Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2025
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 VỚI KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2025
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH, TRẤN ÁP TỘI PHẠM MA TÚY, BẢO VỆ CUỘC SỐNG BÌNH YÊN CỦA NHÂN DÂN!
Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2025
VIỆT NAM CHUẨN BỊ SỬ ĐỔI HIẾN PHÁP: CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG NHÂN VẬT CÒN SÓT LẠI TRONG NHÓM 72 TRI THỨC CHỐNG PHÁ CHẾ ĐỘ, ĐÒI BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP 2013!
Trẻ em dân tộc Chứt rạng ngời với lá cờ Tổ quốc








Nụ cười rạng rỡ với lá cờ Tổ quốc trên tay.






Lan tỏa tình yêu nước qua hình ảnh lá cờ Tổ quốc là một hành động ý nghĩa, góp phần bồi đắp tình yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc cho các em ngay từ khi còn nhỏ.
Tích cực lan tỏa giá trị tác phẩm của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
Tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt nhân dịp kỷ niệm 93 năm thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2023) và 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (1/2/2013 - 1/2/2023).

Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, những bài viết đậm chất lý luận và thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Tổng Bí thư được tập hợp, hệ thống lại nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ, thực hiện hiệu quả về việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, một số cá nhân, tổ chức thù địch đã lợi dụng, sử dụng nhiều cách thức đưa ra luận điệu xuyên tạc, phản động.
Được coi là “cánh tay đắc lực của Đảng”, để những giá trị của cuốn sách được lan tỏa sâu rộng, hơn ai hết, lực lượng đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong tuyên truyền, giới thiệu về tác phẩm, về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta đến các tầng lớp nhân dân.
Mỗi đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cần học tập, nhận thức đầy đủ những giá trị của tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bên cạnh đó, mỗi đoàn viên thanh niên phải là người tuyên truyền, lan tỏa ngày càng sâu rộng về những giá trị của tác phẩm trong hệ thống chính trị và xã hội.

Mỗi đoàn viên thanh niên phải là người tuyên truyền, lan tỏa ngày càng sâu rộng về những giá trị của tác phẩm trong hệ thống chính trị và xã hội. Ảnh Internet
Tác phẩm có hơn 600 trang sách, 111 bức ảnh với ba phần chính: Phần thứ nhất - “Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam”, tập trung làm rõ một số vấn đề có tính lý luận về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; tổng kết thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong 10 năm qua và chỉ ra những nhiệm vụ, giải pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực thời gian tới.
Phần thứ hai - “Nhất quán phương châm: Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm từ xa, cả ngọn lẫn gốc”, nhấn mạnh đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, từ đó chỉ rõ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phòng ngừa từ xa, từ sớm, mà trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đặc biệt là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên để trị tận gốc tham nhũng, tiêu cực.
Phần thứ ba - “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, đã tuyển chọn 96 trên tổng số hàng vạn ý kiến của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội và của chính khách, học giả nước ngoài bày tỏ sự tin tưởng, ủng hộ, đánh giá cao đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của đồng chí Tổng Bí thư.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện nghi thức phát hành cuốn sách của Tổng Bí thư. Ảnh: TTXVN
Tác phẩm là tài liệu quý báu đầy tính chân thực, khách quan, toàn diện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - vấn đề rất cốt lõi để xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, thể hiện nhuần nhuyễn kết hợp đồng bộ giữa “xây” và “chống”; giữa đẩy lùi và ngăn chặn từ sớm, từ xa; giữa xử lý nghiêm minh, nghiêm khắc và phòng ngừa, giáo dục; giữa xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và cán bộ gắn liền với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; giữa quyết tâm chính trị của người đứng đầu Đảng, của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị với sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân, bạn bè quốc tế.
Đồng thời, tác phẩm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, là sự tổng kết thực tiễn phong phú rút ra những vấn đề có tính lý luận và các bài học kinh nghiệm quý để củng cố thêm bản lĩnh, sức mạnh và niềm tin; định hướng giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới.

