Thứ Ba, 15 tháng 4, 2025

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TINH GỌN BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ!

KỲ 1: NHU CẦU BỨC THIẾT, ĐÒI HỎI KHÁCH QUAN
     Tại sao việc tinh gọn tổ chức bộ máy lại trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay và vì sao người dân ngày càng tin tưởng, kỳ vọng vào quá trình đổi mới này? Những câu hỏi đó đang dần có lời đáp bằng những quyết tâm, quyết sách hòa quyện “ý Đảng, lòng dân”, nhằm giải quyết những bức thiết đặt ra từ thực tiễn.
Một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV là tìm cách xử lý những “điểm nghẽn” về thể chế để bộ máy chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn. (Ảnh: quochoi.vn) 

LTS: Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm tập trung nguồn lực, mở rộng không gian phát triển, giúp bộ máy “tinh - gọn - mạnh”. Quá trình triển khai, bước đầu chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng cũng gặp không ít vướng mắc. Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình hiểu sai lệch vấn đề, đồng thời xuyên tạc “cuộc cách mạng” tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng và Nhà nước ta.

Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Có thể khẳng định, không phải bây giờ Đảng và Nhà nước ta mới triển khai việc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, mà sau ngày thống nhất đất nước (năm 1975) đến nay, chúng ta đã nhiều lần thực hiện sắp xếp, sáp nhập bộ máy nhà nước từ quy mô hẹp trong một vài tỉnh đến phạm vi toàn quốc. Điều đó cho thấy Đảng đã nhận ra những tồn tại, bất cập cần phải giải quyết, nhưng quá trình triển khai chưa đạt mục tiêu đề ra; do đó việc tinh gọn tổ chức bộ máy tiếp tục được thực hiện nhằm đáp ứng tốt hơn công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Gần đây, có thể kể đến việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 15/2008/QH12, ngày 29/5/2008 về việc điều chỉnh địa giới hành chính TP Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Theo đó, hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) cùng một số xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình vào TP Hà Nội. Đến nay, sau 17 năm mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội luôn duy trì tăng trưởng cao, giữ vai trò, vị thế là trung tâm kinh tế, động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Hồng cũng như cả nước.

Tiếp đó, tháng 10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Nghị quyết 18-NQ/TW). Một trong những mục tiêu cụ thể mà Nghị quyết hướng tới là từ năm 2021 đến năm 2030, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức, khắc phục được tình trạng chồng chéo, trùng lắp hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị... Thực hiện chủ trương của Đảng, các Bộ, ban, ngành, các địa phương trong cả nước đã nhanh chóng bắt tay vào việc. Báo cáo tóm tắt kết quả giám sát “Việc thực hiện các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về việc sắp xếp các đơn vị hành chính (ĐVHC) cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021” tại Phiên họp thứ 15 của UBTVQH (tháng 9/2022) cho biết: cả nước đã giảm được 08 ĐVHC cấp huyện và 561 ĐVHC cấp xã; giảm được 3.437 cơ quan ở cấp xã và 429 cơ quan ở cấp huyện. Đến thời điểm Đoàn công tác đến khảo sát tại một số địa phương (tháng 3/2022), cơ sở vật chất, trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị đã cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu làm việc.

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi con dấu, giấy tờ cho người dân, tổ chức được thực hiện kịp thời, đúng quy định, bảo đảm thuận lợi cho người dân, tổ chức và không thu phí... “Kết quả sắp xếp ĐVHC cấp huyện, cấp xã không chỉ góp phần tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người hoạt động không chuyên trách như chủ trương của Đảng đã đề ra, mà hơn thế nữa, còn mở rộng không gian phát triển, tập trung được nguồn lực, phát huy tiềm năng, lợi thế sẵn có của các địa phương để phát triển bền vững” - Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng, Phó Trưởng Đoàn thường trực Đoàn giám sát khẳng định.

Nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật
Sau gần 8 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, chúng ta đã đạt được một số kết quả cơ bản, như đánh giá của Tổng Bí thư Tô Lâm trong bài viết “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”, đó là: “Bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị”. Tuy nhiên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể; một số Bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... “Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ... Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ” - Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ.

Theo người đứng đầu Đảng ta, những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Điển hình là bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Tầng nấc trung gian dẫn đến mất thời gian qua “nhiều cửa” thủ tục hành chính, gây cản trở, thậm chí tạo “điểm nghẽn”, làm lỡ cơ hội phát triển...

“Nhìn vào thực chất cũng rất lo”, “Nhìn ra thế giới mới thấy sốt ruột vì họ phát triển rất nhanh”... là những đánh giá mà Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhắc đến tại các cuộc họp, hội nghị bàn về vấn đề khơi thông nguồn lực để đất nước phát triển. Ông cho rằng, chúng ta cần nhìn vào những tấm gương đó để phấn đấu, vươn mình lên, chứ không thể “cò dò”, chậm trễ mà để lỡ thời cơ... Cũng bởi vậy, một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV là tìm cách xử lý những “điểm nghẽn” về thể chế, để bộ máy chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn. Tham gia thảo luận về nội dung này, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, tinh gọn bộ máy là vấn đề quá lớn, tồn đọng nhiều năm; cho nên bây giờ là thời cơ vàng để làm.

Vừa sắp xếp, vừa kiến tạo
Tại Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII vừa diễn ra, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh, việc tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là quyết sách chiến lược chưa từng có với mục tiêu cao nhất vì sự phát triển nhanh, ổn định, bền vững của đất nước, chăm lo tốt hơn đời sống của Nhân dân, xây dựng bộ máy chính quyền tinh gọn, chuyển từ quản lý thụ động sang chủ động phục vụ Nhân dân, kiến tạo phát triển, đủ năng lực tổ chức triển khai có hiệu quả các chủ trương của Đảng vào thực tiễn cuộc sống trong kỷ nguyên phát triển và thịnh vượng. Việc sắp xếp đơn vị hành chính địa phương lần này được xây dựng trên tinh thần khoa học, đột phá, sáng tạo, bám sát thực tiễn với tầm nhìn xa, trông rộng, ít nhất là 100 năm, bảo đảm hình thành và mở rộng không gian phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mới phù hợp cho phát triển đất nước.

Khác với những lần sắp xếp, sáp nhập các ĐVHC trước đây, lần này chúng ta làm với quy mô lớn hơn, quyết liệt hơn, cách mạng hơn và đã đến lúc phải làm một cách quyết liệt như vậy. Theo đó, lần sáp nhập này được tiến hành đồng thời cả cấp tỉnh và cấp xã, bỏ cấp trung gian, tức là giảm cấp chính quyền địa phương từ 3 cấp xuống còn 2 cấp. Chúng ta không chỉ căn cứ vào các tiêu chí như quy mô dân số, diện tích tự nhiên, phong tục tập quán..., mà còn chú trọng đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, đến quy hoạch vùng, quy hoạch tổng thể quốc gia... nhằm sớm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, phát triển thịnh vượng.

Với chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, cả hệ thống chính trị đang khắc phục mọi khó khăn, tranh thủ từng phút, từng giờ để hoàn thành tiến độ đề ra. Tuy nhiên, lợi dụng một số khó khăn bước đầu của công cuộc tinh gọn bộ máy, các thế lực thù địch, phản động đã và đang ra sức xuyên tạc với âm mưu thâm độc nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta, gây nghi ngờ, bức xúc trong Nhân dân, làm mất ổn định xã hội. Các luận điệu chống phá được thể hiện dưới nhiều hình thức, từ các bài viết trên các trang của một số tổ chức phản động có hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, đến những video clip, những bình luận, bài viết trên mạng xã hội... Các đối tượng này cho rằng chủ trương sáp nhập, tinh gọn bộ máy chính trị của Đảng ta là “loại bỏ phe cánh”; việc tinh giản biên chế là “sa thải hàng loạt”, “bỏ rơi cán bộ, công chức đã có nhiều năm cống hiến cho Đảng và Nhà nước”; ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người. Thậm chí, các đối tượng phản động còn rêu rao với giọng điệu thù hằn rằng, chủ trương của Đảng ta là “không khả thi”, “sớm muộn sẽ rơi vào mất kiểm soát” và sẽ “thất bại” (?!)...

Rõ ràng đây là những luận điệu vu cáo, bóp méo sự thật nhằm gây nhiễu loạn thông tin..., đòi hỏi chúng ta phải nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh và chứng minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, vừa đập tan mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, vừa củng cố niềm tin trong Nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với công việc hệ trọng của Đảng và Nhà nước./.
Ảnh: Một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV là tìm cách xử lý những “điểm nghẽn” về thể chế để bộ máy chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn.
(Còn tiếp)
Yêu nước ST.

Chấn chỉnh thái độ làm việc cầm chừng

 

Công cuộc tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị đang được thực hiện quyết liệt, triệt để nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, tăng tốc phát triển đất nước. Bên cạnh tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân nhiệt tình ủng hộ chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, tích cực thực hiện nhiệm vụ được giao thì cũng có một bộ phận vì lo lắng vị trí của mình nên thay vì dành thời gian cho công việc lại tích cực đi cửa này, chạy cửa kia, hoặc rơi vào trạng thái buông xuôi, làm việc cầm chừng, từ đó dẫn tới bê trễ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ thấp.

