Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2025

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 VỚI KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Sáng 20.4, tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Công an, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Thành ủy TP. Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia Đại thắng mùa Xuân 1975 với kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam. Đây là hoạt động trọng điểm hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2025).
Dự và chủ trì hội thảo có các Ủy viên Bộ Chính trị: Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang; Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang; Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Nên.
Đồng chủ trì có: Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Trịnh Văn Quyết; Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Lê Huy Vịnh; Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, Trung tướng Vũ Cương Quyết.
Cùng dự có: nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đại tướng Lê Hồng Anh; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính và lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang nhấn mạnh, mùa Xuân năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Chỉ huy của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân và dân ta đã thực hiện thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng ta lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là minh chứng khẳng định đường lối cách mạng chủ động, sáng tạo, phương pháp lãnh đạo đúng đắn của Đảng; là thắng lợi của sức mạnh chiến tranh nhân dân, biểu hiện sinh động của chủ nghĩa yêu nước kết hợp chặt chẽ với ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình, của sức mạnh đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Những bài học lịch sử từ Đại thắng mùa Xuân 1975 mãi là nguồn lực to lớn để các thế hệ người Việt Nam tiếp tục phấn đấu, sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Nên cho hay, phát huy các giá trị tinh thần của Đại thắng Mùa Xuân 1975 và làm tròn sứ mệnh lịch sử trong thời đại mới, TP. Hồ Chí Minh hôm nay là sự tiếp nối xứng đáng những gì mà thế hệ cha anh đã giành được. 50 năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trải qua nhiều thử thách, cam go, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP. Hồ Chí Minh luôn giữ vững truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, phát huy trí tuệ, tâm huyết, tiềm lực của nhân dân, chung sức, đồng lòng vượt mọi khó khăn, thử thách, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước.
Phát biểu đề dẫn hội thảo, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, Đại thắng mùa Xuân 1975 là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam hiện đại, thể hiện tầm vóc vĩ đại của ý chí độc lập, tự cường và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Những giá trị lịch sử của chiến thắng vĩ đại này tiếp tục là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Hội thảo tập trung vào 5 nội dung trọng tâm. Thứ nhất, làm rõ vai trò lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt chặng đường cách mạng, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thứ hai, phân tích bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế trước và trong thời điểm diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Thứ ba, khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng, quả cảm, kiên cường và sáng tạo của lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước, đặc biệt là quân và dân miền Nam. Thứ tư, nhấn mạnh vai trò to lớn của hậu phương lớn miền Bắc - nơi đã chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, cùng sự ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè quốc tế. Thứ năm, đánh giá toàn diện tầm vóc, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và Đại thắng mùa Xuân 1975 nói riêng.
Kết luận hội thảo, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang nhấn mạnh, hội thảo là sự kiện quan trọng trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Các tham luận tại hội thảo có nội dung phong phú, góp phần làm rõ thêm một số nội dung quan trọng, trong đó có nhiều luận giải, phân tích, đánh giá mới làm sâu sắc hơn về Đại thắng mùa Xuân năm 1975 với Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.
Hội thảo là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ôn lại truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất của dân tộc; tri ân sâu sắc đến các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, các anh hùng liệt sĩ, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các thương binh, bệnh binh, gia đình có công với cách mạng; cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Kết quả của cuộc hội thảo sẽ góp phần hun đúc tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; củng cố niềm tin và quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời, đấu tranh với các quan điểm sai trái, phủ nhận cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân ta.
Thông qua hội thảo, tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn nữa tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của Đại thắng mùa Xuân năm 1975; đúc rút những kinh nghiệm và bài học lịch sử để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, tiến lên chủ nghĩa xã hội./.


7

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH, TRẤN ÁP TỘI PHẠM MA TÚY, BẢO VỆ CUỘC SỐNG BÌNH YÊN CỦA NHÂN DÂN!

     Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Công điện số 45/CĐ-TTg về vụ án đối tượng mua bán trái phép chất ma túy tấn công lực lượng thi hành công vụ tại tỉnh Quảng Ninh. Công điện gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Công điện nêu rõ, ngày 18/4/2025, Thủ tướng Chính phủ nhận được báo cáo của Bộ Công an về việc Công an tỉnh Quảng Ninh đấu tranh chuyên án triệt phá đường dây mua bán trái phép chất ma túy; trong quá trình truy bắt, các đối tượng đã manh động, sử dụng vũ khí quân dụng chống trả lại lực lượng Công an làm đồng chí Thiếu tá Nguyễn Đăng Khải, cán bộ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Quảng Ninh hy sinh. Ngay trong ngày 18/4/2025, lực lượng Công an đã truy bắt toàn bộ các đối tượng liên quan đến vụ án trên.

Đồng chí Thiếu tá Nguyễn Đăng Khải hy sinh là tổn thất, mất mát to lớn của gia đình, Công an tỉnh Quảng Ninh và toàn lực lượng Công an nhân dân.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi lời chia buồn và thăm hỏi đến gia đình liệt sĩ Thiếu tá Nguyễn Đăng Khải, Công an tỉnh Quảng Ninh và toàn thể lực lượng Công an nhân dân; chia sẻ những khó khăn, vất vả; ghi nhận những nỗ lực, cố gắng của toàn lực lượng Công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.

Bộ Công an phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và các bộ, cơ quan liên quan tổ chức thăm hỏi chu đáo, động viên, chia sẻ đau thương mất mát, có biện pháp hỗ trợ kịp thời về vật chất, tinh thần đối với thân nhân, gia đình đồng chí Nguyễn Đăng Khải; thực hiện tốt nhất các chính sách đối với cán bộ và gia đình cán bộ hy sinh khi làm nhiệm vụ. Kịp thời có hình thức khen thưởng theo thẩm quyền và kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền khen thưởng xứng đáng cho các tập thể, cá nhân tham gia phá án.

Thời gian tới, tình hình tội phạm, tệ nạn ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn liên tục thay đổi, tinh vi, nguy hiểm. Các đối tượng sẵn sàng sử dụng vũ khí quân dụng để chống trả lại lực lượng chức năng khi bị phát hiện, truy bắt. Để thực hiện có hiệu quả Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ phối hợp Công an tỉnh Quảng Ninh khẩn trương tổ chức điều tra, phối hợp truy tố, xét xử vụ án để răn đe, phòng ngừa chung. Tiến hành sơ kết, tổng kết đánh giá các phương án, kế hoạch đấu tranh, truy bắt tội phạm ma túy đặc biệt nguy hiểm, sử dụng vũ khí; bảo đảm tuyệt đối an toàn tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, hạn chế xuống mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản trong quá trình đấu tranh, truy bắt tội phạm ma túy.

Tổ chức phát động phong trào thi đua học tập tấm gương dũng cảm của liệt sĩ Nguyễn Đăng Khải trong đấu tranh phòng, chống tội phạm tạo sự lan tỏa, khí thế tấn công trấn áp tội phạm. Tiếp tục tập trung xây dựng lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng Cảnh sát phòng, chống ma túy nói riêng thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy tinh nhuệ, hiện đại, xứng đáng là chỗ dựa vững chắc, “điểm tựa bình yên” vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được giao chỉ đạo triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trong Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy và Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 16/4/2025 của Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện Kết luận số 132-KL/TW./.
Ảnh: Đối tượng Bùi Đình Khánh sau 24 giờ đã bị cơ quan Công an bắt giữ.
Theo ND
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2025

VIỆT NAM CHUẨN BỊ SỬ ĐỔI HIẾN PHÁP: CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG NHÂN VẬT CÒN SÓT LẠI TRONG NHÓM 72 TRI THỨC CHỐNG PHÁ CHẾ ĐỘ, ĐÒI BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP 2013!

     Nhóm 72 hay Nhóm Kiến nghị 72 (KN72) là Nhóm kiến nghị góp ý Sửa đổi Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, do 72 trí thức người Việt Nam soạn thảo và đề nghị (đề ngày 19/1/2013).

