Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2025

VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) luôn cần được bổ sung để hoàn thiện, và luôn phải tiếp tục bổ sung, bởi lý luận soi sáng thực tiễn nhưng mọi lý luận đều phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không sẽ trở thành giáo điều, lạc hậu.

Sau sự kiện phá dỡ Bức tường Berlin với tính chất của một biểu tượng, rồi sự sụp đổ của Liên Xô - nhiều người đã cho rằng đó là sự sụp đổ của lý tưởng XHCN - thế giới dường như lại hướng tới những giá trị của chủ nghĩa tư bản (CNTB) mà có vẻ không có sự thay thế khả dĩ nào khác. Chúng ta chưa đi đến cuối lịch sử loài người, nhưng CNTB dường như đã trở thành điều cuối cùng ở lại. CNXH và những người cánh tả dường như vẫn đang bị sốc, ám ảnh nên chưa sẵn sàng giương cao trở lại ngọn cờ của mình. Kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế TBCN hiện diện ở nhiều nước XHCN khiến nhiều người cảm thấy CNTB đã giành chiến thắng.

Tuy nhiên, cái gọi là toàn cầu hoá của CNTB đã không mang lại sự hoàn thiện cho một mô hình xã hội mơ ước. Nếu coi hiện thực trên thế giới ngày nay là thành công thì chúng ta đã rất sai, với kết quả thật thảm hại: với tất cả sự giàu có tích lũy, thì nạn đói vẫn tiếp tục là yếu tố tử vong chính trong dân số hành tinh này. Để 15% nhân loại được sống một cách thoải mái theo ý thích của họ, 85% còn lại phải chịu đựng những khó khăn cùng cực: nghèo đói, bệnh tật, thiếu hiểu biết, thiếu các dịch vụ tối thiểu, chiến tranh và bạo lực với các biểu hiện khác nhau ở mọi nơi (phân biệt chủng tộc, gia trưởng, định kiến). Vậy đâu là thành công của hệ thống TBCN?

Ngược dòng lịch sử, thì những bê bối của Vatican với Toà án dị giáo và “7 núi tội của Kito với nhân loại” đã không khiến các Kitô hữu từ bỏ các giáo lý trong tôn giáo của họ. So sánh dù khập khiễng, nhưng như vậy thì sự thất bại của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô cũng không thể gây ra sự từ bỏ lý tưởng XHCN khỏi chân trời lịch sử của loài người. Cho rằng chủ nghĩa xã hội thất bại là một quan niệm rất sai lầm, trong mọi trường hợp, bởi đó là thất bại của một mô hình chứ không phải của bản thân CNXH, nó đã không tiến triển được như kỳ vọng, nhưng rõ ràng ở tất cả những nơi CNXH từng tồn tại, nó đã giải quyết được nhiều vấn đề hơn là những kết quả mà hệ thống TBCN đạt được. Trong XHCN không có ai chết vì đói, không có người mù chữ, không ai không có nhà ở và không được tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Hơn nữa, các nước XHCN không bao giờ là người phát động các cuộc chiến tranh, đảo chính hay can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Tuy hiện tại CNXH chưa có nhiều thành tựu ở mức độ lý tưởng, nhưng giá trị tư tưởng mà CNXH mang lại vẫn là nền tảng cho hoà bình của nhân loại, trong khi đó mọi diễn văn hùng biện về chiến thắng của CNTB vẫn tự mâu thuẫn với chính nó, bởi ngoài chủ nghĩa tiêu dùng tham lam, các nhóm người quay cuồng trong cuộc sống văn hoá nghèo nàn và rẻ mạt với những giá trị cá nhân chủ nghĩa được đề cao thì nó chẳng có gì khác cả!

Bởi vậy, ngay trong thời điểm cam go của cuộc chiến ai thắng ai này, hãy tiếp tục là một người XHCN, tiếp tục nắm lấy hệ tư tưởng XHCH, để hy vọng và đấu tranh cho một thế giới có nhiều công lý hơn, không phải là những đức tin mơ hồ, niềm tin giáo điều, mù quáng, không có kết quả. Tôn giáo có thể tập hợp được một số người bởi những ảo ảnh thuần túy trong niềm tin chủ quan, mê hoặc, phi logic chỉ vì những cảm nhận cá nhân, như các nhà thần học từ thời trung cổ đã nói, rằng “đức tin không cần phải được chứng minh”!!! Là một người XHCN, thì cùng với phân tích khoa học, bạn cũng sẽ tự hình thành một niềm tin cho bản thân.

Tuy nhiên, để có được một niềm tin vững chắc vào lý tưởng XHCN thì chúng ta cần những điều lớn hơn như vậy rất nhiều, trở thành một người XHCN là một quyết định quan trọng, một quyết định mà ngay cả cuộc sống của bản thân cũng có thể phải hy sinh, nhưng chính điều đó sẽ nuôi dưỡng cho chúng ta một nhân cách cao cả, một nền tảng đạo đức vững chắc, và tư duy khoa học sâu sắc.

Ai tạo ra của cải cho xã hội? Đó chính là giai cấp công nhân và những người vô sản, không thể nghi ngờ điều đó. Nhưng đại đa số của cải lại bị chiếm đoạt bởi tầng lớp sở hữu tư liệu sản xuất (các chủ ngân hàng tư nhân, các nhà tài phiệt công nghiệp, các địa chủ), đó cũng là một sự thật không thể bác bỏ, điều đó không phải là lý thuyết hay chỉ là vấn đề thuộc về niềm tin. Bởi vậy, lựa chọn con đường CNXH là để giải quyết các vấn đề với một chiều sâu khoa học (chủ nghĩa duy vật lịch sử) trong khi vẫn tự bổ sung thêm khả năng nhạy cảm xã hội, quan tâm và tôn trọng phẩm giá con người, niềm tin vững chắc vào công lý, trong đó điều quan trọng nhất đối với một con người đúng nghĩa là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, ước mơ của cách mạng Pháp mà ngay từ tác phẩm “Ba người lính ngự lâm” đã đề cập đến một cách rất đẹp đẽ.

Tiếp tục lựa chọn con đường CNXH không chỉ là trách nhiệm hay chỉ vì tình cảm tốt đẹp đơn thuần, mà phải trở thành một tình yêu vô điều kiện, trong khi tình yêu đơn thuần dành cho tình yêu không thể tồn tại một cách vô điều kiện. Bởi tình yêu đối với CNXH là cả một nền văn hoá, chúng ta phải tạo ra một nền văn hóa dựa trên các giá trị của nó, đó mới chính là CNXH, để có được CNXH!

Ngay cả khi chúng ta không thể yêu tất cả những người khác một cách vô điều kiện, thì chúng ta vẫn có thể dành cho CNXH tình yêu vô điều kiện và tôn trọng điều đó. Bởi bất công, dưới bất kỳ hình thức nào của nó (bóc lột kinh tế, phụ thuộc giới tính, phân biệt sắc tộc) đều là những biểu hiện thiếu tôn trọng mà CNXH luôn đấu tranh để loại bỏ.

Những người lựa chọn CNTB để chống lại CNXH, là những người mong muốn một xã hội bất công dựa trên sự bóc lột mà họ là những người có quyền bóc lột, áp bức các tầng lớp khác. Lịch sử đã cho thấy mong muốn đó chỉ có thể đưa nhân loại đến những cuộc tàn sát đồng loại. Ham muốn quyền lực, tìm kiếm quyền lực tối cao - cám dỗ đó là yếu tố tự phát của bản năng tự nhiên, là phần con trong mỗi con người chúng ta, bản năng đó chưa bao giờ cung cấp cho con người một lối thoát hay sự giải phóng thật sự. Ham muốn đó chỉ có thể dẫn chúng ta đến chỗ quay cuồng với giá trị của những chiếc siêu xe, những smartphone thời thượng, những chai rượu đắt tiền hoặc trở thành những “ngôi sao, thần tượng” nhạt nhẽo, tầm thường.

