Thứ Hai, 14 tháng 4, 2025

Tỏa sáng phẩm chất thầy thuốc chiến sĩ trong công tác cứu hộ

 Từ ngày 30-3 đến 8-4, 30 cán bộ, nhân viên quân y cùng với các lực lượng của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã vượt lên gian khó, hiểm nguy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cứu trợ thảm họa động đất tại Myanmar.

Sáng 9-4, tại sở chỉ huy của Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật, chúng tôi gặp lại đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y sau gần 10 ngày thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar. Khuôn mặt ai cũng sạm đen vì nắng gió và thiếu ngủ. Trung tá Lại Bá Thành (Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y), Đội trưởng Đội Quân y cho biết, thời tiết tại Myanmar rất khắc nghiệt, nhiệt độ trung bình trong ngày hơn 40oC. Các lực lượng của QĐND Việt Nam làm việc với cường độ cao, tranh thủ từng giờ, từng phút để tìm kiếm nạn nhân sống sót. Nhiều hôm, bộ đội phải làm việc tại hiện trường từ sáng sớm đến hơn 20 giờ mới nghỉ.

Một thách thức khác là môi trường làm việc ô nhiễm do thi thể nạn nhân phân hủy, rác thải bốc lên trong điều kiện thời tiết nắng nóng và khói bụi. Việc chống say nắng, say nóng, giữ sức khỏe cho bộ đội gặp nhiều khó khăn. Lực lượng quân y phối hợp chặt chẽ với bộ đội công binh, biên phòng tổ chức khử mùi, khử khuẩn, hỗ trợ đưa thi thể nạn nhân ra ngoài, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn. Trước đó, một số đoàn cứu hộ nước ngoài đã đến những khu vực này nhưng đều rời đi do tính chất phức tạp, nguy hiểm. Trung tá Lại Bá Thành bộc bạch: “Ngay khi đến thành phố Naypyidaw, chứng kiến khung cảnh hoang tàn, đổ nát và nỗi đau của những người sống sót khi mất đi người thân, chúng tôi lập tức bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ cứu hộ. Chúng tôi xác định đây là mệnh lệnh từ trái tim, là phẩm chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ; triển khai tìm kiếm nạn nhân như tìm kiếm chính người thân của mình”.

Tại Naypyidaw, đội quân y chia làm hai bộ phận: 15 đồng chí làm công tác bảo đảm hậu cần cho lực lượng làm công tác cứu trợ; 15 đồng chí ra hiện trường, tổ chức thành 3 tổ quân y, trong đó một tổ khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, hai tổ còn lại cùng lực lượng biên phòng, công binh làm công tác cứu chữa bộ đội và nhân dân. Khi phát hiện nạn nhân, tiến hành các biện pháp khử mùi, khử khuẩn và đưa thi thể ra ngoài.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, đội quân y luôn chủ động thực hiện công tác trinh sát quân y, bảo đảm an toàn cho lực lượng cứu hộ, khử khuẩn môi trường, đóng gói thi thể theo đúng quy định, khử trùng cho lực lượng cứu hộ của ta và lực lượng nước bạn sau khi đưa thi thể nạn nhân ra ngoài; bàn giao nhiều tài sản có giá trị cho gia đình các nạn nhân và chính quyền địa phương.

Lực lượng quân y của Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Quân y 354, Bệnh viện Quân y 105 (Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật) đã phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ; luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng và hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các đồng chí phụ trách hậu cần chăm lo chu đáo cho đoàn công tác; chăm sóc sức khỏe, bảo đảm tốt vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đội quân y cũng thực hiện tốt các hoạt động đối ngoại, giao lưu, tiếp xúc và chia sẻ kinh nghiệm cứu hộ, cứu nạn với cơ quan chuyên môn của các nước. Các thầy thuốc còn tặng chính quyền và nhân dân Myanmar nhiều loại thuốc, trang bị y tế và hậu cần có giá trị cao. Tổ chức khám và phát thuốc cho hơn 200 người dân trong bối cảnh các bệnh viện ở thủ đô của Myanmar bị tàn phá, thiếu thuốc men, trang thiết bị y tế. Việc làm của các thầy thuốc chiến sĩ đã để lại tình cảm tốt đẹp, sự trân trọng của người dân và chính quyền các cấp; đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế, truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam, phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Ông cha ta đánh giặc: Dũng cảm gỡ bộc phá để đoàn quân tiến vào Sài Gòn

 Cuối tháng 4-1975, Trung đội phó Nguyễn Hữu Toàn thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 17, Sư đoàn 390 (trước năm 1973 là Sư đoàn 320B) cùng 12 chiến sĩ công binh được tăng cường cho Đại đội 3 (Lữ đoàn Tăng thiết giáp 202, Quân đoàn 1), nhận nhiệm vụ tiến hành khắc phục vật cản, dò gỡ bom mìn trên đường tiến công.