Quốc hội đã thống nhất điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8% trở lên. Đây là mục tiêu tăng trưởng cao so với những năm gần đây, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc của cả hệ thống chính trị. Thời gian qua, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã tổ chức rất nhiều cuộc họp, hội nghị trong ngày nghỉ, giờ nghỉ để kịp thời đưa ra các quyết sách thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội; trực tiếp đi chỉ đạo, đốc thúc tiến độ trên công trường; rồi kỹ sư, công nhân ở các công trình trọng điểm thi đua lao động khẩn trương "3 ca, 4 kíp", "làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm" đã tạo cảm hứng, tạo động lực, lan tỏa tinh thần trách nhiệm, tinh thần cống hiến cho toàn xã hội.  

Thế nhưng, cũng trong thời gian này, báo chí phản ánh có những cơ quan ở địa phương diễn ra tình trạng nhiều cán bộ, đảng viên, người lao động xin nghỉ việc, mặc dù trong đó có cả những người ở những đơn vị không thuộc diện tinh gọn. Có những cán bộ, đảng viên thay vì tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tập trung cho công việc phục vụ nhân dân thì lại dành nhiều thời gian ở cơ quan nghe ngóng, bàn tán về việc tinh gọn, điều chỉnh, sáp nhập để xem sắp tới mình đi đâu, về đâu, các chế độ, chính sách cho nhân lực thuộc diện tinh gọn như thế nào. Chính vì thế, đã có những địa phương phải ra công văn chấn chỉnh thái độ làm việc này, bởi đây rõ ràng là một nguy cơ lớn dễ dẫn tới việc không thể hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra.     

Xét về bản chất, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị chính là cuộc cách mạng nhân lực nhằm cải cách toàn diện tổ chức bộ máy, góp phần cởi trói cho lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện khai thác và phát huy tối đa nguồn lực con người-yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo lực đẩy để đất nước tăng tốc phát triển.

Mục tiêu là qua cuộc cách mạng này xây dựng được một đội ngũ nhân lực trong hệ thống chính trị có số lượng phù hợp, thực sự là những người có năng lực, trình độ tốt, đạo đức tốt, khát khao cống hiến, làm việc hết mình vì công việc chung. Muốn vậy, phải thải loại, thay thế những cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, trình độ hạn chế, đạo đức có vấn đề và làm việc theo kiểu trung bình chủ nghĩa, cầm chừng, bấy lâu nay chỉ coi cơ quan là nơi trú ẩn an toàn.   

Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu rõ: "Đây thực sự là vấn đề khó, thậm chí rất khó vì khi tiến hành tinh gọn bộ máy sẽ liên quan đến tâm tư, tình cảm, nguyện vọng và đụng chạm tới lợi ích của một số cá nhân, tổ chức. Do vậy, dù đã được chuẩn bị kỹ, bài bản và nhiều hướng dẫn thực hiện công tác này nhưng chắc chắn việc triển khai tại nhiều đơn vị sẽ gặp khó khăn, thậm chí sẽ có cả những lực cản quyết liệt. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tiến hành, vì muốn có một cơ thể khỏe mạnh, đôi khi chúng ta phải "uống thuốc đắng", phải chịu đau để "phẫu thuật khối u". 

Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy, chắc chắn sẽ có một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước... dôi dư, không giữ được chức vụ, không còn việc làm, ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta rất nhân văn, giải quyết có lý, có tình nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự xáo trộn tâm lý xã hội và cuộc sống của những đối tượng bị ảnh hưởng. Chính sách tinh giản biên chế sẽ thực hiện có lộ trình, kế hoạch rõ ràng. Đảng và Nhà nước sẽ có chính sách bảo đảm quyền lợi của người lao động, hỗ trợ đào tạo lại và sắp xếp công việc phù hợp; chỉ cắt giảm các vị trí dư thừa, kém hiệu quả; tăng cường nhân lực cho các lĩnh vực trọng điểm.

Do đó, cần phải có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vấn đề này, nhất là phải giữ một thái độ tích cực trong thực hiện nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn cán bộ, đảng viên rằng: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm”. Tinh thần trách nhiệm cao, tính tự giác cao chính là phẩm chất quan trọng của cán bộ, đảng viên. 

Bên cạnh trách nhiệm, nghĩa vụ với tư cách là công dân, người cán bộ, đảng viên còn thực hiện trách nhiệm của một người cán bộ, đó là phải tiên phong, gương mẫu đi đầu trong công việc, trong rèn luyện và thực hành đạo đức, lối sống, nêu gương, cũng như tuân thủ nghiêm Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm. Là cán bộ, đảng viên chân chính thì chớ vội so bì thiệt hơn cho bản thân, mà trước hết cần phải thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình.

Trong hoàn cảnh hiện nay, các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm thực hiện tốt các nội dung, như: Quán triệt, giáo dục, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị cho tất cả cán bộ, đảng viên. Tìm hiểu kỹ nguyên nhân, từ đó nhắc nhở, chấn chỉnh, động viên để nâng cao nhận thức, xác định lại thái độ trong công việc cho những nhân lực có biểu hiện sao nhãng nhiệm vụ, làm việc cầm chừng. Cần phải có biện pháp mạnh của tổ chức đối với những người dù đã được nhắc nhở nhưng vẫn tiếp tục thể hiện thái độ làm việc thiếu trách nhiệm, bởi đây chính là đối tượng cần phải thải loại để hướng tới mục đích tinh gọn bộ máy.

Một tiêu chí quan trọng để xác định chất lượng nhân lực chính là thái độ trong công việc. Giai đoạn hiện nay có thể xem là thời cơ vàng để thử thách, từ đó phân loại chất lượng nhân lực thông qua thái độ trong công việc.

Tỉnh táo trước trò “hiến kế đểu”!

 

Gần đến giờ họp triển khai chương trình chuyển đổi số trong hoạt động đoàn-hội tại xã nhà mà cuộc tranh luận giữa Thông và Thức vẫn rất căng thẳng.

- Ông nói thế mà được à? - Thức gắt gỏng.

- Sao lên giọng vậy? Tôi chỉ diễn đạt lại thôi. Khối người cho rằng nên theo hướng đó. Cứ lên mạng là có hết.

- Này, cán bộ văn-xã mà nghe thấy là ông ăn mắng to rồi đấy!

Vừa lúc bác Tỉnh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã đến dự họp. Thức nhanh nhảu phân trần:

- Bác ạ, chúng cháu đang trao đổi về mấy cuộc xung đột vũ trang gần đây trên thế giới, nghĩ đến Việt Nam lại thấy lo. Nước ta có vị trí địa chính trị trọng yếu, nhưng tiềm lực kinh tế và quốc phòng xếp thứ hạng chưa cao, liệu nước ta có nên tham gia một liên minh quân sự như mấy hội, nhóm trên mạng xã hội “hiến kế”. Họ khẳng định đó cũng là xu thế tất yếu của toàn cầu để gia tăng sức mạnh quốc gia. Nghe... có vẻ hợp lý bác nhỉ?

 

- Đấy, câu chuyện là ở chỗ đó. Nhưng cháu chưa biết lý giải thế nào để cậu này sáng mắt ra ạ! - Thông bức xúc.

Đến đây, bác Tỉnh đã hiểu ra vấn đề, chậm rãi chia sẻ:

- Hai cậu ạ, là con dân đất Việt, ai cũng lo cho sự an nguy của Tổ quốc. Nhưng phải tuyệt đối tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và tinh thần đại đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, chung sức, đồng lòng của quân và dân ta mà bao nhiêu năm nay, dù chẳng liên minh quân sự với nước nào nhưng chúng ta vẫn giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại. Chuyện ở đây là cứ mỗi khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội ta phát biểu khẳng định chính sách “4 không” theo Sách trắng quốc phòng Việt Nam, trong đó có không tham gia liên minh quân sự, thì các thế lực thù địch lại tuyên truyền xuyên tạc đó là “bảo thủ”, “lạc hậu”, đi ngược xu thế chung. Đặc biệt, lợi dụng những diễn biến phức tạp ở khu vực Biển Đông, rồi khi cuộc xung đột quân sự Nga-Ukraine nổ ra, chúng càng lấy cớ cổ xúy cho quan điểm trên. Chúng lập luận rằng Việt Nam sẽ không thể đứng vững nếu không liên minh quân sự với ít nhất một cường quốc.

- Vâng, cái này cháu cũng đã nghe! - Thức gãi đầu gãi tai.

- Các cháu phải thấy là để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chúng ta đang nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, phát huy tối đa sức mạnh nội lực cùng với tranh thủ ngoại lực, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, vị thế quốc tế để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Mà đường lối của Việt Nam ta đang được rất nhiều nước ủng hộ và tham khảo kinh nghiệm đấy nhé.