Chỉ có những hành động mang tính cách mạng của CNXH nhằm cải tạo phần bản năng đó, thay đổi thế giới đó, thực trạng đó, ý thức đó mới có thể thực sự giải phóng con người. Nghĩa là, nếu bạn muốn trở thành một con người XHCN, nhiều khi bạn sẽ phải đi ngược lại dòng chảy thông thường theo bản năng vốn có của xã hội loài người chúng ta.

Chủ nghĩa tư bản, hình thái xã hội chỉ dựa trên lợi ích cá nhân, quên đi mọi sự tôn trọng của con người dành cho con người và thế giới tự nhiên. Với động cơ cuối cùng của cuộc sống chỉ là "lợi nhuận", đem đến một cuộc sống nghèo nàn về giá trị đích thực của con người, nên CNTB chính là một quả bom hẹn giờ có thể dẫn tới sự tự huỷ diệt của loài người. Nhân danh những giá trị của nó, CNTB sẵn sàng hy sinh tất cả chỉ để tìm kiếm lợi nhuận, từ việc gây ra các thảm họa môi trường đến việc diệt chủng, thậm chí tự huỷ diệt chính nó. Mâu thuẫn tự thân được tạo ra trong CNTB quá sâu đến mức nó không thể quay trở lại và không thể tự điều chỉnh, tự quản lý được. tất cả góp phần tạo ra một quả bom hẹn giờ sẽ phát nổ ở đâu đó. Thậm chí tệ hơn, nhân danh việc bảo vệ lợi ích của một số ít người, những cuộc chiến tranh chết chóc tạo ra nguy cơ rất cao đối với cả hành tinh chúng ta. Nếu tất cả năng lượng hạt nhân chứa trong các vũ khí nguyên tử có sẵn hiện nay được kích hoạt, sẽ có một vụ nổ hoành tráng có thể phá huỷ cả Hệ mặt trời..

Những vũ khí hoành tráng đó không hề giúp ngăn chặn được việc sau mỗi 7 giây lại có 1 người chết vì đói trên thế giới này, nghèo đói và chiến tranh là nguyên nhân chính gây ra cái chết của loài người chúng ta. Buồn vì điều đó chăng? Đừng, vì chúng ta không xứng đáng được buồn khi chưa hiểu rằng nghèo khó và chiến tranh đều không do ai khác ngoài CNTB gây ra. CNXH đã không bao giờ bắt đầu một cuộc chiến diệt chủng vì lợi nhuận cho một nhóm người, còn CNTB đã gây ra cái chết của bao nhiêu con người?

Chúng ta có thể nhìn thấy trong nhiều trường hợp, các mô hình thí điểm XHCN vẫn còn rất nhiều lỗi lầm: tả khuynh và hữu khuynh, sự lạm dụng quyền lực, thiếu cởi mở, gia đình trị, điều hành kém hiệu quả, quan liêu, sùng bái cá nhân, cùng vô số những lúng túng trong sự tìm tòi một con đường phù hợp. Cánh tả thế giới hiện nay bàn luận khá nhiều về điều này trong tự phê bình với những bài học kinh nghiệm này. Cánh hữu thì dựa vào đó để thổi phồng, cho rằng CNXH đã hoàn toàn thất bại. Nhưng sự thật về bóc lột, bất công, cướp đoạt, chủ nghĩa tiêu dùng tham lam vô độ của CNTB vẫn hiển hiện thì sao?

Mặt khác, sự lạm dụng quyền lực không phải là một “phát minh” của CNXH, mà nó là bản năng thú tính còn sót lại của con người, ở bất kỳ chế độ xã hội nào. Trong chế độ XHCN thì đó là biểu hiện suy thoái, tiến hoá ngược của những ai thiếu rèn luyện, bị cám dỗ bởi quyền lực, bị tư sản hoá mà xa rời giai cấp mình đại diện, chứ nó không phải là bản chất của CNXH mà nhân loại hướng đến. Bởi vậy, CNXH và CNCS vẫn là lối thoát duy nhất, là hy vọng cuối cùng cho loài người ở cuối con đường, khi nó tự khắc phục được những điểm yếu và lỗi lầm của nó. Trong khi đó, “lối thoát” của CNTB có gì khác hơn là những cuộc chiến tranh? Cho đến nay, ngành công nghiệp có lợi nhuận cao nhất của CNTB vẫn là sản xuất vũ khí, ngành công nghiệp chết chóc. Đó có phải là thành công?

Các mô hình xã hội dựa trên sự bóc lột của giai cấp tư hữu không thể đem đến sự giải phóng con người, và do đó chắc chắn không thể đem lại sự công bằng giữa những con người với nhau. Với chân trời XHCN, chúng ta hiểu biết về chính những điều chưa hoàn hảo của CNXH và những sai lầm mà con người mắc phải, để chúng ta đối mặt với những điều đó, ít nhất cũng là với hy vọng đem lại chân lý, vượt qua sự nghèo nàn rẻ rúng của chủ nghĩa cá nhân.

Cuộc sống của chúng ta sẽ là rất không xứng đáng nếu nó chỉ được đo bằng số tiền chúng ta có trong ngân hàng, bằng chiếc xe chúng ta sử dụng hoặc bằng quần áo chúng ta mặc. Bởi ngay cả khi không có lý do để hy vọng, chúng ta vẫn luôn có lý do cho phẩm giá của mình, và giá trị cao nhất của CNXH, chính là phẩm giá con người.

Nhưng, điều gì đã xảy ra trong xã hội loài người chúng ta sau nhiều thế kỷ tiến hoá khỏi sự u mê lạc hậu? CNTB được hình thành từ trong đêm dài trung cổ tối tăm, đem lại những tiến bộ nhất định, và CNXH được xây dựng lên trong lòng CNTB để mở ra một bình minh mới, rực rỡ hơn. Vậy nhưng bây giờ nó đang khủng hoảng, có một sự thụt lùi đáng lo ngại trong việc thực hiện lý tưởng đấu tranh vì tự do cho con người, để rồi CNTB hiện đại với những điều chỉnh nhất định bằng cách vận dụng chính các giá trị của CNXH lại có thể hả hê trước sự thoái trào của CNXH.

Cuộc chiến đấu cho một thế giới tiến bộ hơn, công bằng hơn trong hơn hai trăm năm qua, từ giữa thế kỷ thứ mười tám với các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đến nay, dường như đã bị dập tắt. Các phong trào tranh đấu vì hoà bình, vì quyền của người lao động đã trở nên rời rạc, yếu ớt, thậm chí lặng lẽ biến mất trong cuộc sống của quần chúng nhân dân. Tư tưởng XHCN về cách mạng cải biến thế giới được hưởng ứng mạnh mẽ cách đây nửa thế kỷ, truyền cảm hứng cho các cuộc đấu tranh anh hùng ở tất cả các nơi trên thế giới, hiện đang có một sự thoái trào đáng xấu hổ. Nó không bị dập tắt, nhưng chìm khuất trong những mơ hồ giữa phồn hoa giả tạo với sự đói nghèo thực tế.

Có phải chúng ta đang rút lui, đầu hàng? Chắc chắn là không, bởi những điều đã thúc giục, khuyến khích chúng ta: bất công xã hội, mâu thuẫn giai cấp, cùng với tất cả những điều tà ác khác trong đời sống xã hội vẫn đang hiển hiện, chưa được khắc phục và không hề biến mất. Nghĩa là, loài người chưa dập tắt được nguyên nhân của những bạo ngược bất công, nên hậu quả của nó vẫn đang tồn tại. Nói cách khác là: khi sự bóc lột, bất công vẫn còn, thì động lực và mục tiêu đấu tranh vẫn còn. Chỉ có điều rằng, động lực đó đã không còn được khai thác, khi những tiếng thét phẫn nộ của nhân loại bị áp bức bị chìm lấp, bưng bít sau bức màn hào nhoáng giả tạo và sự thao túng của truyền thông do các thế lực tư bản nắm giữ. Nó không biến mất, nhưng nó tắc nghẹn và gần như không được lắng nghe.