Sau khi tiêu diệt quân địch ở quận lỵ Lái Thiêu, đơn vị tiếp tục cơ động tiến vào Sài Gòn, nhưng đến gần cầu Bình Triệu thì gặp phải sự kháng cự quyết liệt của địch. Từ phía Nam cầu, địch nã pháo vào đội hình khiến một số đồng chí của đơn vị hy sinh, trong đó có Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc.

Khi pháo địch thưa dần, đơn vị tiếp tục hành quân. Đội hình vừa đến đầu cầu thì đồng chí Nguyễn Hữu Toàn thông báo lệnh cấp trên: Địch gài bộc phá ở giữa cầu, bộ phận công binh tổ chức khắc phục. Nhận lệnh, Trung đội phó Nguyễn Hữu Toàn cùng hai chiến sĩ nhanh chóng cơ động lên cầu và thấy ở trụ giữa (cách mặt nước hơn 2m) địch gài thùng bộc phá (to như thùng lương khô 702). Tình thế lúc này vô cùng nguy hiểm bởi nếu địch phát hiện, chúng sẽ cho nổ bộc phá làm sập cầu, cánh quân của ta sẽ không thể tiến vào Sài Gòn theo kế hoạch.

Không để đơn vị chậm bước tiến trong thời điểm lịch sử của dân tộc, đồng chí Nguyễn Hữu Toàn theo trụ cầu xuống gầm cầu, gấp rút tháo kíp nổ, vô hiệu hóa quả bộc phá và nhanh chóng lên báo cáo với chỉ huy. Nhưng để bảo đảm an toàn tuyệt đối, chỉ huy đơn vị ra lệnh phải đưa quả bộc phá lên bằng được. Mặc cho đạn pháo kẻ thù hướng về đội hình đơn vị, đồng chí Nguyễn Hữu Toàn tiếp tục xuống trụ cầu, dùng dây buộc quả bộc phá và ra hiệu cho hai đồng chí kéo lên. Toàn bộ đội hình nhanh chóng vượt qua sông. Cánh quân chia làm nhiều mũi, bộ phận công binh do đồng chí Nguyễn Hữu Toàn chỉ huy theo lực lượng tăng thiết giáp tiến thẳng vào sở chỉ huy thiết giáp ngụy ở ngã 5 Gò Vấp, Sài Gòn.

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Nhìn cảnh binh lính ngụy cởi trần, mặc quần đùi lầm lũi cúi đầu trên đường phố, còn nhân dân mang ảnh Bác Hồ, cầm cờ giải phóng đổ ra hai bên đường vẫy chào Quân giải phóng, Trung đội phó Nguyễn Hữu Toàn và đồng đội không cầm được nước mắt trong thời điểm lịch sử của dân tộc. Sài Gòn-Gia Định và miền Nam được giải phóng, non sông thu về một mối.

Tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch.

1. Những năm qua, lợi dụng tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động cố tình bịa đặt, tung tin xuyên tạc sai sự thật về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng: “Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ còn là hình thức, là vỏ bọc bên ngoài”.

Nguy hiểm hơn, trước thềm đại hội đảng các cấp hay vào mỗi thời điểm có quyết định nhân sự quan trọng của Đảng, Nhà nước, họ lại tung tin thất thiệt, quy chụp nhận định không khách quan về đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng hòng gây tâm lý bất ổn, hoang mang trong xã hội. Họ rêu rao rằng, thực chất của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy chính trị ở Việt Nam là quá trình “đấu đá nội bộ”, “giành giật quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế giữa các phe phái”; còn việc miễn nhiệm, thôi chức của một số cán bộ lãnh đạo cấp cao chỉ là “bình phong” của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm che giấu những rạn nứt trong nội bộ Đảng.