- Vâng, cái “từ sớm, từ xa” này là chuẩn ạ! - Thông đồng tình.

- Từng tham gia cuộc chiến bảo vệ biên giới của Tổ quốc, bác càng thấu hiểu về giá trị của hòa bình. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chúng ta phải tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, không thể trông chờ vào sự “che chở” của ai khác để rồi bị lệ thuộc, chi phối... Liên minh quân sự để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia chả khác gì một “ảo tưởng” do bọn “hiến kế đểu” vẽ ra. Các cháu trong Ban Chấp hành Đoàn xã càng phải thấu suốt đường lối của Đảng, đồng thời hiểu rõ mưu đồ đen tối của các phần tử phản động sử dụng chiêu trò "hiến kế" nhằm gây "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta, kích động chống phá cách mạng. Điều này quan trọng lắm đấy! Thức thấy “tỉnh” như bác thì có giải thích cho đoàn viên, thanh niên xã nhà được không?

Ba bác cháu cùng cười lớn. Thức gật gù thực sự "tâm phục, khẩu phục".

Đấu tranh, loại bỏ kiểu người khôn lỏi, cơ hội chính trị

 

Trong bài viết “Tổ chức tốt Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ một trong những vấn đề mang tính “cốt tử”, hệ trọng, đó là công tác nhân sự. Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị bước vào cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy mạnh mẽ và toàn diện, việc lựa chọn nhân sự vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp càng đặt ra những yêu cầu bức thiết...

Từ hành vi khôn lỏi đến kiểu người cơ hội

Tôi đặt cuốc xe taxi công nghệ từ bến xe Nước Ngầm đến tòa soạn Báo Quân đội nhân dân ở phố Phan Đình Phùng (Hà Nội) với giá 180.000 đồng. Vừa bước lên xe đã nghe lời đề nghị của tài xế: “Bác hủy chuyến giúp em với”! Thấy tôi ngạc nhiên, anh ta tiếp: “Em chở bác đến nơi và thu đúng giá, chỉ là khi bác hủy chuyến thì em không bị hãng trừ phần trăm. Bác giúp em kiếm thêm mớ rau, con cá”. Thế là tôi hủy chuyến ngay lập tức. Về tòa soạn, kể chuyện này cho một anh bạn đồng nghiệp trẻ tuổi, có ý khoe rằng, hôm nay mình đã làm được một việc tốt, giúp đỡ người lao động trong hoàn cảnh khó khăn. Tưởng nhận được lời tán thán, nào ngờ lại bị anh bạn trẻ phê bình: “Bác đã vô tình tiếp tay cho việc làm sai trái của một kiểu người khôn lỏi. Hãng xe tạo việc làm cho tài xế thì phúc lợi cùng hưởng, khó khăn cùng chia. Kiểu tư duy và lối làm ăn chụp giật, khôn lỏi, vi phạm đạo đức kinh doanh sớm muộn cũng bị phát giác, tẩy chay. Ở chiều ngược lại, nếu ai đó hủy chuyến liên tục, sẽ bị hệ thống chấm điểm khách hàng thấp, lần sau sẽ rất khó đặt qua app”.

Tôi ngớ người trước lập luận của anh bạn trẻ. Quả thật, nhiều khi trong cuộc sống, chỉ vì suy nghĩ đơn giản, bàng quan, mà ta đã vô tình tiếp tay cho cái xấu. Nhìn rộng ra, đời sống xã hội không thiếu những hành vi khôn lỏi. Đó là biểu hiện của tư duy, văn hóa tiểu nông đã có từ hàng trăm năm của một bộ phận người Việt. Dù sự việc có thể rất nhỏ, chẳng chết ai nhưng điều đáng nói đó là biểu hiện của một lối sống. Nó thể hiện tính nghiệp dư, ích kỷ, “bóc ngắn cắn dài”, chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân, vi phạm nguyên tắc làm việc. Nhiều chuyện nhỏ tích lại sẽ thành chuyện lớn. Người có hành vi khôn lỏi kiểu ấy, nếu không được giáo dục, uốn nắn, lâu ngày sẽ thành bản chất. Trong một tổ chức, cộng đồng, nếu có những cá nhân khôn lỏi sẽ ảnh hưởng xấu đến tinh thần đoàn kết, môi trường văn hóa...

 

Trong môi trường sản xuất, kinh doanh, tư duy và lối làm ăn khôn lỏi chính là tác nhân gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu, sớm muộn cũng bị tẩy chay, doanh nghiệp khó mà phát triển bền vững. Có những doanh nghiệp vì doanh thu, lợi nhuận đã nghĩ ra đủ loại chiêu trò “móc túi” khách hàng. Họ đưa ra những chương trình khuyến mãi, ra sức mời mọc, dụ dỗ khách hàng tham gia. Khi đưa khách hàng “vào tròng” rồi thì tìm mọi cách ép khách hàng phải thực hiện theo yêu cầu của doanh nghiệp.

Quy luật nhận thức của con người đi từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn. Khôn lỏi, khôn vặt là biểu hiện của hành vi. Nó như một loại virus độc hại. Nếu không có cách triệt tiêu, để nó tự do phát triển thì hành vi khôn lỏi sẽ sản sinh ra kiểu người cơ hội, thực dụng, tráo trở, dối trá, lừa thầy phản bạn. Trong hệ thống chính trị, hành vi khôn lỏi nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phê bình, dần dần sẽ hình thành nên kiểu cán bộ “lươn chạch”, cơ hội chính trị, “thông minh có hạn, thủ đoạn có thừa”, cục bộ, bè phái, tha hóa đạo đức, tha hóa quyền lực, nguy hại khôn lường. Những biểu hiện suy thoái này là một bước ngắn dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Trong bài viết như đã dẫn ở trên, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “... Cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta...”.

Đấu tranh quyết liệt, ngăn chặn từ sớm, từ xa

Hệ thống chính trị cả nước ta đang bước vào đợt sắp xếp, tinh gọn bộ máy một cách toàn diện, mạnh mẽ chưa từng có. Mục tiêu phải đạt được đó là tạo ra một bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Sau khi sắp xếp, tinh gọn, hệ thống chính trị các cấp phải giữ được người có đức, có tài, có nhiệt huyết cống hiến trong bộ máy. Quá trình sắp xếp, sàng lọc, việc giải bài toán “ai đi, ai ở” sẽ gặp rất nhiều thách thức, khó khăn. Nếu không tỉnh táo nhận diện, thiếu kiên quyết đấu tranh, có biểu hiện dĩ hòa vi quý, cục bộ, bè phái... trong công tác nhân sự thì rất dễ nảy sinh những hành động khôn lỏi, tạo kẽ hở cho chủ nghĩa cá nhân xâm nhập, phát triển, chi phối, lũng đoạn. Người có đức, có tài thì bị ra rìa, kẻ “lươn chạch”, cơ hội chính trị thì bám trụ, phát triển.

Yêu cầu của Đảng về công tác nhân sự trong tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 là tuyệt đối không lựa chọn cán bộ không được quần chúng nhân dân tín nhiệm, cũng không giới thiệu những cán bộ lãnh đạo dĩ hòa vi quý, “tròn vo” để lấy phiếu bầu... kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen...

Kết luận 21, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cũng đã nhấn mạnh yêu cầu: Không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp...

Dù người khôn lỏi, cơ hội chính trị có nhiều phương thức, mánh khóe để đạt được mục tiêu cá nhân nhưng trong một tập thể, không khó để nhận diện. Vấn đề đặt ra là thái độ của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, nhất là cấp ủy, người đứng đầu đối với hành vi ấy như thế nào? Thực tế cho thấy, kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chỉ có “đất sống” khi có người “nâng đỡ không trong sáng”; cấp ủy, người đứng đầu thiếu công tâm, khách quan, có biểu hiện cục bộ, bè phái; cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng dĩ hòa vi quý, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. Ngược lại, nếu tổ chức đảng đề cao tính chiến đấu, tinh thần phê bình, tự phê bình; nhất quán nguyên tắc tập trung dân chủ; cấp ủy, người đứng đầu biết lắng nghe, làm việc công tâm, khách quan thì kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chắc chắn sẽ bị tẩy chay, loại bỏ khỏi bộ máy. Theo tư duy biện chứng mà suy, nếu cấp ủy, người đứng đầu có những biểu hiện ấy thì đó cũng chính là cơ hội chính trị. Trong một tổ chức mà có nhiều người khôn lỏi, cơ hội chính trị thì đó là mầm mống đại họa.

Vũ khí để nhận diện, đấu tranh, loại bỏ những thành phần khôn lỏi, cơ hội chính trị ra khỏi bộ máy đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là: Đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn đánh giá cá nhân với tập thể...

Như vậy, trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đặc biệt là trong đại hội đảng bộ các cấp, công tác nhân sự phải được tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ, khách quan, toàn diện. Việc đánh giá cán bộ để giới thiệu nhân sự bầu vào cấp ủy phải là công việc của cả quá trình, xuyên suốt, liên tục, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cần tránh lối làm việc áp đặt chủ quan, định kiến, cảm tính cá nhân, tạo môi trường cho những thành phần cơ hội chính trị ẩn trú, thăng tiến...