Chuyện gì đang xảy ra vậy? Hệ thống tư bản, với nhiều thế kỷ kinh nghiệm (từ thế kỷ 13, với những tích luỹ sơ khai ở Bắc Âu, cho đến sự bành trướng tài chính và đế quốc toàn cầu hiện nay), đã tích lũy để chiếm hữu hầu hết tài sản của thế giới, với quyền lực gần như tuyệt đối và độc tài nắm giữ kiến thức của nhân loại. Để tự bảo tồn, không sa vào cơn giãy chết, CNTB đã phát triển các công nghệ kiểm soát xã hội một cách tinh vi nhất, vượt lên mọi hình thức thống trị về tư tưởng - văn hoá từng được biết đến trong lịch sử loài người. Các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có sức mạnh thâm nhập và thao túng lớn đến mức nó không cho phép có thuốc giải độc. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản đang đầu độc ngay chính bản thân nó bằng những kỹ thuật bẩn thỉu và kinh tởm nhất.

Trong thế giới của tư bản không có chỗ cho đạo đức, cho những day dứt dằn vặt mang tính nhân văn, cho sự thật. Như bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã Joseph Goebbels đã thẳng thừng tuyên bố: “Một lời nói dối lặp đi lặp lại hàng ngàn lần sẽ biến thành sự thật", và giới tinh hoa tư sản ngày nay đã biến phương châm này trở thành cốt lõi của sự thao túng đa số quần chúng nhân dân. Trong xã hội tư bản, chỉ có lợi nhuận là được coi trọng, nó biến thành một bộ luật bất thành văn, lạnh lùng và không bao giờ khoan nhượng. Để thực hiện điều đó, nó lừa dối trong mọi thông tin: hoạt động tẩy não được biến thành “đời sống tâm linh, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận”, vũ khí giết người được mô tả là “bom thông minh, đạn biết tránh người tốt”, thủ thuật cướp đoạt được gọi là “chiến lược kinh doanh” một cách tinh vi, những tên sát nhân và lạm dụng tình dục được biến thành “thần tượng của giới trẻ”, vv và vv... Mọi điều đều được diễn tả một cách thăng hoa, miễn là có thể biến nhân loại trở thành một “bầy người” có thể dẫn dắt dễ dàng.

Trong khi đó, CNXH với các nguyên tắc nền tảng của mình, không cho phép xã hội đi theo cách đó, mà nó lấy nhân phẩm làm quy tắc trung tâm. Còn với CNTB, điều duy nhất được coi là giá trị chỉ là sự tích lũy tư bản, kể cả việc gây chiến tranh, gian lận tài chính, buôn bán ma tuý và buôn bán người mà có thể đem lại lợi nhuận thì đều được hoan nghênh. CNXH không thể chấp nhận những điều này, nhưng trong cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng, CNXH đến nay vẫn chưa giành được chiến thắng, điều này đặt ra một vấn đề đạo đức rất lớn: làm thế nào để CNXH có thể phù hợp để tiếp quản và quản lý sự hoành tráng mà CNTB đã tạo ra? Khi mà những lời nói dối đã trở thành “chân lý”, bởi nhân loại hầu như đã bị trói buộc và tẩy não toàn bộ suốt một quá trình rất dài?

Thế giới ngày nay đã bị ngành công nghiệp văn hóa tư tưởng khổng lồ do tư bản nắm giữ thao túng từng ngày, từng phút, từng giây. Thông điệp ý thức hệ tư sản tràn ngập tất cả mọi thứ: phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, không gian Internet, cuộc sống hàng ngày với sự quản lý của thiểu số cánh hữu mang tư tưởng tân tự do, phát xít mới, tôn giáo bảo thủ và cả các tà phái, ..., tất cả những thứ đó được tập hợp thành cơ chế kiểm soát, thao túng xã hội một cách rất hiệu quả!

Thực tế này - có thể bị cho là bi quan, nhưng nó là sự thật - chính là điều mấu chốt đặt ra cho những người XHCN, cần phải quyết liệt hơn nữa, nỗ lực hơn nữa để cải tổ chính mình, tiếp tục giác ngộ chính mình, để có thể trả lời câu hỏi đơn giản mà Lenin đã đặt ra từ năm 1902: “Chúng ta phải làm gì?”. Điều đó có nghĩa là: làm thế nào để CNXH có thể tiếp tục tiến lên, trước những tiến bộ của CNTB, khi mà họ biết vận dụng chính những lý luận, phương pháp của CNXH để làm mới mình, tránh khỏi nguy cơ tự diệt vong. Vậy những người XHCN phải làm sao để giành chiến thắng?

Câu trả lời ở đây là rất khó, chắc chắn những người ở tầng lớp chúng ta không ai có thể trả lời ngay lúc này, cũng không có hướng dẫn cụ thể nào có thể khẳng định là sẽ đem đến hợp lý và thành công. Nhưng chúng ta có niềm tin, và có tình yêu vô điều kiện dành cho CNXH. Với điều đó, chúng ta có thể xây dựng các phương án khác nhau cho mình. Với những người làm công tác tư tưởng văn hoá thì rõ ràng là các phương pháp cũ sẽ phải được đánh giá lại, xem xét lại và liên tục đổi mới, không phải là chỉ làm cho “có phong cách mới” mà phải nghiên cứu sâu về thực tiễn xã hội mà chúng ta đang sống. Từ những điều cụ thể như tại sao giới trẻ lại lệch chuẩn, tại sao quần chúng không đọc sách và nghiên cứu mà chỉ chăm chú theo dõi MXH? Đến những việc vĩ mô như: Tại sao các nhân vật dân tuý lại được quần chúng lắng nghe và tung hô? Tại sao các ứng cử viên cực hữu trên thế giới lại giành chiến thắng trong bầu cử dù họ mang tư tưởng tân phát xít, siêu bảo thủ, phân biệt chủng tộc? Tại sao tổ chức công đoàn lao động mất vai trò của mình? Tại sao thuật ngữ "đấu tranh giai cấp" không còn được quan tâm và nhiều người tránh né?

Rõ ràng là, cuộc đấu tranh vẫn đang ở phía trước, và các phương pháp đấu tranh của những người XHCN phải được điều chỉnh, suy nghĩ lại để đổi mới thật sự, đổi mới hay là chết! Đơn giản như việc nếu chúng ta phê phán tuổi trẻ rằng “Thanh niên ngày nay không còn mấy ai nghĩ đến việc lên rừng để chịu đựng kham khổ mà cống hiến, lên núi để thấy mình cao hơn” thì họ sẽ hỏi lại rằng “Có còn khu rừng nào? Núi nào đáng để leo lên?”. Vâng, nếu chúng ta không giữ rừng cho họ, không là núi cao cho họ ngưỡng mộ và hướng tới thì họ sẽ chẳng biết làm gì và sẽ tiêu thụ nốt tất cả những gì còn lại của chúng ta mà chẳng làm nên gì cả! 

Việc xem xét lại để đổi mới phương pháp hoạt động chính trị và công tác tư tưởng văn hoá hiện nay của CNXH là hết sức cấp bách. Toàn cầu hoá, hiện đại hoá, lấy kinh tế là trung tâm không thể mang ý nghĩa là việc chúng ta từ bỏ lý tưởng của mình, theo bất cứ cách nào!

