Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

Bối cảnh quốc tế và trong nước - Những vấn đề đặt ra để đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới

 TCCS - Với việc tận dụng những thời cơ, thuận lợi; hóa giải những nguy cơ, thách thức do bối cảnh quốc tế, trong nước tạo raViệt Nam không ngừng bồi đắp, xây dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng lớn mạnh, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhân dịp tham dự Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 79 và làm việc tại Hoa Kỳ, ngày 24-9-2024_Ảnh: TTXVN

Bối cảnh quốc tế

Định hình lại cục diện kinh tế - chính trị - an ninh thế giới.

Thế giới trải qua những thay đổi mang tính thời đại, môi trường kinh tế - chính trị - an ninh quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.

Trật tự thế giới dịch chuyển nhanh theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc; các nước lớn vẫn hợp tác, thoả hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn; các nước tăng cường năng lực tự chủ chiến lược, cân bằng linh hoạt. Cạnh tranh đã trở thành một trạng thái mới trong quan hệ giữa các cường quốc trong bối cảnh hiện nay, phản ánh rõ nét trong quan hệ giữa Mỹ, đồng minh với Trung Quốc và Nga, đưa quan hệ quốc tế tới cục diện cạnh tranh chiến lược toàn diện và sâu sắc… Cùng với đó, các cường quốc khác, nhóm nước tầm trung, các nền kinh tế mới nổi đã có thời điểm tham gia tích cực và được kỳ vọng trở thành một “cực” quan trọng. Sự trỗi dậy của Nhóm nước Nam Bán cầu (Global South) với những nước đang phát triển tiêu biểu trong hệ thống kinh tế - chính trị - an ninh toàn cầu đang thúc đẩy quá trình định hình một trật tự thế giới mới đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc. Tuy nhiên, về trung hạn, những trung tâm mới nổi chưa thể bắt kịp và tạo thành một “cực” đồng đẳng với Mỹ dù đã đạt được sự phát triển nhất định. Do đó, thế giới đang trong giai đoạn quá độ, định hình trật tự theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc.

Xu hướng tự chủ chiến lược được các nước triển khai mạnh mẽ để giảm thiểu tác động bất lợi của cạnh tranh giữa các nước lớn. Các cường quốc tầm trung, các nước đang phát triển đề cao cách tiếp cận tăng cường tự chủ chiến lược; thay vì chọn phe trong cạnh tranh nước lớn, nhiều nước muốn duy trì cân bằng linh hoạt trong các khía cạnh khác nhau của trật tự quốc tế, tăng cường tiềm lực quốc gia để tận dụng cơ hội và ứng phó với các thách thức từ cạnh tranh giữa các nước lớn.

Toàn cầu hóa đang gặp trở ngại, làn sóng phản đối toàn cấu hóa, chủ nghĩa bảo hộ dâng cao; kinh tế thế giới gia tăng bất ổn và bị tác động lâu dài bởi đại dịch COVID-19 và căng thẳng địa - chính trị, các chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, điều chỉnh mạnh mẽ. Xu hướng chính trị hóa, an ninh hóa hợp tác từ thương mại, đầu tư đến khoa học - công nghệ nổi lên mạnh mẽ. Những biến động của tình hình thế giới, khu vực phần nào thể hiện mặt trái và là hệ quả của quá trình toàn cầu hóa đang gặp trở ngại, song toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục là xu hướng lớn, là động lực thúc đẩy sự phát triển và thịnh vượng của nhân loại. Các quốc gia, nhất là những nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tạo ra thời cơ và thách thức lớn đối với mọi quốc gia.

CMCN 4.0 diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu tác động sâu rộng, toàn diện tới mọi mặt của đời sống xã hội, nền kinh tế - chính trị và văn minh nhân loại. Các sản phẩm mang tính đột phá (trí tuệ nhân tạo; internet vạn vật; công nghiệp bộ vi mạch xử lý; công nghệ chuỗi khối; mạng 5G; công nghệ sinh học…) đang tác động tới mọi khía cạnh an ninh - chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội...; đang định hình cuộc sống mới và cách mạng hóa cách loài người sống, làm việc, hưởng thụ...

CMCN 4.0 mở ra cơ hội để các quốc gia ứng phó với những thách thức về an ninh - chính trị; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; giải quyết những vấn đề trong các lĩnh vực khoa học, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, y tế...

Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đang trở thành phương thức tăng cường năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia, duy trì ưu thế vượt trội; xây dựng lực lượng sản xuất mới, hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế quốc dân; đổi mới phương thức quản trị quốc gia, quản trị phát triển xã hội. Các công nghệ đột phá từ CMCN 4.0 tạo điều kiện để các quốc gia thay đổi phương thức sản xuất, tạo cơ hội để phát triển bứt phá, nhận diện và ứng phó, xử lý hiệu quả hơn với nhiều thách thức mang tính xuyên quốc gia và toàn cầu, như dịch bệnh, khủng bố, thiên tai,... đồng thời, thúc đẩy các hình thái mới, như kinh tế xanh, kinh tế số, phát triển bền vững.

CMCN 4.0 đã và đang tạo ra nhiều công nghệ mới, sản phẩm mới có những khả năng thuộc tính chưa từng có, làm thay đổi sâu sắc mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức và sinh hoạt của con người trên toàn cầu; làm hình thành và phát triển nền kinh tế thông minh, xã hội thông minh, quản lý nhà nước thông minh; đưa nhân loại vào thời kỳ phát triển mới.

CMCN 4.0 tạo ra cơ hội phát triển cho mọi quốc gia. Các nước đang phát triển có thể đi tắt đón đầu, đi ngay vào hiện đại ở những lĩnh vực có tiềm năng, tham gia vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước. Đồng thời, CMCN 4.0 cũng tạo ra nhiều khó khăn, thách thức lớn, nhất là đối với các nước đang phát triển, kém phát triển, khi làm cho nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ thông giá rẻ ngày càng giảm mất lợi thế; trong khi đó, công nghệ, nhất là các công nghệ nguồn, công nghệ lõi tiên tiến, hiện đại do các nước phát triển nắm giữ trở thành nguồn lực quan trọng nhất, đem lại lợi thế cho các nước phát triển.

CMCN 4.0 đã và đang đặt ra hàng loạt thách thức phát triển mới, nhất là những vấn đề an ninh phát triển, an ninh phi truyền thống, như an ninh khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh kinh tế - tài chính - tiền tệ, an ninh con người, an ninh mạng… đối với các quốc gia, khu vực và toàn cầu. Đồng thời, khoa học và công nghệ đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn(1).

Ngày nay, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt giữa Mỹ và Trung Quốc, diễn ra quyết liệt trên mọi lĩnh vực, nhưng quyết liệt và quan trọng nhất là trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Các nước gia tăng đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (A.I) trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng (vũ khí hóa A.I), như chế tạo rô-bốt, tên lửa hành trình, tàu ngầm, máy bay không người lái,... Điều này có thể làm nảy sinh nguy cơ xảy ra cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ mới, vũ khí sinh học với những hình thái chiến tranh mới.

Cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra quyết liệt trên mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực khoa học - công nghệ (Trong ảnh: Một kỹ thuật viên kiểm tra chip tại một doanh nghiệp công nghệ ở Hợp Phì, tỉnh An Huy (Trung Quốc))_Nguồn: chinadaily.com.cn

Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế; nhiều vấn đề phát triển toàn cầu diễn ra gay gắt hơn.

Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là nguyện vọng chung của nhân dân tiến bộ trên thế giới, song đang đứng trước những trở ngại, thách thức mang tính thời đại. Các khu vực trên thế giới vẫn tồn tại nhiều điểm nóng, thậm chí đã bùng nổ thành xung đột, bao gồm: Cuộc xung đột Nga - Ukraine; xung đột ở khu vực Trung Đông (giữa Israel với Hamas, Houthi, Iran); gia tăng căng thẳng, nguy cơ đụng độ tại Eo biển Đài Loan, trên bán đảo Triều Tiên; tình hình bất ổn tại Myanmar... Các cuộc xung đột gia tăng về số lượng, cường độ, số bên can dự, mức độ thiệt hại và tính chất đa chiều(2).

Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn, thậm chí có nguy cơ bị vô hiệu hóa, “tê liệt” do chính trị cường quyền, bất đồng giữa các nước lớn, trong khi các nỗ lực cải tổ chưa đạt được kết quả mang tính đột phá. Trong khi đó, lại đang xuất hiện xu hướng tập hợp lực lượng thông quá các cơ chế đa phương mới trên thế giới do một số nước lớn dẫn dắt đang làm thay đổi cục diện thế giới, làm suy yếu những định chế đa phương vốn tồn tại từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đại diện bao trùm nhất là Liên hợp quốc.

Các vấn đề phát triển của nhân loại vẫn được chú trọng, song những thách thức cũng ngày càng gia tăng, gay gắt hơn trước. Dịch bệnh, thảm họa thiên nhiên, môi trường, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, an ninh không gian vũ trụ, an ninh con người, khủng hoảng nhập cư... tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động mạnh đến môi trường an ninh phát triển của tất cả các quốc gia. Sự nổi lên gay gắt của những thách thức cũng thể hiện rõ mức độ, tính chất khó dự báo của các vấn đề an ninh phi truyền thống đã vượt khỏi tầm xử lý của bất kỳ quốc gia riêng lẻ nào và đang thách thức cả hệ thống quản trị toàn cầu.