Những luận điệu đó là bịa đặt với ý đồ chính trị hắc ám nhằm gây phân rã tư tưởng trong nội bộ Đảng cũng như gây sự hoài nghi, mâu thuẫn giữa Đảng với nhân dân, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

2. Quá trình ra đời, xây dựng, phát triển, trưởng thành của Đảng ta cũng như thực tiễn lãnh đạo cách mạng 95 năm qua đã chỉ ra, đoàn kết thống nhất là gốc rễ cội nguồn sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kế thừa các giá trị tốt đẹp của truyền thống đoàn kết dân tộc, quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân vào xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng xây dựng và bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người khẳng định: Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Đoàn kết, thống nhất là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động quan trọng hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bất cứ một tổ chức nào, đoàn kết thống nhất đều là nền tảng, cội nguồn sức mạnh của tổ chức đó. Học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng đã chỉ rõ đoàn kết, thống nhất là một nguyên lý, nguyên tắc xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, lớn lên và trưởng thành trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ của Đảng là những người xuất thân từ nhiều thành phần, giai cấp và tầng lớp xã hội, trong đó chủ yếu là công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, nhưng tất cả đều có chung một lý tưởng, mục tiêu và lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng ta không có lợi ích nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, dù tình hình phong trào cộng sản thế giới có sự biến động, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhưng Đảng ta vẫn kiên trì, kiên định giữ vững nguyên tắc đoàn kết thống nhất, coi đây là vấn đề sống còn của cách mạng, của chế độ; là cơ sở, nền tảng, là hạt nhân để đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và là điều kiện để đoàn kết toàn dân, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đảng ta luôn thấu suốt đoàn kết thống nhất là một nguyên tắc cơ bản có vị trí quan trọng hàng đầu trong tổ chức và hoạt động của Đảng; đồng thời, coi sự chia rẽ trong nội bộ Đảng là tội ác, là kẻ thù lớn nhất đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của Đảng.

3. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976) đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng ta nhiều lần khẳng định, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không phải “ngày một, ngày hai” mà đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, nhân dân cũng như bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền “tự soi, tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Đây cũng là cơ sở để giúp các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị xây dựng ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế cho thấy, dù phải xử lý kỷ luật một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật, nhưng truyền thống và tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng ta vẫn luôn bảo đảm, giữ vững. Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ” như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”.

Trên cơ sở ban hành Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”, Đảng đã có những điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy định về miễn nhiệm và từ chức. Quy định này góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng về vấn đề miễn nhiệm, từ chức thành các quy định cụ thể; đồng thời là cơ sở để thực hiện văn hóa ứng xử trong miễn nhiệm, từ chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phù hợp với mong muốn, kỳ vọng chính đáng của nhân dân.

Việc cho thôi chức đối với một số cán bộ lãnh đạo cấp cao thời gian qua là bước tiến rất lớn, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ được triển khai sâu rộng, đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến địa phương; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình “xây” kết hợp với “chống”, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, khi cán bộ có hạn chế, khuyết điểm và thấy năng lực công tác của mình không còn phù hợp với vị trí công tác đảm nhiệm thì cán bộ mạnh dạn, tự nguyện từ chức cũng là việc bình thường, hợp lý, hợp pháp, hợp lòng người. Chính vì vậy, những luận điệu xuyên tạc về vấn đề này hòng phủ nhận nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng càng chứng tỏ ý đồ hắc ám của những kẻ chống phá.

Trong bất luận hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn kiên trì, kiên định với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó đặc biệt là nguyên tắc đoàn kết thống nhất. Hiện nay, để thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta và tổ chức đảng các cấp luôn thấu suốt phương châm nhất quán là: “Tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Đó chính là một trong những cơ sở, động lực để góp phần thực hiện hiệu quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, qua đó tạo ra luồng sinh khí mới trong đời sống tinh thần xã hội để huy động, nhân lên sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Trải qua 95 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường, dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch.

Sắt son một tình yêu biên giới

 Đứng chân trên địa bàn chiến lược Bắc Tây Nguyên, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Gia Lai được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đoạn biên giới dài hơn 80km, tiếp giáp với tỉnh Ratanakiri (Campuchia). Trải qua 60 năm chiến đấu, xây dựng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ BĐBP tỉnh Gia Lai luôn sắt son một tình yêu biên giới, lập được nhiều chiến công, nhiều thành tích rất đáng tự hào.

“Sao xanh” trong thời lửa đạn

Để xây dựng và phát triển lực lượng An ninh vũ trang phục vụ chiến đấu trên chiến trường miền Nam nói chung, Mặt trận B3 (Tây Nguyên) nói riêng, ngày 15-4-1965, Bộ tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (nay là BĐBP) đã điều động một số cán bộ dày dạn kinh nghiệm từ các tỉnh phía Bắc vào chi viện cho Gia Lai, đánh dấu sự ra đời của BĐBP tỉnh Gia Lai.

