anh Mười Hương phái tôi sang Mỹ để học nghề báo là không có trong hồ sơ… Trong buổi tiếp xúc sáng hôm ấy, chúng cố ý làm cho tôi thấy: Tôi nằm trong tầm ngắm của chúng, đừng dại dột mà chống đối hoặc làm điều gì trái ý chúng”.

      Sau khi tập kết ra miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, tôi được Cục 2 (nay là Tổng cục II) rút về Hà Nội bồi dưỡng thêm nghiệp vụ tình báo rồi đưa trở lại miền Nam cuối năm 1961 với quân hàm đại úy. Từ đó, tôi được giao nhiệm vụ Cụm trưởng Cụm H63 trong đó có Phạm Xuân Ẩn được coi là chủ lực của cụm. Trong mấy năm liền, tôi với anh ấy trao đổi liên lạc bằng thư từ qua đường giao thông mật. Cụm chúng tôi đóng tại khu du kích Củ Chi, nếu theo đường Hóc Môn, Cụm chỉ cách Sài Gòn không quá 50 cây số. Tối vào ấp chiến lược trao thư của Cụm trưởng cho giao thông viên thì sáng hôm sau, anh Ẩn trong Sài Gòn đã nhận được. Còn anh, cứ mỗi sáng dừng ô tô bên lề chợ Cũ, vào mua thực phẩm cho chim, để lại trong cái rổ của chị bán vàng giả món gì đó, thì đến chiều món “hàng” ấy về đến căn cứ của Cụm. Tin gấp thì dùng điện đài báo cáo kịp thời về trên, còn tài liệu, phim ảnh thì đường dây võ trang hỏa tốc đưa về Phòng Tình báo Miền trên rừng Tây Ninh. Kể ví dụ vậy thôi, chứ bảo đảm giao thông liên lạc liên tục và thông suốt trong thời gian chiến tranh, để qua mặt tình báo Mỹ, qua mặt bọn phản bội đầu hàng, tay sai chỉ điểm thật không đơn giản chút nào. Tránh thành quy luật, phải thay đổi luôn về thời gian, địa điểm, con người. Điều đáng tự hào của Cụm H63 là các mũi nhọn trong Sài Gòn (về sau, cùng với Phạm Xuân Ẩn còn thêm hai cán bộ phát huy tác dụng tốt nữa là Hoàng Sơn Nam và Nguyễn Thị Yên Thảo). Cụm không bị lộ người nào, lưới giao thông mật trong Sài Gòn và các ấp chiến lược xung quanh 14 chị em giao thông đều nguyên vẹn đến ngày hòa bình. Chị bán vàng giả, giao thông đặc biệt với Phạm Xuân Ẩn trong Sài Gòn là Nguyễn Thị Ba, ngày giải phóng miền Nam được phong cấp thiếu tá, được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân.

      Từ đầu năm 1966, lúc Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, đẩy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên đỉnh cao, thủ trưởng Phòng Tình báo Miền chỉ thị tôi vào Sài Gòn trực tiếp cùng anh chị em nâng cao hiệu suất phục vụ tài liệu, tin tức, cùng giải quyết kịp thời các tình huống xảy ra. Vào Sài Gòn, cùng bàn bạc công việc, cùng đi thực hiện các chỉ thị công tác trên giao, anh Ẩn và tôi rất gắn bó, tình cảm thân thương và kính trọng lẫn nhau. Có lần, sau khi lấy được và gửi về trên một tài liệu rất quan trọng về ý đồ chiến lược của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam, cấp trên thông báo tặng thưởng cho anh một Huân chương Chiến công hạng nhất. Ngồi bên cạnh anh, trên một chiếc xe ô tô cũ hiệu Renault 4 do anh lái trên đường Thống Nhất, hướng Dinh Độc Lập, tôi báo tin vui ấy cho anh. Bằng giọng rất cảm động, anh nói: “Tôi cảm ơn sự quan tâm của cấp trên đối với tôi. Đó cũng là trách nhiệm của tôi mà thôi”. Ngưng một chút, giọng trầm hơn, anh nói tiếp: “Nhưng cuộc chiến tranh còn dài, đời người cán bộ tình báo như chúng mình biết bao giờ mới có cơ hội để đeo tấm Huân chương cao quý ấy. Vở kịch còn đang diễn, màn chưa hạ…”.