Công tác cán bộ là một trong những vấn đề “cốt tử” của Đảng. Để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự là đạo đức, là văn minh; cầm lái đưa dân tộc thực hiện cuộc vươn mình tiến đến hùng cường, phồn vinh, nhất định phải thu hẹp, tiến tới triệt tiêu tư duy tiểu nông, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Công cuộc chuyển đổi số tạo ra “thế giới phẳng” về thông tin chính là lợi thế lớn để lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy “xây” để “chống”. Dư luận xã hội, sức mạnh của tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đấu tranh phê bình, tự phê bình... trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp cần được khai thác, phát huy một cách tối đa theo hướng tích cực để góp phần đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa những hành vi khôn lỏi, kiểu người cơ hội chính trị...

An nguy quốc gia là vấn đề căn cơ, hệ trọng

 

Ngay sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành kết luận chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính theo hướng không tổ chức đơn vị cấp huyện và giao Quân ủy Trung ương nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực hiện chủ trương này trong Quân đội, Bộ Quốc phòng đã khẩn trương tiến hành các bước hoàn thiện. Thế nhưng, xung quanh vấn đề rất quan trọng này, vẫn có những nhận thức chưa đúng của một số người. Trong khi đó, có những cá nhân thiếu hiểu biết và không có tính xây dựng, có những bài viết bịa đặt, châm chọc, bóp méo việc này trên mạng xã hội.

Ngày 28-2-2025, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư ký ban hành Kết luận số 127-KL/TW về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Về nhiệm vụ “Xây dựng đề án về tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội”, kết luận nêu rõ: “Giao Quân ủy Trung ương căn cứ Kết luận số 126-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội phù hợp (trong đó có tổ chức của cơ quan quân sự cấp huyện), chủ động đề xuất thời gian báo cáo Bộ Chính trị theo tiến độ của kết luận này”.

 

Thực hiện nội dung này, ngay trong chiều 28-2, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chủ trì Hội nghị giao nhiệm vụ cho cơ quan, đơn vị nghiên cứu, đề xuất tổ chức quân sự địa phương (QSĐP). Với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, thận trọng, chắc chắn, ngày 20 và 22-3, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức các hội nghị lấy ý kiến vào dự thảo Đề án “Tiếp tục sắp xếp tổ chức QSĐP tinh-gọn-mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” để bổ sung, hoàn thiện, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước ngày 27-3-2025 theo tiến độ chung của cả nước, thời gian rút ngắn một quý so với yêu cầu tại Kết luận số 126-KL/TW ngày 14-2-2025 về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.

Thế nhưng, mạng xã hội thời gian qua vẫn có những cá nhân có những nhận thức chưa đúng, thiếu hiểu biết, đưa ra những ý kiến không phù hợp. Thậm chí, một số bài viết xuyên tạc, bịa đặt, châm chọc, bóp méo việc làm này với nội dung thể hiện sự phiến diện cùng những mưu đồ, mục đích xấu khác khi cho rằng “Bộ Quốc phòng mất thời gian vào việc tổ chức lấy ý kiến sắp xếp tổ chức QSĐP”. Hùa theo đó là nhiều bình luận với nội dung theo kiểu “ăn theo nói leo”.

Theo Điều 35 Luật Quốc phòng năm 2018, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thứ nhất, tham mưu, giúp việc Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Thứ hai, chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia; duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Thứ ba, chủ trì, phối hợp với bộ, ngành Trung ương, chính quyền địa phương lập, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án về quốc phòng, trình cấp có thẩm quyền quyết định. Thứ tư, xây dựng, quản lý, chỉ huy Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Thứ năm, chỉ đạo, hướng dẫn bộ, ngành Trung ương và địa phương thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ và công tác quốc phòng.

Chiếu theo quy định này có thể thấy, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức QSĐP không đơn thuần là tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng; thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng ở cấp mình mà nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên là củng cố, tăng cường tiềm lực, sức mạnh nền quốc phòng toàn dân. Cụ thể là: Tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương cùng cấp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững chắc, góp phần tạo thế phòng thủ liên hoàn, vững chắc; xây dựng, củng cố hệ thống công trình quốc phòng, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, khu vực phòng thủ; tổ chức huấn luyện, luyện tập thành thục các phương án chiến đấu, sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia xử trí có hiệu quả các tình huống...

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ này, nhiều năm qua, tổ chức QSĐP các cấp đã bám sát những chủ trương, yêu cầu nhiệm vụ của trên để tham mưu với cấp ủy, chính quyền cùng cấp củng cố, xây dựng thế trận quốc phòng theo phương châm “làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”; tổ chức huấn luyện, diễn tập thuần thục phương án tác chiến theo tình huống ở từng cấp; chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt lực lượng, hệ thống công trình phòng thủ, tác chiến, sở chỉ huy các cấp... khi có tình huống xảy ra.

Vì thế, khi tiến hành thay đổi về tổ chức bộ máy chính trị, các phương án này cũng sẽ phải thay đổi theo cho phù hợp để bảo đảm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, tổ chức thực hiện được thông suốt, nhuần nhuyễn; không làm gián đoạn, xáo trộn hay suy giảm, ảnh hưởng tới thế trận, sức mạnh quốc phòng và khả năng huy động các nguồn lực, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội. Chỉ cần một quyết sách sơ hở, thiếu chặt chẽ cũng có thể tác động, ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí là trả giá đắt bằng sự an nguy của quốc gia.

Do đó, sắp xếp lại tổ chức QSĐP một cách thận trọng, khoa học, logic, chặt chẽ; tiếp thu, chắt lọc những kinh nghiệm chiến đấu, xây dựng lực lượng cho phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại, chủ động hội nhập quốc tế; phù hợp với thực tiễn và điều kiện, tình hình đất nước cũng như điều kiện về con người, vũ khí, khí tài, trang bị hiện có là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết. Đây là việc khó, đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng đại nhằm thực hiện thắng lợi hai mục tiêu: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phát biểu tại Hội nghị lấy ý kiến về tổ chức QSĐP khi không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện ngày 20-3, Đại tướng Phan Văn Giang cũng nhấn mạnh: Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước giai đoạn lịch sử mới. Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trương báo cáo Trung ương quyết định điều chỉnh tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và địa giới hành chính trong cả nước. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước để đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, thế bố trí quốc phòng, tổ chức Quân đội, trọng tâm là tổ chức QSĐP cần được nghiên cứu, điều chỉnh hợp lý, để đáp ứng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước.

Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Hoàng Kiền, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh khẳng định: “Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp nên rất cần tổ chức nghiên cứu, đánh giá kỹ về mọi mặt để vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay; vừa bám sát các chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự, truyền thống lịch sử xây dựng lực lượng quân sự, đánh giặc, giữ nước của cha ông; thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới, trong khu vực, nhất là những phát triển mới về hình thái, phương thức chiến tranh thời gian gần đây. Từ đó, đưa vào giảng dạy, huấn luyện, diễn tập thành hệ thống theo mô hình tổ chức chính quyền mới khi bỏ cấp huyện, sáp nhập xã, tỉnh”.

Trước những quan điểm xuyên tạc, nhận thức chưa đúng, Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) thẳng thắn: “Các phần tử xấu luôn chầu chực tìm cớ, chờ cơ hội để đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá nhằm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Vì vậy, người dân cần thận trọng khi tiếp cận những thông tin trên mạng xã hội. Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực đặc biệt, trọng yếu, liên quan tới an nguy quốc gia và không được phép sơ hở, lơi lỏng bất kỳ giây phút nào; không có chỗ cho sự chủ quan hay những tính toán sai lầm, thiếu cẩn trọng. Do đó, mọi tình huống dù là nhỏ nhất cùng phương án xử trí đều phải được bàn thảo, đánh giá nghiêm túc, khoa học, thận trọng, chắc chắn”.

Lo cho an nguy của đất nước cũng chính là chăm lo, bảo vệ bình yên, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà. Nơi đó không có chỗ cho sự xuyên tạc, châm chọc, xúc xỉa đầy ác ý.

Bản lĩnh, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trước mỗi bước ngoặt quan trọng

 

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, mỗi bước ngoặt quan trọng đều đặt ra những lựa chọn đòi hỏi bản lĩnh, trách nhiệm, thậm chí là tinh thần dũng cảm chấp nhận hy sinh lợi ích của mỗi cá nhân.

Hiện nay, cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị lại tiếp tục đặt ra những đòi hỏi ấy đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên và mỗi người Việt Nam yêu nước...

Cách đây 50 năm, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải, một kỷ nguyên mới mở ra với dân tộc Việt Nam-kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Như một sự lựa chọn của lịch sử, sau ngày giải phóng miền Nam tròn nửa thế kỷ, chúng ta lại vững bước tiến vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên phát triển giàu mạnh và thịnh vượng.