Thực hiện Chỉ thị số 22-CT/T.Ư ngày 28/12/2012 Của Bộ Chính trị về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia góp ý đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, cả hệ thống chính trị và toàn dân đã tích cực tham gia vào các việc tổ chức lấy ý kiến của các cấp, các ngành, các địa phương và đơn vị trong cả nước tổ chức. Đã có hàng triệu lượt ý kiến tâm huyết với vận mệnh của đất nước được góp ý thẳng thắn, dân chủ và cởi mở, mang tính xây dựng với mong muốn sắp đến nước ta có một bản Hiến pháp mới hoàn chỉnh, thể hiện đầy đủ quyền và lợi ích của đất nước, của nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta thấy trên diễn đàn mạng xuất hiện một số tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề dân chủ trong đợt sinh hoạt chính trị này để đưa ra những quan điểm sai trái, hoàn toàn không có tính xây dựng. 

Nổi lên là một số người do Nguyễn Đình Lộc (sinh năm 1935), ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và từng là Bộ trưởng thứ hai của Bộ Tư pháp, giai đoạn 1992-2002 cầm đầu.

Vào ngày 4-2-2013, Nguyễn Đình Lộc với vai trò là người cầm đầu “nhóm kiến nghị 72”, gọi là “nhóm nhân sĩ, trí thức”, đã trao kiến nghị sửa Hiến pháp tại Văn phòng Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. 

Đây thực sự là nhóm chống Đảng, chống Nhà nước. 72 tên “nhân sĩ, trí thức” chống Đảng phần lớn trong số đó là nhân sĩ, trí thức, trong đó nhiều người đã từng có vị trí cao trong xã hội, và có người đang tại chức bao gồm:

1. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội

2. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu, Hà Nội

3. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM

4. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM

5. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội

6. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, TP HCM

7. Phạm Vĩnh Cư, nhà nghiên cứu, Hà Nội

8. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội

9. Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

10. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM

11. Nguyễn Văn Dũng, nhà văn, võ sư, Huế

12. Hồ Ngọc Đại, GS TS, nhà giáo, Hà Nội

13. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM

14. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM

15. Lê Hiền Đức, Giải thưởng Liêm chính 2007, Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Hà Nội

16. Phan Hồng Giang, TSKH, Hà Nội

17. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM

18. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

19. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội

20. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội

21. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội

22. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

23. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP Hồ Chí Minh, TP HCM

24. Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thừa Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế

25. Nguyễn Văn Hồng (tức Cung Văn), nguyên Tổng Thư ký Ban chấp hành Sinh viên đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964-1965, Đà Nẵng

26. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh

27. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng

28. Trần Ngọc Kha, nhà báo, Hà Nội

29. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM

30. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội

31. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới, TP HCM

32. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội

33. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội

34. Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội

35. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM

36. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

37. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội
38. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM

39. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An

40. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM

41. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

42. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn, Hà Nội

43. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp Đại học, Hà Nội

44. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin sáng, TP HCM

45. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế

46. Hoàng Xuân Phú, GS Viện Toán học, Hà Nội

47. Trần Việt Phương, nguyên trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

48. Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội

49. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội

50. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM

51. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội

52. Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn, Hà Nội

53. Lê Văn Tâm, TS, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Nhật Bản

54. Trần Công Thạch, hưu trí, TP HCM
55. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM

56. Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Hà Nội

57. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

58. Đào Tiến Thi, thạc sĩ, Hà Nội

59. Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hà Nội

60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội

61. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM

62. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

63. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội

64. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, nguyên Chủ tịch Viện IDS, Hà Nội

65. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM

66. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội

67. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM

68. Nguyễn Hữu Vinh, doanh nhân, Hà Nội

69. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế

70. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, Huế

71. Nguyễn Đông Yên, GS TS, Viện Toán học, Hà Nội

72. Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM.