Cuốn sách được trình bày hơn 600 trang với 111 bức ảnh, được kết cấu thành 3 phần và Tài liệu Hỏi - đáp những nội dung cốt lõi của tác phẩm. Ảnh Internet
Tác phẩm cho thấy sự nhất quán giữa nói và làm; sự kiên trì đấu tranh không ngừng nghỉ; sự thống nhất giữa những nung nấu nhiều năm và hành động quyết liệt trong đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; cho thấy tầm nhìn, sự nhất quán cùng những trăn trở, suy nghĩ của đồng chí Tổng Bí thư để có các biện pháp, giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả.
Từ đó đã khẳng định niềm tin, sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội, chính khách, học giả nước ngoài với quyết tâm của Đảng và những chỉ đạo hiệu quả của đồng chí Tổng Bí thư trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam.
Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta; giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu đúng về mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, từ đó giữ vững, củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Đoàn thanh niên Cụm thi đua số 1 (Đoàn Khối CCQ&DN tỉnh Hà Tĩnh) tổ chức sinh hoạt đoàn với chủ đề “Tuổi trẻ - trách nhiệm, niềm tin và khát vọng”.
Vì thế, tổ chức Đoàn thanh niên cần tăng cường và đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền, tổ chức các diễn đàn, hội thảo, tọa đàm, các cuộc thi... để tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong thế hệ trẻ về nội dung tác phẩm; tăng cường bồi đắp lý tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” cho đoàn viên.
Thứ Năm, 17 tháng 4, 2025
BÁC BỎ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
“Tư tưởng
Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc
ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành
thắng lợi.”; quan điểm này đã được Đảng ta khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những
nguồn gốc rõ ràng, mang tính cách mạng và khoa học; được Đảng ta xác định là nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Tuy
nhiên, gần đây ở trong nước và nước ngoài, một số người nêu danh “nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh”, đã truyền bá luận điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ
nghĩa dân tộc. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải
phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Từ sự nhận thức phiến diện, họ rút ra kết luận:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập
với chủ nghĩa Mác - Lênin vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn chủ
nghĩa Mác - Lênin là lý luận đấu tranh giai cấp.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập
với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa
dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp “tả khuynh”
của Quốc tế Cộng sản và của lãnh tụ các Đảng cộng sản lớn.
Thông qua lịch trình hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những điều chỉnh Người nói về tư tưởng của
mình, chúng ta hãy xem luận điểm trên có phải là “tìm tòi sự thật” hay là sự
xuyên tạc lịch sử?
Hồ Chí Minh sinh ra trong một
gia đình nhà nho nghèo, nghĩa tình nhân đức và thiết tha yêu nước. Người được
chứng kiến sự tàn bạo của thực dân, phong kiến và bản thân cũng lớn lên trong
khổ đau, hoạn nạn. Vì thế, Hồ Chí Minh sớm có lòng yêu nước, thương dân. Hồ Chí
Minh khâm phục tinh thần xả thân vì nước của các bậc tiền bối trong cuộc khởi
nghĩa của Hoàng Hoa Thám, trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong
trào Duy Tân của Phan Chu Trinh... nhưng với nhãn quan chính trị độc lập và sáng
suốt, Người không tán thành con đường cứu nước của các cụ vì mỗi con đường đó đều
có hạn chế, khó có thể đi đến thành công. Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước
mới với hành trang chỉ là chủ nghĩa yêu nước truyền thống và một trí tuệ mẫn tiệp.
Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, nung nấu chí hướng cứu nước
cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em chung cảnh ngộ, vừa hoạt động
cách mạng, vừa học hỏi các tư tưởng mới..., nhận thức của Hồ Chí Minh chuyển biến
từng bước. Mùa thu năm 1920, Hồ Chí Minh được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương của Lênin chỉ rõ
cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô
sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp tuyệt vời điều Hồ Chí Minh đang
trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Hồ Chí Minh xác định muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Cũng từ đây, Hồ Chí
Minh tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết bất hủ chỉ ra con đường giải
phóng giai cấp vô sản và các giai cấp lao động khác, giải phóng các dân tộc bị
áp bức, giải phóng con người, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng
sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sự chuyển biến tư tưởng từ
chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp
vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng coi việc
chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc
“hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có người cố tình xuyên tạc rằng đó
là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái cây truyền thống với cái mầm
ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính chất huyền diệu”... !
Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã viết về quá trình đó như sau:
Lúc đầu, chính là chủ nghĩa
yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo
Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận
Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và
những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Tiếp thụ
chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không thụ động, mà dùng lập trường, quan điểm,
phương pháp Mác - Lênin, vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung
của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có
Việt Nam. Những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi, tính
chủ động và khả năng thành công trước của cách mạng thuộc địa, nội dung chủ yếu
của cách mạng thuộc địa, quy luật thành lập Đảng ở các nước thuộc địa, v.v...là
những cống hiến lý luận to lớn của Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng giải
phóng dân tộc trên thế giới.
Ngay từ năm 1924, Hồ Chí
Minh đã khẳng định đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân
tộc là động lực lớn của đất nước”. Phải chỉ rõ rằng Hồ Chí Minh đánh giá cao động
lực của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Hồ Chí
Minh không phải là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường phong kiến hay tư sản, mà
đây là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường vô sản.
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kỹ
các cuộc cách mạng trên thế giới, đánh giá tính chất từng cuộc cách mạng ở từng
nước, để tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Với cách mạng Mỹ, Người
cho rằng: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng, giời sinh ra ai cũng có quyền
tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ Chính phủ
nào mà có hại cho dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ
khác. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mạng, ai đụng
đến Chính phủ. Về cách mạng tư sản Pháp, Người chỉ rõ: “tư bản nó dùng chữ Tự
do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ
phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng
như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là
cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức
thuộc địa. Với Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến
nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không
phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An
Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công,
nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế
quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Người xác định cách mạng Việt Nam phải
đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười. Với tác phẩm Đường cách mạng thì đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã được xác định về cơ bản.
Trong những năm 20 thế kỷ
XX, Hồ Chí Minh ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân
và phong trào yêu nước để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Cùng với việc truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã chuẩn bị về đường lối cho cách mạng Việt
Nam. Theo Hồ Chí Minh, nước ta từ khi Pháp xâm lược đã trở thành một nước thuộc
địa nửa phong kiến. Trong xã hội đó, chứa đựng cả mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn
giai cấp nhưng mâu thuẫn dân tộc nổi lên gay gắt nhất, giải phóng dân tộc là mục
tiêu cơ bản và trước hết, chống đế quốc và tay sai giải phóng dân tộc đã đã bao
hàm nội dung giải phóng giai cấp nhưng chưa triệt để. Muốn củng cố thành quả của
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng
con người, phải thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Nếu nước
độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì” và chủ trương: “chúng ta đã hy sinh làm cách mạng, thì nên làm cho
đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều,
chớ để trong tay một số ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng
mới được hạnh phúc”. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là một xã hội mọi người
dân đều có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do; đất nước được hoà bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là
nội dung nổi bật và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng:
con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống,
được kết hợp với tư tưởng cách mạng tiên tiến Mác - Lênin trở thành tư tưởng giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam theo lập
trường giai cấp công nhân.
Đầu năm l930, Hồ Chí Minh
triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng. Người trình bày dự thảo Chánh
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, được Hội nghị của Đảng thông
qua, trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Tuy còn “vắn tắt” nhưng cương lĩnh
đã nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
tuy mới là “vắn tắt”, nhưng đã bao quát được những vấn đề có ý nghĩa định hướng
về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Nội dung Cương lĩnh vừa thấm
nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với hoàn cảnh và
yêu cầu của cách mạng Việt Nam.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng
ta đã lấy chủ nghĩa - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Song
có thời gian do hạn chế về nhận thức, nên một số đồng chí không quán triệt đầy
đủ tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Hội nghị thành lập Đảng. Từ năm 1936,
nhất là từ Hội nghị Trung ương sáu tháng 11 - 1939 đến Hội nghị Trung ương tám
tháng 5 - 1941, đường lối cách mạng của Đảng ta đã trở lại quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh và từ đó đường lối của Đảng ta luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của
Người.
Bằng nhãn quan chính trị sắc,
Đại hội XIII của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định phải “kiên định chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng
tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”[1]
Những sử liệu trên, dù mới
chỉ được dẫn ra chưa đầy đủ và còn sơ lược, cũng đã chứng tỏ những luận điệu
như: tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc, không có nội dung đấu tranh
giai cấp; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ
Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam... chỉ là một sự bóp
méo sự thật, xuyên tạc lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối. Hơn
bao giờ hết, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh,
làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày cảng trường tồn và phát triển.
[1]
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.40
VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG, KIÊN QUYÊT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu
thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn
bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa; đồng thời, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng
thủ hướng đông của đất nước. Kế thừa và phát triển truyền thống dựng và giữ nước
của dân tộc, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của
biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chủ trương, chính sách về biển, đảo. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước
ta là quản lý, khai thác đi đôi với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán quốc gia trên biển, làm cho đất nước giàu mạnh.
Quán triệt sâu sắc chủ trương, quan
điểm của Đảng về biển, đảo Việt Nam, cùng với công tác tuyên truyền, đấu tranh
trên thực địa và chính trị, công tác đấu tranh trên mặt trận đối ngoại đã được
thực hiện một cách chủ động, kiên quyết và kiên trì, góp phần bảo vệ vững chắc
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Trong công tác đối ngoại, Việt Nam đã
chủ động nêu vấn đề Biển Đông trong các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp với nhiều
nước, tại các diễn đàn đa phương như Hội nghị các cấp ASEAN, Diễn đàn an ninh
khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng
(ADMM+) và các hội nghị quốc tế khác.
Chủ động xây dựng và lưu hành tại
Liên hợp quốc các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ và phản đối các hành động sai trái, xâm phạm chủ
quyền biển, đảo Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao kênh học giả được triển khai
đa dạng và đồng bộ; các cuộc hội thảo thu hút hàng trăm học giả, nhà nghiên cứu
hàng đầu về Biển Đông.
Ngay khi có những tình huống nảy
sinh trên biển, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt
Nam, chúng ta đã chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh với các bên liên
quan để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam ở Biển Đông. Vụ việc
Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Hải Dương - 981 (HD981) và các biện pháp
đấu tranh của Việt Nam, trong đó có đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là minh
chứng sống động thể hiện quan điểm chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Với vị thế là quốc gia hướng biển, có vị thế địa - chính trị, địa
- kinh tế then chốt, nằm ở vị trí xung yếu về mặt trận an ninh, quốc phòng. Việt
Nam có nhiều lợi thế và không ít thách thức trong công cuộc đưa đất nước trở
thành “quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an
toàn” như Chiến lược phát triển bền vững
kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Ban Chấp hành Trung ương các khoá đã đề ra.