Ngay sau khi được tăng cường lực lượng, sắp xếp kiện toàn, tổ chức, An ninh vũ trang Gia Lai đã bám sát địa bàn, dựa vào nhân dân, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo, bất ngờ tiến hành các hoạt động diệt ác, trừ gian, giữ dân, phá kìm, giành quyền làm chủ, góp phần cùng quân và dân cả nước làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến tranh thâm độc của kẻ thù. Trong 10 năm đầu thành lập, An ninh vũ trang Gia Lai đã tham gia chiến đấu hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt 562 tên địch, làm bị thương 314 tên, bắt sống 211 tên, góp phần cùng cả nước lập nên Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đất nước được giải phóng nhưng mầm họa xâm lăng và những mưu đồ chống phá cách mạng vẫn hiện hữu trên khắp các địa bàn từ biên giới vào nội địa. Đặc biệt, tập đoàn diệt chủng Khmer Đỏ liên tục có những hành động gây hấn, tập kích, lấn chiếm, sát hại thường dân vô tội, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Cùng với đó, đám tàn quân chế độ ngụy quyền và bọn phản động FULRO được sự "hà hơi tiếp sức" của các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá. Trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Khmer Đỏ, những “ngôi sao xanh” đã hiện thực hóa “lời thề giữ đất” bằng những trận quyết tử trong vòng vây quân thù, lập nên những chiến công hiển hách; đồng thời phối hợp với các lực lượng truy quét, phát hiện, bắt giữ 200 tên ác ôn, ngụy quân, ngụy quyền không chịu ra trình diện chính quyền cách mạng, tịch thu 115 khẩu súng các loại cùng nhiều phương tiện, tài liệu quan trọng khác.

Đồn là nhà, biên giới là quê hương...

60 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ BĐBP tỉnh Gia Lai đã quán triệt, thực hiện triệt để phương châm “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, từng bước nâng cao trình độ, bản lĩnh, khả năng tác chiến, thực hiện nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời báo cáo, tham mưu với Đảng ủy, Bộ tư lệnh BĐBP, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Gia Lai những chủ trương, đối sách về công tác biên phòng và xây dựng BĐBP tỉnh sát thực tế, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. Chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu không ngừng được nâng lên. Tổ chức kiểm soát, quản lý chặt chẽ biên giới, cửa khẩu; chủ động đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, vi phạm pháp luật, thực hiện thành công hàng trăm chuyên án, bắt giữ hàng nghìn đối tượng, qua đó làm sạch địa bàn, giữ vững an ninh chính trị, an ninh biên giới. Đẩy mạnh công tác đối ngoại biên phòng, tích cực tham mưu và trực tiếp thực hiện công tác đối ngoại giữa chính quyền và nhân dân hai bên biên giới, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Trong những năm xảy ra đại dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ BĐBP tỉnh Gia Lai đã đoàn kết một lòng, khắc phục vượt khó, tổ chức 34 chốt và 12 tổ kiểm soát lưu động, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng thực hiện thắng lợi “nhiệm vụ kép”, vừa quản lý, bảo vệ biên giới, vừa tham gia phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả, được cấp ủy, chính quyền địa phương và quần chúng nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Triển khai nhiều chương trình, dự án, mô hình, phần việc, góp phần xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới, nổi bật như: “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng”, “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới”, “Nhà đoàn kết hữu nghị”, “Bò giống cho người nghèo”, “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết đoàn kết, xuân yêu thương”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Bếp ăn tình thương”, Câu lạc bộ “Nói không với tảo hôn”, lớp học xóa mù chữ, trình diễn lúa nước, xóa nhà tạm, nhà dột nát. Chỉ tính từ năm 2018 đến nay, BĐBP tỉnh Gia Lai đã huy động gần 2,148 tỷ đồng xây dựng 21 căn nhà "Mái ấm biên cương"; hơn 1,850 tỷ đồng để khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hơn 8.300 lượt người dân; hơn 13.848 ngày công giúp dân phát triển kinh tế; hỗ trợ kinh phí thường xuyên cho 52 học sinh, nhận nuôi 11 cháu mồ côi và tổ chức cho 14 cháu hoàn cảnh khó khăn ăn tại “Bếp ăn tình thương”