Để tạo đà vươn, sức bật, củng cố nền tảng thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược trong giai đoạn mới, Đảng ta đang quyết liệt, khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một cuộc cách mạng mới-cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Từ khi có chính quyền, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua muôn vàn thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác để Việt Nam "chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Vậy nhưng, không có chiến thắng nào được “trải bằng hoa hồng”, mà đòi hỏi những người dấn thân với cách mạng và những người Việt Nam yêu nước phải kiên gan, bền chí, dám chấp nhận hy sinh lợi ích cá nhân vì mục tiêu chung của cả dân tộc.

 

Với cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hiện nay cũng vậy. Tuy không phải đối đầu với kẻ thù thực dân, đế quốc nhưng vẫn đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần phải kiên định, bản lĩnh, trách nhiệm trước những đòi hỏi từ bước ngoặt lịch sử của dân tộc.

Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã được Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền xác định chủ trương, xây dựng kế hoạch với lộ trình, bước đi cụ thể và công khai tới toàn thể nhân dân. Mục đích của sắp xếp, tinh gọn nhằm nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy; giảm bớt đầu mối tổ chức, giảm tầng nấc trung gian, giảm biên chế; tiết kiệm chi ngân sách, nâng cao chất lượng thực hiện các nhiệm vụ chính trị và phục vụ người dân, doanh nghiệp, đồng thời mở rộng không gian phát triển của mỗi địa phương... Vì vậy, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc thực hiện nghiêm túc của các ban, bộ, ngành, địa phương, theo thông tin được Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương công bố đầu tháng 3-2025, công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã đạt được những kết quả đáng kể: Giảm 4 cơ quan Đảng trực thuộc Trung ương; 25 ban cán sự đảng; 16 đảng đoàn trực thuộc Trung ương; 5 cơ quan Quốc hội; 5 bộ và 3 cơ quan trực thuộc Chính phủ; 30 đầu mối cấp tổng cục; 1.025 đơn vị cấp cục, vụ và tương đương; 4.413 đầu mối cấp chi cục, phòng và tương đương; 240 đơn vị sự nghiệp. Cùng với đó, tại các địa phương cũng đã giảm 466 sở, ngành và cấp tương đương; 644 đoàn, đảng đoàn và ban cán sự đảng; 3.984 đơn vị cấp phòng và tương đương; 27 đảng bộ cấp trên trực tiếp và các tổ chức cơ sở đảng. Hiện nay, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai khẩn trương, quyết liệt.

Một kết quả có ý nghĩa quan trọng khác là cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; nhiều người đã đạt được nhận thức chung rằng, đây chính là thời điểm, thời cơ lịch sử đưa đất nước phát triển mạnh mẽ. Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của chúng ta cũng được bạn bè quốc tế đánh giá cao, có những quốc gia coi đây là mô hình để nghiên cứu, học hỏi. Ở các ban, bộ, ngành, địa phương, thời gian qua, nhiều cán bộ có chức vụ đã tự nguyện xin nghỉ hưu trước tuổi để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng, hiệu quả sắp xếp bộ máy cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Tuy nhiên, thực tế quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy cũng xuất hiện những vấn đề liên quan đến nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, nhất là những tổ chức, cá nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp. Đó là những vấn đề đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng đánh giá, dự liệu từ sớm để xây dựng cơ chế, chính sách hợp lý, nhằm giải quyết thấu tình, đạt lý. Nhìn ở góc độ khác, có nhiều ý kiến tích cực cho rằng, quá trình sắp xếp, tinh gọn cũng là cơ hội để nhiều người bước ra khỏi “vùng an toàn”, thể hiện bản lĩnh, khả năng và sự năng động, sáng tạo ở những lĩnh vực mới, môi trường mới. Về vấn đề sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện, dư luận xã hội cũng xuất hiện những băn khoăn, như nên sáp nhập đơn vị nào với đơn vị nào; nên đặt tên tỉnh, xã mới thế nào; việc sáp nhập liệu có làm mai một hay mất đi lịch sử, truyền thống, văn hóa của các địa phương?...

Có thể khẳng định, việc sắp xếp đơn vị hành chính đã được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu kỹ lưỡng, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của từng địa phương, khu vực, vùng miền; có tính toán, cân nhắc cụ thể những yếu tố lịch sử, văn hóa; có nghiên cứu, tham khảo mô hình chính quyền của một số quốc gia... Cũng phải thẳng thắn rằng, thỏa mãn mong muốn của tất cả mọi người trong sắp xếp đơn vị hành chính là bất khả thi và dễ dẫn đến tình trạng “đẽo cày giữa đường”, trong khi những đòi hỏi từ thực tiễn không cho phép chúng ta có thể chậm trễ hơn, mà ngược lại, phải nỗ lực, khẩn trương theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”. Thực tiễn cũng đã chứng minh, những trầm tích lịch sử, văn hóa truyền thống đã ăn sâu, bén rễ, tích tụ trong mỗi vùng đất, hiện hữu sinh động trong sinh hoạt và đời sống xã hội, luôn tồn tại trong nhận thức, tình cảm của mỗi người dân, sẽ trường tồn cùng năm tháng nếu mỗi người biết giữ gìn, phát huy, lan tỏa, không dễ mất đi chỉ vì việc sáp nhập, đổi tên vùng đất ấy.

Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hẳn nhiều người sẽ nhớ đến video clip từng lan truyền trên mạng xã hội, gây xúc động lòng người, trong đó có hình ảnh một người mẹ liệt sĩ móm mém, bật khóc khi nhớ người con đã hy sinh, nhưng vẫn khẳng định rằng: “Nếu giữ con thì mất nước”. Cũng trong dịp này, một vị Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân đã chia sẻ với phóng viên báo chí rằng, ngày 29-4-1975, trên đường tiến vào giải phóng Sài Gòn trên cương vị đại đội trưởng xe tăng, khi cấp trên hỏi ông rằng: “Cậu có sợ chết không?”, không do dự, ông trả lời ngay: “Báo cáo, chết thì ai cũng sợ, nhưng thủ trưởng giao nhiệm vụ, tôi sẵn sàng hoàn thành!”. Rồi ông được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tiến lên giữ cây cầu phía trước không bị đánh sập, để quân ta tiến qua. Ông đã chỉ huy 4 xe tăng của đơn vị đánh thắng 24 xe tăng địch. Thời khắc đầu tiên sau giải phóng, ngồi trên xe tăng, điều trước tiên mà ông nghĩ đến là sẽ về quê thăm bố mẹ. Dẫu biết mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng vẫn cần dẫn giải như vậy để thấy rằng, ở mỗi thời khắc đòi hỏi sự cống hiến cho Tổ quốc, người Việt Nam luôn sẵn sàng gác lại lợi ích riêng. Từ hai câu chuyện trên lại càng thêm thấm thía ý nghĩa sâu xa trong phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại cuộc làm việc với Tiểu ban Kinh tế-Xã hội Đại hội XIV của Đảng ngày 17-3-2025. Sau khi chia sẻ với tâm trạng của nhân dân trong vấn đề sắp xếp địa giới đơn vị hành chính, người đứng đầu Đảng ta đã gửi gắm đến mọi người: “Đất nước là quê hương!”.

Để cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được tiến hành hiệu quả, cùng với phát huy trách nhiệm của các cấp, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng trong tổ chức thực hiện, cần tuyên truyền, giáo dục, động viên để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, hưởng ứng, tích cực tham gia bằng tinh thần xây dựng và những việc làm cụ thể, thiết thực. Song song với đó, cần thực hiện nghiêm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước về việc chống tư tưởng vụ lợi, chống “chạy chọt” trong sắp xếp, tinh gọn; chống thái độ làm việc cầm chừng, chờ đợi; chống tư tưởng cục bộ địa phương sau sáp nhập; chống biểu hiện nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị lại khác... Đặc biệt, kiên quyết không để các hoạt động chỉ đạo, điều hành cũng như các dịch vụ công đối với người dân bị đứt gãy, gián đoạn trong quá trình sắp xếp, tinh gọn; đồng thời phải lựa chọn được những người có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, trách nhiệm cao, bảo đảm cho bộ máy hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả sau sắp xếp, tinh gọn...

Những bước chân thần tốc của các cánh quân 50 năm trước đã mang lại một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất. Ở thời điểm mang tính bước ngoặt lịch sử này, mỗi người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nêu cao bản lĩnh, trách nhiệm để vững vàng hòa cùng bước đi thần tốc của cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, góp phần đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên giàu mạnh và thịnh vượng.

Tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng

 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch.

1. Những năm qua, lợi dụng tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động cố tình bịa đặt, tung tin xuyên tạc sai sự thật về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng: “Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ còn là hình thức, là vỏ bọc bên ngoài”.