      Càng hiểu nhau, càng mến nhau, hoạt động rất ăn ý, thật ra không có nhiệm vụ nào cấp trên giao xuống mà chúng tôi không hoàn thành, dù khó khăn đến mấy. Có một nhiệm vụ mà hai người chúng tôi phải bàn đi tính lại cả tháng trời, mấy lần về xin ý kiến phương án thực hiện, sau cùng mới quyết định. Đó là việc đưa một lá thơ (kèm ảnh) của Trung ương Đảng bạn cho một đối tượng đang làm việc trong một sứ quán của một nước tư bản tại Sài Gòn. Trao lá thơ, tức lộ mình là Việt Cộng, có thể bị bắt ngay tại chỗ. Thi hành xong, gặp tôi, anh nói: “Tay tôi đưa lá thơ mà tự nhiên đầu gối phát run lên, mấy chục năm làm tình báo tôi chưa khi nào run như vậy”.

      Có lần, sau giải phóng, nói chuyện qua điện thoại với anh, anh có nói một câu vui: “Bây giờ ôn lại công việc của tụi mình, tôi không hiểu nổi tại sao tôi với anh không bị giặc phát hiện, bắt giam, tra tấn, thủ tiêu như nhiều anh chị em tình báo khác cùng hoạt động trong thành. Tôi và anh chắc cao số…”.

      Tôi không tin lắm vào tướng số, chắc anh Ẩn cũng vậy. Nhưng thực tế là qua một chuỗi thời gian hoạt động đầy nguy hiểm mà còn sống an toàn đến ngày toàn thắng của dân tộc thì cũng cần rút ra điều gì cho lớp trẻ. Theo tôi nghĩ: Khi người cán bộ tình báo đã xác định sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc thì dù ở trong lòng địch nhưng tâm hồn rất thanh thản, phong thái rất ung dung. Đó là yếu tố chính đánh bại mọi nghi ngờ của kẻ thù. Thêm vào đó là phương pháp bình phong. Một nhà báo của Mỹ, được đào tạo bài bản từ bên Mỹ, lại được thu nhận làm việc trong Sở nghiên cứu chính trị của bác sĩ Trần Kim Tuyến - là cơ quan mật vụ cao nhất, nhiều quyền lực nhất của chế độ ngụy quyền lúc bấy giờ thì còn ai nghi ngờ gì Phạm Xuân Ẩn nữa? Đó là bình phong. Còn mưu mẹo thì anh ấy có nhiều mưu mẹo qua mặt địch, tôi chỉ xin kể một chuyện vặt:

      Anh Ẩn khi ra đường thường dắt theo một con chó béc-giê to tướng, giống chó rất đắt tiền. Các bạn hãy hình dung: Một người trí thức, ăn mặc đàng hoàng, đúng thời trang, dừng chiếc ô tô bên lề đường. Anh bước xuống xe, đưa tay mở cửa sau, con béc-giê phóng ra. Anh cầm sợi dây da, xích cổ con vật rồi cùng nó đi trên hè phố. Ai dám nghĩ đó là một cán bộ tình báo Việt Cộng. Điều bất ngờ hơn nữa, ngay cả đối với tôi, là con chó ấy biết nghe theo sự điều khiển bằng tiếng Pháp. Có hôm, tại nhà hàng Victory trên đại lộ Hàm Nghi, sau khi hai chúng tôi trao đổi, bàn bạc công việc xong, anh Ẩn rời bàn đứng dậy đi trả tiền nước. Con chó từ nãy tới giờ nằm im dưới gầm bàn, vụt đứng dậy đi theo chủ nó. Anh quay lại, ra lệnh: “Reste là!” (Đứng lại đó). Con béc-giê dừng ngay tức khắc. Trả tiền xong, anh  Ẩn trở về bàn, con chó cũng quay lại, đi theo anh. Anh lại ra lệnh: “Couche toi!” (Nằm xuống). Con vật dễ thương chấp hành ngay, nằm khoanh dưới bàn. Thực khách trong nhà hàng, nhiều người rất ngạc nhiên, thích thú. Tôi hỏi anh Ẩn đã huấn luyện chú chó như thế nào?