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu là những thách thức lớn đối với nhân loại trong những thập kỷ tới. Ngày nay, nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước công nghiệp phát triển đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo với quy mô ngày càng lớn, làm suy thoái, cạn kiệt nhiều loại tài nguyên thiên nhiên, tạo ra một lượng lớn chất thải đưa vào môi trường, khiến ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng và làm Trái Đất nóng lên, gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng, thiên tai, bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, sức khỏe và cuộc sống nhân loại.

Trong những thập niên tới, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững là nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng hàng đầu của mọi quốc gia để thực hiện được các nhiệm vụ và 17 mục tiêu trong Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDG, New York, 2015); thực hiện Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu (COP21, Paris 12-2015) và mục tiêu “Phát thải ròng bằng 0” (Net Zero)(3)  tại COP27 (London, 2022) cũng như thực hiện các công ước của Liên hợp quốc có liên quan đến ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu (công ước về đa dạng sinh học, công ước về chống sa mạc hóa, công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu...) bằng nhiều biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững, thân thiện với môi trường và tập trung nguồn lực cho việc bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai, dịch bệnh xảy ra do tác động của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương tiếp tục phát triển năng động; là địa bàn cạnh tranh chiến lược, nơi hội tụ các sáng kiến, chiến lược của các nước lớntiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, trong đó Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động, có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, song là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, bất ổn; đang trở thành trọng điểm của sự hình thành, triển khai các cơ chế hợp tác đa phương, liên kết đa tầng nấc mới trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh nước lớn, các nước tầm trung quan trọng, như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Canada, Liên minh châu Âu,... cũng đưa ra tầm nhìn chiến lược hướng tới khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đến nay, đã có ít nhất 11 tầm nhìn chiến lược khác nhau về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương được đề xuất(4). Hoà bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Căng thẳng tại eo biển Đài Loan, vấn đề Biển Đông, chương trình hạt nhân bán đảo Triều Tiên và chạy đua vũ trang tiếp tục là những vấn đề lớn, có nguy cơ trở thành điểm nóng.

ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hoà bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng; phải đối phó với những thách thức mới cả bên trong và bên ngoài. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương nói chung và ASEAN nói riêng chiếm vị trí địa chiến lược quan trọng trong chính sách các nước lớn. Tuy nhiên, các vấn đề chưa được giải quyết khiến ASEAN đứng trước nhiều khó khăn và thách thức trong việc thúc đẩy vai trò trung tâm và đoàn kết nội khối. Nội bộ các nước ASEAN còn nhiều mâu thuẫn và bất ổn, sự đoàn kết nội khối và tính thống nhất chưa cao. Vai trò trung tâm của ASEAN bị tác động bởi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Bên cạnh đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn có nguy cơ làm phân hóa ASEAN, làm ASEAN khó khăn hơn trong duy trì đồng thuận và quan điểm đối với những vấn đề an ninh, phát triển quan trọng của khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Vai trò trung tâm của ASEAN bị tác động bởi các xu hướng không thuận trên thế giới, như chủ nghĩa dân tộc, dân túy, xu hướng phản toàn cầu hóa..., đặt ra sức ép và yêu cầu cấp thiết cho ASEAN phải đổi mới, điều chỉnh phương thức hoạt động để giữ vững được vai trò. 

Bối cảnh trong nước

Đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại; thế và lực đất nước được nâng lên tầm cao mới.

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất nước được nâng lên tầm cao mới. Sau hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vững bước dưới là cờ vẻ vang của Đảng, dân tộc ta, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do, thống nhất giang sơn về một dải, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và đang đứng trước ngưỡng cửa bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; kỷ nguyên trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng, đưa đất nước Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, lập nên nhiều kỳ tích. Từ một đất nước chưa có tên trên bản đồ thế giới, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế. Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên lọt vào Top 40 nền kinh tế hàng đầu, có quy mô thương mại trong Top 20 quốc gia trên thế giới, mắt xích quan trọng trong 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới gắn kết với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với hơn 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn và là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, Việt Nam được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một câu chuyện thành công, một điển hình về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Hai là, sau gần 40 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã giải quyết tốt một số mối quan hệ lớn, khai thác và phát huy có hiệu quả sức mạnh nội sinh của nền văn hóa dân tộc, của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước được nâng lên, quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, uy tín quốc tế được nâng cao; mức độ hoàn thiện của các thể chế phát triển (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội - con người, môi trường) được nâng lên và ngày càng đầy đủ, đồng bộ, hiện đại; việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và nền dân chủ XHCN đạt được những bước phát triển quan trọng, làm tiền đề phát triển nhanh, bền vững đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Việt Nam đã thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, có nền kinh tế năng động; kinh tế vĩ mô ổn định, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Đến nay, nền kinh tế nước ta đã cơ bản là một nền kinh tế thị trường hiện đại theo thông lệ quốc tế, đồng thời có những yếu tố bảo đảm định hướng XHCN. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh gắn với cơ cấu lại, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế tri thức. Nhờ kinh tế phát triển, các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng, chính trị - xã hội ổn định, an sinh xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện; dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng được tôn trọng; khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố. Một trong những thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam là xóa đói, giảm nghèo; là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều(5), bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

Nền kinh tế nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm trong thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Tính chung từ 1986 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước đạt bình quân khoảng 6,5%/năm. Về quy mô GDP, năm 1986 đạt 818 tỷ đồng, sau gần 40 năm - năm 2023 đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng (430 tỷ USD) gấp 12.496 lần năm 1986; năm 2024 ước đạt 465 tỷ USD và năm 2025 có thể đạt 500 tỷ USD, nằm trong tốp 35 nền kinh tế lớn nhất thế giới(6). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Đến năm 2023, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,12%, khu vực dịch vụ chiếm 42,54%, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 11,96% (so với năm 1986 tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm 17,9%; công nghiệp, xây dựng tăng 9,9%; dịch vụ tăng 12,6%). GDP bình quân đầu người ngày càng tăng. Năm 1986 GDP bình quân đầu người là 13,4 nghìn đồng, đến năm 2023 là 101,9 triệu đồng (4.316 USD) gấp hơn 7,6 nghìn lần, xếp thứ 5 trong khu vực ASEAN và thứ 125 trên thế giới…

Bốc, xếp hành hóa xuất khẩu tại cảng Hải Phòng_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Ba là, sức mạnh tổng hợp quốc gia được nâng lên, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân được xây dựng toàn diện, lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước được giữ vững, tăng cường; lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh về chính trị, tinh, gọn, mạnh; sức chiến đấu ngày càng cao, từng bước tiến lên hiện đại, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được gắn kết chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong từng ngành, địa bàn và cả nước.

Bốn là, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng để tạo môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống tiếp tục được củng cố, phát triển và mở rộng; hội nhập sâu rộng vào các tổ chức, định chế, hiệp định kinh tế, thương mại và thu hút được dòng vốn đầu tư lớn từ các nước phát triển(7).

Việt Nam ngày nay ngày càng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện; hội nhập kinh tế quốc tế đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế đa phương, khu vực.

Đồng thời, nước ta đã chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu hút đầu tư, tham gia vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu để phát triển kinh tế đất nước; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh phụ thuộc vào một thị trường nước ngoài, có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 100 nước và lãnh thổ... Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện thông qua việc chủ động, tích cực hình thành mạng lưới đa tầng nấc các đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện(8) và tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới(9)Việc tham gia ngày càng nhiều FTA không chỉ cho thấy quyết tâm hội nhập sâu rộng mà còn tạo ra những cơ hội lớn cho Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng cường xuất khẩu, thu hút FDI, thúc đẩy tăng trưởng GDP, đổi mới sáng tạo và hoàn thiện thể chế.

Những hạn chế, khó khăn, thách thức cần phải tập trung giải quyết.

Một là, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Thực tế cho thấy, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN còn nhiều vướng mắc, bất cập chưa được tháo gỡ. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tình hình mới. Dân chủ XHCN chưa được phát huy đầy đủ, quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm, vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ luật, kỷ cương(10). Những hạn chế, yếu kém về thể chế là một trong những “điểm nghẽn” lớn cản trở sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, cần được tháo gỡ nhanh chóng, hiệu quả. Sự chậm trễ trong đổi mới hệ thống thể chế và cơ chế gây ra một lực cản lớn cho phát triển, bỏ lỡ thời cơ phát triển.  

Hai là, về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Quá trình đổi mới nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm, ít đột phá, nhất là nhận thức về bản chất và nguyên tắc vận hành của kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm định hướng XHCN; việc giải quyết mối quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội còn lúng túng; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chậm được hoàn thiện, còn nhiều mặt chưa đồng bộ, còn nhiều vướng mắc, “điểm nghẽn” chưa được tháo gỡ, làm lỡ nhiều cơ hội phát triển. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển; cơ chế huy động, phân phối, sử dụng các nguồn lực của đất nước còn nhiều bất hợp lý, hiệu quả chưa cao, còn thất thoát và lãng phí lớn.