Nhóm người này đã tự xưng trong bản kiến nghị, rằng: “…chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây… nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai…”. Tất nhiên là nhóm người này không quên gửi kèm bản “Dự thảo Hiến pháp 2013” - gọi là tài liệu để tham khảo, thảo luận. Điều muốn nói ở đây là trong nội dung của bản kiến nghị này, có nhiều quan điểm sai trái mà lâu nay một số người thuộc nhóm bất mãn chế độ, cơ hội chính trị, phản động ở cả trong và ngoài nước được sự “tiếp sức” của các thế lực cực đoan, thù địch sử dụng như là một chiêu bài hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta. 

Theo đó, những nội dung chính của kiến nghị chống Đảng này là:

1. Đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức nguỵ biện, vừa suy diễn một cách tùy tiện, có tính công kích nói xấu Đảng ta. Ai cũng hiểu rất rõ rằng, lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi nhận toàn bộ quá trình thực thi nội dung các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều gắn liền với những thắng lợi to lớn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng của cách mạng nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Điều đó cho thấy rất rõ Đảng ta đã, đang và chắc chắn sẽ thể hiện đầy đủ vai trò là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đây là sự thật lịch sử hoàn toàn không thể phủ nhận. Do vậy, việc đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp là một hành động xét về mặt đạo lý thuần tuý khác gì là vô ơn, bội nghĩa cần phải lên án mạnh mẽ. Chắc chắn những nhân sĩ, trí thức chân chính không có lối hành xử thiếu nhân văn như vậy!

2. Đòi phân chia sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, bằng cách yêu cầu thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, với lập luận “ru ngủ” những ai nhẹ dạ, mất cảnh giác như: “Việc Đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước”.

Với thái độ hết sức cầu thị, Đảng ta đã từng nghiêm túc thừa nhận rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng có lúc phạm phải những sai lầm, khuyết điểm. Đảng đã sớm nhận ra những sai lầm, khuyết điểm ấy bằng quyết tâm chính trị của mình, nhanh chóng tìm ra các giải pháp khắc phục, từng bước củng cố niềm tin nhân dân đối với Đảng. Từ sau ngày hoà bình, thống nhất đất nước cho đến năm 2013 đã 38 năm trôi qua, cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đưa đất nước ta phát triển toàn diện; từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, khó khăn, thiếu thốn trăm bề, đã vươn lên mạnh mẽ thoát khỏi nhóm các nước nghèo của thế giới, để trở thành một quốc gia đang phát triển và hội nhập quốc tế; nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, chẳng việc gì phải có nhiều đảng để rồi đấu đá, xâu xé, tranh giành nhau quyền kiểm soát xã hội, xảy ra nội chiến như nhiều nước ở quanh ta và trên thế giới.

3. Đòi phi chính trị đối với lực lương vũ trang (LLVT), với lập luận hết sức đơn điệu và lạc lõng là: “LLVT phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào như quy định tại Điều 70 của Dự thảo”, sau đó họ ngang nhiên tuyên bố: “Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định LLVT phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đòi hỏi phi lý này của nhóm KIẾN NGHỊ 72 là thật lố bịch! 

Ai cũng biết rằng LLVT được sinh ra làm nhiệm vụ là công cụ chuyên chính sắc bén, được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tế lịch sử cách mạng nước ta cho thấy, nếu không có LLVT tuyệt đối trung thành thì liệu đất nước Việt Nam có được như hôm nay? Từ sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đến nay, dưới sự lãnh đạo sâu sát, sáng tạo và kịp thời của Đảng, LLVT ta đã đánh tan các cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ toàn vẹn biên cương của Tổ quốc, sau đó liên tiếp dẹp các vụ bạo loạn mang sắc màu chính trị do các thế lực thù địch trong nước cấu kết với bọn phản động nước ngoài thực hiện. Đó là bài học xương máu, cảnh tỉnh cho chúng ta về sự trung thành của quân đội đối với Đảng. Hay nói cách khác rằng, LLVT Việt Nam cần luôn đặt dưới sự lãnh đạo, tuân thủ đường lối quân sự và phương châm chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ Quốc do Đảng ta định hướng. Nếu thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng nghĩa với việc LLVT ta sẽ sớm hoặc muộn sẽ mất phương hướng chiến đấu, không xác định được đối tượng tác chiến, chắc chắn sẽ thất bại trên chiến trường.