Với các bạn trẻ, xin nói rằng: nếu các bạn đọc hết bài viết này, các bạn đã có thể là cảm tình viên của CNXH, nếu hiểu được sâu sắc thì các bạn đã xứng đáng là Đảng viên, và nếu trả lời được các câu hỏi trong bài thì các bạn đã là NHỮNG CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!

HÃY TRÂN TRỌNG VÀ GÌN GIỮ GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH

 

 

Trong cuộc sống, mỗi người đều có lựa chọn riêng, để sự tồn tại của mình trở nên có ý nghĩa, và chia sẻ, kết nối với người khác, với xã hội, lịch sử. Sinh thời giáo sư nổi tiếng Trần Đại Nghĩa người từ chối mức lương 20 lượng vàng để theo Hồ Chủ tịch về nước. Trong buổi trưa ngày 30/4/1975 ông đã viết vào cuốn sổ tay nhỏ của mình "Đã hoàn thành nhiệm vụ". Đó là nhiệm vụ cứu nước, cứu dân mà khi mới 20 tuổi ông ấp ủ. Ông đã từ bỏ mức lương 20 lạng vàng 1 tháng để về Việt Nam theo cách mạng. Khi báo chí phương Tây hỏi vì sao ông theo Hồ Chủ tịch về nước mà không ở lại như một số bạn bè khác, ông đã nói “Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả”.

Để có được đất tự do sau gần 100 trăm năm bị nộ lệ bởi giặc Tây, những người lính Việt Minh đã đi ròng rã 9 năm trời từ căn cứ địa Tân Trào rồi cắm cờ trên chiến hào Điện Biên phủ. Nếu nói về quãng đường đi ngày hôm nay, nó chỉ tầm vài giờ xe chạy nhưng để có được hòa bình người Việt Nam phải đi quãng đường dài 9 năm mới có được, kèm theo đó sự đánh đổi hi sinh xương máu của hàng triệu con em máu đỏ da vàng.

Để có được thống nhất non sông, người Việt Nam đã đi ròng rã 21 năm trời trên con đường trường chinh giải phóng dân tộc, hành trình của người Việt được nâng đỡ trên những chiếc xe thồ vạn dặm, và sự bền bỉ của đôi dép cao su vượt trường sơn đi cứu nước. Ngày nay chúng ta trên chuyến bay hành trình Hà Nội - TPHCM chỉ tầm 2 giờ bay, nếu bạn đi xe khách hoặc tàu hỏa cũng chỉ hai ngày. Nhưng để có được hai ngày đó những người lính của chúng ta đã nằm gai nếm mật hi sinh gian khổ và sau 21 năm vào ngày 30/4/1975 mới tới được đích đến Dinh độc lập.

Để đuổi được người Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, người Việt đã giáng hàng trăm trận đánh lớn nhỏ trên chiến trường với người Mỹ.

Để có được Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam và ba nước Đông dương. Kết quả của gần 5 năm đàm phán với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp Thế giới.

Nếu hòa bình độc lập mà dễ như nhiều người từng chém gió trên mạng, thì người Việt không phải đánh nhau ròng rã với người Pháp 9 năm. Để thống nhất non sông mà dễ như múa phím trên mạng xã hội người Việt đâu cần đánh Mỹ tới mấy chục năm trời.

Hòa Bình luôn là vế sau của những cuộc chiến, mà nơi đó những người con ưu tú nhất đã ra đi mãi mãi không trở về!

Vậy thì thế hệ trẻ chúng ta ngày hôm nay, chúng ta hãy làm điều gì đó tốt đẹp đi để đền đáp công ơn thế hệ cha anh đi trước?

RÈN LUYỆN TƯ CÁCH NGƯỜI CÁCH MẠNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương ngời sáng về tư cách của một người cách mạng; là người “vật chất không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, luôn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người luôn luôn nêu cao ý thức tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Trong tác phẩm Ðường Kách mệnh, Người viết về tư cách người cách mạng: "Tự mình phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, ít lòng ham muốn về vật chất...".

Ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người nêu "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" và "đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính".

Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, Người thường nhắc nhở đồng bào, cán bộ, chiến sĩ kết hợp chặt chẽ phong trào thi đua giết giặc với phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu.

Năm 1947, Người viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc nêu rõ: Phải rèn luyện đạo đức cách mạng, ra sức chống những thói hư tật xấu, lên mặt quan cách mạng, hẹp hòi, tư túi, v.v.

Năm 1952, trong tác phẩm Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, Người phân tích rõ biểu hiện, bản chất, tác hại, nguyên nhân và những biện pháp chống các bệnh này và thực hành chính sách tiết kiệm.

Ngày 3-2-1969, nhân dịp kỷ niệm thành lập Ðảng, Người viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Trước lúc đi xa Người căn dặn trong Di chúc: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư".

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương ngời sáng về đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, là mẫu mực về đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị, khiêm tốn. Cuộc đời Người từ một phụ bếp trên tàu, một thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint đến khi trở thành Chủ tịch nước vẫn luôn là những tháng ngày thanh bạch, tiết kiệm và giản dị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc về đức cần, kiệm. Người tóm tắt, "cần" tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ công tác gì; "kiệm" tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân; "liêm" tức là không tham ô, luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân; "chính" là việc phải dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh. Cho đến lúc phải từ biệt thế giới này, Người căn dặn: "Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm không phải là bủn xỉn, "không phải xem đồng tiền to bằng cái nong", gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép mọi người nhịn ăn, nhịn mặc; trái lại, cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, để dần dần nâng cao mức sống của nhân dân; tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, để cải thiện đời sống nhân dân. Tiết kiệm bao gồm: tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của và tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi thực hành tiết kiệm là một quy luật đi lên của một đất nước, một phương pháp của chế độ kinh tế, không phải chỉ nước nghèo mới thực hành tiết kiệm, mà cả nước giàu cũng phải tiết kiệm. Người còn chỉ rõ: "Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ".

Muốn thành công trong thực hành tiết kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Người chỉ rõ: Tham ô đối với cán bộ, đó là "ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung để làm quỹ riêng"; đối với nhân dân, đó là "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế". Còn lãng phí bao gồm nhiều mặt: lãng phí sức lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của, lãng phí của cải vật chất của nhân dân, của đất nước. Nguyên nhân gây ra lãng phí, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là do trình độ non kém, do thiếu kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, do độc đoán đưa ra những quyết định sai lầm. Người còn chỉ rõ: "Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: nó tai hại hơn tham ô, lãng phí, Người kết luận: "Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô".

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rõ khái niệm, nội dung, tác hại, mà còn phân tích nguyên nhân dẫn đến tham ô, lãng phí, đó là bệnh quan liêu: "Có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu. Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Ðối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn". Người cho rằng, bệnh quan liêu là chỉ gieo hạt vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở, "vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí". Người nhấn mạnh: "Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng việc của ta, nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta, nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Chủ tịch Hồ Chí Minh thường coi đó "là hành động xấu xa nhất của con người... Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà", là "giặc nội xâm". Bởi vì, tham ô, lãng phí, quan liêu thường đi liền với nhau và luôn là một trở lực lớn, là nguy cơ sụp đổ đối với mọi chế độ xã hội. Vì thế, "chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng, cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Ðây là mặt trận tư tưởng và chính trị", và "muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu".