Nền kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thiếu bền vững; vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm dần qua các năm, phát triển thiếu bền vững(11); năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ khoa học - công nghệ và nhân lực chất lượng cao còn thiếu. Nền kinh tế Việt Nam còn ở khoảng cách khá xa so với các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới trong nhiều lĩnh vực(12). Nếu chỉ tăng trưởng trung bình 5 - 6%/năm, Việt Nam sẽ mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình”. Trong khi 20 năm qua, kinh tế Việt Nam chỉ tăng trưởng trung bình 5,7%/năm. Nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước phát triển trong khu vực đang hiện hữu. Sức chống chịu và năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế còn yếu trước những biến động từ bên ngoài, trên thị trường quốc tế, từ các cú sốc, các cuộc khủng hoảng trong khu vực và trên thế giới.

Ba là, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN chưa được luận giải đầy đủ, thuyết phục, như mô hình tổng thể hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương, phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực, cải cách tư pháp... Tổ chức bộ máy cơ quan của Đảng, Nhà nước và trong hệ thống chính trị các cấp còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ một số cơ quan chưa rõ, chồng chéo; phân cấp, phân quyền giữa cấp trên và cấp dưới, Trung ương và địa phương chưa hợp lý. Đội ngũ cán bộ, công chức đông nhưng không mạnh, nhiều cán bộ năng lực hạn chế, bố trí chưa hợp lý, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, một bộ phận không nhỏ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kể cả cán bộ cấp cao.

Hệ thống thể chế, pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực thiếu hệ thống, chất lượng thấp, chồng chéo, mâu thuẫn, thường xuyên phải điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện. Cải cách hành chính kết quả đạt được chưa cao, nhiều thủ tục hành chính không phù hợp, gây khó khăn, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát thiếu quyết liệt, chặt chẽ, thậm chí bị buông lỏng, dẫn đến hạn chế về kết quả, tình trạng lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực còn diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước.

Bốn là, nhận thức lý luận về bản chất của dân chủ và xây dựng nền dân chủ XHCN chưa đầy đủ và thiếu hệ thống, chưa lý giải và làm sáng tỏ nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra; thực tiễn phát huy dân chủ XHCN chưa đạt được kết quả có giá trị định hướng, mang tính đột phá cho quá trình đổi mới; chưa coi trọng đúng mức các hình thức dân chủ trực tiếp; chưa thực sự phát huy sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước với tư cách là người giám sát, phản biện xã hội; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ ở nhiều cơ quan, tổ chức còn hình thức, nhiều chủ trương về phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ, quyền phản biện, giám sát của nhân dân, các cơ quan chịu trách nhiệm trước nhân dân về hoạt động chưa được cụ thể hóa thành các quy chế, quy định cụ thể để thực hiện; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi còn bị xâm phạm. Chưa bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng (công bằng) những thành quả đổi mới, phát triển.

Năm là, về bảo đảm tính độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường dân tộc trong kỷ nguyên mới. Những yếu tố bên trong, bên ngoài không thuận nêu trên cùng với yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện, thực chất đang đặt ra nhiều vấn đề về bảo đảm tính độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Việt Nam. Trước hết là bảo đảm sự độc lập, tự chủ về đường lối phát triển đất nước. Độc lập, tự chủ ở đây không phải là biệt lập, khép kín, mà phải tìm ra con đường, đường lối phát triển đất nước phù hợp với quy luật phát triển chung của nhân loại và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Độc lập, tự chủ là không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi, giáo điều, tránh lối cũ, đường mòn và tự mình phải luôn tìm tòi, suy nghĩ; tự mình làm chủ suy nghĩ, làm chủ bản thân và công việc của mình, tự mình thấy trách nhiệm trước đất nước và dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng đến nay, Đảng luôn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ. Đây là một yếu tố xuyên suốt, quyết định thắng lợi trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sự phát triển của cuộc CMCN 4.0 đang đặt ra những vấn đề mới đối với mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Những yêu cầu mới, vấn đề mới, thách thức mới xuất hiện ngày càng tác động mạnh, đa chiều đến việc lựa chọn phương thức phát triển của nước ta. Môi trường kinh tế - chính trị - an ninh quốc tế ngày càng phức tạp, biến động bất thường, khó dự báo đòi hỏi phải nâng cao năng lực tự chủ, tự lực, tự cường của đất nước, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân, nhất là trước tác động của những cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính, đứt gãy chuỗi cung ứng, các cú sốc bất ngờ, tình trạng khẩn cấp (như đại dịch COVID-19, xung đột Nga - Ukraine). Về quốc phòng - an ninh: (i) Chủ quyền quốc gia và vấn đề Biển Đông còn nhiều thách thức, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. (ii) Việt Nam đứng trước thách thức “chọn bên” và nguy cơ “mắc kẹt” trong cạnh tranh chiến lược nước lớn. (iii) Những nguy cơ, thách thức mới, nhất là những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, tác động trực tiếp tới môi trường phát triển của đất nước; (iv) “Diễn biến hòa bình” và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ngày càng gia tăng với những thủ đoạn mới, tinh vi, thâm độc hơn.

Trong khi đó, đánh giá tổng thể, sức mạnh tổng hợp quốc gia chưa được phát huy hiệu quả, nền kinh tế tăng trưởng chưa thực sự bền vững, năng suất lao động, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn thấp, nguy cơ tụt hậu xa hơn và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” còn hiện hữu; doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự lớn mạnh, năng lực vốn và công nghệ còn thiếu hụt; nền kinh tế còn lệ thuộc vào một vài thị trường, đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo bảo đảm cho năng lực tự lực, tự cường vẫn còn lạc hậu. Trong khi bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và các thế lực thù địch thay đổi chiến lược và phương thức chống phá khác nhau để can thiệp vào nội bộ nước ta… càng đòi hỏi phải đẩy mạnh các phương thức đấu tranh phi vũ trang, nhất là đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá để tăng cường tính tự lực, tự cường, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. 

Những hiệp định tự do (FTA) thế hệ mới với tính gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa thị trường trong nước với thị trường thế giới, giữa quản trị quốc gia với quản trị toàn cầu cũng đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những đối tác trong các FTA thế hệ mới còn yêu cầu cam kết cả những nội dung phi truyền thống, phi thương mại, như mua sắm chính phủ, lao động, môi trường, dịch vụ thương mại điện tử, trực tuyến, doanh nghiệp nhà nước… Đây đều là những lĩnh vực mới và khó đối với Việt Nam. Các FTA thế hệ mới chính là những hiệp định “WTO cộng”. Nhìn chung, sau một thời gian thực thi các FTA thế hệ mới, bên cạnh những kết quả tích cực, các điều khoản của FTA được đánh giá tạo ra nhiều khó khăn, sức ép mới cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau; đặt ra những quy định và yêu cầu khắt khe đối với các bên tham gia nhằm nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và thúc đẩy các nguyên tắc cơ bản của phát triển bền vững, trong đó, đáng chú ý là vấn đề về lao động, bảo vệ môi trường, sở hữu trí tuệ... Lợi ích khai thác, tận dụng được từ các hiệp định này còn hạn chế. 

Những nhân tố thuận và không thuận tác động đến nước ta khi bước vào kỷ nguyên mới

Những nhân tố thuận, không thuận từ bên ngoài

Cục diện thế giới sẽ tiếp tục được đẩy nhanh hơn theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc; hòa bình, hợp tác, phát triển tiếp tục là xu thế lớn. Các nước lớn dù cạnh tranh quyết liệt nhưng vẫn tránh xung đột trực diện và vẫn có nhu cầu duy trì hòa bình, ổn định ở toàn cầu và khu vực.

Với vị thế địa chiến lược và quan hệ đối ngoại rộng mở, Việt Nam có nhiều dư địa để thúc đẩy hợp tác, đa dạng hóa, đan xen lợi ích với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các nước lớn và khu vực phát triển đều coi trọng và mong muốn tăng cường hợp tác các mặt với nước ta. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tăng cường hợp tác thực chất với các nước lớn, các đối tác quan trọng, đồng thời có được thế chiến lược tốt hơn, vai trò ngày càng quan trọng hơn trong chính sách toàn cầu và khu vực của các nước lớn.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp tục là đầu tàu phát triển năng động, là thị trường thương mại và địa điểm đầu tư hấp dẫn, tâm điểm của các liên kết kinh tế mới và động lực của tăng trưởng kinh tế thế giới. Sự phát triển năng động của khu vực mở ra cơ hội hợp tác, liên kết giữa các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

Sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là CMCN 4.0, các xu hướng phát triển mới, như tăng trưởng xanh, tài chính xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, trí tuệ nhân tạo... mở ra những cơ hội mới để ta rút ngắn khoảng cách phát triển với thế giới. Liên kết kinh tế quốc tế tiếp tục được thúc đẩy, quá trình hình thành các chuỗi cung ứng mới, chuỗi sản xuất mới là cơ hội để Việt Nam cải thiện được vị trí trong chuỗi cung ứng, sản xuất khu vực và toàn cầu. Việc Việt Nam nâng cấp, nâng tầm quan hệ với nhiều đối tác chủ chốt là dư địa lớn để mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút FDI và ODA chất lượng cao, thúc đẩy đột phá chiến lược (về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực).