Nguy hiểm hơn, trước thềm đại hội đảng các cấp hay vào mỗi thời điểm có quyết định nhân sự quan trọng của Đảng, Nhà nước, họ lại tung tin thất thiệt, quy chụp nhận định không khách quan về đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng hòng gây tâm lý bất ổn, hoang mang trong xã hội. Họ rêu rao rằng, thực chất của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy chính trị ở Việt Nam là quá trình “đấu đá nội bộ”, “giành giật quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế giữa các phe phái”; còn việc miễn nhiệm, thôi chức của một số cán bộ lãnh đạo cấp cao chỉ là “bình phong” của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm che giấu những rạn nứt trong nội bộ Đảng.

Những luận điệu đó là bịa đặt với ý đồ chính trị hắc ám nhằm gây phân rã tư tưởng trong nội bộ Đảng cũng như gây sự hoài nghi, mâu thuẫn giữa Đảng với nhân dân, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

2. Quá trình ra đời, xây dựng, phát triển, trưởng thành của Đảng ta cũng như thực tiễn lãnh đạo cách mạng 95 năm qua đã chỉ ra, đoàn kết thống nhất là gốc rễ cội nguồn sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kế thừa các giá trị tốt đẹp của truyền thống đoàn kết dân tộc, quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân vào xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng xây dựng và bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người khẳng định: Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Đoàn kết, thống nhất là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động quan trọng hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bất cứ một tổ chức nào, đoàn kết thống nhất đều là nền tảng, cội nguồn sức mạnh của tổ chức đó. Học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng đã chỉ rõ đoàn kết, thống nhất là một nguyên lý, nguyên tắc xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, lớn lên và trưởng thành trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ của Đảng là những người xuất thân từ nhiều thành phần, giai cấp và tầng lớp xã hội, trong đó chủ yếu là công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, nhưng tất cả đều có chung một lý tưởng, mục tiêu và lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng ta không có lợi ích nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, dù tình hình phong trào cộng sản thế giới có sự biến động, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhưng Đảng ta vẫn kiên trì, kiên định giữ vững nguyên tắc đoàn kết thống nhất, coi đây là vấn đề sống còn của cách mạng, của chế độ; là cơ sở, nền tảng, là hạt nhân để đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và là điều kiện để đoàn kết toàn dân, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đảng ta luôn thấu suốt đoàn kết thống nhất là một nguyên tắc cơ bản có vị trí quan trọng hàng đầu trong tổ chức và hoạt động của Đảng; đồng thời, coi sự chia rẽ trong nội bộ Đảng là tội ác, là kẻ thù lớn nhất đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của Đảng.

3. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976) đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng ta nhiều lần khẳng định, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không phải “ngày một, ngày hai” mà đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, nhân dân cũng như bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền “tự soi, tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Đây cũng là cơ sở để giúp các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị xây dựng ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế cho thấy, dù phải xử lý kỷ luật một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật, nhưng truyền thống và tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng ta vẫn luôn bảo đảm, giữ vững. Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ” như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”.

Trên cơ sở ban hành Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”, Đảng đã có những điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy định về miễn nhiệm và từ chức. Quy định này góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng về vấn đề miễn nhiệm, từ chức thành các quy định cụ thể; đồng thời là cơ sở để thực hiện văn hóa ứng xử trong miễn nhiệm, từ chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phù hợp với mong muốn, kỳ vọng chính đáng của nhân dân.

Việc cho thôi chức đối với một số cán bộ lãnh đạo cấp cao thời gian qua là bước tiến rất lớn, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ được triển khai sâu rộng, đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến địa phương; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình “xây” kết hợp với “chống”, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, khi cán bộ có hạn chế, khuyết điểm và thấy năng lực công tác của mình không còn phù hợp với vị trí công tác đảm nhiệm thì cán bộ mạnh dạn, tự nguyện từ chức cũng là việc bình thường, hợp lý, hợp pháp, hợp lòng người. Chính vì vậy, những luận điệu xuyên tạc về vấn đề này hòng phủ nhận nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng càng chứng tỏ ý đồ hắc ám của những kẻ chống phá.

Trong bất luận hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn kiên trì, kiên định với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó đặc biệt là nguyên tắc đoàn kết thống nhất. Hiện nay, để thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta và tổ chức đảng các cấp luôn thấu suốt phương châm nhất quán là: “Tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Đó chính là một trong những cơ sở, động lực để góp phần thực hiện hiệu quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, qua đó tạo ra luồng sinh khí mới trong đời sống tinh thần xã hội để huy động, nhân lên sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Trải qua 95 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường, dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch.

PHƯƠNG ÁN SẮP XẾP, SÁP NHẬP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH


Căn cứ vào 6 tiêu chí đặt ra (diện tích tự nhiên; quy mô dân số; lịch sử, truyền thống, văn hóa, dân tộc; địa kinh tế; địa chính trị; quốc phòng, an ninh) và định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Kết luận số 127-KL/TW ngày 28-2-2025, Kết luận số 130-KL/TW ngày 14-3-2025 và Kết luận số 137-KL/TW ngày 28-3-2025, Chính phủ đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đa chiều với tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược xây dựng phương án sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh trình Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương thông qua.
Định hướng số đơn vị hành chính cấp tỉnh thực hiện sắp xếp
Theo Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, có tổng số 52 đơn vị hành chính cấp tỉnh thực hiện sắp xếp, gồm: 4 thành phố: Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và 48 tỉnh: Hà Nam, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Hòa Bình, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Ninh Thuận, Quảng Trị, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Đắk Nông, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Thuận, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, Tiền Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Long An, Cà Mau, Quảng Nam, Bình Định, Đắk Lắk, Đồng Nai, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và Kiên Giang.
Riêng đối với tỉnh Cao Bằng có diện tích tự nhiên chưa đạt theo quy định (6.700,4 km2, chỉ đạt 83,8% tiêu chuẩn) nhưng không thực hiện sắp xếp vì tỉnh có đường biên giới quốc gia rất dài giáp với nước Trung Quốc, địa hình đồi núi cao chia cắt phức tạp, hiểm trở, có gần 95% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, các tỉnh giáp ranh đều không phù hợp để sắp xếp, sáp nhập với Cao Bằng: Phía Tây giáp ranh tỉnh Hà Giang đã dự kiến sáp nhập với tỉnh Tuyên Quang thành một tỉnh mới có diện tích tự nhiên lớn. Phía Nam giáp ranh với tỉnh Bắc Kạn nhưng đã dự kiến sáp nhập với tỉnh Thái Nguyên. Phía Đông giáp ranh với tỉnh Lạng Sơn có diện tích lớn và đã bảo đảm đạt 100% cả 2 tiêu chuẩn về diện tích và quy mô dân số, nếu sáp nhập tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn sẽ thành một tỉnh mới có chiều dài đường biên giới lớn, khó khăn trong công tác bảo đảm quốc phòng an ninh.
Phương án sắp xếp cụ thể đối với 52 đơn vị hành chính cấp tỉnh
Sáp nhập tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 13.795,6 km2 và quy mô dân số 1.731.600 người.
Sáp nhập tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 13.257 km2 và quy mô dân số 1.656.500 người.
Sáp nhập tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 8.375,3 km2 và quy mô dân số 1.694.500 người.
Sáp nhập tỉnh Hòa Bình, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ để thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 9.361,4 km2 và quy mô dân số 3.663.600 người.
Sáp nhập tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh (đã được quy hoạch đến năm 2030 trở thành thành phố trực thuộc trung ương) thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Bắc Ninh, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 4.718,6 km2 và quy mô dân số 3.509.100 người.
Sáp nhập tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 2.514,8 km2 và quy mô dân số 3.208.400 người.
Sáp nhập tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng thành 1 thành phố trực thuộc trung ương có tên gọi là thành phố Hải Phòng, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 3.194,7 km2 và quy mô dân số 4.102.700 người.
Sáp nhập tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình (đã được quy hoạch đến năm 2030, cơ bản đạt tiêu chí thành phố trực thuộc Trung ương) thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 3.942,6 km2 và quy mô dân số 3.818.700 người.
Sáp nhập tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 12.700 km2 và quy mô dân số 1.584.000 người.
Sáp nhập tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành 1 thành phố trực thuộc trung ương có tên gọi là thành phố Đà Nẵng, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 11.859,6 km2 và quy mô dân số 2.819.900 người.
Sáp nhập tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay (giảm 1 tỉnh) có diện tích tự nhiên 14.832,6 km2 và quy mô dân số 1.861.700 người.
Sáp nhập tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 21.576,5 km2 và quy mô dân số 3.153.300 người.
Sáp nhập tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hòa (đã được quy hoạch đến năm 2030 trở thành thành phố trực thuộc trung ương) thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Khánh Hòa, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 8.555,9 km2 và quy mô dân số 1.882.000 người.
Sáp nhập tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lâm Đồng, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 24.233,1 km2 và quy mô dân số 3.324.400 người.
Sáp nhập tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đắk Lắk, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 18.096,4 km2 và quy mô dân số 2.831.300 người.
Sáp nhập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh thành 1 thành phố trực thuộc trung ương có tên gọi là Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 6.772,6 km2 và quy mô dân số 13.608.800 nguời.
Sáp nhập tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 12.737,2 km2và quy mô dân số 4.427.700 người.
Sáp nhập tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tây Ninh, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Tân An, tỉnh Long An hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 8.536,5 km2 và quy mô dân số 2.959.000 người.
Sáp nhập tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ thành 1 thành phố trực thuộc trung ương mới có tên gọi là thành phố Cần Thơ, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 6.360,8 km2 và quy mô dân số 3.207.000 người.
Sáp nhập tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Vĩnh Long, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long hiện nay (giảm 2 tỉnh), có diện tích tự nhiên 6.296,2 km2 và quy mô dân số 3.367.400 người.
Sáp nhập tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Tháp, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 5.938,7 km2 và quy mô dân số 3.397.200 người.
Sáp nhập tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Cà Mau, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 7.942,4 km2 và quy mô dân số 2.140.600 người.
Sáp nhập tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang thành 1 tỉnh mới có tên gọi là tỉnh An Giang, trung tâm hành chính - chính trị đặt tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang hiện nay (giảm 1 tỉnh), có diện tích tự nhiên 9.888,9 km2 và quy mô dân số 3.679.200 người./.
QĐND