Nguyên nhân sâu xa, bao trùm của các căn bệnh nêu trên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nghĩa cá nhân - một thứ trở lực nằm ngay trong mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi con người. Người coi chủ nghĩa cá nhân là một trở lực nội tại và là một nguyên nhân gốc gây ra bao khuyết điểm, sai lầm và trở lực khác. Người chỉ rõ: "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó". Vì như Người phân tích: "Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành ta đi xuống dốc... vì thế càng nguy hiểm",... "chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng..., chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng". Do đó, "phải ra sức gột rửa chủ nghĩa cá nhân". Tuy nhiên, Người cũng lưu ý rằng, "đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là giày xéo lên lợi ích cá nhân". Ðặc biệt, Người nhấn mạnh trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì "thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân". Do vậy, phải thường xuyên rèn luyện và "nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân".

Từ sự phân tích sâu sắc những biểu hiện, bản chất, nội dung, nguồn gốc của tham ô, lãng phí, quan liêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề ra những biện pháp nhằm chống các căn bệnh tệ hại này một cách có hiệu quả.

Một là, phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phải dựa vào quần chúng, phát động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu và thực hành tiết kiệm.

Ba là, phải hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ.

Bốn là, phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra và xử lý kỷ luật nghiêm minh những tập thể, cá nhân vi phạm.

Năm là, thường xuyên chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ðể thực hiện có hiệu quả cần coi trọng và tiến hành đồng bộ các biện pháp. Người còn yêu cầu: "Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Ðảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật".

Trước tình trạng tham nhũng và những tệ nạn xã hội ở nước ta hiện nay, để phòng chống tham nhũng có hiệu quả, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định phải “tích cực đấu tranh chống tham nhũng lãng phí, …kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân”[1]. Để thực hiện được điều đó việc quán triệt, học tập và làm theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu càng thấy rõ tầm quan trọng hơn bao giờ hết, góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh, luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.



 [1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự tật, Tập 1, tr.195

 

THẮT CHẶT HƠN NỮA MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN, DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Gắn bó mật thiết với Nhân dân là thể hiện bản chất và sức sống trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu không có sự đùm bọc, chung sức, chung lòng của Nhân dân thì Đảng không có sức mạnh, cách mạng khó thành công. Ngược lại, nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì Nhân dân không có một phương hướng chính trị đúng đắn trong đấu tranh giành các quyền tự do, dân chủ của mình. Tư tưởng đó được Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện khá sâu sắc trong Đại hội lần thứ XIII vừa qua.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá: “Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên cường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động[1].

Trong nhiệm kỳ của Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới[2]. Theo đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu cần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ và giải pháp: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ của Đảng.

Cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân các cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố về không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Đồng thời tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận. Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”.

Thứ hai, đối cới công tác dân vận của Đảng.

Tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp. Chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bàn tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với biến đổi cơ cấu xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận. Tiếp tục cụ thể hóa phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Lãnh đạo thể chế hóa Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nghiên cứu, ban hành cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ. Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận.

Đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của công dân; đồng thời chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, mị dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân và quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định về dân chủ ở cơ sở; công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các điểm nóng về an ninh, trật tự xã hội.

Như vậy, với vai trò là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào dân để xây dựng Đảng, đoàn kết và lãnh đạo Nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Điều đó khẳng định toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của Nhân dân, sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 227 - 228.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb CTQG ST, H. 2021, tr. 228.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; là cội nguồn sức mạnh và là động lực to lớn để giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kết hợp nhuần nhuyễn luận điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng “Dân là gốc” của ông cha ta và từ thực tiễn phong trào cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết nên chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thấm nhuần lời dạy của Người, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chăm lo, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là nền tảng vững chắc, có vai trò quyết định mọi thành công của cách mạng Việt Nam.

Ra đời trong cao trào cách mạng của quần chúng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; thường xuyên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện. Suốt chặng đường 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, QĐND Việt Nam luôn được sự chăm lo, đùm bọc của nhân dân, sát cánh cùng toàn dân đánh giặc, giữ nước, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; tích cực tham gia xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Quân đội luôn là lực lượng tiên phong trong việc tuyên truyền, quán triệt tư tưởng đại đoàn kết toàn dân; làm tốt việc kết nghĩa với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương; kiên trì tuyên truyền, vận động nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch hòng chia rẽ đại gia đình các dân tộc Việt Nam, chia rẽ lương giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; chủ động phối hợp với các lực lượng nắm chắc tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa... Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là những lúc khó khăn, hoạn nạn, thiên tai, sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam đều trở thành chỗ dựa cho cấp ủy, chính quyền địa phương và niềm tin cho nhân dân.

Cùng với việc thường xuyên rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Những năm qua, quân đội luôn thể hiện vai trò là thành viên tích cực của MTTQ Việt Nam; gương mẫu thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước; tích cực tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân, xây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền các cấp; tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố tổ chức, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Với hàng chục đoàn kinh tế - quốc phòng, hàng trăm tổ đội công tác và cán bộ tăng cường cơ sở, những hoạt động thiết thực đó không ngừng tô thắm truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng, phẩm chất tốt đẹp "Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân” trong thời kỳ mới.

Là “thành viên đặc biệt” của MTTQ Việt Nam, QĐND Việt Nam luôn quán triệt, triển khai thực hiện tốt các nghị quyết, các chương trình hành động, phong trào thi đua yêu nước, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới"… và thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo.

Trên cơ sở các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của cả nước, từng cơ quan, đơn vị và các tổ chức quần chúng trong quân đội đã có các phong trào, các cuộc vận động mang lại hiệu quả thiết thực, như: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong toàn quân; “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo” của Bộ đội Biên phòng, “Thanh niên Quân đội làm theo lời Bác” của tuổi trẻ toàn quân; “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của Phụ nữ Quân đội; “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” của Công đoàn Quốc phòng... Có thể khẳng định, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam đã được quân đội hưởng ứng và tham gia tích cực, đạt hiệu quả cao, mang lại ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các địa phương, nhất là ở các địa bàn chiến lược trọng yếu, vùng biên giới, biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm”, cùng với việc triển khai các cuộc vận động, các phong trào cách mạng của Đảng, Nhà nước, MTTQ và địa phương, các đơn vị trong toàn quân đã thực hiện tốt Chương trình “Kết hợp quân - dân y”, đào tạo hàng nghìn cán bộ y tế cho vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, biên giới, hải đảo; tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, tặng trang thiết bị cho các cơ sở y tế địa phương.

Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; không ngừng tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện nếp sống chính quy, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, tiêu chí phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới; tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; không để các tư tưởng, quan điểm sai trái làm ảnh hưởng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM: NHỮNG MẬT LỆNH CHO NGÀY TOÀN THẮNG

 