Chủ nghĩa xã hội hiện thực có những bước phát triển mới trên thế giới. Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu vĩ đại trong quá trình xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và theo nhiều dự báo sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong vòng 10 năm tới.

Tuy nhiên, môi trường quốc tế và khu vực biến động mạnh hơn, tác động lớn đến an ninh và phát triển của nước ta. Đặc điểm của môi trường thế giới hiện nay và nhiều năm tới là tính bất định, khó lường tăng lên; bất ổn, biến động, khủng hoảng, xung đột cục bộ có thể sẽ diễn ra thường xuyên hơn.

Việc hoạch định chiến lược, chính sách phát triển khó khăn hơn đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cạnh tranh chiến lược nước lớn sẽ là mặt chủ đạo trong quan hệ quốc tế, không loại trừ khả năng các nước lớn tìm cách dàn xếp, thỏa hiệp về một số vấn đề khu vực. Xu hướng chính trị cường quyền, tư duy sức mạnh cứng, can thiệp áp đặt, sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, hành xử đơn phương, vi phạm luật pháp quốc tế có thể gia tăng. Việc ứng xử, cân bằng với các nước lớn sẽ gặp khó khăn hơn, đặt ra yêu cầu cao hơn về bản lĩnh, sự tỉnh táo, khéo léo của các nước.

Các thách thức an ninh vẫn sẽ thường trực, thậm chí có mặt phức tạp hơn trước. Các vấn đề an ninh phi truyền thống sẽ nổi lên gay gắt, nhất là dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh con người, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, an ninh tài chính... Nền kinh tế - chính trị thế giới khó đoán định, tiềm ẩn nhiều rủi ro, có khả năng rơi vào “thập kỷ bất ổn và mất mát”. “Diễn biến hòa bình” vẫn hiện hữu; hợp tác và liên kết kinh tế bị “chính trị hóa”, “an ninh hóa” cao độ, như trong các lĩnh vực trọng yếu, nhất là công nghệ chiến lược, công nghệ cao.

Nguy cơ lớn về tụt hậu sâu hơn và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” nếu không tận dụng tốt CMCN 4.0. Nếu không quyết liệt đổi mới tư duy, mô hình phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường năng lực khoa học - công nghệ, sẽ bỏ lỡ thời cơ của CMCN 4.0, thậm chí có nguy cơ rơi vào trì trệ, tụt hậu ngày càng xa. 

Những nhân tố thuận, không thuận từ bên trong

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị được củng cố, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ, đạt được nhiều kết quả tích cực; trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, mức độ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN được nâng lên; các yếu tố về văn hóa - lịch sử phát huy mạnh mẽ hơn; năng lực của Nhà nước trong điều tiết, quản lý kinh tế thị trường, quản trị quốc gia, quản lý xã hội được tăng cường; niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực làm chủ của người dân được phát huy.

Qua 40 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước ta thế và lực mới. Sự ổn định chính trị - xã hội tiếp tục duy trì; môi trường khởi nghiệp, đầu tư, kinh doanh cải thiện; khả năng thích ứng của nền kinh tế được nâng cao. Đây là những điều kiện quan trọng, có tính quyết định đối với việc duy trì lợi thế, tính hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Đường lối đổi mới đúng đắn, khoa học cùng sự lãnh đạo, quản lý hiệu quả của Đảng và Nhà nước. Sự thống nhất trong cả hệ thống chính trị và sự vào cuộc của toàn xã hội trong triển khai các mục tiêu phát triển đất nước đến 2030, 2045, triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực.

Chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ đối ngoại ở Trung ương và địa phương được cải thiện, được đào tạo bài bản, có điều kiện để nâng cao công tác chuyên môn và bản lĩnh chính trị.

Tuy nhiên, kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng tiềm năng, nguồn lực được huy động; kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu giảm sút. Mô hình tăng trưởng chậm đổi mới, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chậm được cải thiện. Phát triển còn thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta nêu ra vẫn tồn tại, thậm chí có mặt còn diễn biến phức tạp và tinh vi hơn. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục chống phá, thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta ngày càng thâm độc, tinh vi, nhất là trên không gian mạng.

Tình hình một số khu vực, vùng biên giới, vùng biển, không gian mạng, công tác bảo đảm an ninh - trật tự xã hội có những yếu tố đáng lo ngại. Các vấn đề quản trị xã hội (già hóa dân số, các trào lưu trên phương tiện truyền thông xã hội...) ngày càng có nhiều tác động đối với an ninh, phát triển của đất nước.

*

Cùng với những thời cơ, thuận lợi cơ bản, Việt Nam phải chủ động xây dựng tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế để tận dụng tốt những cơ hội từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đồng thời phải tạo lập được sức mạnh tổng hợp quốc gia, sự độc lập tự chủ, năng lực tự chủ chiến lược, năng lực chống chịu của quốc gia trước những thách thức toàn cầu, khu vực và những biến cố bất thường từ bên ngoài; nhất là tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản trị phát triển tốt) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng lực lượng sản xuất mới, tiên tiến, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp trong quá trình bước vào kỷ nguyên phát triển mới. 

Sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, “sánh vai với các cường quốc năm châu”, “góp phần xứng đáng vào cách mạng thế giới” như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của cả dân tộc và nhân dân Việt Nam. Để đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, Đảng phải tự đổi mới chính mình, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện để lãnh đạo đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam XHCN hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.

--------------------------

Sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý

 TCCS - Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là bước đi đúng đắn và cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm tầng nấc trung gian và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, góp phần tạo ra một hệ thống quản trị linh hoạt, hiệu quả, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp. Quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự đồng thuận của toàn dân và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị là điều kiện quan trọng bảo đảm sự phát triển mạnh mẽ của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ làm việc tại tỉnh Vĩnh Phúc_Ảnh: TTXVN

Sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đóng vai trò quyết định đối với việc nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý đất nước. Một bộ máy cồng kềnh, chồng chéo chức năng không chỉ làm tăng gánh nặng ngân sách, mà còn làm trì trệ quá trình ra quyết định, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, một tổ chức bộ máy cồng kềnh, thiếu linh hoạt sẽ trở thành rào cản đối với sự phát triển. Tinh gọn bộ máy là yêu cầu cấp thiết của Việt Nam hiện nay và là xu hướng được nhiều quốc gia thực hiện, như Trung Quốc, Hoa Kỳ, các nước thuộc Liên minh châu Âu, Anh, Xin-ga-po… Việc giảm tầng nấc trung gian, đơn giản hóa thủ tục hành chính và trao quyền nhiều hơn cho địa phương sẽ giúp hệ thống quản lý vận hành linh hoạt hơn, hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao năng lực điều hành của chính quyền cấp cơ sở. Đây chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm sự minh bạch, hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Nhận thức rõ vấn đề, Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, đang tập trung cao lãnh đạo thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Một bộ máy tinh gọn, vận hành linh hoạt không chỉ giúp phát triển bền vững, mà còn tăng khả năng thích ứng với biến động toàn cầu. Việc cắt giảm thủ tục hành chính, loại bỏ điểm nghẽn trong hệ thống quản lý tạo thuận lợi hơn cho môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút nhiều hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển nội tại, mà còn giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Một bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tinh gọn tổ chức bộ máy - một đòi hỏi tất yếu của thực tiễn

Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển đất nước, nhưng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện vẫn bộc lộ nhiều bất cập, như tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, chức năng chồng chéo và cơ chế phối hợp vướng mắc. Thực trạng này dẫn đến hiệu suất làm việc thấp, thủ tục hành chính rườm rà, cán bộ quan liêu, trì trệ trong giải quyết công việc.

Nhiều bộ, ngành có nhiệm vụ tương đồng dẫn đến sự chồng chéo trong quản lý, khó xác định trách nhiệm. Việc phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều vướng mắc, làm giảm hiệu quả thực thi chính sách. Tinh giản biên chế ở một số nơi vẫn mang tính cào bằng, chưa tính đến đặc thù từng đơn vị, làm giảm chất lượng hoạt động của bộ máy. Dù đã nỗ lực đề ra nhiều giải pháp để cải cách hành chính, nhưng nhiều thủ tục vẫn làm mất thời gian và gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Việc phải qua nhiều cấp trung gian khiến tiến trình xử lý kéo dài, làm giảm hiệu quả phục vụ của bộ máy nhà nước.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện cải cách bộ máy hành chính để nâng cao hiệu quả quản trị. Tại Xin-ga-po, chính phủ thực hiện chính sách “chính phủ thông minh”, giảm số lượng cơ quan và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong điều hành. Cơ quan công quyền của Xin-ga-po cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân. Với đội ngũ công chức tinh gọn, dù chỉ có 16 bộ, nhưng Xin-ga-po vẫn phát huy được hiệu quả quản trị. Tại Anh, từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ đã thực hiện cải cách theo mô hình “quản lý công mới”, chuyển nhiều dịch vụ công sang khu vực tư nhân, đồng thời tinh gọn bộ máy hành chính. Nhờ đó, số lượng nhân viên khu vực công giảm, nhưng hiệu suất làm việc lại tăng đáng kể...