PHÁT HUY SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ - TINH THẦN CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 VÀO SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Đại thắng mùa Xuân 1975 là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Một trong những nhân tố có vai trò rất to lớn, quyết định chiến thắng hào hùng này là nhân tố chính trị - tinh thần. Đó không chỉ là sự hội tụ sức mạnh trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ mà là sự phát huy đến đỉnh cao sức mạnh của cả dân tộc được hun đúc trong hàng nghìn năm lịch sử.
Truyền thống yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc
Cội nguồn lịch sử bền vững của sức mạnh chính trị - tinh thần dân tộc ta để làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, được bắt nguồn từ truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam anh hùng, được hun đúc và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước, giữ nước. Từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cứu nước, gắn kết độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có được nguồn sinh lực mới, phát triển từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống lên chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa. Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được bồi đắp và phát huy cao độ, là động lực chính trị - tinh thần của dân tộc ta, huy động toàn bộ sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại để áp đảo và đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã tiếp tục bồi đắp, tôi luyện, thử thách, kiểm nghiệm để chứng minh và khẳng định sức mạnh to lớn, có ý nghĩa quyết định của nhân tố chính trị - tinh thần của dân tộc Việt Nam trong dựng nước và giữ nước. Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân, dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có cơ sở chính tri - xã hội vững chắc, đó là sự lãnh đạo của Đảng, là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với Đảng, với nhân dân. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân và Quân đội ta đã trải qua những năm tháng vô cùng ác liệt, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đương đầu với thế lực xâm lược điển hình về tính chất hung bạo và sự hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự cũng như về vũ khí, trang bị kỹ thuật và phương tiện chiến tranh mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng, phát huy cao độ sức mạnh chính trị - tinh thần để tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, tạo nên sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực, đủ sức áp đảo và đánh bại kẻ thù xâm lược, giành toàn thắng trong mùa Xuân 1975.
Đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã phân tích toàn diện, sâu sắc tình hình thế giới và khu vực, xu thế phát triển của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam để xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối cách mạng Việt Nam.
Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân và toàn quân ta giương cao cùng lúc hai ngọn cờ: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp thực hiện thành công hai chiến lược cách mạng với hai loại quy luật: Quy luật của chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc và quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng chiến tranh xâm lược.
Đây là sự vận dụng, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nhờ có đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo đó, chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế xã hội chủ nghĩa đã tạo ra sức mạnh chính trị - tinh thần vô cùng to lớn của Quân đội và nhân dân ta, để chúng làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.
Sự kết hợp hài hòa, sáng tạo giữa sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
Vào thời điểm đó, mặc dù các yếu tố của hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa bước đầu mới được xây dựng, nhưng đã thể hiện rõ sức sống và tính ưu việt, tiến bộ của nó, tạo nên những thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là động lực về chính trị - tinh thần rất to lớn của nhân dân và Quân đội ta. Chính tính ưu việt và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội đã bảo đảm cho miền Bắc không ngừng phát huy vai trò quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.
Phát huy sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng ta không những động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân, vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn về tinh thần và vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân và các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới, hội tụ được sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại để đánh bại kẻ thù xâm lược, giành toàn thắng.
Sức mạnh chính trị - tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc đã đánh bại hai cuộc chiến tranh leo thang phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, mà tiêu biểu là trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, đập tan cuồng vọng của kẻ thù hòng sử dụng ưu thế sức mạnh của vũ khí, bom, đạn hòng “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá”, bảo vệ vững chắc hậu phương ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với nước bạn Lào và Campuchia, thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương đến toàn thắng.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhân dân ta còn nhận được tinh thần cổ vũ, tiếp sức to lớn từ sự phối hợp đoàn kết chiến đấu của quân và dân Lào, Campuchia anh em, sự giúp đỡ tích cực, có hiệu quả của nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản và nhân dân tiến bộ Mỹ đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta, tạo ra được sức mạnh tổng hợp trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
Quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta xuất phát từ vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc giành độc lập, tự do cho nhân dân. Đó là mục tiêu của cuộc chiến tranh chính nghĩa, cho nên đã hội tụ đến đỉnh điểm sức mạnh chính trị - tinh thần vô cùng to lớn để cán bộ, chiến sĩ quân đội và nhân dân cả nước vượt qua mọi khó khăn, gian khổ nhằm thực hiện mục tiêu chính nghĩa ấy. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. Vì thế, ngay từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người đã chỉ rõ: “Lúc đầu, địch mạnh hơn ta gấp trăm gấp ngàn lần về vật chất. Nhưng về tinh thần và chính trị thì ta mạnh hơn địch gấp trăm gấp ngàn lần”. Và thực tế, chính trị - tinh thần của quân, dân ta không ngừng lớn mạnh và luôn được phát huy cao độ, tạo ra thế và lực, nhằm chiếm ưu thế tuyệt đối trong suốt cuộc kháng chiến, trở thành sức mạnh vô địch áp đảo kẻ thù để giành thắng lợi hoàn toàn trong Đại thắng mùa Xuân 1975.
Chúng ta có ưu thế của những con người chiến đấu vì mục tiêu cao cả, mục tiêu chính nghĩa giành nền độc lập, tự do cho toàn dân tộc; ưu thế về tinh thần, quyết tâm chiến đấu đầy khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đúng như Đảng ta ta khẳng định: “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta…, với nghị lực chiến đấu phi thường và sức sáng tạo vô tận của nhân dân ta, với những tinh hoa trong truyền thống bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam ta”.
Phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần để vững bước vào kỷ nguyên mới
Đất nước ta đang trên con đường tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, nhiệm vụ bảo vệ độc lập chủ quyền, bảo đảm an ninh quốc gia còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh chính trị - tinh thần để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đảng ta đã xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”. Mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo tư duy mới của Đảng là một thể thống nhất, không tách rời; bảo vệ Tổ quốc với tư cách là Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cả về mặt lịch sử địa lý tự nhiên và mặt chính trị - xã hội.
Hiện nay, chiến lược và phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, phản động đã có sự thay đổi với nhiều chiêu thức và âm mưu rất thâm độc. Trong đó, phương thức phi vũ trang được chúng triệt để lợi dụng, với các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để can thiệp vào nội bộ nước ta. Đây thực chất là các thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, và khi có thời cơ thì có thể phát động chiến tranh xâm lược.
Vì vậy, chúng ta cần tiếp tục phát huy sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần để tự tin, vững bước vào kỷ nguyên mới. Bằng nhiều biện pháp khác nhau làm cho toàn dân, toàn quân có nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về sự đổi mới trong tư duy chiến lược bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta. Mỗi người dân, trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, với những phương tiện mà khoa học - công nghệ đem lại, hoàn toàn có thể và cần phải chủ động, tự giác tham gia bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cơ quan, đơn vị và địa phương mình bằng những việc làm và hình thức phù hợp với chức năng của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như chức trách, nghề nghiệp và phương tiện của mỗi người dân. Như thế, sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bảo vệ Tổ quốc từ cơ sở./.
Báo QĐND