Nhóm KN72 xướng danh: “…Chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây…”, thật là một kiểu danh xưng vô thưởng vô phạt, bởi chắc chắn họ không đủ tư cách đại diên cho hơn 90 triệu người Việt Nam, vậy họ đại diện cho bao nhiêu người? Điều đó đủ thấy kẻ giấu mặt đứng sau nhóm KN72 không dám xưng gì hơn, đồng nghĩa với việc sợ đối mặt với nhân dân, những người làm chủ vận mệnh đất nước, mặt khác họ sợ đối mặt với sự thật lịch sử hào hùng của dân tộc mà họ đang rắp tâm bôi nhọ, xuyên tạc một cách trơ trẽn. Họ chính là những người với những lý do khác nhau đang bất mãn với chế độ, được các thể lực thù địch bơm thổi kích động, được bọn phản động trong và ngoài nước mua chuộc, lôi kéo, cổ suý để thực hiện chiêu bài chiến tranh không tiếng súng vốn được dàn dựng khá công phu từ lâu, hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống lại sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nhân dân ta./.
Ảnh: 3 nhân vật đòi bỏ điều 4 Hiến pháp 2013 (từ trái sang): Chu Hảo, Nguyễn Đình Lộc, Lê Hiếu Đằng.
Khuyết danh!

Trẻ em dân tộc Chứt rạng ngời với lá cờ Tổ quốc

 

bqbht_br_atdt01042.jpg
Từ ý tưởng của Huyện đoàn Hương Khê và nhà nhiếp ảnh trẻ Trần Đình Thông, bộ ảnh độc đáo về khoảnh khắc hồn nhiên, vui tươi của các em học sinh dân tộc Chứt độ tuổi mầm non và cấp tiểu học (bản Rào Tre, xã Hương Liên, Hương Khê) bên lá cờ Tổ quốc đã được thực hiện.
Những hình ảnh cho thấy vẻ đẹp hồn nhiên của các em dân tộc Chứt.
Những hình ảnh cho thấy vẻ đẹp hồn nhiên của các em dân tộc Chứt.
bqbht_br_atdt01271.jpg
bqbht_br_atdt01302.jpg
bqbht_br_atdt01222.jpg
bqbht_br_atdt01202.jpg
Lá cờ đỏ sao vàng...
bqbht_br_atdt01087.jpg
... là biểu tượng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.
Nụ cười rạng rỡ với lá cờ Tổ quốc trên tay.

Nụ cười rạng rỡ với lá cờ Tổ quốc trên tay.

bqbht_br_atdt00161.jpg
bqbht_br_atdt00177.jpg
bqbht_br_atdt00112.jpg
bqbht_br_atdt00108.jpg
Những bức ảnh bên lá cờ Tổ quốc trong trang phục truyền thống là những kỷ niệm đẹp với các bạn học sinh cấp tiểu học.
bqbht_br_atdt01358.jpg
Bộ ảnh cũng đã khéo léo ghi lại những khoảnh khắc bình dị của các em học sinh.
Lan tỏa tình yêu nước qua hình ảnh lá cờ Tổ quốc là một hành động ý nghĩa, góp phần bồi đắp tình yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc cho các em ngay từ khi còn nhỏ.

Lan tỏa tình yêu nước qua hình ảnh lá cờ Tổ quốc là một hành động ý nghĩa, góp phần bồi đắp tình yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc cho các em ngay từ khi còn nhỏ.

Tích cực lan tỏa giá trị tác phẩm của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt nhân dịp kỷ niệm 93 năm thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2023) và 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (1/2/2013 - 1/2/2023).