Cách tiếp cận của nhiều nước trên thế giới cho thấy, để quản trị hiệu quả, không chỉ giảm bớt đầu mối tổ chức, mà còn phải thay đổi cách thức quản trị, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và cung cấp dịch vụ công. Một bộ máy tinh gọn, hiệu quả không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách, mà còn cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm tính khoa học, hợp lý, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Tinh giản không có nghĩa là cắt giảm một cách một cách cơ học, mà là loại bỏ những vị trí không cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả”(1). Như vậy, tinh gọn bộ máy cần tổ chức một cách khoa học, hợp lý, giúp hệ thống vận hành hiệu quả, linh hoạt hơn. Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy không chỉ giảm đầu mối, mà điều quan trọng là hướng đến việc vận hành hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực.

Thực tế, nhiều đơn vị có chức năng tương đồng đã được sáp nhập, giúp giảm sự chồng chéo về đầu mối và nâng cao hiệu quả quản lý. Trong quản lý nhà nước về xây dựng, Cục Kinh tế xây dựng, Cục Quản lý hoạt động xây dựng của Bộ Xây dựng và Cục Quản lý đầu tư xây dựng của Bộ Giao thông vận tải đã được thống nhất về một đầu mối là Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng, bởi ba đơn vị này có nhiều chức năng, nhiệm vụ cơ bản tương đồng. Việc thống nhất các đơn vị trên về một đầu mối giúp tạo sự thống nhất về quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả giám sát và điều hành trong lĩnh vực hạ tầng. Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, một số cơ sở giáo dục - đào tạo có nhiệm vụ tương đồng đã được sáp nhập, như Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã được sáp nhập vào Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường được sáp nhập vào Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, giúp tập trung nguồn lực và nâng cao chất lượng đào tạo.

Không chỉ triển khai ở cấp trung ương, việc tinh gọn tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ ở cấp địa phương nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý. Các địa phương đã thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính giảm cấp hành chính trung gian phù hợp với thực tiễn, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã để mở rộng quy mô quản lý, bảo đảm phục vụ nhân dân tốt hơn. Quá trình thực hiện đã bám sát yêu cầu của Trung ương, theo đó xác định rõ mô hình chính quyền địa phương cấp xã đối với khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, hải đảo, quy mô dân số, diện tích, lịch sử, văn hóa, vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo...; xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, định biên của chính quyền địa phương cấp xã. Một số đề xuất cũng đang được triển khai, như sáp nhập các tỉnh, thành phố để mở rộng địa giới hành chính gắn với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch địa phương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, mở rộng không gian phát triển, phát huy lợi thế so sánh, không tổ chức cấp huyện nhằm giảm tầng nấc trung gian, tiết kiệm chi phí hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý.

Việc triển khai tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã giúp tinh gọn đáng kể số đầu mối trong bộ máy nhà nước. Bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã giảm từ 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ. Việc sáp nhập các sở, ngành có chức năng tương đồng, như sở giao thông vận tải và sở xây dựng, sở kế hoạch và đầu tư với sở tài chính, sở lao động - thương binh và xã hội và sở nội vụ, sở khoa học và công nghệ và sở thông tin truyền thông, báo và đài địa phương... ở các tỉnh, thành phố giúp tăng cường công tác phối hợp, hạn chế chồng chéo và nâng cao hiệu quả quản lý.

Tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ giúp tăng cường hiệu quả vận hành, mà còn khắc phục tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, khi một số đơn vị vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa trực tiếp triển khai hoạt động, dẫn đến nguy cơ xung đột lợi ích, lãng phí nguồn lực. Tuy nhiên, để quá trình thực hiện đạt hiệu quả cao nhất, phải thực hiện bảo đảm khoa học, bài bản, bảo đảm sự ổn định trong lãnh đạo, quản lý. Nếu triển khai hợp lý, khoa học thì đây sẽ là bước đi quan trọng giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tối ưu hóa sử dụng nguồn lực quốc gia.

Giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quá trình ra quyết định, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý

Một trong những bất cập hiện nay gắn với hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị là quá trình ra quyết định chưa linh hoạt, kéo dài, gây chậm trễ trong xử lý công việc. Cùng với đó, thủ tục hành chính còn rườm rà, phải trải qua nhiều cấp xét duyệt, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Điều này không chỉ làm suy giảm hiệu quả quản lý, mà còn gia tăng chi phí tuân thủ, gây rào cản đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Trước khi tiến hành sắp xếp bộ máy bên trong các bộ, ngành, cả nước có 30 tổng cục và tương đương, thực tế, cấp tổng cục là một tầng trung gian giữa cấp bộ và cấp cục, làm tăng sự phức tạp trong quản lý hành chính. Tình trạng nhiều cấp trung gian không chỉ làm chậm tiến độ triển khai chính sách, mà còn khiến trách nhiệm bị phân tán, dẫn đến việc ra quyết định thiếu nhất quán và kém hiệu quả.

Bên cạnh vấn đề tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính phức tạp cũng là một rào cản lớn đối với doanh nghiệp và người dân. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 15,2% doanh nghiệp gặp khó khăn do thủ tục hành chính rườm rà, điều kiện kinh doanh phức tạp và quy trình đấu thầu thiếu minh bạch, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp(2). Báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm 2023 cũng chỉ ra rằng, 38% doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp hoạt động lâu năm(3). Các con số này chỉ ra sự cần thiết của việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, giảm thủ tục hành chính, tăng tốc độ xử lý công việc, từ đó góp phần làm giảm chi phí vận hành của doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Việc giảm tầng nấc trung gian và tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã được xác định là một nhiệm vụ chiến lược, mang tính đột phá. Việc tối ưu hóa cơ cấu tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng thời cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính nhằm giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc cắt giảm quy trình xét duyệt không cần thiết, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước không chỉ giúp rút ngắn thời gian xử lý công việc, mà còn nâng cao chất lượng phục vụ đối với người dân và doanh nghiệp.

Tại buổi làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương (ngày 24-2-2025), Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tầm quan trọng của cải cách thủ tục hành chính và giảm chi phí kinh doanh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng chí Tổng Bí thư đặt ra mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp và người dân giảm bớt gánh nặng hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư. Bên cạnh đó, cần giảm ít nhất 30% chi phí kinh doanh, bao gồm chi phí tuân thủ quy định và chi phí không chính thức, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, bãi bỏ ít nhất 30% điều kiện kinh doanh không cần thiết cũng là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm loại bỏ rào cản không đáng có, thúc đẩy môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch hơn.

Sự hiện hữu của quá nhiều tầng nấc trung gian và sự rườm rà của thủ tục hành chính đã làm chậm trễ quá trình ra quyết định và cản trở sự phát triển của doanh nghiệp. Việc tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm cấp trung gian và đơn giản hóa thủ tục hành chính không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tăng cường niềm tin của doanh nghiệp, người dân vào bộ máy chính quyền.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Việc phân quyền mạnh mẽ hơn cho các cấp chính quyền phải đi đôi với cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ”. Điều này không chỉ đòi hỏi giảm khâu trung gian không cần thiết, mà còn đòi hỏi đẩy mạnh phân cấp, trao quyền gắn với giao trách nhiệm cho chính quyền địa phương, giúp tăng tính chủ động trong lãnh đạo, quản lý và thúc đẩy hiệu suất công việc. Trong mô hình quản lý mới, vai trò của cấp Trung ương sẽ tập trung vào hoạch định chính sách và định hướng chiến lược, trong khi địa phương được trao quyền nhiều hơn trong triển khai thực hiện. Điều này sẽ giúp rút ngắn quá trình ra quyết định, tăng tốc độ xử lý công việc, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Cán bộ công an hướng dẫn người dân thao tác xin cấp phiếu lý lịch tư pháp trên ứng dụng VNeID tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Thừa Thiên - Huế_Ảnh: TTXVN

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý - Hướng tới quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

Việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ dừng lại ở việc tinh gọn tổ chức, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và quản lý, xây dựng một nền hành chính thực sự phục vụ nhân dân. Tinh gọn tổ chức bộ máy không đơn thuần là giảm số lượng cơ quan, mà còn phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, loại bỏ cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ: “Không để cơ quan nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” cho cán bộ yếu kém”(4). Tinh giản biên chế không thể thực hiện theo hướng cắt giảm cơ học, mà cần gắn liền với việc kiện toàn tổ chức, sắp xếp lại nhân sự theo hướng chọn lọc. Mục tiêu là loại bỏ vị trí không cần thiết, tinh giản công việc kém hiệu quả, đồng thời tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực then chốt. Nếu không thực hiện triệt để, bộ máy hành chính vẫn sẽ cồng kềnh, lãng phí ngân sách và hoạt động kém hiệu quả. Do đó, việc loại bỏ cán bộ yếu kém, thiếu trách nhiệm không chỉ là một phần của công cuộc tinh giản biên chế, mà còn là yêu cầu cấp bách để nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

Chính phủ đã ban hành chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu trước tuổi hoặc chuyển đổi công việc, giúp tinh giản biên chế theo hướng chọn lọc. Đề xuất bỏ “biên chế suốt đời” cũng được xem là một bước đột phá trong cải cách hành chính, nhằm khuyến khích cán bộ, công chức làm việc dựa trên năng lực thực tế, thay vì duy trì tâm lý ỷ lại vào hệ thống. Đây là bước đi quan trọng để tạo động lực làm việc hiệu quả hơn và loại bỏ cán bộ không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Thực tiễn cho thấy, các địa phương thực hiện tinh giản biên chế theo hướng giữ lại người có năng lực đã cải thiện đáng kể hiệu suất làm việc và hiệu quả quản lý. Việc giảm bớt đơn vị, cấp hành chính không cần thiết giúp bộ máy vận hành nhanh hơn, linh hoạt hơn và giảm tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách, chính sách tinh giản biên chế hợp lý, mà còn tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công.