SỨC MẠNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN - NHÂN TỐ LÀM NÊN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975

 

Cách đây 50 năm, trước thời cơ lịch sử, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm chiến lược, chỉ đạo mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trong 55 ngày đêm với tốc độ thần kỳ “một ngày bằng 20 năm”, mở đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên, kế tiếp là chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và cuối cùng là trận quyết chiến chiến lược - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới: hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại thắng mùa Xuân 1975 là một trong những chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đây là thành quả tất yếu của đường lối cách mạng đúng đắn, trong đó nổi bật là đường lối chiến tranh nhân dân. Để đương đầu với tên đế quốc sừng sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh bậc nhất thế giới lúc đó, Đảng ta đã vạch ra đường lối, phương pháp tiến hành chiến tranh nhân dân đặc sắc Việt Nam; phát động và tổ chức toàn dân kháng chiến, toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển lên đỉnh cao, cả về đường lối và nghệ thuật. Đó là đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện, tiến hành trên tất cả các lĩnh vực, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng; phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường; hậu phương kết hợp với tiền tuyến, thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam, Bắc,… tất cả hướng đến mục tiêu cao nhất là đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng.
Trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đã nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đường lối và phương pháp tiến hành chiến tranh nhân dân, giữa lực, thế, thời, mưu; chỉ đạo nghệ thuật tổ chức chiến tranh nhân dân hết sức nhuần nhuyễn, sáng tạo, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; giữa “đánh và đàm”; giữa quân sự với chính trị, binh địch vận bằng hai lực lượng, ba thứ quân; thực hiện cả nước lên đường, toàn dân đánh giặc, mỗi người dân là một chiến sĩ, tiến hành đánh địch trên mọi mặt trận, mọi chiến tuyến, bằng mọi loại vũ khí, đánh cả ở phía trước, phía sau lưng địch, trên 3 vùng chiến lược,… tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, hiểm hóc, luôn chủ động tiến công tiêu diệt địch, đánh bại từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn các thủ đoạn, chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai.
Nhìn lại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chúng ta thấy sức mạnh của chiến tranh nhân dân là rất to lớn, đã khơi dậy, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng giành độc lập dân tộc, thống nhất non sông của quân và dân ta. Thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, miền Bắc vừa là hậu phương lớn, vừa là tiền tuyến chia lửa với chiến trường miền Nam. Với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, quân, dân miền Bắc hừng hực khí thế cách mạng; hàng triệu thanh niên theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã lên đường tòng quân chiến đấu, tham gia thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, sẵn sàng hy sinh tuổi thanh xuân cho đất nước. Cùng với sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực, sự hình thành, phát triển của các quân chủng, binh chủng, quân đoàn chủ lực cơ động, bộ đội địa phương và lực lượng dân quân, du kích, tự vệ cũng được xây dựng, phát triển rộng khắp cả về quy mô, hình thức. Các phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”, nông dân “tay cày, tay súng”, công nhân “tay búa, tay súng”, học sinh làm “nghìn việc tốt chống Mỹ” nở rộ. Nhân dân miền Bắc vừa lao động sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu, chiến đấu tại chỗ bảo vệ quê hương, nhà máy, xí nghiệp, v.v. Đặc biệt, đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính đã được cụ thể hóa và biểu hiện rõ nét trong xây dựng, tổ chức hoạt động của tuyến chi viện chiến lược đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Con đường ấy là nơi hội tụ, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế; là chiến trường tổng hợp, nơi đấu trí, đấu lực vô cùng khốc liệt giữa ta và địch. Đường Trường Sơn trở thành biểu tượng, phát kiến độc đáo của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Trên tuyến đường ấy, cả nước ra trận với quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, “Sống bám trụ cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”,… lập nên những kỳ tích, chi viện đắc lực sức người, sức của cho chiến trường, kiên quyết đánh thắng Mỹ và tay sai ở miền Nam, không cho chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.
Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc là một phần rất quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc, lần đầu tiên chúng ta đã xây dựng được lực lượng phòng không ba thứ quân hùng hậu, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không rộng khắp, nhiều tầng, nhiều lớp, tạo lưới lửa phòng không dày đặc, đánh máy bay địch trên mọi hướng, mọi độ cao; có lực lượng ở các trọng điểm, lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động, thực hiện toàn dân bắn máy bay, tìm bắt phi công Mỹ, v.v. Qua đó, đập tan hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn, góp phần đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, khẳng định bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Trên chiến trường miền Nam, lực lượng, thế trận, nghệ thuật chiến tranh nhân dân được xây dựng, triển khai vô cùng sáng tạo. Phong trào Đồng Khởi 1960 của quân, dân miền Nam đã khẳng định tính đúng đắn của phương thức kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, với phương châm “hai chân, ba mũi, ba vùng”; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự, binh địch vận. Từ thực tiễn đó, lực lượng quân sự, chính trị, các cơ sở cách mạng bí mật, khu du kích, căn cứ nội đô, vùng ven, vùng “lõm”,… được xây dựng và không ngừng mở rộng, hình thành thế “cài răng lược” giữa ta và địch. Quân và dân ta đã xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, rộng khắp trên toàn miền Nam. Lực lượng vũ trang ta không chỉ đứng vững ở địa bàn rừng núi mà đã kiên cường bám trụ, đứng vững ở đồng bằng, vùng ven và cả các đô thị. Đây là điều kiện để chiến tranh du kích phát triển mạnh trên ba vùng chiến lược. Các “Vành đai diệt Mỹ” được hình thành, các phong trào “Diệt ác, phá kìm”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, đấu tranh chính trị, binh vận,… phát triển sâu rộng. Lực lượng dân quân, du kích và biệt động “xuất quỷ, nhập thần”, tổ chức đa dạng các hình thức chiến đấu, từ phân tán, nhỏ lẻ đến tập trung, đánh địch bằng mọi loại vũ khí, từ thô sơ như hầm chông, cạm bẫy đến hiện đại và lấy vũ khí của địch để đánh địch,… lập nhiều chiến công vang dội. Các lực lượng này còn tạo thế, phối hợp, hỗ trợ chủ lực Miền tổ chức các chiến dịch, trận đánh với quy mô ngày càng lớn, tiêu hao, tiêu diệt lớn sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, làm cho Mỹ, ngụy sa vào thế trận “thiên la địa võng”, bị đánh ở mọi lúc, mọi nơi, không có lấy một phút ngơi nghỉ, không an toàn ngay ở chính sào huyệt của chúng, dẫn tới sa sút về tinh thần, lâm vào thế bị động, buộc phải căng kéo, phân tán, lúng túng đối phó, v.v. Bằng 3 mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận), tiến công địch trên 3 vùng (rừng núi, đồng bằng, đô thị), quân và dân miền Nam đã lần lượt làm phá sản các chiến lược chiến tranh vô cùng nham nhiểm của Mỹ, ngụy. Trên khắp miền Nam đã có hàng vạn tấm gương đồng bào ta không sợ mất mát, hy sinh để nuôi giấu, chở che bộ đội, giúp đỡ cách mạng và hàng nghìn “Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt xe cơ giới”, “Dũng sĩ bắn tỉa” ở mọi lứa tuổi. Những “Đội quân tóc dài”, du kích địa đạo Củ Chi là nét độc đáo, sáng tạo của chiến tranh nhân dân miền Nam. Trong suốt những năm dài kháng chiến, địa đạo Củ Chi chính là biểu tượng sáng ngời về trí tuệ, ý chí quật cường và sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam, là “pháo đài” của ta ngay trước cửa ngõ Sài Gòn mà quân địch không thể đánh bại. Du kích địa đạo Củ Chi đã độc lập chiến đấu trên 100 trận, tiêu diệt, làm bị thương 659 tên địch, trong đó có 386 tên Mỹ, bắn cháy và phá hủy 61 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay, phá hủy 15 khẩu pháo 105 ly…; phối hợp với các đơn vị đánh trên 500 trận, bẻ gãy hàng trăm trận càn quét, tiêu diệt và làm bị thương 4.727 tên địch, trong đó có gần 3.000 tên Mỹ, bắn cháy và phá hủy 381 xe tăng, xe bọc thép, xe quân sự, bắn rơi 19 máy bay trực thăng, 2 máy bay phản lực, đánh chìm 7 tàu, xuồng chiến đấu. Điều này cho thấy sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam, của lòng kiên cường, dũng cảm, “thế trận lòng dân” vững như thành đồng và ý chí, khát vọng độc lập của dân tộc ta.
Để cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn, cùng với đẩy mạnh phát triển lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng, Đảng ta hết sức chú trọng xây dựng các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược. Sự ra đời của 4 quân đoàn chủ lực trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cho thấy, dù chủ trương kháng chiến lâu dài, nhưng Đảng ta luôn nắm chắc quy luật, tích cực xây dựng, phát triển các “quả đấm thép” để tiến hành các trận quyết chiến chiến lược với sức mạnh áp đảo, sớm kết thúc chiến tranh. Đây cũng là nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân thời đại Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn này, cùng với đẩy mạnh chiến tranh du kích trên cả ba vùng chiến lược, ta đã chủ động mở các chiến dịch tiến công ở nhiều quy mô, đặc biệt là các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, sử dụng tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng, phát huy sức mạnh của các binh đoàn chủ lực cơ động để tiêu diệt từng sư đoàn, quân đoàn chủ lực địch, phá vỡ từng mảng lớn trong hệ thống phòng thủ chiến lược của chúng. Qua đó, làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng, cục diện chiến trường theo hướng có lợi cho ta, tạo điều kiện thúc đẩy chiến tranh nhân dân tiếp tục phát triển, giữ vững thế chủ động tiến công, không ngừng tăng cường thế và lực, mở rộng vùng giải phóng đẩy quân địch vào thế phải co cụm, bị động đối phó.
Nét độc đáo và sức mạnh của chiến tranh nhân dân được thể hiện, phát triển đến đỉnh cao trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đặc biệt là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đó là sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, tổng tiến công và tổng khởi nghĩa bằng sự phối hợp tác chiến của ba thứ quân, lấy đòn tiến công như vũ bão của 4 quân đoàn và Đoàn 232 bằng sức mạnh hiệp đồng quân, binh chủng làm trung tâm, chọc thẳng vào các đô thị, trung tâm đầu não, căn cứ quân sự của địch, kết hợp với bộ đội địa phương, dân quân, du kích, biệt động thành đánh địch rộng khắp và quần chúng nổi dậy, mở ra thế trận tiến công với sức mạnh như triều dâng, thác đổ không gì ngăn cản được, khiến chính quyền và quân đội ngụy Sài Gòn nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn.
Sau 50 năm nhìn lại, càng cho chúng ta thấy rõ hơn về tầm vóc vĩ đại, giá trị của Đại thắng mùa Xuân 1975 cùng sự hy sinh to lớn của quân và dân ta trong suốt 21 năm trường kỳ kháng chiến. Và trên hết, thấy rõ tài thao lược, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chỉ đạo tiến hành chiến tranh cách mạng. Sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân chính là một trong những yếu tố quan trọng làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975. Đó mãi là bài học lớn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau.
Tiến hành chiến tranh nhân dân, thực hiện “toàn dân là lính”, “cả nước đánh giặc” là kinh nghiệm, truyền thống, quy luật giành thắng lợi trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó cũng là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt trong đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai (nếu xảy ra) chúng ta sẽ phải chống lại cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, tác chiến diễn ra trên nhiều môi trường với các loại hình, phương thức, thủ đoạn chiến tranh hiện đại. Để đánh bại chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân, nhưng đó sẽ là cuộc chiến tranh nhân dân phát triển ở trình độ cao; cuộc chiến tranh tổng lực, toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương (nền tảng là tác chiến phòng thủ quân khu, các khu vực phòng thủ) với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng hiện đại; thực hiện tiến công địch toàn diện, trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh mới, .v.v.
Trước những biến động phức tạp, khó lường của tình hình thế giới; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhất là sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ quân sự đã và đang làm chiến tranh có sự thay đổi căn bản về phương thức, quy mô, phạm vi, không gian, thời gian, môi trường, lực lượng và thủ đoạn tác chiến. Từ bài học về chiến tranh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng. Kiên định đường lối chiến tranh nhân dân; thường xuyên chú trọng củng cố quốc phòng, thực hiện tốt phương châm “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy”, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; trong đó, tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nhân tố cốt lõi để tăng cường sức mạnh quốc phòng, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân đánh bại chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc là sự chuẩn bị tốt nhất về lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tiềm lực và thế trận cho chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc nếu xảy ra. Để thực hiện tốt chủ trương chiến lược này, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn quân, toàn dân đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần triển khai thực hiện nghiêm quan điểm, đường lối, mục tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng. Quá trình thực hiện, nhất quán phương châm “người trước, súng sau”, phát huy sức mạnh tổng hợp trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đẩy mạnh xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Trong đó, chú trọng xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nhất là nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là học sinh, sinh viên, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ địa phương, cơ sở.
Phát huy kết quả đã đạt được, tiếp tục nâng cao tiềm lực mọi mặt của đất nước, nhất là đẩy mạnh phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, ch.uyển đ.ổi s.ố quốc gia, tạo đột phá về tăng trưởng gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Thực hiện tốt việc phân vùng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, hậu phương chiến lược, quy hoạch thế trận quân sự khu vực phòng thủ, phòng thủ quân khu, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh trên từng địa bàn và cả nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, cần nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện cơ chế, phương thức kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại, phù hợp với tình hình mới. Đặc biệt, tiếp tục quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao; lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa phương, cơ sở.
Cùng với đó, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, nhất là nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Chủ động dự báo các thách thức, tình huống quốc phòng, an ninh, hình thái chiến tranh có thể xảy ra. Đồng thời, kế thừa kinh nghiệm của chiến tranh giải phóng, nghiên cứu phát triển lý luận tác chiến chiến tranh nhân dân, nhất là các loại hình tác chiến chống xâm lấn bảo vệ biên giới, bảo vệ biển, đảo; tác chiến khu vực phòng thủ địa phương; tác chiến không gian mạng; tác chiến điện tử,… đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới./.
Tạp chí QPTD