      Anh kể: “Con chó này là của một quan chức cao cấp bên Pháp tặng cho tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc ấy giữ chức Trưởng ban Hành pháp, tương đương như Thủ tướng chính phủ ngụy quyền). Biết con chó quý, tôi bàn với tay quản lý chó trong dinh Độc Lập: Anh hãy làm cho nó ốm đói, ghẻ lở, xấu xí rồi đề nghị thanh lý cho tôi. Tôi sẽ không để anh thiệt. Và thế là con chó thuộc về tôi".

      Đi với Phạm Xuân Ẩn trên đường phố Sài Gòn, tôi rất yên tâm. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên hai đứa tôi gặp nhau, vào đầu năm 1966, được tin nhắn của tôi, anh đến nhà cơ sở ở 136B đường Gia Long (đường Lý Tự Trọng - quận 1 hiện nay) để gặp tôi và cùng rủ nhau ra đường phố Sài Gòn. Lúc đi trong hẻm, anh nhìn tôi từ đầu đến chân và nói: “Ở trỏng ra mà ngó coi được lắm. Nhưng bộ đồ mới quá, anh phải thay đồ cũ cũ một chút. Còn đôi giày, đôi này không xứng, lại tiệm đây thay ngay một đôi giầy da…”.

      Buổi đầu gặp nhau mà đã thân mật, tự nhiên vậy đó! Tình bạn giữa hai chiến sĩ tình báo được vun đắp qua cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, lắm hiểm nguy. Tình bạn ấy về già càng thêm mặn nồng. Những năm 2003-2004, anh còn đi xe đạp vào nhà tôi hái đu đủ xanh, nói làm thuốc chữa đau dạ dày cho vợ. Sau rồi yếu quá, hết đi nổi. Chỉ còn trao đổi bằng điện thoại, nhắc lại chuyện xưa thường có câu: Không hiểu sao hai chúng mình không bị giặc bắt. Và bao giờ kết thúc câu chuyện cũng bằng những tràng cười sảng khoái, lạc quan, yêu đời.

      Đến năm 2006, bệnh phổi của anh Ẩn trở nặng, tôi đến thăm anh ở Quân y viện 175, cầm tay tôi, anh nói, vẫn với nụ cười hóm hỉnh như ngày nào trong Sài Gòn trước ngày giải phóng: Còn sống đến ngày nay, tôi với anh may mắn hơn nhiều đồng đội. Hồi ấy, đồng đội của chúng ta vào thành bị bắt nhiều quá, riêng hai đứa mình lọt qua hết, không may mắn thì gọi là gì? Chắc lá số tử vi của hai đứa mình tốt lắm!

      Đúng là một người hay đùa, đùa đến phút chót cuộc đời mình.

       

      Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ mười ba, nhiệm kỳ 2020-2025

       

      Sáng 2-4, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 tổ chức Hội nghị lần thứ mười ba để xem xét, cho ý kiến vào Đề án về tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.

      Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Lương Cường, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.

      Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Nguyễn Duy Ngọc, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

      Dự hội nghị có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Trần Lưu Quang, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Lê Hoài Trung, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; lãnh đạo một số ban, ngành Trung ương.

      Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Lê Huy Vịnh; Thượng tướng Vũ Hải Sản.

      Cùng dự hội nghị có lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; các đồng chí Ủy viên Quân ủy Trung ương; lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

      Sau khi Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương quán triệt mục đích, nội dung, chương trình hội nghị, các đại biểu đã nghe Đại tướng Nguyễn Tân Cương trình bày dự thảo Đề án về tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

      Theo đó, thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng nhanh chóng phối hợp xây dựng Đề án về tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu các nhiệm vụ trong tình hình mới.

      Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo xây dựng Đề án; Thường vụ Quân ủy Trung ương đã họp cho ý kiến nhiều lần, hoàn thiện dự thảo Đề án, báo cáo Quân ủy Trung ương. Với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, thận trọng, chắc chắn, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ động định hướng, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, đề xuất phương án tổ chức quân sự địa phương sau khi giảm đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, không tổ chức cấp huyện.