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ nhằm cắt giảm nhân sự, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, bảo đảm sự vận hành hiệu quả của bộ máy, phục vụ tốt hơn cho nhân dân và doanh nghiệp.

Điều này có thể được thực hiện thông qua đào tạo chuyên sâu, cải cách chế độ tuyển dụng, đánh giá cán bộ dựa trên năng lực, thay vì chỉ dựa trên thâm niên. Thước đo của năng lực cán bộ là phải tạo ra sản phẩm cụ thể.

Bên cạnh đó, cần tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số thúc đẩy hoàn thành xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, góp phần đổi mới phương thức làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp có đủ năng lực vận hành nền kinh tế số, xã hội số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công. Đầu tư vào hạ tầng công nghệ số không chỉ giúp nâng cao năng suất làm việc của bộ máy nhà nước, mà còn góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng cường niềm tin của người dân vào nền hành chính công.

Việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và quản lý không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn là điều kiện tất yếu để Việt Nam phát triển trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Một bộ máy tinh gọn, chuyên nghiệp, số hóa và vận hành hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ công, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội./…

--------------------

MỆNH LỆNH LỊCH SỬ CHO NGÀY TOÀN THẮNG

MỆNH LỆNH LỊCH SỬ CHO NGÀY TOÀN THẮNG 


Cách đây 50 năm, 9 giờ 30 sáng 7/4/1975, tại Tổng hành dinh Sở Chỉ huy chiến dịch - Nhà D67, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tự tay thảo bức điện 157/ĐK gửi các cánh quân:


1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.


2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sỹ."


Bên dưới ký một chữ Văn. 


Mật lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa là mệnh lệnh, vừa là lời hịch cổ vũ tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường vào thời điểm vô cùng quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.


Bức điện khẩn “Thần tốc, thần tốc hơn nữa...” do tự tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ký tên được Ban Cơ yếu lập tức truyền đi khắp các mặt trận trên toàn miền Nam như một lời “hịch tướng sỹ.”


Chỉ với 40 từ, vô cùng ngắn gọn nhưng Bản Mệnh lệnh đã xác định rõ mục tiêu phải đạt được, đồng thời chỉ rõ phương châm hành động để đạt được mục tiêu đó: Đã thần tốc rồi, cần thần tốc hơn nữa! Đã táo bạo rồi cần táo bạn hơn!


Mệnh lệnh đã truyền đạt quyết tâm cao nhất của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tới các cấp lãnh đạo và chỉ huy chiến trường, tới mỗi đảng viên, chiến sỹ để chủ động sáng tạo, thừa thắng, xốc tới, hướng mọi hành động theo phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Và cả dân tộc đã ra quân với khí thế ấy...


50 năm đã trôi qua kể từ đại thắng Mùa Xuân năm 1975, nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, đã tiến những bước dài trong công cuộc xây dựng đất nước. Song mệnh lệnh lịch sử “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa …” của Đại tướng Võ nguyên Giáp vẫn còn nguyên giá trị, mãi mãi là niềm tự hào và quyết tâm sắt đá của cả một dân tộc trong Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

“CHỐNG CHỆCH HƯỚNG”, TƯ TƯỞNG PHẢI THÔNG

 “CHỐNG CHỆCH HƯỚNG”, TƯ TƯỞNG PHẢI THÔNG

1. Vin vào cớ chủ nghĩa tư bản đương đại đang đổi mới, thích nghi, phát triển và đạt nhiều thành tựu to lớn, một số người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta cho rằng, Việt Nam ngày càng tụt hậu và nguyên nhân chính là do “Đảng Cộng sản Việt Nam cứ khư khư bám giữ chủ nghĩa Mác - Lênin”, “mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Hơn thế, quan điểm này còn trắng trợn vu cáo rằng, “sự trì trệ, bảo thủ, chậm khắc phục những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời gian qua đang đẩy Việt Nam rơi xuống hố sâu, vực thẳm; đi vào “ngõ cụt”, “bế tắc”, “buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải đưa ra quyết định đưa kinh tế tư nhân làm động lực chủ yếu để cứu vớt nền kinh tế Việt Nam”; với quyết định này, “định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Việt Nam đã kết thúc”... 

Một số người khác lại có quan điểm hồ đồ sau khi đã “sám hối”, cho rằng, cả đời đã tin vào học thuyết Mác - Lênin nay mới ngộ ra là sai lầm nên giờ đây, nhận thức lại thấy cần phải “tẩy sạch, gột rửa nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác” để “thanh thản đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, mong sớm phát tài, giàu sang!. Họ đã phát ngôn, viết bài, tung tin với dụng ý khích lệ Đảng ta “bóp chết thành phần kinh tế nhà nước càng sớm, càng tốt, vì nó vô dụng” để “đưa thành phần kinh tế tư nhân phát triển, chiếm thế thượng phong”. Theo họ, đó là cách quay lại đúng quỹ đạo của con đường phát triển tư bản chủ nghĩa…

Vì thế, trên một số hội thảo khoa học, “bàn tròn, bàn vuông”, sách báo, đài, phim ảnh, tài liệu quốc tế, các trang mạng xã hội, nhất là của VOA, RFA, RFI, YOUTUBE, BBC… người ta đã bàn nhiều về số phận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội - một nội dung quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta với dụng ý xấu khi cho rằng, Đảng ta đã “kết thúc định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng cách phát triển mạnh kinh tế tư nhân”.

Từ đó, họ khẳng định rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận về chủ nghĩa xã hội đã là quá khứ”, “chỉ phù hợp với thế kỷ XX; không phù hợp với thời đại ngày nay”, đặc biệt “không cần thiết cho Việt Nam”, bởi “học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung “đã cáo chung”, đã được “đưa vào bảo tàng lịch sử” cùng với sự đổ của vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu”. Theo họ, chừng nào còn tồn tại học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác thì chừng ấy còn có sự thống trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, còn có các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế, cũng như cuộc đấu tranh không khoan nhượng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản.

Nhận diện sâu sắc và cảnh giác cao độ với các luận điệu sai trái nêu trên. Trong bối cảnh hiện nay, nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cần kíp để vững vàng niềm tin; tiếp tục kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; đưa sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi đến thành công. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải đập tan các quan điểm sai trái, thù địch, phản động; tiếp tục làm sáng tỏ mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trước mắt là giữ vững niềm tin trong xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Đây là những vấn đề có tính nguyên tắc, đặc biệt có ý nghĩa hệ trọng đối với dân tộc ta khi bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, vì nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự an nguy đối với vận mệnh và lợi ích quốc gia - dân tộc, sự phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của dân tộc. Nhận thức sai lầm và đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa thì đương nhiên, phải trả giá đắt, chúng ta không thể chấp nhận điều đó. Bài học về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu luôn nhắc nhở chúng ta không được phép sai lầm về đường lối chính trị, mất cảnh giác về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

2. Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng tới đây, trong học tập, nghiên cứu, bảo vệ và vận dụng sáng tạo học thuyết “hình thái kinh tế - xã hội” của C. Mác vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay, cần khẳng định rõ quan điểm, lập trường có tính nguyên tắc của những người mácxít về giá trị và ý nghĩa khoa học, cách mạng của học thuyết này. Kiên quyết bác bỏ mọi luận điệu vu khống, xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng học của thuyết hình thái kinh tế - xã hội, giá trị và ý nghĩa của nó đối với đường lối đổi mới ở Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện thời, hãy nhìn lại thật kỹ cuộc xung đột quân sự giữa Nga - Ucraina, hệ quả của nó và bối cảnh tình hình thế giới, khu vực để tự tin khẳng định dứt khoát rằng, trước đây cũng như hiện nay, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác vẫn là lý luận duy nhất khoa học và cách mạng để chúng ta nhận thức và giải quyết các vấn đề lịch sử, xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác thể hiện ở tính tất yếu khách quan của sự ra đời học thuyết, ở việc khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của lịch sử xã hội loài người, ở quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, ở mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, ở việc khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên... 