Tích cực lan tỏa giá trị tác phẩm của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, những bài viết đậm chất lý luận và thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Tổng Bí thư được tập hợp, hệ thống lại nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ, thực hiện hiệu quả về việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, một số cá nhân, tổ chức thù địch đã lợi dụng, sử dụng nhiều cách thức đưa ra luận điệu xuyên tạc, phản động.

Được coi là “cánh tay đắc lực của Đảng”, để những giá trị của cuốn sách được lan tỏa sâu rộng, hơn ai hết, lực lượng đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong tuyên truyền, giới thiệu về tác phẩm, về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta đến các tầng lớp nhân dân.

Mỗi đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cần học tập, nhận thức đầy đủ những giá trị của tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bên cạnh đó, mỗi đoàn viên thanh niên phải là người tuyên truyền, lan tỏa ngày càng sâu rộng về những giá trị của tác phẩm trong hệ thống chính trị và xã hội.

Tích cực lan tỏa giá trị tác phẩm của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Mỗi đoàn viên thanh niên phải là người tuyên truyền, lan tỏa ngày càng sâu rộng về những giá trị của tác phẩm trong hệ thống chính trị và xã hội. Ảnh Internet

Tác phẩm có hơn 600 trang sách, 111 bức ảnh với ba phần chính: Phần thứ nhất - “Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam”, tập trung làm rõ một số vấn đề có tính lý luận về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; tổng kết thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong 10 năm qua và chỉ ra những nhiệm vụ, giải pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực thời gian tới.

Phần thứ hai - “Nhất quán phương châm: Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm từ xa, cả ngọn lẫn gốc”, nhấn mạnh đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, từ đó chỉ rõ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phòng ngừa từ xa, từ sớm, mà trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đặc biệt là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên để trị tận gốc tham nhũng, tiêu cực.

Phần thứ ba - “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, đã tuyển chọn 96 trên tổng số hàng vạn ý kiến của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội và của chính khách, học giả nước ngoài bày tỏ sự tin tưởng, ủng hộ, đánh giá cao đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của đồng chí Tổng Bí thư.

Tích cực lan tỏa giá trị tác phẩm của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện nghi thức phát hành cuốn sách của Tổng Bí thư. Ảnh: TTXVN

Tác phẩm là tài liệu quý báu đầy tính chân thực, khách quan, toàn diện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - vấn đề rất cốt lõi để xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, thể hiện nhuần nhuyễn kết hợp đồng bộ giữa “xây” và “chống”; giữa đẩy lùi và ngăn chặn từ sớm, từ xa; giữa xử lý nghiêm minh, nghiêm khắc và phòng ngừa, giáo dục; giữa xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và cán bộ gắn liền với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; giữa quyết tâm chính trị của người đứng đầu Đảng, của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị với sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân, bạn bè quốc tế.

Đồng thời, tác phẩm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, là sự tổng kết thực tiễn phong phú rút ra những vấn đề có tính lý luận và các bài học kinh nghiệm quý để củng cố thêm bản lĩnh, sức mạnh và niềm tin; định hướng giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới.

Tích cực lan tỏa giá trị tác phẩm của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Cuốn sách được trình bày hơn 600 trang với 111 bức ảnh, được kết cấu thành 3 phần và Tài liệu Hỏi - đáp những nội dung cốt lõi của tác phẩm. Ảnh Internet

Tác phẩm cho thấy sự nhất quán giữa nói và làm; sự kiên trì đấu tranh không ngừng nghỉ; sự thống nhất giữa những nung nấu nhiều năm và hành động quyết liệt trong đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; cho thấy tầm nhìn, sự nhất quán cùng những trăn trở, suy nghĩ của đồng chí Tổng Bí thư để có các biện pháp, giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả.

Từ đó đã khẳng định niềm tin, sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội, chính khách, học giả nước ngoài với quyết tâm của Đảng và những chỉ đạo hiệu quả của đồng chí Tổng Bí thư trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam.

Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta; giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu đúng về mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, từ đó giữ vững, củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Tích cực lan tỏa giá trị tác phẩm của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Đoàn thanh niên Cụm thi đua số 1 (Đoàn Khối CCQ&DN tỉnh Hà Tĩnh) tổ chức sinh hoạt đoàn với chủ đề “Tuổi trẻ - trách nhiệm, niềm tin và khát vọng”.

Vì thế, tổ chức Đoàn thanh niên cần tăng cường và đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền, tổ chức các diễn đàn, hội thảo, tọa đàm, các cuộc thi... để tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong thế hệ trẻ về nội dung tác phẩm; tăng cường bồi đắp lý tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” cho đoàn viên.

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2025

BÁC BỎ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”; quan điểm này đã được Đảng ta khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc rõ ràng, mang tính cách mạng và khoa học; được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Tuy nhiên, gần đây ở trong nước và nước ngoài, một số người nêu danh “nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh”, đã truyền bá luận điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ sự nhận thức phiến diện, họ rút ra kết luận:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận đấu tranh giai cấp.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp “tả khuynh” của Quốc tế Cộng sản và của lãnh tụ các Đảng cộng sản lớn.

Thông qua lịch trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những điều chỉnh Người nói về tư tưởng của mình, chúng ta hãy xem luận điểm trên có phải là “tìm tòi sự thật” hay là sự xuyên tạc lịch sử?

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, nghĩa tình nhân đức và thiết tha yêu nước. Người được chứng kiến sự tàn bạo của thực dân, phong kiến và bản thân cũng lớn lên trong khổ đau, hoạn nạn. Vì thế, Hồ Chí Minh sớm có lòng yêu nước, thương dân. Hồ Chí Minh khâm phục tinh thần xả thân vì nước của các bậc tiền bối trong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh... nhưng với nhãn quan chính trị độc lập và sáng suốt, Người không tán thành con đường cứu nước của các cụ vì mỗi con đường đó đều có hạn chế, khó có thể đi đến thành công. Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước mới với hành trang chỉ là chủ nghĩa yêu nước truyền thống và một trí tuệ mẫn tiệp. Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, nung nấu chí hướng cứu nước cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em chung cảnh ngộ, vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi các tư tưởng mới..., nhận thức của Hồ Chí Minh chuyển biến từng bước. Mùa thu năm 1920, Hồ Chí Minh được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương của Lênin chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp tuyệt vời điều Hồ Chí Minh đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Hồ Chí Minh xác định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Cũng từ đây, Hồ Chí Minh tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết bất hủ chỉ ra con đường giải phóng giai cấp vô sản và các giai cấp lao động khác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Sự chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản là một quá trình hợp quy luật. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng coi việc chủ nghĩa yêu nước truyền thống Hồ Chí Minh bắt gặp chữ nghĩa Mác - Lênin là cuộc “hẹn gặp lịch sử”, hoàn toàn không phải như có người cố tình xuyên tạc rằng đó là một sự lai ghép cưỡng bức, vội vàng giữa cái cây truyền thống với cái mầm ngoại nhập”, tạo thành một “ảo ảnh”, mang “tính chất huyền diệu”... !

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quá trình đó như sau:

Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không thụ động, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Mác - Lênin, vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi, tính chủ động và khả năng thành công trước của cách mạng thuộc địa, nội dung chủ yếu của cách mạng thuộc địa, quy luật thành lập Đảng ở các nước thuộc địa, v.v...là những cống hiến lý luận to lớn của Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã khẳng định đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Phải chỉ rõ rằng Hồ Chí Minh đánh giá cao động lực của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Hồ Chí Minh không phải là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường phong kiến hay tư sản, mà đây là chủ nghĩa dân tộc theo lập trường vô sản.

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kỹ các cuộc cách mạng trên thế giới, đánh giá tính chất từng cuộc cách mạng ở từng nước, để tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Với cách mạng Mỹ, Người cho rằng: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng, giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mạng, ai đụng đến Chính phủ. Về cách mạng tư sản Pháp, Người chỉ rõ: “tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân. Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Với Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Người xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười. Với tác phẩm Đường cách mạng thì đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã được xác định về cơ bản.