Hơn 1,1 triệu bức điện mật mã đã được lực lượng cơ yếu giải mã thành công, mỗi bức điện đều là một mảnh ghép quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần trực tiếp vào những chiến thắng lịch sử. Trong số đó, những mật lệnh mang tính quyết định, thể hiện sự bí mật và trọng yếu của lực lượng cơ yếu đã trở thành những chìa khóa mở ra những chiến thắng vang dội của cả dân tộc.
Trong 80 năm xây dựng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên ngành cơ yếu đã kiên cường vượt qua muôn vàn gian khó, âm thầm hy sinh, tuyệt đối trung thành với Đảng và Nhà nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ vững mạch máu thông tin, bảo đảm bí mật, an toàn, chính xác, kịp thời trong mọi tình huống. Những dòng mật mã khô khan đã góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi vang dội trên khắp chiến trường, nhất là thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước.
Những giờ phút lịch sử
Tháng 4 này, có dịp trò chuyện với đồng chí Lê Hồng Huy, Trưởng phòng Tuyên huấn và Thi đua, Khen thưởng, Cục Chính trị-Tổ chức, Ban Cơ yếu Chính phủ, chúng tôi được biết, ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Đảng, Chính phủ và các lực lượng vũ trang, Đảng ta đã chủ trương xây dựng hệ thống thông tin liên lạc bằng mật mã từ Trung ương đến địa phương.
Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 12/9/1945, Ban Mật mã quân sự chính thức được thành lập tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Đây chính là tổ chức tiền thân của ngành cơ yếu Việt Nam. Từ dấu mốc lịch sử ấy, ngày 12/9 hằng năm đã trở thành Ngày truyền thống của ngành cơ yếu - một lực lượng đặc biệt, tuyệt đối trung thành, tin cậy, bảo đảm bí mật và an toàn thông tin.
Trong chỉ thị thành lập Ban Mật mã quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ của Ban Mật mã là phải bảo đảm: Chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng. Đây chính là những tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng của Người đối với hoạt động mật mã, đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của ngành cơ yếu Việt Nam. Những nguyên tắc này không chỉ phản ánh bản chất công tác mật mã trong thời kỳ kháng chiến mà còn xác định phương châm, nguyên tắc hoạt động của ngành cơ yếu Việt Nam trong suốt 80 năm qua, tiếp tục là kim chỉ nam cho mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.
Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, ngày 21/7/1956, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về việc thành lập Ban Cơ yếu Trung ương. Tháng 8/1961, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn hết sức cam go và khốc liệt, để đáp ứng yêu cầu bảo đảm bí mật thông tin lãnh đạo, chỉ đạo trong chiến tranh, Trung ương Cục miền Nam đã thành lập Ban Cơ yếu thống nhất. Chính trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng cơ yếu đã làm việc không kể ngày đêm, phát huy tinh thần mưu trí, dũng cảm, bảo đảm bí mật, an toàn, chính xác và kịp thời mọi thông tin lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Chỉ huy chiến dịch và các lực lượng tham gia chiến dịch. Đáng chú ý, Phòng Mã dịch điện báo, Cục Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu đã phục vụ trực tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Thống soái tối cao từ tháng 3/1975 đến tháng 4/1975, với những điện mật mang tính lịch sử như:
1. Bức điện khẩn số 157 ngày 7/4/1975 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các quân đoàn, đơn vị, binh chủng đang trên đường hành quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc tới đảng viên, chiến sĩ. VĂN”.
2. Bức điện số 37 ngày 14/4/1975 của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, trong đó nhấn mạnh “… Bộ Chính trị đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Chúc các anh khỏe! Ba”.
3. Bức điện của Bộ Chính trị do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn ký, gửi Bộ Chỉ huy chiến dịch ngày 22/4/1975: “… Thời cơ để mở cuộc tiến công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị…”.
Khoảnh khắc vinh quang nhất đến vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, khi lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Lúc này, đồng chí Mai Hoa Thám và đồng chí Vọng, thuộc Tổ Cơ yếu Quân đoàn 2, đã khẩn trương truyền đi một bức điện báo cáo tin chiến thắng về Tổng hành dinh: “-10 giờ ngày 30/4, toàn bộ Lữ 203, e9, e66PB, Cx của Quân đoàn 2 đã vào Sài Gòn, chiếm lĩnh Dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu cùng nhân viên cấp cao ngụy Sài Gòn đang họp, bắt Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng (12 giờ, giờ Sài Gòn).
- Quân đoàn 2 đang tiếp tục bố trí lực lượng
- Quân đoàn 4 đang tiếp tục chiếm lĩnh các mục tiêu. Tấn”.
Lịch sử các cuộc chiến tranh đã chứng minh rằng, việc bảo vệ bí mật thông tin không chỉ quyết định thắng lợi của mỗi trận đánh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của cả cuộc chiến. Đồng chí Lê Hồng Huy cho biết thêm, từ những bản luật mật mã còn đơn giản trong ngày đầu thành lập, ngành cơ yếu Việt Nam đã không ngừng phát triển, xây dựng hệ thống các luật mật mã ngày càng đa dạng và phong phú sau này. Một tài liệu lưu trữ tại Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn từng nhận xét về mật mã của ngành cơ yếu Việt Nam: “Phương thức lập khóa của cơ yếu Cộng sản rất phức tạp. Cho đến năm 1972, khóa mật mã cũng không có một nguyên tắc đồng nhất, vì tính chất tối mật của ngành này, chúng được bảo mật rất chặt chẽ, khiến sự hiểu biết về các nguồn tin trở nên rất hạn chế”.
Những giờ phút lịch sử ấy, khi các bức điện mật được truyền đi, không chỉ mang ý nghĩa về mặt thông tin, mà còn thể hiện những nhịp tim của cả dân tộc, đập mạnh mẽ cùng khát vọng thống nhất đất nước.
Đóng góp thầm lặng
Theo đồng chí Nguyễn Văn Toàn, Phó Cục trưởng Chính trị-Tổ chức, Ban Cơ yếu Chính phủ, trong 80 năm qua, không có một chiến dịch, trận đánh lớn nào thiếu sự phục vụ của đội quân thầm lặng - lực lượng cơ yếu, luôn kịp thời đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy và trực tiếp tham gia chiến đấu. Để giành được những chiến thắng vĩ đại đó, không thể không kể đến những hy sinh xương máu của hàng trăm liệt sĩ cơ yếu, những người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự nghiệp bảo vệ thông tin cơ mật, trọng yếu của Đảng; trong đó, nhiều tấm gương như Anh hùng Lực lượng vũ trang, Chuẩn úy Nguyễn Văn Giai, Tổ trưởng Tổ Cơ yếu V4/49, Tình báo Miền, hy sinh ngày 26/12/1968, hay các liệt sĩ Đoàn Thị Chắt, Lê Hoàng Ninh… đã trở thành những biểu tượng sáng ngời của lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh vì Tổ quốc.
50 năm sau ngày đất nước thống nhất, chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn phần nào công việc vất vả, đầy cảm phục của những người lính cơ yếu. Trong cuốn Những kỷ niệm không quên, Thượng sĩ Nguyễn Văn Khôi, một thành viên trong Tổ Mã dịch của Phòng Mã dịch điện báo, Cục Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu thường trực tại Nhà Con Rồng phục vụ Bộ Chính trị và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, có kể lại rằng: “Chúng tôi đã quen với nếp làm việc trực liên tục 24/24 và cường độ làm việc 10-12 giờ mỗi ngày. Tính chất công việc của phòng chúng tôi đòi hỏi như vậy, nhất là những mùa chiến dịch.
Những lúc đó không phải là 10-12 giờ một ngày nữa mà là 14-16 giờ, thậm chí có lúc 24 giờ đối với mỗi người… Chiến thắng cuốn hút chúng tôi. Mệt nhưng phấn khởi lắm”. Ông Khôi vừa mất cách đây không lâu, trước đó là Đại úy Võ Minh Châu, Phó Trưởng ban Điện báo; và như vậy, Tổ Mã dịch năm xưa giờ chỉ còn hai thành viên là bà Đặng Thị Muôn và bà Vũ Thị Trọng. Được biết khi đó, tổ có bổ sung một số đồng chí khác, tuy nhiên, đồng chí Muôn và Trọng là những đồng chí làm việc từ ngày đầu cho đến những ngày cuối cùng của chiến dịch.
Trong cuộc gặp bà Muôn tại Hà Nội trước lễ kỷ niệm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, người phụ nữ sinh năm 1948 nhớ lại, tại phòng làm việc trong khu Hoàng thành Thăng Long, Tổ Mã dịch điện báo đã mã dịch những bức điện lịch sử quan trọng của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái… gửi đến bộ chỉ huy các mặt trận và từ mặt trận báo về. Công việc của họ không chỉ là mã hóa và giải mã những bức điện, mà còn là chuyển tải những mệnh lệnh, chỉ thị chiến lược của Đảng và Nhà nước đến các chiến trường, giữ vững sự thông suốt, bảo đảm bí mật trong mọi tình huống.
Cũng vì thế mà công việc của những người lính cơ yếu như bà Muôn, nhất là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, luôn khẩn trương, dồn dập, phải tính từng giây, từng phút. Bà cho biết, những ngày cuối tháng 3/1975, để phục vụ yêu cầu của chiến trường, Phòng Mã dịch điện báo đã đưa gần một nửa quân số vào mặt trận.
Lực lượng còn lại của phòng do vậy rất mỏng, lại chủ yếu là nữ, trong khi điện từ các mặt trận, các cánh quân báo về rất nhiều. Có thời điểm khi bà Muôn bàn giao công việc của đêm hôm trước cho ca sáng hôm sau, số bức điện được báo cáo lên tới 473, một con số mà bình thường họ phải mất vài ngày mới mã dịch được hết do chỉ thực hiện bằng tay, mắt và sự tập trung cao độ, hoàn toàn không có sự hỗ trợ của máy móc.
Tuy vậy, kể từ khi rời quê nhà Tiên Lữ (Hưng Yên) và bước chân vào cánh cổng Trường Cơ yếu quân đội tháng 10/1967, rồi về công tác ở Phòng Mã dịch điện báo, Cục Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu tháng 6/1968, đến nay, bà Muôn vẫn luôn tự hào về công việc của mình: Chúng tôi có thể làm việc quên cả mệt mỏi, đói khát, mắt ai cũng thâm quầng, đỏ ngầu sau 12-16 tiếng mỗi ngày, thế nhưng đó không chỉ là vì khát vọng giành độc lập, tự do mà còn là trách nhiệm và vinh dự của một đảng viên, một người lính cơ yếu.
Sau khi trải qua những chiến dịch lớn như Đường 9-Nam Lào năm 1971, giải phóng Quảng Trị năm 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, giờ đã ở tuổi 77, niềm vui đơn giản của người phụ nữ đã có 28 năm gắn bó với Phòng Mã dịch điện báo, là được quây quần bên con cháu, buổi chiều thi đấu trên sân bóng chuyền hơi. Điều đáng nói là dù ba người con của bà không ai công tác trong lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam và bản thân thi thoảng vẫn bị những cơn đau đầu hành hạ, thị lực suy giảm nhưng bà Muôn khẳng định, nếu được lựa chọn lại, bà vẫn chọn công việc với những ký tự, con số của ngành cơ yếu, tuy vất vả nhưng cũng rất vinh quang và đầy tự hào.
Vào giờ phút lịch sử ngày 30/4/1975, trong niềm vui chung của cả dân tộc, có thể khẳng định lực lượng cơ yếu đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình-giữ vững sự liên lạc và thông tin mật, trở thành mắt xích quan trọng không thể thiếu trong thắng lợi cuối cùng của dân tộc./.
Báo Nhân dân