Điểm nhấn mạnh và cần nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác là ở chỗ, C. Mác làm nổi bật vai trò quyết định - xét đến cùng - của nhân tố kinh tế trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Tuy nhiên, C. Mác, Ph. Ăngghen không bao giờ coi kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động, biến đổi của lịch sử. Đây cũng là cái điều vô cùng sâu sắc mà Đảng ta đã khẳng định: Việt Nam muốn đạt được các mục tiêu hai lần kỷ niệm 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng vào năm 2030 và thành lập nước vào năm 2045, nhất thiết từ năm 2025 tăng trưởng kinh tế phải đạt từ 8% năm và sau đó, từ năm 2026, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phải đạt trên hai con số, tức là trên 10%; đồng thời, phải phát triển toàn diện các mặt của đời sống văn hóa - xã hội.

Đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chúng ta tiếp tục vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và chính nó, là vũ khí sắc bén để chúng ta đứng vững trên mặt trận tư tưởng, lý luận của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc sự thật, bảo vệ chân lý khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin trước sự tấn công từ nhiều phía của kẻ thù; kiên quyết giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được trong 40 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định rằng, đường lối chiến lược của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nhất quán, xuyên suốt; không bao giờ thay đổi. Thế nhưng, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, một số sách lược của Đảng ta có sự thay đổi cho phù hợp với đặc điểm tình hình mới với sự uyển chuyển, linh hoạt. Điều đó hoàn toàn đúng với lời dạy của Bác Hồ: “Lấy bất biến ứng vạn biến”. Nếu ai đó chỉ vì ý muốn chủ quan, chỉ “nhìn thấy cây mà không thấy rừng”, “chỉ biết một mà không biết hai” mà phạm thêm sai lầm trong nhận thức và hành động là đi ngược lại quy luật khách quan của lịch sử…

Trung thành, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là lý luận về hình thái kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là trong xây dựng các văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng là sự bảo đảm chắc chắn nhất để phòng, chống sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua đã chứng minh tính chân lý ấy./.

CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG DỰ LỄ DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM CÁC VUA HÙNG

CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG DỰ LỄ DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM CÁC VUA HÙNG Sáng 7-4 (tức ngày 10-3 năm Ất Tỵ 2025), tại Điện Kính Thiên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh (Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Phú Thọ, thay mặt đồng bào, chiến sĩ cả nước, tổ chức trọng thể Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng. Chủ tịch nước Lương Cường dự và dâng hương. Tham dự Lễ dâng hương có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Mai Văn Chính, Phó thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Khắc Định, Phó chủ tịch Quốc hội; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành; lãnh đạo tỉnh Phú Thọ và một số tỉnh, thành phố cùng hàng nghìn người dân. Từ sáng sớm, các đại biểu đã tề tựu trước sân hành lễ tại khu Trung tâm Lễ hội Đền Hùng. Trong tiếng nhạc âm vang, đoàn đại biểu cùng khối nghi thức, đội rước kiệu, lễ vật khởi hành từ sân Trung tâm Lễ hội Đền Hùng, dần tiến qua Nghi môn, đền Hạ, đền Trung lên đền Thượng. Đi đầu đoàn hành lễ là các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam rước Quốc kỳ, cờ hội và vòng hoa mang dòng chữ "Đời đời nhớ ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước". Theo sau là các thiếu nữ và 100 con cháu Lạc Hồng trong trang phục cổ, tay giương cao cờ hội, thể hiện sức sống mãnh liệt của dòng giống Tiên Rồng, cùng đoàn rước kiệu dâng lễ vật hương, hoa, bánh chưng, bánh giầy, gắn liền với truyền thuyết về vị hoàng tử Lang Liêu. Tiếp đó là đoàn đại biểu lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, các địa phương; lãnh đạo tỉnh Phú Thọ và nhân dân về dự Lễ dâng hương. Tại Điện Kính Thiên trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, với tấm lòng thành kính tri ân công đức tổ tiên, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch nước Lương Cường và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Thượng cung dâng hương, hoa, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước. Thay mặt đồng bào cả nước, trước anh linh các Vua Hùng, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Bùi Văn Quang, Chủ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm Ất Tỵ 2025 đọc Chúc văn, khẳng định ý nghĩa to lớn của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Khắc sâu đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần “Đại đoàn kết toàn dân tộc”, trong giờ phút thiêng liêng của ngày Giỗ Tổ, triệu triệu con tim người Việt cùng hướng về Đền Hùng, với tấm lòng thành kính tưởng nhớ tổ tiên, tri ân công đức các Vua Hùng, các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước. Đời nối đời trải mấy nghìn năm, vua thương yêu dân, chung sống hòa thuận; cả nước một lòng, toàn dân đoàn kết, trọn nghĩa đồng bào. Theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với truyền thống đoàn kết và lòng yêu nước nồng nàn, các thế hệ con cháu Lạc Hồng nối tiếp nhau đã trải qua bao cuộc đấu tranh với muôn vàn gian nan, thử thách; hun đúc tinh thần tự lực, tự chủ, tự cường và lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc; đã lập nên những kỳ tích vẻ vang, xây nền độc lập, gìn giữ non sông, khẳng định chủ quyền, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Tiếp nối truyền thống lịch sử hào hùng, văn hóa, văn minh, văn hiến của dân tộc, trong 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta, dân tộc ta đã phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh; kiên cường đấu tranh vì độc lập và tự do, vì hòa bình và hữu nghị, vì hạnh phúc và phồn vinh, vì chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ để làm nên những thắng lợi, thành tựu vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử vẻ vang của dân tộc. Con cháu Lạc Hồng nguyện mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Chúc văn cũng cầu mong Thánh Tổ anh linh che chở, phù hộ độ trì cho mưa thuận, gió hòa, nhân khang, vật thịnh; xã tắc thịnh vượng, quốc thái, dân an; bách gia trăm họ vạn đại trường tồn. Cả nước đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Con cháu Lạc Hồng trên khắp mọi miền luôn hạnh phúc, bình an và mạnh khỏe. Chủ tịch nước Lương Cường và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đại biểu đặt vòng hoa, thắp hương tại Lăng Hùng Vương; thành kính tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, bên Bức phù điêu có hình tượng Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng. Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày lễ trọng đại, mang bản sắc văn hóa sâu sắc và độc đáo của dân tộc Việt Nam, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tưởng nhớ và biết ơn công đức các Vua Hùng đã có công dựng nước và giữ nước. Đây cũng là dịp quan trọng để quảng bá ra thế giới biết về một di sản vô cùng giá trị, độc đáo, đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài. Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa - Du lịch đất Tổ năm Ất Tỵ 2025 diễn ra từ ngày 29-3 đến ngày 7-4 (tức từ mồng 1 đến 10-3 năm Ất Tỵ 2025) tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì và các huyện trong tỉnh Phú Thọ, với nhiều hoạt động, sự kiện đặc sắc mang hào khí thời đại Hùng Vương và được kế thừa, tiếp nối trong xã hội đương đại. Ngay sau Lễ dâng hương, hàng vạn đồng bào và du khách từ khắp mọi miền Tổ quốc đã thành kính tri ân công đức tổ tiên, dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng và tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống.

CHỈ PHÓNG VIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐƯỢC PHÉP VÀO TÁC NGHIỆP

MYANMAR: CHỈ PHÓNG VIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐƯỢC PHÉP VÀO TÁC NGHIỆP🇻🇳🤝🇲🇲 Hôm qua, trong thời khắc phép màu diễn ra ở Myanmar, khi tất cả dồn sức cứu người đàn ông sống sót sau 1 tuần, chỉ phóng viên QĐNDVN được vào tận nơi tác nghiệp. "Mình được vào tận nơi, từ lúc chưa cứu được nạn nhân. Lúc đó tất cả các báo chí Myanmar và nước ngoài đều không được vào. Duy nhất 1 phóng viên Quân đội nhân dân Việt Nam cùng 2 cán bộ nữa của đoàn Việt Nam được vào. Đại tá Đào Văn Duy, Tuỳ viên Quốc phòng Việt Nam tại Myanmar trực tiếp cầm điện thoại quay cho mình tác nghiệp. Điều quan trọng hơn cả là trong thời khắc quan trọng, mình được có mặt, được đưa thông tin tới mọi người, điều bất kỳ phóng viên nào cũng mong đợi". - Trích Nhật ký Thiếu tá Nguyễn Nam Hùng, Phóng viên QPVN. Hành động trên cho thấy uy tín của Việt Nam và niềm tin của của các bạn Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar dành cho những người lính Bộ đội Cụ Hồ, những người đang cứu hộ với tinh thần thương người như thể thương thân tại Myanmar. Những kỳ tích như hôm nay không phải dễ thấy, nhưng chúng ta luôn giữ niềm tin và hy vọng, những ngày sắp tới sẽ tiếp tục có nhiều hơn nữa những câu chuyện giải cứu nạn nhân còn sống sót tại đất nước Myanmar. Trên vùng đất đổ nát, hoa vẫn nở...