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CỰU ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI LƯU BÌNH NHƯỠNG XIN GIẢM ÁN, ÔNG LÊ THANH VÂN KÊU OAN!

     Theo quyết định của TAND cấp cao tại Hà Nội, ngày 29/4 tới sẽ xét xử phúc thẩm các bị cáo Lưu Bình Nhưỡng (SN 1963), Lê Thanh Vân (SN 1964, đều là cựu Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và Nguyễn Văn Vương (SN 1976), cựu chuyên viên Văn phòng Chủ tịch nước.

Trước đó, TAND tỉnh Thái Bình tuyên phạt bị cáo Lê Thanh Vân mức án 7 năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi”. 

Ông Lưu Bình Nhưỡng nhận án 3 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 10 năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi”. 

Sau phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Thanh Vân, Nguyễn Văn Vương kháng cáo kêu oan, trong khi đó ông Lưu Bình Nhưỡng kháng cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự./.


Môi trường ST.

NÊN ĐOẠN TUYỆT VỚI TRUNG QUỐC????

     Mấy nhân sỹ, trí thức rởm đời mấy hôm nay lên mạng kêu gọi "đoạn tuyệt với Trung Quốc", "phản đối chuyến thăm của ông Tập Cận Bình"... Tất nhiên, các vị ấy toàn xài đồ của Mỹ, ăn gà rán của Mỹ (mà cũng chưa chắc có từ Mỹ thật không) nên mới có thể hùng hồn tuyên bố như vậy.

Còn nếu là những người lao động chân chính, tay lấm chân bùn thì chắc chắn không có suy nghĩ điên rồ như vậy. Vì sao ư, vì Trung Quốc đang là thị trường nhập khẩu hàng đầu nhiều hàng hóa của Việt Nam. Chỉ tính riêng gạo, một ngày, thị trường Trung Quốc đã nhập 70 tỷ gạo từ Việt Nam.  

Nhiều tờ báo từng hân hoan chúng ta xuất khẩu thanh long hay cafe sang Mỹ, Nhật, EU,... nhưng xuất khẩu cả năm không bằng thị trường Trung Quốc nhập khẩu một, hai tuần.

Một thị trường tỷ dân, sát biên giới là một lợi thế quá lớn với bất cứ nền kinh tế nào. Nó tạo ra lực đẩy tăng trưởng mạnh mẽ, hơn bất cứ vài ba hiệp định đơn thuần hoặc một liên minh kinh tế nào khác. Vấn đề là chúng ta khai thác và mở rộng thị trường đó như thế nào mà thôi./.




Khuyết danh ST.