      Các nội dung chỉ đạo nêu rõ yêu cầu việc nghiên cứu, đề xuất phương án tổ chức quân sự địa phương phải xuất phát từ thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay; các chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự, truyền thống lịch sử xây dựng lực lượng quân sự, đánh giặc giữ nước của dân tộc; liên hệ từ thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới, trong khu vực, nhất là những phát triển mới về hình thái, phương thức chiến tranh thời gian gần đây…

      Tại hội nghị, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các đại biểu đã phát biểu thảo luận cho ý kiến vào Đề án. Trong đó, tập trung đi sâu phân tích, làm rõ phạm vi, quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu của Đề án; những khó khăn vướng mắc trong triển khai thực hiện và đề xuất các giải pháp tháo gỡ.

      Phát biểu kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương ghi nhận, biểu dương các cơ quan xây dựng dự thảo Đề án đã phát huy tốt trí tuệ tập thể, làm việc thận trọng, khoa học với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, bám sát thực tiễn và tư tưởng chỉ đạo của Trung ương. Đồng thời khẳng định, mặc dù xây dựng trong thời gian ngắn nhưng Đề án đã bảo đảm chất lượng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, phù hợp với các chiến lược về quân sự, quốc phòng và đường lối quân sự quốc phòng.

      Tổng Bí thư Tô Lâm cơ bản nhất trí với ý kiến phát biểu của các đại biểu; đồng ý về phạm vi, quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu của Đề án. Cụ thể, về quan điểm: Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo QĐND Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; kế thừa quan điểm và tổ chức QĐND Việt Nam đã được xác định trong các nghị quyết, kết luận của Đảng; bảo đảm Quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

      Trên cơ sở kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị; tiếp tục sắp xếp các tổ chức quân sự địa phương, Bộ đội Biên phòng theo chủ trương của Đảng, Nhà nước; bảo đảm “tinh - gọn - mạnh”, hiệu lực, hiệu quả, giảm đầu mối trung gian, thực sự là nòng cốt trong xây dựng và thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm tổ chức cơ quan quân sự địa phương, Bộ đội Biên phòng tỉnh qua các thời kỳ và truyền thống lịch sử, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời bình, sẵn sàng mở rộng lực lượng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; quá trình điều chỉnh bảo đảm thận trọng, kỹ lưỡng, khoa học, phù hợp với đặc thù, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Quân đội.

      Về nguyên tắc: Sắp xếp theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước; sắp xếp các Bộ CHQS tỉnh, BĐBP tỉnh theo các tỉnh được sáp nhập. Quá trình điều chỉnh mang tính tổng thể, đồng bộ, phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia. Bảo đảm được sự chỉ huy thống nhất trong xây dựng khu vực phòng thủ liên hoàn, vững chắc, giữ được sự ổn định; sau điều chỉnh bảo đảm hoàn thành tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao.

      Về mục tiêu: Tiếp tục sắp xếp tổ chức quân sự địa phương, BĐBP phù hợp với hệ thống, với quan điểm đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân. Xây dựng tổ chức quân sự địa phương, BĐBP tỉnh thực sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có cơ cấu tổ chức hợp lý, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; là lực lượng nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng tiềm lực khu vực phòng thủ liên hoàn, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

      Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương giao Thường vụ Quân ủy Trung ương tiếp thu nội dung kết luận, chỉ đạo hoàn thiện Đề án trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Sau khi được Bộ Chính trị thông qua Đề án, tập trung chỉ đạo xây dựng Nghị quyết của Quân ủy Trung ương lãnh đạo triển khai thực hiện; chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu điều chỉnh bổ sung về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tác chiến khu vực phòng thủ, hệ thống tài liệu huấn luyện phù hợp với tổ chức biên chế mới.

      Cùng với đó, chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan lĩnh vực quân sự, quốc phòng; chỉ đạo cơ quan tiếp tục nghiên cứu về tổ chức của Ban CHQS xã, phường phù hợp với quy mô đơn vị hành chính cấp xã, nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương, điều kiện phát triển kinh tế-xã hội hiện nay.