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2025

Một số yêu cầu đối với công tác lãnh đạo của Đảng về đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

 


Một là, phải không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; giúp họ nhận diện sao cho trúng, cho đúng đối tác, đối tượng, bạn, thù; bản chất sự điều chỉnh âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các tổ chức, lực lượng thù địch, cơ hội, xét lại trong tình hình mới và tính chất nguy hiểm, tác hại của nó đối với cách mạng Việt Nam. Muốn vậy, Đảng phải có biện pháp hữu hieuj để lãnh đạo cuộc đấu tranh đạt hiệu quả: bảo vệ được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ của Đảng là bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào đều phải kiên định, vững vàng; tỉnh táo, sáng suốt phân biệt rõ ràng “phải trái, trắng đen”; đâu là nhận thức lệch lạc, không đúng, không đầy đủ mà sinh ra quan điểm sai trái; đâu là sự cố tình chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, bọn cơ hội, xét lại; đâu là những yếu kém, khuyết điểm và hạn chế của ta, của cán bộ, đảng viên; đâu là sự chống phá “giấu mặt”, “trá hình” và công khai của các thế lực thù địch…Trong tình hình mới phải tìm ra phương cách tối ưu nhất để quản lý chặt bọn cầm đầu, chủ mưu; có kế hoạch chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của địch từ trong “trứng nước”; không để xảy ra hiện tượng “tả khuynh” và hữu khuynh; không để đất nước rơi vào bị động, bất ngờ.