Trong những năm 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã chuẩn bị về đường lối cho cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, nước ta từ khi Pháp xâm lược đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trong xã hội đó, chứa đựng cả mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp nhưng mâu thuẫn dân tộc nổi lên gay gắt nhất, giải phóng dân tộc là mục tiêu cơ bản và trước hết, chống đế quốc và tay sai giải phóng dân tộc đã đã bao hàm nội dung giải phóng giai cấp nhưng chưa triệt để. Muốn củng cố thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng con người, phải thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” và chủ trương: “chúng ta đã hy sinh làm cách mạng, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là một xã hội mọi người dân đều có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do; đất nước được hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung nổi bật và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, được kết hợp với tư tưởng cách mạng tiên tiến Mác - Lênin trở thành tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người ở Việt Nam theo lập trường giai cấp công nhân.

Đầu năm l930, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng. Người trình bày dự thảo Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, được Hội nghị của Đảng thông qua, trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Tuy còn “vắn tắt” nhưng cương lĩnh đã nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng tuy mới là “vắn tắt”, nhưng đã bao quát được những vấn đề có ý nghĩa định hướng về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Nội dung Cương lĩnh vừa thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của cách mạng Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã lấy chủ nghĩa - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Song có thời gian do hạn chế về nhận thức, nên một số đồng chí không quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Hội nghị thành lập Đảng. Từ năm 1936, nhất là từ Hội nghị Trung ương sáu tháng 11 - 1939 đến Hội nghị Trung ương tám tháng 5 - 1941, đường lối cách mạng của Đảng ta đã trở lại quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và từ đó đường lối của Đảng ta luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của Người.

Bằng nhãn quan chính trị sắc, Đại hội XIII của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định phải “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”[1]

Những sử liệu trên, dù mới chỉ được dẫn ra chưa đầy đủ và còn sơ lược, cũng đã chứng tỏ những luận điệu như: tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là chủ nghĩa dân tộc, không có nội dung đấu tranh giai cấp; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam... chỉ là một sự bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối. Hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày cảng trường tồn và phát triển.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.40

VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG, KIÊN QUYÊT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC

 

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Kế thừa và phát triển truyền thống dựng và giữ nước của dân tộc, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển, đảo. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là quản lý, khai thác đi đôi với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, làm cho đất nước giàu mạnh.

Quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đảng về biển, đảo Việt Nam, cùng với công tác tuyên truyền, đấu tranh trên thực địa và chính trị, công tác đấu tranh trên mặt trận đối ngoại đã được thực hiện một cách chủ động, kiên quyết và kiên trì, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Trong công tác đối ngoại, Việt Nam đã chủ động nêu vấn đề Biển Đông trong các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp với nhiều nước, tại các diễn đàn đa phương như Hội nghị các cấp ASEAN, Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và các hội nghị quốc tế khác.

Chủ động xây dựng và lưu hành tại Liên hợp quốc các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ và phản đối các hành động sai trái, xâm phạm chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao kênh học giả được triển khai đa dạng và đồng bộ; các cuộc hội thảo thu hút hàng trăm học giả, nhà nghiên cứu hàng đầu về Biển Đông.

Ngay khi có những tình huống nảy sinh trên biển, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, chúng ta đã chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh với các bên liên quan để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam ở Biển Đông. Vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Hải Dương - 981 (HD981) và các biện pháp đấu tranh của Việt Nam, trong đó có đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là minh chứng sống động thể hiện quan điểm chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.

Với vị thế là quốc gia hướng biển, có vị thế địa - chính trị, địa - kinh tế then chốt, nằm ở vị trí xung yếu về mặt trận an ninh, quốc phòng. Việt Nam có nhiều lợi thế và không ít thách thức trong công cuộc đưa đất nước trở thành “quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn” như Chiến lược phát triển bền vững  kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Ban Chấp hành Trung ương các khoá đã đề ra.