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI DŨNG CẢM HY SINH ĐỂ ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI DŨNG CẢM HY SINH ĐỂ ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN Lịch sử 95 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh: Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tiên phong, gương mẫu, sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì Đảng, vì đất nước, vì nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện Đảng ta khẳng định: Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Người chỉ ra những tiêu chuẩn của người đảng viên: 1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. 2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài. 3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng. 4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng. 5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng. 6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình. Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng. Trong giai đoạn đổi mới vừa qua, Đảng ta và cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục xác định Đảng lãnh đạo cách mạng bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII cũng chú trọng yêu cầu gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, xác định đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Mới đây, ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị khóa XIII, ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, trong đó có quy định đảng viên nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Quy định còn chỉ ra trách nhiệm đảng viên không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; cán bộ, đảng viên phải bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân, của tổ chức đảng và thực hiện văn hóa từ chức khi bản thân không đủ khả năng, uy tín. Ngược lại với thực tế trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách chống phá vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên của Đảng. Trên không gian mạng, Việt Tân đưa ra nhiều thông tin bịa đặt, sai trái về đội ngũ cán bộ, đảng viên; chúng trắng trợn tuyên truyền đảng viên đều thiếu gương mẫu, chỉ lo tham nhũng, tiêu cực, coi thường pháp luật; chúng kích động, kêu gọi: “Tổ quốc và đảng là hai khái niệm khác nhau. Tổ quốc thì bất biến còn đảng sẽ đến lúc tiêu vong. Yêu nước không cần yêu đảng”… Thực tế gần 95 năm Đảng Cộng sản Việt Nam trưởng thành, phát triển, lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác đã bác bỏ những thông tin chống phá trên. Trong kháng chiến cũng như trong hòa bình, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phát huy tính tiên phong, gương mẫu, có tác dụng lôi cuốn, hướng dẫn nhân dân noi theo. Nhiều cán bộ, đảng viên đã dũng cảm hy sinh lợi ích riêng, thậm chí hy sinh tính mạng của mình vì sự nghiệp của Đảng, độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Chỉ tính trong giai đoạn giai đoạn cách mạng 1930-1945 đã có nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có 4 đồng chí Tổng Bí thư của Đảng là Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Vào thời kỳ đổi mới đất nước, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục được duy trì, phát triển nghiêm túc và hiệu quả. Tiêu biểu như những cán bộ, đảng viên lực lượng vũ trang nhân dân đã luôn kiên cường chiến đấu phòng, chống thiên tai bão lũ, dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu thời bình, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ca ngợi, đánh giá cao. Bên cạnh đó, đối với một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng, cơ quan pháp luật đã kiên quyết xử lý nghiêm minh, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, góp phần củng cố, tăng cường sự tin tưởng, đoàn kết nhất trí giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ. Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã và đang đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, tiên phong, gương mẫu để cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển. Trong mọi nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn rất cần sự gương mẫu, cống hiến, hy sinh của cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ: Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu thực hiện nhiệm vụ trên tinh thần đặt lợi ích chung lên trên hết, mạnh dạn đổi mới, sáng tạo, đột phá, dũng cảm hy sinh để đất nước phát triển”. Tổng Bí thư cũng chỉ rõ: Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự học hỏi để “nâng mình lên” để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của đất nước, nếu không đáp ứng được thì tự nguyện đứng sang một bên để người khác làm. Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm đã được toàn Đảng, các cấp, các ngành, các địa phương đồng tình, ủng hộ, trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì lợi ích chung. Ngày 09-12-2024, tại phiên khai mạc kỳ họp Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy cũng phát biểu rất thẳng thắn, cụ thể, tâm huyết: “Đối với cá nhân sẽ có tác động ít nhiều. Nhưng chúng ta là đảng viên, là cán bộ, công chức Nhà nước thì mục đích, nhiệm vụ của chúng ta là phục vụ cho nhân dân. Nếu có đồng chí phải rời vị trí của mình để đất nước phát triển cũng là điều có ý nghĩa, không có gì phải trăn trở”. Với nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với sự tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, chúng ta tin tưởng và kỳ vọng cán bộ, đảng viên của Đảng sẽ thực hiện nghiêm túc Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. /.

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2025

Cảnh giác trước chất lượng, công dụng của hàng hóa được bán, quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội.

Trong thời đại phát triển của các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội, thói quen tiêu dùng của đại đa số người dân đang dần thay đổi, mua sắm online có thể mua sắm đa dạng mặt hàng, dễ dàng lựa chọn và tiết kiệm thời gian. Tuy nhiên nguồn gốc, chất lượng hàng hóa, công dụng của các sản phẩm vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi.

Cách đây vài năm khi người dùng mới tiếp cận với hoạt động thương mại qua Internet hoặc kinh doanh qua các nền tảng mạng xã hội, thông thường người mua hàng phải chuyển tiền sản phẩm trước khi nhận hàng. Các câu truyện về việc mua hàng quảng cáo một đằng đến khi nhận hàng chất lượng một nẻo, rồi muôn vàn các hình thức lừa đảo qua mạng phát sinh khiến người dùng có phần e dè và cảnh giác vào các sản phẩm mình mua.

Đến khi các nền tảng thương mại điện tử xuất hiện sau đó là các gian hàng mở trên nền tảng mạng xã hội xuất hiện với nhiều lựa chọn cũng như các đánh giá của người dùng thì hoạt động thương mại điện tử ngày càng tăng trưởng mạnh với các hình thức Livestream bán hàng của các người nổi tiếng, người có ảnh hưởng và các công ty, doanh nghiệp thì người tiêu dùng có phần cởi mở và mua sắm nhiều hơn. Có thể nói rằng mua sắm qua thương mại điện tử khiến người dùng mua được những gì mình cần với giá cả cạnh tranh, sản phẩm đa dạng, tự do trong hoạt động tiêu dùng cũng như tạo điều kiện để người sản xuất, hộ kinh doanh dễ dàng tiếp cận đến khách hàng phục vụ hoạt động sản xuất.

Tuy nhiên ngoài các lợi ích thì những vấn đề liên quan đến nguồn gốc, chất lượng sản phẩm cũng như công dụng thực tế có phần chưa được đảm bảo, chưa có chế tài có thể quản lý chặt chẽ các vấn đề này. Vừa qua dư luận đặc biệt quan tâm đến việc Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch sẽ xử phạt hành chính đối với Phạm Quang Linh (thường được biết đến với tên Quang Linh Vlogs) và Nguyễn Thị Thái Hằng (Hằng Du Mục) vì quảng cáo không đúng đối với sản phẩm Kẹo rau củ Kera. Được biết sản phẩm Kẹo rau củ Kera chỉ là sản phẩm bổ sung chất dinh dưỡng từ rau hoàn toàn không thể thay thế rau xanh rong các bữa ăn hàng ngày tuy nhiên lại được quảng cáo và cung cấp thông tin sản phẩm không đúng sự thật gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
Theo thông tin chính thức từ Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, đã lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính với Phạm Quang Linh và Nguyễn Thị Thái Hằng về hành vi quảng cáo không đúng, gây nhầm lẫn về chất lượng đã được công bố. Nguyễn Thúc Thủy tiên (người được mời tham gia các buổi quảng cáo) bị nhắc nhở chú ý hơn trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật về quảng cáo và các quy định cung cấp thông tin trên mạng theo Nghị định 147.

Tuy Cục chưa đưa ra mức phạt cụ thể, nhưng cho biết quyết định xử phạt sẽ sớm được đưa ra. Theo khoản 5, điều 34, Nghị định 38, về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Văn hoá và Quảng cáo, hành vi quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn, bị phạt tiền từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng. Một số trường hợp đặc biệt như quảng cáo mỹ phẩm hoặc thực phẩm chức năng gây hiểu lầm có mức phạt thấp hơn, dao động từ 20 - 40 triệu đồng. Nếu vi phạm do tổ chức thực hiện, mức phạt sẽ gấp đôi. Ngoài ra các hành vi vi phạm còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và xử phạt bổ sung.

Đây mới là vấn đề về quảng cáo và cung cấp thông tin so với công dụng thực tế của sản phẩm, còn vấn đề về nguồn gốc, chất lượng sản phẩm còn chưa được đề cập tới. Không chỉ riêng sản phẩm Kẹo rau củ nói trên mà hầu hết các sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội thường không đề cập tới nhà sản xuất, chất lượng được quảng cáo mang tính quảng cáo công dụng và mang tính chất cá thể không có nhiều sự so sánh; đánh giá của người dùng sau khi nhận sản phẩm là chủ yếu, còn đánh giá sau khi sử dụng một thời gian không có nhiều.
Do đó khi sử dụng hoạt động thương mại điện tử người tiêu dùng cần cân nhắc kỹ lưỡng khi lựa chọn các sản phẩm về sử dụng đặc biệt là các sản phẩm chăm sóc sức khỏe hoặc sản phẩm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Đối với người quảng cáo, cung cấp thông tin về các sản phẩm bán cho người dùng cần phải cung cấp chính xác tác dụng của sản phẩm. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm đề ra cơ chế hiệu quả để bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của người tiêu dùng khi sử dụng các sản phẩm từ các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội./.

Sưu tầm