Hai là, phải đẩy mạnh nghiên cứu dự báonắm chắc tình hình địch - ta; dự báo chính xác những nơi có thể xảy ra “điểm nóng”, “vùng nóng”; tìm được biện pháp tối ưu trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với kiên định ý chí tiến công; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, làm sao cho thực lực của ta ngày càng mạnh lên; biết lấy xây vững mạnh là chính, là quyết định, còn đấu tranh chống là rất quan trọng. Đây là yêu cầu khách quan đang đặt ra cấp bách đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh, kết hợp giữa “xây” và “chống” gắn với khắc phục các nguy cơ khác đe dọa cách mạng Việt Nam sao cho hiệu quả.

Ba là, phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang. Yêu cầu này cần phải được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và quan hệ tác động qua lại giữa nó với “diễn biến hòa bình”; “diễn biến hòa bình” là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “kết quả lôgíc”, hệ quả trực tiếp của “diễn biến hòa bình”. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” chỉ đạt kết quả khi gắn liền với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, phải thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

          N1.

 

Phòng chống "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới

 


Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm: 1) Phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; 2) Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; 3) Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để, xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng… Qua đó, tác động “dương Đông kích Tây” làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và kích động xã hội nảy sinh quan điểm tùy tiện, phản biện vô nguyên tắc, phản đối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội...

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là:

Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân.

Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề.

Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm.

Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm.

Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử./.

N1

 

Phát huy vai trò đấu tranh trên không gian mạng

 


Có thể khẳng định hoạt động của lực lượng nòng cốt đấu tranh trên không gian mạng đã góp phần quan trọng trong việc phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi sự tác động tiêu cực, tư tưởng xấu xâm nhập vào đơn vị. Từ đó góp phần củng cố, giữ vững và xây dựng nền tảng tư tưởng chính trị vững chắc, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang.

Bám sát các hoạt động thông tin trên không gian mạng, khi phát hiện có tin, bài, ảnh, video clip nội dung xấu độc, theo chỉ đạo, định hướng của cấp trên, lực lượng nòng cốt trên đã vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh như: Đấu tranh công khai, trực diện; đấu tranh ẩn danh; đấu tranh kỹ thuật; chia sẻ tin, bài, ảnh, video clip có nội dung tích cực trên mạng mạng xã hội. Hình thức đấu tranh chủ yếu thông qua các bình luận, chia sẻ những bài viết có nội dung tích cực, viết bài phản bác lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam.

Các thành viên thuộc lực lượng đấu tranh trên không gian mạng đã chủ động đăng tin, bài, bình luận, chia sẻ những thông tin tích cực, thể hiện quan điểm, thái độ đấu tranh kiên quyết đối với các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đảm bảo an toàn, không để lộ, lọt thông tin bí mật quân sự.

Sau Đại hội XIII của Đảng, chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, dự báo các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục tăng cường hoạt động tấn công chia rẽ nội bộ, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng các thủ đoạn, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là trên Internet, mạng xã hội.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả trong nhận diện, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần tập trung chỉ đạo, định hướng các cơ quan, đơn vị tích cực chia sẻ, lan tỏa các tin, bài về những thành tựu sau hơn 30 năm đổi mới.

Chủ động lan tỏa, chia sẻ ngân hàng dữ liệu thông tin phục vụ công tác truyền thông tích cực để khẳng định vai trò nòng cốt, đi đầu của Quân đội tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội trên Internet, mạng xã hội.

          N1

Tăng cường công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng

 


Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng Internet, các mạng xã hội toàn cầu,... đã tạo điều kiện để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để tăng cường các thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng lợi dụng các sự kiện chính trị như: Công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng; công tác phòng, chống tham nhũng; các vụ việc nhạy cảm, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm; công tác phòng, chống Covid-19; vấn đề Biển Đông, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo… để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, công kích, hạ thấp uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng...

Trong hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, việc tuyên truyền xuyên tạc, đăng tải các thông tin xấu độc trên không gian mạng là hoạt động phổ biến nhất hiện nay. Với đặc tính lan tỏa nhanh, mạng Internet đang là phương tiện nguy hiểm nhất, có khả năng mở rộng phạm vi, tác động nhanh nhất, gây tác hại trên diện rộng hơn bất cứ hình thức tuyên truyền nào khác. Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã triệt để lợi dụng đặc tính này và thiết lập hàng nghìn trang web, blog và mạng xã hội cho mục đích tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại nội bộ ta; lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khai thác thông tin trên báo chí chính thống từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo sự thật, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật giả lẫn lộn. Chính vì vậy công tác định hướng trong việc đưa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng đang là đòi hỏi cấp thiết cần phải làm hiện nay.

Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Ban Chỉ đạo 35 tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Thường xuyên quán triệt học tập, nghiên cứu và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng một cách nghiêm túc, đồng bộ; thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân; chủ động nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội; định hướng tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết kịp thời những vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, các vấn đề nảy sinh từ cơ sở nhằm ổn định tình hình, không để phát sinh thành ''điểm nóng'' để các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng xuyên tạc, chống phá; chủ động nắm tình hình địa bàn, kịp thời tuyên truyền thông tin chính thống để định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tăng cường huy động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên thường xuyên chia sẻ, bình luận những thông tin tích cực, đồng thời phản bác các quan điểm sai trái, không đúng sự thật đăng trên các trang mạng xã hội, góp phần định hướng dư luận, làm ổn định tình hình trước những sự kiện, sự việc được nhiều người quan tâm trên mạng xã hội... góp phần tích cực giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh vẫn còn những hạn chế, chưa ngăn chặn được triệt để các thông tin xấu, độc trên không gian mạng. Để tăng cường công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng, trong thời gian tới, Ban Chỉ đạo 35 của tỉnh cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là: Tập trung xây dựng, phát triển lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch từ tỉnh đến cơ sở. Tổ chức kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo 35, nhóm chuyên gia, lực lượng tham mưu giúp việc và đội ngũ cộng tác viên toàn tỉnh... bảo đảm mọi công việc được thực hiện xuyên suốt.

Hai là: Các đồng chí thành viên Nhóm Chuyên gia 35 cần chủ động thực hiện các nhiệm vụ được giao; thường xuyên theo dõi, nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên internet; tích cực viết tin, bài, kịp thời đấu tranh, phản bác, vô hiệu hóa hoặc làm giảm thiểu tác hại của các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, bịa đặt trên internet, mạng xã hội.

Ba là: Lực lượng 35 toàn tỉnh tăng cường phối hợp, tham mưu triển khai thực hiện tốt việc tổ chức kết nối lực lượng; thường xuyên đăng tải, chia sẻ các thông tin chính thống, tích cực trên các phương tiện thông tin truyền thông, internet, mạng xã hội, nhất là đăng tải, chia sẻ những thông tin tích cực, đồng thời huy động lực lượng tham gia fanpage và group “Lạng Sơn 35” của Ban Chỉ đạo 35 cấp tỉnh và các trang, nhóm của cấp mình; tham gia các hoạt động đấu tranh, phản bác có hiệu quả thông tin xấu, độc, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên toàn địa bàn, trước mắt tập trung đấu tranh bảo vệ thành công kết quả Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và công tác chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng…

                                                                                                    N1

Tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng để giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong giai đoạn hiện nay

 


Trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hiện nay, không ít đảng viên có khuynh hướng xa rời chính trị, chạy theo những giá trị vật chất, lợi dụng chức quyền và cương vị công tác để tham nhũng, nhận hối lộ, làm giàu bất chính. Một bộ phận không nhỏ cán bộ sống buông thả, thực dụng, xa hoa, hưởng lạc, coi đồng tiền là trên hết; tình trạng tham nhũng trong cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, trở thành vấn đề nhức nhối của Đảng, của toàn xã hội, làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải coi trọng công tác phòng, chống tham nhũng; xem đây là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng một cách có hiệu quả.

Thứ nhất, bổ sung, hoàn thiện chặt chẽ hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, không tạo ra kẽ hở để cho những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng, lãng phí.

Thứ hai, thực hiện tốt công tác cán bộ. Một mặt, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là gốc của mọi công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Mặt khác, tham nhũng lại chủ yếu do người có chức vụ đã lợi dụng quyền hạn để trục lợi, tham nhũng, diễn ra ở “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp”.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Đây là nhân tố quan trọng bảo đảm thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giữ gìn sự trong sạch về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, góp phần quan trọng để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

Thứ tư, Đảng phải nêu gương. Các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung; khi lợi ích riêng mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết. Đây là nhân tố góp phần tạo nên uy tín của cán bộ, uy tín của Đảng với nhân dân và góp phần bảo đảm vị thế cầm quyền của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nếu Đảng không vững vàng về chính trị, không chặt chẽ về tổ chức, không trong sạch về đạo đức, lối sống thì không thể đủ năng lực, uy tín để lãnh đạo cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, và “muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

          N1