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 - THÀNH CÔNG XUẤT SẮC CỦA NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH


Mùa xuân 1975, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường, đập tan ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đại thắng mùa xuân 1975 là dấu mốc trọng đại trong tiến trình phát triển đi lên của dân tộc Việt Nam, là một trong những thành công xuất sắc nhất về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta.
Tạo thời cơ, nắm bắt đúng thời cơ, hạ quyết tâm chiến lược kịp thời, chính xác
Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Mỹ và quân đồng minh buộc phải rút hết quân về nước. Nhưng, với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, ngụy quyền Sài Gòn dưới sự viện trợ, chỉ đạo của Mỹ ngang nhiên phá hoại hiệp định. Chúng huy động hầu như toàn bộ lực lượng tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, mở các cuộc hành quân “bình định, lấn chiếm” hòng tiêu diệt LLVT cách mạng, xóa bỏ vùng giải phóng, xóa bỏ chính quyền nhân dân, đứng đầu là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thực chất là tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Trước âm mưu và hành động chiến tranh của địch, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (tháng 7-1973) nêu rõ, cách mạng miền Nam có thể phát triển theo hai khả năng: (1) Ta tích cực đấu tranh trên 3 mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam, hòa bình được lập lại thật sự, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam nhằm hoàn thành độc lập, dân chủ tuy còn lâu dài, khó khăn, phức tạp, nhưng ngày càng phát triển và ở thế tiến lên mạnh mẽ; (2) Mỹ, ngụy tiếp tục vi phạm, phá hoại Hiệp định Paris, xung đột quân sự có thể ngày càng tăng, cường độ và quy mô chiến tranh ngày càng lớn, ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn. Hai khả năng diễn biến nói trên của tình hình miền Nam đều đang tồn tại và đang trong quá trình phát triển, song dù khả năng nào, “con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên”. Yêu cầu cơ bản và bức thiết của cách mạng miền Nam lúc này là giành dân, giành quyền làm chủ và phát triển thực lực cách mạng. Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam kiên quyết đấu tranh đập tan những cuộc hành quân lấn chiếm và bình định của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.
Cuối năm 1974, đầu năm 1975, cục diện chiến tranh có sự chuyển biến mạnh mẽ, mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng. Ta liên tiếp mở những đợt tiến công trên nhiều địa bàn trọng điểm tiêu diệt sinh lực địch, tạo thêm những bàn đạp vững chắc; tiêu biểu như Chiến thắng Thượng Đức “đánh tan Sư đoàn dù” (cuối năm 1974) chứng tỏ khả năng chiến đấu của chủ lực ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch; Chiến thắng Đường 14-Phước Long (từ ngày 13-12-1974 đến 6-1-1975) giải phóng toàn tỉnh Phước Long trở thành “đòn trinh sát chiến lược” cho thấy khả năng Mỹ sẽ không can thiệp trở lại bằng quân sự tại miền Nam Việt Nam...
Trước tình hình đó, Bộ Chính trị họp, thảo luận kế hoạch giải phóng miền Nam. Hội nghị nhận định: Đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn. Hai mươi năm nhân dân cả nước chiến đấu mới tạo được thời cơ này. “Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được hồi phục... thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng”. Trên cơ sở nhận diện đúng thời cơ, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân ngụy, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đổ ngụy quyền ở trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”.
Bộ Chính trị chủ trương giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, chia làm hai bước: Bước 1 (năm 1975), tranh thủ thời cơ, bất ngờ mở cuộc tiến công lớn và rộng khắp. Bước 2 (năm 1976), thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành toàn thắng. Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: Nếu thời cơ đến sớm hơn, vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Phải tranh thủ đánh thắng nhanh để giảm bớt sự thiệt hại về người và của cho nhân dân, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.
Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (từ ngày 18-12-1974 đến 8-1-1975) hạ quyết tâm giải phóng miền Nam là kết quả của sự chuẩn bị chiến lược chủ động, dũng cảm, sáng tạo, công phu, kiên trì, bền bỉ trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao, tiềm lực hậu phương và tiền tuyến, thế trận và lòng người... trong thời gian dài, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam trong “cuộc đụng đầu lịch sử” với đế quốc Mỹ và lực lượng phản động, tay sai; cho thấy tư duy nhạy bén, khả năng nhận diện, nắm bắt thời cơ và hạ quyết tâm chiến lược kịp thời, chính xác.
Chỉ đạo chiến lược kiên quyết, linh hoạt, sáng tạo
Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến lược đề ra, sau một quá trình tích cực chuẩn bị, quân và dân ta mở Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến 3-4-1975) làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch. Bằng thế trận bao vây, chia cắt và các đòn tiến công bất ngờ, quân ta lần lượt đánh chiếm các mục tiêu quan trọng: Thuần Mẫn, Đức Lập và Buôn Ma Thuột; đánh bại nỗ lực phản kích tái chiếm; buộc địch phải rút khỏi Kon Tum, Pleiku và toàn bộ Tây Nguyên. Ta tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2-Quân khu 2 ngụy quân Sài Gòn; giải phóng 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức và một số tỉnh Nam Trung Bộ. Chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành tổng tiến công trên toàn miền Nam.
Ngay khi nhận tin thắng lợi bước đầu của Chiến dịch Tây Nguyên, đặc biệt là trận then chốt giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột (từ ngày 10 đến 11-3-1975) và thông tin địch rút toàn bộ lực lượng khỏi Tây Nguyên, nhận thấy thời cơ chiến lược thuận lợi, Bộ Chính trị đã họp bàn (ngày 18-3-1975), bổ sung quyết tâm chiến lược: Tranh thủ thời cơ, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975 (kế hoạch hai năm được rút xuống còn một năm) và nhấn mạnh: Muốn hoàn thành nhiệm vụ cơ bản đó, nhiệm vụ trước mắt của quân và dân ta là mở đòn tiến công chiến lược thứ hai nhằm giải phóng Huế-Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung.
Chấp hành chủ trương và sự chỉ đạo chiến lược, quân và dân ta đẩy mạnh tiến công địch ở Trị-Thiên, các tỉnh đồng bằng ven biển Trung Bộ, gây áp lực mạnh buộc địch phải thu dồn lực lượng về giữ các thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Tranh thủ thời cơ địch co cụm, các đơn vị chủ lực của ta phối hợp chặt chẽ với LLVT cùng nhân dân địa phương nhanh chóng chủ động mở các đợt tiến công giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn; đồng thời, tổ chức các mũi thọc sâu, chia cắt địch, chặn đường rút chạy của chúng, hình thành thế bao vây địch trong các thành phố.
Ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã họp bàn, khẳng định: “Cuộc tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu với Chiến dịch Tây Nguyên. Thời cơ chiến lược mới đã đến”, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam, từ đó thống nhất quyết nghị: Tập trung nhanh nhất binh lực, vật lực giải phóng miền Nam trước mùa mưa (khoảng giữa tháng 5-1975). Kế hoạch một năm tiếp tục được rút xuống còn 5 tháng. Bộ Chính trị hạ quyết tâm mở chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quyết định với quy mô lớn nhất: Chiến dịch Tổng công kích và nổi dậy giải phóng Sài Gòn. Nhưng muốn đi đến đòn quyết chiến chiến lược ấy, Bộ Chính trị chỉ đạo: Dứt điểm giải phóng Thừa Thiên-Huế; đồng thời tiến công Đà Nẵng kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng.
Nắm thời cơ lúc quân địch đang hoang mang dao động, các cánh quân chủ lực của ta đồng loạt tiến công, chỉ trong thời gian ngắn đập tan mọi tuyến phòng thủ của địch, giải phóng Huế (ngày 26-3-1975), Đà Nẵng (ngày 29-3-1975) cùng các tỉnh ven biển miền Trung; tiêu diệt, làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 1-Quân khu 1 của địch, giáng đòn nặng nề vào ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn. Qua những chiến thắng này, các LLVT ta lớn mạnh vượt bậc, bộ đội thương vong ít, tinh thần và trình độ chiến đấu được nâng lên rõ rệt; thu được một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược của địch. Quân chủ lực của ta trong một thời gian ngắn đã tăng lên nhanh chóng, có sức cơ động khắp các chiến trường. Cục diện chiến tranh phát triển nhảy vọt hoàn toàn có lợi cho cách mạng.
Căn cứ vào những chuyển biến hết sức mau lẹ từ chiến trường, ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị họp bàn, nhận định: Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam phát triển nhảy vọt “một ngày bằng hai mươi năm”, thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn-Gia Định đã chín muồi. Từ đó, Bộ Chính trị quyết định: “Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng Tư năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp. Tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, trong từng lúc”. Kế hoạch 5 tháng tiếp tục được rút xuống còn 4 tháng.
Ngày 9-4-1975, quân ta tiến công Xuân Lộc-tuyến phòng thủ trọng yếu bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông của ngụy quân. Ngày 16-4-1975, quân ta đập tan tuyến phòng thủ Phan Rang. Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị phê chuẩn chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 21-4-1975, quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy. Ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn ngày càng rơi vào tình trạng hoang mang. Mỹ lập cầu hàng không viện trợ khẩn cấp cho ngụy quyền, ngụy quân nhằm cứu vãn sự sụp đổ hoàn toàn, hy vọng tìm kiếm một giải pháp qua đàm phán. Ngày 22-4-1975, Bộ Chính trị họp bàn, phát lệnh: “Thời cơ để mở cuộc tổng tiến công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị”.
Ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu. Tất cả các cánh quân của ta, bao gồm 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) lần lượt đập tan các tuyến phòng thủ vòng ngoài, đồng thời hình thành các mũi thọc sâu đánh chiếm 5 mục tiêu trọng yếu trong nội đô Sài Gòn (dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát ngụy). Trưa 30-4-1975, Quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống ngụy Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Đại thắng mùa xuân 1975 đã giải phóng miền Nam, kết thúc chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh cách mạng. Chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng, ta đã đập tan chế độ Sài Gòn do Mỹ xây dựng; đồng thời ta cũng hạn chế tổn thất về người và vật chất (giữ thành phố Sài Gòn và nhiều thành phố miền Nam hầu như nguyên vẹn). Thành quả vĩ đại ấy do nhiều nhân tố tạo nên, nhưng nhân tố có ý nghĩa quyết định nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, điều đó trở thành nét nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh rất đặc sắc của Trung ương Đảng từ bước tạo thời cơ, nắm bắt đúng thời cơ, hạ quyết tâm chiến lược kịp thời, chính xác đến chỉ đạo chiến lược kiên quyết, linh hoạt, sáng tạo.
Tìm hiểu nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta trong Đại thắng mùa xuân 1975, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Một là, dự báo, đánh giá đúng tình hình trong nước, khu vực và thế giới, nhất là sự thay đổi chiến lược của các nước lớn; nhận diện đúng thời cơ-thuận lợi, khó khăn-thách thức. Trên cơ sở đó, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp, đáp ứng đúng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự ổn định của hệ thống chính trị.
Hai là, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đề ra chủ trương, hoạch định đường lối chiến lược toàn diện về chính trị, quân sự, quốc phòng, ngoại giao... bảo đảm giữ vững nguyên tắc, mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, nhưng linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; đánh giá đúng đối tác, đối tượng trên cơ sở mục tiêu cao nhất là bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc.
Ba là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đây là yêu cầu khách quan, chủ trương chiến lược, nhất quán của Đảng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương trên còn là phương thức tối ưu để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộ những giải pháp: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; tập trung xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh; kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học-công nghệ, đối ngoại với tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng.
Bốn là, không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Đây là truyền thống quý báu của dân tộc, là vấn đề trung tâm mang ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam. Để tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, cần thực hiện hiệu quả một số vấn đề trọng tâm: Phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm nòng cốt chính trị trong khối đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội tạo động lực và niềm tin của nhân dân; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền dân chủ của nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước nồng nàn và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.
Năm là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ. Sau 50 năm giải phóng miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nhưng hiện nay cũng còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra còn hiện hữu và ngày càng gay gắt. Để tiếp tục đảm đương vai trò lãnh đạo trong giai đoạn mới, Đảng ta phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, nâng tầm bản lĩnh và trí tuệ, thật sự mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, gắn bó mật thiết với nhân dân.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, song Đại thắng mùa xuân 1975 vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà chính trị, quân sự, sử học... cả trong và ngoài nước. Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình, sáng tạo của Đảng là “sợi chỉ đỏ”, là nhân cốt làm nên chiến tích huy hoàng đó, vượt lên trên mọi toan tính của kẻ thù và để lại những bài học lịch sử lớn, sâu sắc đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.
QĐND